categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

LẦM VÀ CHẤP

Cư Sĩ Chơn Chánh

 ---o0o---

Lầm và Chấp là hai anh em song sinh của tâm vô minh, cùng hiện tướng ra, khắn khít như h́nh với bóng. Bỡi mê lầm nên sanh tâm chấp, do chấp nên càng bị mê mờ, lầm lạc trong vô minh. 

Lầm là v́ si mê của nghiệp thức mà tập theo vô minh, nên chơn tánh bị vô minh che lấp, không tự nhận biết thế nào là thật tánh thật tướng của vạn pháp, liền nhận các giả pháp, hư vọng làm thật; do lầm nhận các pháp huyễn giả làm thật có, nên mới sanh tâm chấp ngă, chấp pháp để nắm níu, trói buộc với chúng, cũng là tô bồi, vun đắp ngày càng lớn vô minh cho tự thân, để rồi theo nghiệp thức dẫn dắt mà biến hiện, sanh diệt, không dừng nghỉ . 

Lầm là do sanh tâm không khế hợp được với lư đạo, v́ chỗ sanh tâm này có chỗ trụ, bị ràng buộc, trói cột với sanh diệt pháp. Chấp là v́ lầm cột buộc với vô minh nên càng ngày càng xa ĺa chơn tánh.

"Lời giới thiệu" trên tập sách "Vấn đề ẩm thực trong đạo Phật", tự nó cho thấy tác giả là TT Giác-Chánh đă bị lầm, tưởng rằng ḿnh đă đắc đạo, đă đến đi tự tại như một bậc Thánh trong cơi này, nên sẵn sàng phá chấp (hay phá giới, TT G.C cũng không tự biết !) mà "không chê chay cũng chẳng đ̣i mặn" "nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay" v́ ảnh hưởng theo "tinh thần Bát-nhă !". Lời giới thiệu đầy cột buộc với vô minh và đi ngược lại với ḷng từ bi của Giáo-lư Phật, đă được một số huynh đệ thân cận trước đây chỉ ra giúp một cách rơ ràng không sai chạy. 

Nay lại có người khởi tâm chấp, tuy không nói ra TT Giác-Chánh đích thị là một ông ông Thánh sống của họ, nói ǵ cũng không sai, làm ǵ cũng đúng nên liền đem kinh điển và chút kiến thức hẹp ḥi, cạn cợt ra mà làm chứng, để bênh vực cho Thầy . Không biết nhóm Phù-sa trước khi làm cái việc bênh vực này, đă có thưa thỉnh trước với Thầy Giác-Chánh chưa, và Thầy có đồng ư bài lư luận này hay không; nếu chưa thưa thỉnh mà đă làm, th́ thật là bậy bạ hết sức, bỡi chẳng những không bênh vực cho Thầy được chút nào, mà c̣n dồn Thầy vào ngơ hẹp không lối thoát, cũng như tự đưa ḿnh cột buộc theo tà kiến. Đây chính là tṛ hại Thầy không sai vậy. 

Đáng lư không có bài viết này. Nhưng chúng tôi tự nghĩ, có những người khởi đầu tu hành rất thuần khiết, như pháp hành tŕ, nhưng lần lần do tâm tự măn, lại gặp những người bên cạnh tâng bốc ḿnh lên thấu trời xanh, liền tưởng ḿnh là một ông Thánh sống, nói ǵ làm ǵ cũng trúng, v́ mỗi lời nói ra, những người bên cạnh cứ coi như là Thánh phán. Từ đó, ma tâm khởi dậy, nói và làm theo ma sự, xúi người theo ma nghiệp mà không tự biết, như trường hợp của sư Chơn-Quang đă từng mắc phải. 

Do bài "Giới thiệu" của TT. Giác-Chánh đầy ngă mạn, có thể coi như cái dợm bước đầu tiên giữa ngă ba đường của ma, Phật nên chúng tôi trước đây có bài viết phê b́nh nhẹ nhàng cho thái độ này, để mong ông dừng bước mà suy nghĩ lại. Không ngờ nay lại có người tâng bốc, bênh vực cho thái độ ấy nên chúng tôi lại phải chỉ ra giùm cho họ thấy sự tác hại của những lời tâng bốc của người bên cạnh. Bỡi những người này lầm tưởng làm như thế là để bênh vực cho ngôn hạnh của Thầy, hóa ra lại là làm hại cho đường tu tĩnh của Thầy, v́ làm cho tâm cống cao, ngă mạn thêm tăng trưởng. Ngoài những lư do đó ra, chúng tôi không có ư chỉ trích cá nhân, v́ chúng tôi cũng chưa hề biết Thầy, cũng như là lần đầu tiên biết TT. Gíac-Chánh qua lời giới thiệu sách của ông ta. 

Đọc bài viết "Dĩ Kinh Chứng Kinh" của nhóm Phù-Sa, chúng tôi có mấy nhận xét. 

Do đề bài mà nhóm Phù-Sa đặt ra, là lấy kinh này làm chứng cho kinh kia, cũng là đem tướng mà đối tướng, nên chúng tôi xin không bàn tới đúng sai, phải trái ở đây. V́ dù có nói tới vạn năm đi nữa cũng chẳng ích chi, bỡi việc làm đem kinh đối kinh, tự chúng không ra ngoài trói buộc của sở tri chứơng, cũng là không vượt thoát nổi nhị nguyên nhơn quả. 

Bỡi cớ sao mà chúng tôi không đề cập tới nó? Bỡi Phật nói pháp là tùy duyên mà nói. Mà đă nói là tuỳ nhân duyên nói pháp để giác ngộ người, th́ không có một pháp nhất định nào có thể thuyết, có thể nói là đúng hay không đúng, mà chỉ tùy duyên, tùy thời, tuỳ hoàn cảnh, tùy căn cơ của từng đối tượng, mà Phật nói pháp. 

Lại nữa, lời của Phật nói ra luôn luôn từ Trung-Đạo mà tuôn chảy, không chỗ vướng mắc, nói rồi liền phủ nhận chúng, rằng nói mà thật chỗ không nói, pháp mà thật chẳng phải pháp, đó mới là chỗ nói chơn thật cũa Phật tâm, là diệu thuyết; c̣n người thật liễu nghĩa những lời Phật dạy, nghe pháp mà thật không chỗ nghe, mà thường nghe mới là người diệu thính pháp vậy ; c̣n ở đây chúng ta hoàn toàn chưa thâm nhập Trung-Đạo, lại lạm dụng tri thức, biện luận để đem những kư tự của ngôn ngữ này ra so sánh với những kư tự của ngôn ngữ kia th́ làm sao trúng được, làm sao có thể nói là khế hợp với Phật tâm được. Bỡi thế, đem kinh này làm chứng cho kinh kia cũng chỉ là việc làm so sánh những lời Phật dạy trong chỗ tùy duyên, lấy chữ đối chữ, lấy tướng so tướng, lấy vật đối vật, tràng giang đại hải, cốt để làm giàu cho cái túi chứa tri thức sanh diệt th́ được, chứ cứ chạy theo nó mà t́m lẽ thật của Phật tâm, th́ biết đến bao giờ việc làm này mới có thể đưa hành giả tới được chỗ đồng một cùng tâm ư của Tổ, Phật ? Mà việc khẩn thiết trước mắt, đáng bàn của mọi người cần tham gia ở đây chính là làm sao liễu nghĩa những lời Phật dạy, để nương đó tu hành, nghĩa là phải thâm nhập "một" cùng Trung-Đạo, th́ mọi việc tức khắc được giải quyết rốt ráo, cũng là tự vượt ĺa nhị nguyên đang cột kéo chúng ta vậy. Bằng c̣n có chỗ tự dối ḿnh để phô ra cái biết, cái phải, cái đúng hay che đậy cái không biết, cái không phải, không đúng, không tự chơn thật với chính tự Phật ( v́ c̣n trói buộc với tự ngă ), th́ sự tu hành của chính tự thân mỗi người, biết đến bao giờ mới thành tựu được đây ? 

Bỡi cớ sao ? Tất cả ngôn ngữ được biểu hiện trên thế gian đều ở trong tương đối. Cho nên, nếu chúng ta dùng biện luận, lư giải để mà chấp nhận nên ăn chay mới là đúng, th́ chúng ta liền rơi vào chấp thiện, mà nói ngược lại th́ chúng ta lại rơi vào chấp ác, mà thiện ác đều không dính dấp tới tự tánh, mà ngộ tánh cũng là cái đích mà chúng ta đang nhắm tới trên suốt quăng đời tu hành trước mặt của chúng ta vậy. 

Chính v́ lẽ ấy mà ở đây chúng tôi không bàn sâu tới việc việc đúng sai, phải trái của dĩ kinh chứng kinh, mà chúng tôi chỉ bàn tới mỗi một chỗ, là chúng ta đă thật sự liễu nghĩa việc ngài Huệ-Năng ăn chay mà luộc rau trong nồi thịt chưa, cũng như có hiểu được cách rốt ráo, vượt cách, lời của ngài Tuệ-Trung Thượng sĩ hay chưa, mà nhóm Phù-sa đưa vào đây để bênh vực cho bài giới thiệu sách của Thượng-toạ Giác-Chánh, mà một thời gian trước đây chúng tôi và một số đạo hữu khác có đề cập tới. 

Ngài Huệ-Năng và việc ăn chay . 

Trong bài viết của nhóm Phù-sa, có đưa ra một đoạn trong kinh Pháp-Bảo-đàn, Phẩm Tự-tự, để biện minh cho TT. Giác-Chánh đă viết trong lời giới thiệu sách, là không quá cố-chấp tập quán ăn chay. 

Đoạn kinh được trích ra như sau : 

"Huệ-Năng sau đến Tào khê, bị một số người hung ác đố kỵ , đi t́m để hăm hại. 

(Vâng lời Thầy – Ngũ Tổ Hoằng-Nhẫn) Huệ-Năng hiểu rơ thời cơ, ẩn thân lánh nạn, ở với một nhóm thợ săn, tại Tứ-hội, suốt mười sáu năm trường, thường v́ nhóm thợ săn mà tùy duyên thuyết pháp. 

Nhóm thợ săn thường bảo Huệ-Năng giữ miệng lưới; tuy nhiên, khi thấy thú vật mắc lưới, Huệ-Năng mở lưới thả hết. Mỗi khi đến giờ ăn, Huệ-Năng lấy rau nấu kèm trong nồi luột thịt để dùng qua bữa, nếu có ai thấy lạ hỏi, th́ trả lời : "Ta chỉ thích ăn rau luộc trong nước thịt mà thôi". 

Bài viết của nhóm Phù-sa cũng kèm theo bài "Phụ chú của Ḥa-thượng Thích Nhật-Long" : 

"15 năm ẩn trong bọn thợ săn, Tổ tuỳ phương tiện thuyết pháp dạy cho người cải một ít ác theo một ít thiện, chứ chưa đủ cơ duyên lập Tông. 

Lén mở thả thú là ḷng từ nặng hơn chữ tín. Sợ người biết truy tầm nên phương tiện luộc rau trong nồi thịt mà ăn, thế mà có người hỏi lại nói khéo, v́ ưa ăn thịt thấm trong rau, chớ không nói ăn chay theo đạo Phật. Đời sau có người không hiểu, lại nói Tổ không cần ăn chay. 

Học theo Tổ đến đoạn nầy, chúng ta mới thấy vấn đề ăn chay : Nhiều người lầm ăn chay theo tư tưởng của thuyết nào đó, dạy ăn chay để luyện tâm (!) cho nhẹbiết bay, biết biến hóa chi đó ! Cho nên họ ăn chay rất kỹ, kỹ là sao ? – Họ sợ hôi tanh thịt cá. V́ thế bắt đầu ăn chay một ít ngày ǵ đó, họ kỹ lưỡng và khó khăn làm sao ! Rầy con mắng cháu : Không lo sắm nồi sạch, chén mới, đũa tinh cho họ ăn mau thành. Aên chay mà lầm như vậy cho nên có nhiều người ăn chay rất nhiều ngày, ăn chay trường nữa, nhưng họ dám hà lạm, gian manh, sát hại cho có lợi lấy tiền sắm đồ ăn chay. Aên chay mà việc làm cũng vẫn vô nhân, vô nghĩa, chửi rủa, mắng nhiếc, sát hại th́ bảo sao người ta chẳng mỉa mai : 

"Si mê nghiệp chướng không chừa, 
Bo bo mà giữ tương dưa ích ǵ ?".

Theo ư Tổ, ăn chay là v́ ḷng từ bi : Thương người, thương vật, không nỡ v́ miếng ăn mà lường gạt gian manh, tham lam lường gạt của người, không nỡ nhẫn tâm sát hại sanh mạng hay ấn ư xúi giục người sát hại cho ḿnh ăn. Tổ ăn chay không phải sợ hay chê hôi tanh thịt cá, cũng không để luyện xác thân, mà ăn chay v́ ḷng từ bi bao la cao cả thương người thương vật". 

Nhóm Phù sa sau khi trích dẫn kinh Pháp-Bảo-đàn và lời phụ chú của Hoà thượng Nhật-Long, liền kê ngay ư kiến chủ quan của ḿnh vào : 

"ĐẤY LÀ TỔ-SƯ GỈNG THIỀN TÀO-KHÊ TRUNG-QUỐC CŨNG KHÔNG QUÁ CỐ CHẤP TẬP QUÁN ĂN CHAY". 

Lời giải thích của Ḥa-thượng Nhật-Long đối với đoạn kinh văn trên, nói về việc Lục-Tổ Huệ-Năng biết tùy duyên, không câu chấp, là hợp lư, hợp đạo chứ không có ǵ sai trái cả. Bằng ngược lại, cứ bo bo chấp thủ việc ăn chay bất kể trong trường hợp nào, cũng đều là chấp, mặc dù là chấp thiện. Hoặc là ăn chay theo h́nh thức như Ḥa-Thượng ấy kể ra, cũng không phải là tốt vậy, v́ miệng ăn chay mà ḷng c̣n chứa tâm sát, c̣n nhiều tham muốn "lợi ḿnh hại người" th́ việc dùng chay ấy nào có ích ǵ ?. 

Tuy nhiên, việc đưa một đoạn kinh trong Pháp-Bảo-đàn vào đây, rồi bảo một cách vơ đoán rằng "Đấy là Tổ-sư gịng Thiền Tào-Khê Trung-Quốc cũng không quá cố chấp tập quán ăn chay" là hoàn toàn ấu trĩ, thiếu chính xác, và không thể chấp nhận cho lập luận để bênh vực cho lời nói và việc làm của TT. Giác-Chánh, rằng "riêng tôi th́ không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay, có lẽ ảnh hưởng tinh thần Bát-nhă" được (Lời TT. Giác-Chánh). 

Bỡi v́ trong mười sáu năm Lục-Tổ phải lẩn trốn bọn người xấu ác muốn t́m cách giết Ngài để cứơp Y-Bát là tín vật của Tổ sư Thiền-Tông đời thứ sáu, nên trong chỗ "ngộ biến" mà cực chẳng đă Tổ phải "tùng quyền", phải đành luộc rau trong nồi thịt mà độ nhật, kẻo sợ người phát hiện ra nhân thân mà giết chết Ngài, đó là tuỳ duyên (Xứ-Thời) mà hành đạo vậy. Chứ có phải trong chỗ b́nh an như mọi người chúng ta đang sống và tự do tu hành đâu, mà các ông gán cho là Tổ cố chấp, với không cố chấp việc ăn chay. Như các ông Phù-sa bây giờ đang tu hành b́nh thường, và tự do, thân xác các ông có bị đe doạ đâu, có ai bắt buộc các ông phải ăn mạng đâu, mà phải ăn chay một cách khiên cưỡng, hay phải làm cái việc quyền biến như Lục Tổ, hoặc là "không chê đồ chay, không chờ đồ mặn" như TT. Giác-Chánh đă làm . 

Các ông dẫn lời diễn giảng của Ḥa-thượng Nhật-Long mà không để ư tới điểm trọng yếu mà HT nầy muốn nhấn mạnh : "Tổ ăn chay không phải sợ hay chê hôi tanh thịt cá, cũng không phải để luyện xác thân, MÀ ĂN CHAY V̀ L̉NG TỪ BI BAO LA, CAO CẢ THƯƠNG NGƯỜI, THƯƠNG VẬT. 

Thương người ở đây chính là sợ giùm cho người khác tạo nghiệp tội, v́ ḿnh mà họ phải bị phạm tội sát sanh (v́ ḿnh thích ăn mạng, người ta phải giết sinh vật khác cho ḿnh ăn); thương vật ở đây chính là v́ ḷng từ bi bao la, coi mạng sống của các sinh vật khác như mạng sống của chính bản thân ḿnh không khác, v́ tất thảy đều có Phật tánh như ḿnh. 

Cho nên, trường hợp của Lục Tổ Huệ-Năng ở đây, ăn rau luộc trong nồi nấu thịt, chỉ là v́ ngộ biến mà phải tùng quyền, chứ chẳng phải tự ư Ngài muốn phá giới hay phạm sát, chứ chẳng phải "không quá cố chấp tập quán ăn chay" như các ông nghĩ và áp đặt cho Tổ vậy đâu, cũng chẳng phải là "Phá chấp" ǵ cả, như ư của Thượng toạ Giác-Chánh muốn nói về chính bản thân ông ta. 

Câu nói biểu hiện cho hành động của TT chỉ là vị ngă mà phá giới th́ đúng hơn, chứ chẳng phải phá chấp ǵ hết. Bằng thật sự phá chấp triệt để như Tuệ-Trung Thượng-Sĩ, hay các Thiền-sư đắt đạo, tự tại an nhiên, phi tội phi phúc, thơng tay vào chợ, lại là một việc khác, chúng ta sẽ bàn ở phần sau. 

Hơn nữa, trong Pháp-Bảo-đàn kinh, tuy là một bổn kinh dạy người pháp đốn-giáo, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, nhưng gần như phẩm nào Lục-Tổ cũng nhắc đi nhắc lại người tu Phật phải nên hành thập thiện, mà trong đó Giới-sát là đứng đầu cần nên đoạn ĺa. 

Hoặc thí như có người hỏi Ngài về việc niệm Phật cầu văng sanh Tây-Phương, Ngài dạy trong phẩm Quyết-Nghi: 

" Tiên trừ thập ác, tức hành thập vạn. Hậu trừ bát tà, năi quá bát thiên. Niệm niệm kiến tánh, thường hành b́nh trực, đáo như đàn chỉ, tiện đổ Di-đà - Trước trừ mười điều ác, tức vượt được mười muôn dặm. . Sau trừ tám điều taø, tức vượt được tám ngàn dặm. . Niệm niệm đến tỏ tự tánh, tâm thường b́nh trực, th́ như khảy móng tay, liền thấy Phật Di-Đà". 

Tuệ-Trung Thượng-Sĩ và việc ăn chay. 

Để bênh vực cho câu nói và việc làm của Thượng-Toạ Giác-Chánh, là "không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay", cũng là phá chấp theo tinh thần Bát-nhă, nhóm Phù-Sa đă đưa Ngài Tuệ-Trung Thượng-Sĩ vào làm chứng. Trước tiên bằng câu tán-thán của Đệ-Nhất Tổ Đầu-đà Trúc-Lâm Việt-nam đối với Tuệ-Trung Thượng sĩ, sau đó là dùng một bài kệ của ngài Tuệ-Trung để làm bằng cho lời biện bạch của ḿnh. 

Nhưng ở đây, ư nghĩa bài tán tụng, cũng như bài kệ lại hoàn toàn trái nghịch lại với ư tưởng của các ông trong nhóm Phù-sa, trong việc bênh vực Thầy Giác-Chánh mà các ông không hề hay biết; bỡi sự có mặt của chúng ở đây lại đánh đổ quan niệm sai lầm của chính các ông vậy. 

a. Câu tán của Đệ Nhất Tổ Trúc-Lâm dành cho Thầy ḿnh là Tuệ-Trung Thượng-Sĩ có câu "Hỗn tục ḥa quang, dữ vật vị thường xúc ngổ - Sống chung đời tục, ḥa ánh sáng với bụi bặm; với mọi vật chưa từng xúc phạm hay làm nghịch (với đạo)". 

Vế đầu bốn chữ khen ngợi một cách chân t́nh Thầy ḿnh là ngài Tuệ-Trung Thượng-Sĩ, một cư sĩ tại gia tu Phật, thoát trần đắc đạo th́ đă quá rơ ràng, cùng một ư tưởng với Lăo-Tử đă dạy người trong Đạo-Đức kinh không khác "Hoà kỳ quang, đồng kỳ trần - Hoà ánh sáng cùng với bụi bặm" . Tuy sống lẫn cùng với thế tục mà không nhiễm ô, tâm thể trong suốt như ánh sáng, tự như, không chút dính dấp với hồng trần, tức là đă kiến tánh, đă đắc đạo, đă thoát trần. 

Đă thế, Đệ nhất Tổ Trúc-Lâm c̣n cho như vậy là chưa hết ư, chưa thể hiện hết con người thật của Thầy ḿnh, mà thêm vào một câu nữa "Với vạn vật chưa từng xúc phạm tới, hay làm nghịch với lẽ đạo".

Vế thứ hai này đă làm cho chúng ta nhận ra được một cách rơ ràng con người thật trước mắt bằng xương, bằng thịt mà đạo hạnh tuyệt vời, từ bi vô lượng của ngài Tuệ-Trung; thế th́ có thể nói là Thượng-Sĩ cố chấp hay không cố chấp thành kiến ăn chay được chăng, khi mà Ngài đă thể hiện từ tâm với tất thảy chúng sanh như vậy. Mà đă thể hiện từ tâm, không từng xúc phạm tới vạn vật, cả vật hữu t́nh lẫn vô t́nh, cũng như không sống nghịch với lẽ đạo th́ làm sao có thể kết luận một cách vơ đoán là Ngài cố chấp hay không cố chấp thành kiến ăn chay? 

Các ông trong nhóm Phù-sa cần phải thật tu nhiều hơn nữa, chứ chớ nên góp nhặt chút kiến thức trong kinh điển mà tự cho là ḿnh kiến đạo, không chịu thật hành tâm tu, thân tu th́ làm sao có thể sáng tánh ra mà "một" được với chỗ này. Bằng cứ kết buộc trong chữ nghĩa, lư sự, chỉ biết dụng thế trí mà y theo mặt chữ để hiểu đạo, th́ trăm đời ngàn kiếp cũng chỉ làm ma tri thức mà thôi, không sao giải thoát được. Đó chính là sở tri chướng vậy. 

b. Các ông Phù-sa đưa một đoạn trong bài kệ "Tŕ Giới kiêm Nhẫn-nhục" của Tuệ-Trung Thượng-sĩ ra làm chứng, mà không đưa toàn thể bài kệ để có thể nói lên hết ư của Ngài muốn nói, cũng như thật ra các ông chưa liểu nghĩa bài tán Tŕ-Nhẫn Ba-la-Mật này, nghĩa là chưa tự một được trong tâm thể sáng trong, vô nhất vật, mà các Ngài tự trong chỗ đó "đang-là" vậy. Bỡi liễu được nghĩa này, th́ mọi thắc mắc, cột buộc trong các ông ắt sẽ tiêu tán thành như hư không, mọi việc tức khắc sẽ được giải quyết ngay, không c̣n một vấn đề nào cần phải bàn ở đây nữa. 

Toàn văn bài kệ "Tŕ Giới kiêm Nhẫn nhục" như sau : 

"Vô thường chư pháp hành 
Tâm nghi tội tiện sanh 
Bản lai vô nhất vật 
Phi chủng diệc phi manh. 

 

Nhật nhật đối cảnh thời 
Cảnh cảnh tùng tâm xuất
Tâm cảnh bổn lai vô
Xứ xứ Ba-la-mật. 

 

Khiết thảo dữ khiết nhục
Chủng sanh các sở thực
Xuân lai bách thảo sanh
Hà xứ kiến tội phúc. 

 

Tŕ giới kiêm Nhẫn nhục, 
Chiêu tội bất chiêu phúc
Dục tri vô tội phúc:
Phi Tŕ giới, Nhẫn nhục. 

 

Như nhân thượng thọ th́, 
An trung tự cầu nguy
Như nhân bất thượng thọ
Phong nguyệt hà sở vi?

***

Các pháp đều vô thường
Tâm nghi tội liền sanh
Xưa nay không một vật
Mầm móng ở đâu sanh? 

 

Ngày ngày khi đối cảnh 
Cảnh cảnh từ tâm sanh
Cảnh tâm không thật có
Mọi xứ đều Phật-địa. 

 

Aên cỏ với ăn thịt
Chúng sanh hợp từng loài 
Xuân đến cây cỏ sanh
Ở đâu có tội phước? 

 

Tŕ-giới và Nhẫn-nhục
Chuốc tội, chẳng chuốc phúc. 
Muốn biết không Tội, Phước:
Không Tŕ-giới, Nhẫn nhục. 

 

Như có người leo cây
Đang yên bỗng t́m nguy
Bằng không leo lên cây
Trăng gió làm chi được? 
 

Trong bài kệ trên, tóat ra một tinh thần phá chấp triệt để. Tuy nhiên, nếu chịu để ư một chút, th́ mới thấy rơ chỗ dùng từ ngữ của Ngài Tuệ-Trung, mà không bị lầm . 

Đành rằng, với bậc giải thoát như Ngài, th́ trước mắt đâu đâu cũng là Phật-địa cả (Xứ xứ Ba-la-mật), cho nên, với những người đắc đạo như Ngài, không câu nệ Tŕ-Giới hay Nhẫn nhục ǵ cả, thậm chí sáu Ba-la-mật đều không, v́ là Ngài đă kiến tánh, đă thành tựu công đức, đă tự Không, Vô-tướng, Vô-tác, hiu nhiên giải thoát. 

Việc Ngài không c̣n tŕ giới, không c̣n phải nhẫn nhục ǵ nữa cả, thể hiện trong thật tại tuyệt đối của Ngài Tuệ-Trung, hoàn toàn khế hợp với lư đạo, đến Bát-nhă cũng không c̣n có ǵ là Bát-nhă nữa, mà Bát-nhă chỉ là gỉa danh của tánh quang chơn tâm, của Phật tâm chơn thường rỗng lặng, tịch lặng mà thường sáng soi, chiếu diệu . Bỡi thế, tới chỗ này, Phật mới thuyết "Bát-nhă Ba-la-Mật, tức chẳng phải Bát nhă Ba-la-Mật, chỉ tạm gọi là Bát-Nhă Ba-la-mật mà thôi" (Kim-Cang kinh). 
 

Thế mà ở đây, các ông Phù-sa và cả Thượng toạ Giác chánh, thân lẫn tâm đă được như Thượng-sĩ chưa mà đ̣i phá chấp, hay cố chấp với không cố chấp thành kiến ăn chay ? 

Đó chính là các ông chỉ biết đưa lời của người khác ra làm chứng, mà không chính tự thân tâm ḿnh đứng ra làm chứng được vậy, nghĩa là thấy Phật ngoài tâm mà thôi. Bỡi cớ sao ? V́ chưa tự vượt thoát mà dùng lư lẽ vượt thoát của người khác, của ngoài thân vậy mà biện sự của các Ngài, th́ làm sao mà trúng cho đượ ! Đây là cái bệnh "cam tích" tri kiến và ngă mạn vậy. 

Các ông có biết rằng, trong bài kệ mà các ông nêu ra đó có câu , Khiết thảo dữ khiết thực, Chủng sanh các sở thực - ăn thịt và ăn cỏ, chúng sanh loài nào có thức ăn riêng của loài đó. Nghĩa là thiên nhiên đă phú cho loài nào th́ có thức ăn thích hợp với từng loài đó. Như loài trâu, ḅ, có bộ răng để chuyên gặm cỏ. Loài cọp, beo, lang sói có bộ răng thích hợp để ăn thịt sống các loài động vật . Loài khỉ vượn, cũng giống như loài người có bộ răng chỉ chuyên dùng để ăn trái củ, hoa quả là chính. Nhưng do loài người thông minh hơn các loài khác, theo thời gian học hỏi, tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống mà cả thân lẫn tâm biến chuyển và tiến hóa vượt bực, cộng với ba độc v́ chấp ngă, v́ vô minh mà tàn độc giết hại các loài khác để làm thức ăn, chứ với ư của ngài Tuệ-Trung, chủng sanh các sở thực - mỗi loài có từng thức ăn riêng, th́ rơ ràng là Ngài đang thật hành Lục-độ , và đang Tŕ-giới không ai bằng vậy. Thế th́ tại sao ông không chịu hiểu theo ư của Tổ mà lại hiểu một cách đơn giản, máy móc là không cần biết trai hay mạng mà ăn tất ? 

Phải hiểu rằng, với Ngài Tuệ-Trung, cũng như các Thiền-sư đắc pháp khác, các Ngài đă vượt thoát trói buộc của nhơn quả; nên chúng ta phải hiểu là, lời của các Ngài tuôn ra từ cảnh giới giải thoát. C̣n chúng ta đang lặn hụp trong nhơn quả, niệm niệm từng sát na không dừng nghỉ, mà một niệm sanh là một nghiệp sanh, là cảnh giới của nghiệp thiện, nghiệp ác liền xuất hiện và ẩn tàng trong nghiệp thức. Thế th́ đem chữ nghĩa là những kư tự kết buộc trong nhị nguyên ra mà bàn tâm ư của các Ngài th́ làm sao trúng được, mà các ông Phù-sa cột buộc với chúng? 

c. Trong đây, các ông Phù-sa đưa ra lời "b́nh" của các ông, các bà Minh-Chi, Lư-kim-Hoa, Hà-thúc-Minh, vv và vv… trong ủy-ban khoa học xă hội Việt-Nam đối với tác phẩm của Tuệ-Trung Thượng-Sĩ ra làm chứng, để bênh vực cho quan niệm sống "nên chay hay mặn" của một Tỳ kheo tu Phật (Thượng-Toạ Giác-Chánh) là một điều quá sức, hết sức sai lầm và lệch lạc, nếu không muốn nói là các ông Phù-sa quá ấu trĩ, chỉ mới tập ṭ học đạo. 

Các ông, các bà trên kia có phải là những Tổ sư Thiền tông hay không (đang nói về Tuệ-Trung) mà các ông Phù-sa góp nhặt những ư kiến c̣n kết buộc trong nhị nguyên của họ để đưa vào áp dụng trong việc tu hành? 

Các ông, các bà ấy có phải là những người mà các ông biết rơ như thật là những người y theo giáo pháp Phật mà tu, đă kiến tánh, đă đắc pháp, đă "một" với tâm ư Tổ, Phật chưa, hay họ chỉ là những nhà nghiên cứu, những học giả, những văn gia chỉ dùng lư luận và tri thức để biện sự, mà tâm ư của họ hoàn toàn không chút dính dấp tới tánh Không mà Tuệ-Trung Thượng-Sĩ trong ấy "đang-là"? 

Một lời chân thật cùng các ông Phù-sa . Nên lo tu hành đi, cả thân lẫn tâm, chớ nên viết lách nữa. Chừng nào gỡ trói được cả hai bên của chính ḿnh th́ hẵn viết, để cứu độ. C̣n hiện tại, thân tâm thể hiện trong bài viết c̣n đầy trói buộc, luôn luôn chạy theo chữ nghĩa, kinh điển th́ làm sao có thể giúp người phá bỏ cột buộc? Đă thế mà các ông không tự biết, lại c̣n đứng ra biện sự một cách sai lầm lệch lạc như đă thể hiện cả nội dung lẫn h́nh thức trong bài dĩ kinh chứng kinh, khiến cho những người không biết, những người sơ cơ lỡ lầm nghe theo các ông mà "phá giới" thiệt, th́ đến khi tro tàn, lửa tắt, chẳng những chỉ riêng các ông phải chết ch́m với nghiệp tội phải đeo mang (v́ lầm lư mà phá giới, phạm sát) và với đúng sai của nhị nguyên cột buộc (sở tri chướng) mà c̣n dắt người khác cùng trôi nổi như các ông, th́ tội lỗi càng thêm chồng chất, có hối cũng chẳng kịp.   
 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang ăn chay >>