categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

ĂN CHAY VÀ ĂN MẶN

Nhận xét về "lời giới thiệu"của T.T Giác-Chánh trong
bản dịch quyển sách "Vấn-đề Ẩm-thực trong đạo Phật"

Cư Sĩ Chơn Chánh

 ---o0o---

Nhân đọc "Lời giới thiệu" của TT. Giác-Chánh trên tập sách "Vấn đề Ẩm thực trong đạo Phật" do Tỳ-kheo Thích Thiện-Minh dịch từ tên sách, Sanjivaputta "Are You Herbivore or Carnivore". England, 1992 , chúng tôi có mấy nhận xét như sau.

Trong phạm vi hạn hẹp của bài viết, ở đây chúng tôi chưa đề cập đến việc ăn chay có những lợi hại nào, hoặc có nên hay không nên ăn chay, v́ vấn đề này đă được các Đạo-hữu của chúng ta phân tích quá kỹ lưỡng, quá tỉ mỉ rồi.
Bài viết này chúng tôi muốn dành riêng để đóng góp ư kiến đối với lời giới thiệu quyển sách trên, do TT. Giác-Chánh viết.

Một Cư-sĩ tu Phật mà phê b́nh bài viết của một Điều-ngự tử là điều không nên làm. Tuy nhiên như TT Giác-Chánh đă viết, "với tinh thần phá chấp" th́ ở đây không c̣n có chỗ nào là phân biệt nữa, nên chúng ta nói với nhau trong b́nh đẳng tánh, trong pháp tánh, như pháp mà nói, th́ không có chỗ phạm vậy. Nghĩa là nói mà không có tính cách chỉ trích cá nhân, không chỗ vướng mắc, trói buộc theo tự ngă, mà chỉ nói trong tinh thần xây dựng, để tốt đạo đẹp đời mà thôi.

Trong phần đầu của lời giới thiệu, Thượng-toạ Giác-Chánh viết :

"Gịng Thiền Tào-Khê Trung-Quốc và gịng Thiền Trúc-lâm Việt-nam, các vị Tổ cũng không quá cố chấp tập quán ăn chay. Một số nước Phật-giáo Đại-thừa như Mông-cổ, Triều-tiên, Nhật-bản vv.họ cũng không bảo thủ tục ăn chay".
Chúng tôi thật bất ngờ không biết TT. Giác-Chánh căn-cứ vào đâu để quả quyết rằng các vị Tổ gịng Thiền Tào-khê và gịng Thiền Trúc-lâm "cũng không quá cố chấp tập quán ăn chay".

Trước hết, chúng tôi thấy TT. Giác-Chánh cố t́nh áp đặt sự "cố-chấp hay không cố chấp" và "bảo thủ hay không bảo thủ" lên chư vị Tổ sư Thiền-tông, chứ các Ngài hoàn toàn không phải vậy. V́ sao ? V́ đối với các Ngài, một chút tự ngă c̣n chẳng có huống là nói, có cố chấp hay không cố chấp .

Các Ngài hành đạo tuỳ duyên, không căn cứ vào bất kỳ một pháp nhứt định nào để giáo hóa chúng sanh; gặp mặn thuyết mặn, gặp chay thuyết chay, không ngoài mục đích làm cho người ngoảnh đầu mà nhận ra tự Phật, thế th́ làm sao có thể bảo các Ngài là cố chấp hay không cố chấp được. V́ khi nói các Ngài"không quá cố chấp", là TT đă vô t́nh áp đặt các Ngài c̣n có tự ngă, có nghĩa rằng các Ngài tự đă có mầm "chấp" ẩn tàng trong đó rồi. Các Ngài hoàn toàn chẳng phải vậy. Chỉ có những người thời nay, như TT. Giác-Chánh chẳng hạn, không biết chút ǵ về pháp hành của các Ngài nên mới có những lời quá ư vơ đoán và cao ngạo đối với sự nghiệp giáo hóa chúng sanh của các Ngài mà thôi. Các Ngài hoàn toàn chẳng phải như vậy.

Phải hiểu thế nào là "Không quá cố chấp tập quán ăn chay" .
Câu nói của TT Giác-Chánh không ra ngoài ư nghĩa, người xuất gia cũng như tại gia muốn ăn chay, ăn mặn ǵ cũng được, hoàn toàn buông thả, không câu nệ. Đó là ư nghĩa đích thực của sự không cố chấp vào tập quán ăn chay vậy.
Vậy chúng ta hăy t́m hiểu cặn kẽ xem có phải các gịng Thiền Tào-khê của Trung-hoa và gịng Thiền Trúc-lâm của Việt-nam không câu chấp trong việc ăn uống, chay cũng tốt mà mặn cũng hay, nghĩa là không cần lưu ư tới giới luật, đặt biệt là sát-giới, có đúng như lời vị Tỳ-kheo Giác-Chánh của thời đại chúng ta nói chăng ?

a). Các vị Tổ gịng Thiền Tào-khê có buông thả sát giới không ?
Khi nói đến gịng Thiền Tào-khê, tức là đề cập tới Lục-Tổ Huệ-Năng, vị Tổ sáng lập gịng Thiền Nam-tông Trung-hoa, mà Tào-khê cũng là Thánh-địa xuất sanh Tông này sang các nước khác như Việt-nam, Nhật-bản, Triều-tiên. Cũng như khi nói đến Bắc-tông là nghĩ ngay đến ngài Thần-Tú vậy (Nam Năng - Bắc Tú).

Vậy đối với sự ăn chay, chúng ta hăy xét xem ngài Huệ-Năng đă nói ǵ, làm ǵ đối với vấn đề này, có cố chấp hay không cố chấp như TT. Giác-Chánh đă nói.

* Chúng ta hăy xem trong phẩm Tự-Tự, pháp hành của Tổ khi chưa thọ cụ túc giới : "Lạp nhơn thường linh thủ vơng, mỗi kiến sanh mạng tận phóng chi. Mỗi chí phạn thời, dĩ thái kư chữ nhục hoa; hoặc vấn, tắc đối viết : "Đăn khiết nhục biên thái - Bọn thợ săn thường bảo Ngài giữ miệng lưới; gặp thú mắc lưới, Ngài đều thả hết. Mỗi khi đến giờ ăn, Ngài lấy rau nấu kèm theo nồi luộc thịt mà dùng qua ngày; gặp người có hỏi, Ngài nói "Ta chỉ ăn rau luộc mà thôi".

* Sau khi thọ cụ túc giới tại chùa Pháp-tánh ở Quảng-châu và bắt đầu hóa đạo, trong phẩm Quyết nghi, thuyết pháp cho Vi Thứ-sử và đại chúng, Ngài dạy "Thiện tri thức ! Thường hành thập thiện, Thiên đường tiện chí; trừ nhơn, ngă Tu-di đảo - Này ! Các Thiện tri thức ! nên thường làm mười điều lành th́ ắt tới được Thiên đường. Đoạn ĺa nhơn, ngă th́ làm sập núi Tu-di".

* Trong phẩm Sám-hối, Ngài dạy : "Nhứt, Giới hương tức tự tâm trung vô phi, vô ác, vô tật đố, vô tham sân, vô kiếp hại, danh Giới hương - Một là, Giới hương, tức trong tâm không nghĩ điều trái, không làm ác, không ganh ghét, không tham không giận, không giết hại, gọi là Giới hương".

Vậy thế nào là giới tham, giới giết hại, chúng tôi xin nhường lại cho người tu Phật luận bàn.

Chỉ ba đoạn trích ngắn trong kinh Pháp-Bảo-đàn, chúng ta đă thấy rơ ḷng từ bi cũng như pháp dạy người của Ngài, không rời ĺa tự tánh và luôn luôn làm các hạnh lành mà sát giới là hạnh quan-trọng đầu tiên trong mười hạnh mà Ngài khuyên cần phải chơn chánh tu tŕ.

Vậy th́ gịng Thiền Tào-khê mà đại diện là Lục-Tổ Huệ-Năng, người sáng lập ra gịng Thiền này có buông thả việc sát sanh hại mạng chăng?
Bỡi v́ sao? Tấm gương mà Ngài đă làm lúc c̣n chưa thọ cụ túc giới, bất đắc dĩ phải sống mai danh ẩn tích trong chốn thợ săn, thế mà Ngài cũng không hề phạm sát giới và vẫn ăn chay, mặc dù điều kiện sinh sống lúc ấy của Ngài vô cùng khó khăn, gian khổ. Vậy th́ khi hành đạo lẽ nào lại buông thả giới sát ?
Cũng như Ngài dạy cho Vi Thứ-sử và đại chúng hành thập thiện, mà trong mười hạnh lành này, không sát hại chúng sanh để nuôi sống, làm lợi cho tự thân là hạnh đứng đầu.

Lại nữa, đối với người tu Phật, muốn cứu cánh viễn ly phiền năo, đoạn ĺa tử sanh, không thể không tu Giới, Định, Huệ . Mà Giới lại là pháp đứng đầu . Có Tŕ Giới th́ Định mới sanh; Định sanh th́ Huệ sáng. Cho nên Lục tổ không lúc nào không dạy người phải chơn chánh tŕ Giới. Mà trong Giới có phần không giết hại tất thảy các chúng sanh nói chung trong đó. Mà ăn chay tức là Giới được sát sanh, hại mạng vậy.

Thế th́ lời của TT. Gíac-Chánh áp đặt cho gịng Thiền Tào khê là buông thả giới sát là hoàn toàn vơ đoán và phạm thượng vậy. Đây là chúng tôi chỉ nói trong một phạm vi nhỏ hẹp, lấy riêng Pháp-Bảo đàn kinh mà nói thôi, chứ nói cách bao quát "gịng Thiền Tào-khê" th́ chúng tôi có thể dẫn chứng suốt từ Lục-Tổ cho đến ngày nay, chỉ ra chỗ sai lầm trong câu nói của TT Gíac-Chánh, tới chết cũng không nói hết.
b). Các vị Tổ của gịng Thiền Trúc-Lâm Việt-nam có buông thả sát giới không ?

* Trong quyển Tam Tổ Thật Lục, là Kim-chỉ nam của gịng Thiền Trúc-lâm Việt-nam, có đoạn nói về Điều-ngự Giác-Hoàng, lúc Ngài c̣n chưa xuất gia :
"Tuy vinh xử cửu trùng nhi thanh tịnh cư. Thường cam sơ tố, bất ngự huân thiện - Tuy ở chốn cửu trùng cao sang mà vua vẫn sống thanh tịnh. Ngài thường dùng trai lạt, mà không ăn đồ tanh hôi (mặn)".

* Lại cũng có đoạn nói sau khi Ngài xuất gia và đi hóa đạo:
"Giáp Th́n, thập nhị niên, châu hành tụ lạc, hóa trừ dâm từ, giáo hành thập thiện - Năm Giáp Th́n, niên hiệu Hưng-Long thứ mười hai, Điều-Ngự đi khắp xóm làng dạy dân phá bỏ các dâm từ (đền thờ tà thần) và thật hành thập thiện".

* Người nối pháp Điều-Ngự là Nhị-Tổ Trúc-lâm Pháp-Loa Tôn-giả cũng dạy giữ giới, hành thập thiện mà sát giới là giới đứng đầu cần phải nghiêm tŕ.
Đệ Nhất Tổ Đầu-đà Trúc-lâm lúc chưa xuất gia, c̣n sống tịnh cư, ăn chay, đến khi xuất gia hành đạo dạy người cũng răng dạy chúng sanh hành mười việc thiện, đến các Tổ cũng noi theo gương ấy mà giáo hóa chúng sanh.
Thế mà TT. Giác-Chánh bảo là gịng Thiền Trúc-lâm Việt-nam không cố chấp tập quán ăn chay. Thật là lời điên đảo .

2. TT. Giác-Chánh nói : "Riêng tôi th́ không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay, có lẽ ảnh hưởng tinh thần Bát nhă".

Trước hết, chúng tôi khẳng định cùng TT Giác-Chánh rằng chỉ với 23 từ (lời) trong một câu nói ngắn trên của TT, đă đủ minh chứng rằng, TT. không có một chút ǵ dính dấp tới Bát-nhă cả. Đó là chưa nói tới hai chữ "tinh thần Bát nhă" mà TT đă dùng.

Bát-nhă là Bát-nhă, mà chẳng phải là ǵ cả, nên hoàn toàn không có chút ǵ có thể gọi là "tinh thần" Bát-nhă cả. Cũng như nói Phật là Phật, Tâm là Tâm chứ không thể nói tinh thần Phật, tinh thần Tâm được. Phật là Tâm, Tâm là Phật, Bát-nhă là Phật, mà Phật th́ chẳng có tinh thần. Đến hai chữ Bát-nhă cũng chỉ là giả danh, tạm mượn để gọi chỗ tuyệt đối, không năng không sở, không khác không hai, phi đối đăi th́ làm ǵ có tinh thần Phật, tinh thần Bát nhă trong đây.
Phật dạy ông Tu-Bồ-Đề trong kinh Kim-Cang Bát-nhă:

"Tu-bồ-đề ! Phật thuyết Bát-nhă Ba-la mật, tức phi Bát-nhă Ba-la mật, thị danh Bát-nhă Ba-la mật - Này ! Tu-Bồ-Đề ! Như-lai nói Bát-nhă Ba-la mật, tức chẳng phải Bát-nhă Ba-la mật, chỉ tạm cưỡng gọi là Bát-nhă Ba-la mật mà thôi".

Đó có nghĩa là Phật là Bát-nhă Ba-la mật, ông Tu-Bồ-đề mà nhận được ra nó th́ cũng tự một trong Bát-nhă Ba-la mật mà miệng lưỡi chẳng thể với tới. Đến cái tên gọi mà c̣n chẳng thật có, huống là có "tinh-thần Bát-nhă". Nói tinh-thần Bát-nhă cũng chỉ là môi mép, khoe mẽ chứ thật đă biết nó rồi th́ không thể mở lời mà nói trói buộc như thế được. V́ Bát-nhă hoàn toàn chẳng có tinh thần nào cả, như nói tiếng "Phật" là Phật, không khác.

Cho nên chỗ nói "không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay, có lẽ do ảnh hưởng tinh thần Bát-nhă"của TT Giác-Chánh hoàn toàn trói buộc trong tư tưởng và sáo rỗng, khoe mẽ trong cách dùng từ, tịnh không có chút ǵ tương ưng trong thực tế.

V́ sao chúng tôi nói trói buộc và sáo rỗng ? Chúng tôi sẽ chỉ ra giùm cho TT.
Trước hết, trong chỗ riêng tư của TT, câu nói của TT rằng, tôi không chê đồ chay, có nghĩa là TT thật tâm tỏ lộ ḿnh đang có chỗ ăn mặn, cho nên nếu có chay th́ ăn cũng được chứ không chê nó.

Thứ nữa, TT là người xuất gia, lời nói phải oai nghi để người ta khỏi phải hiểu lầm về ḿnh, nếu thật tâm ḿnh không ăn mặn. Câu nói phù phiếm gần như nửa đùa, nửa thật "tôi không chê đồ chay nhưng .", mới nghe qua, nhiều người liền nghĩ ngay là TT đang ăn mặn, đó là điều khó tránh khỏi.

Vẫn biết việc TT làm không can hệ ǵ tới chúng tôi, nhưng trong lời tựa, lời giới thiệu, là những trang đầu tiên và trọng đại đối với một cuốn sách, là chỗ làm cho người ta chú ư nhiều nhất, đánh giá quyển sách nhiều nhất mà TT nói không trang nghiêm, không hợp với đạo đức của một Tỳ kheo của Phật, dễ làm cho người hiểu lầm mà lung lay tín tâm, là điều không thể chấp nhận được.
Bỡi v́ sao ? Nhiều người như chúng tôi đọc đến câu ngắn ấy, liền tự nghĩ : "ông tăng này tu Phật mà nói chê hay không chê cơm chay" th́ làm sao tu được. V́ trước hết, nếu ông ta thật sự chê th́ không cách ǵ sống nổi để tu, c̣n nếu muốn sống phải phạm giới. Vả lại ông ta tu pháp thanh tịnh, là Bất-Nhị Pháp-Môn mà mở miệng đă bị ràng buộc vào các pháp Thường, Đoạn rồi ( chê, và không chê) th́ ông này nếu không rơi vào tà kiến ắt phải rơi vào đoạn diệt tướng không sai.

Lại nữa, đă là người tu Phật sao lại nói là "không chấp nhận thành kiến ăn chay". Ăn chay sao lại gọi là thành kiến. Bộ ăn chay là xấu, là trái với luân thường đạo lư, là nghịch với mỹ tục của người ḿnh, của đạo Phật hay sao mà nói thành kiến với không thành kiến trong đây.

Bài tựa của một Thượng-tọa trên một quyển sách có khác nào một bài pháp, tuỳ duyên giáo hóa. V́ nếu đă là Tỳ-kheo th́ phải Như-Pháp mà thuyết, là chỗ nào cũng có thể thuyết được, cũng có thể làm lợi cho người được; nghĩa là thuyết từ trong Pháp-tánh, cũng là không ĺa tự tánh mà thuyết vậy.

Thế mà chỉ một câu ngắn của TT đă gồm đủ cả trói buộc, sáo rỗng th́ pháp nào TT có thể dẫn người đến giải thoát, tức là ĺa dính mắc của hai bên.

Ăn chay mà là thành kiến à?. Nếu đă có thành kiến với nó th́ làm sao có thể làm tăng, làm cư-sĩ mà tu Phật được. Hoặc giả, TT có thể nói lại, tôi tu th́ tôi ăn chay, nhưng tôi không chấp nhận thành kiến ăn mặn đối những những thiện nam tín nữ tu tại gia. Chuyện ǵ mà TT phải lo cho người ta không ngon miệng, hay là TT thương người mà căm ghét thú vật? Nói như TT đó th́ hoàn toàn không thể chấp nhận được, v́ người xuất gia tu Phật mà lại nói lên cái điều đi ngược lại đức "hiếu-sinh" của Tổ Phật (phải thể hiện đức hiếu sinh đối với tất thảy chúng sanh). Bỡi v́ các Ngài lúc nào cũng khuyến khích con người thật hành đức hiếu sanh mà. Nếu một người b́nh thường như ông Chính-Trực chẳng hạn mà nói ra câu này, th́ tạm có thể chấp nhận được, v́ dù sao ông ta cũng chỉ là một thân cận nam của nhà Phật, cùng lắm là chỉ làm thập hạnh. C̣n riêng với người xuất gia, đă thọ đầy đủ tất cả Giới (Cụ-túc Giới), chẳng những không khuyến khích người ta mở rộng ḷng từ bi mà ban ban vui cứu khổ đối với loài vật th́ chớ, TT lại nói gần như khuyến khích người khác làm ngược lại giới hạnh của Thế-tôn đă dạy không bằng. Thế th́ ḷng "từ" TT để ở đâu ?

Tất thảy chúng sanh đều có Phật tánh. Tiền nhân bao kiếp trước của TT, của chúng tôi biết đâu cũng có trong số những chúng sanh đang chờ người ta thọc huyết, trấn nước hay sắp bẻ cổ kia.

TT nói, TT không chấp nhận thành kiến an chay v́ có lẽ ảnh hưởng tinh- thần Bát-nhă. TT làm ǵ mà nhận ra Bát-nhă mà nói ảnh hưởng với không ảnh hưởng. Nếu đă có chút xíu Bát-nhă trí sanh trong tâm TT th́ không bao giờ TT nói ra những lời như thế. Đó là điều chơn thật. V́ khi hành giả tự một với nó th́ liền có chỗ thấy biết như thật rằng, vạn loại chúng sanh cùng ḿnh đều từ trong chỗ một tuyệt đối của tánh Phật; mà cùng tột tánh này không ngoài t́nh thương bao la, rộng lớn đối với hàm-linh hữu t́nh, như cha mẹ thương con không chỗ phân biệt.

Người đă thâm nhập Bát nhă là người tự một với Bát nhă, mà không c̣n thấy có tinh thần nào hết. Kim-Cang là Kim-Cang, mà cũng chẳng có tinh thần nào là Kim-Cang hết. Hễ tự một được trong nó, cũng là kiến tánh th́ không năng không sở, không khác không hai với nó, chứ chẳng có ǵ là tinh thần để ảnh hưởng hay không ảnh hưởng hết. Chỗ nói ảnh hưởng đó chỉ là vọng tưởng của tự tâm trong chỗ vọng cầu, vọng thấy mà thôi.

Một khi TT đă "một" được với nó rồi th́ TT sẽ không bao giờ nói một câu không ra ǵ như : "tôi không chấp nhận thành kiến ăn chay".

Chỉ một câu này đă đủ nói lên TT chưa là ǵ cả đối với Bát nhă vậy, v́ nó đă tự ĺa xa Bát-nhă . Hễ được th́ nó đă tự saün một cùng ḿnh, không đâu không ḿnh là một nó; bằng chưa được th́ ngàn trùng xa thẳm, dẫu cố kiếm t́m muôn kiếp cũng không ra, chứ nói chi là ảnh hưởng với không ảnh ảnh; bỡi nó có phải là tướng giả hợp của sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, của thọ, tưởng, hành , thức đâu mà nói có tinh thần hay có ảnh hưởng.

Phật dạy "Nhược thế giới thật hữu giả, tức thị nhứt hiệp tướng. Nhứt hiệp tướng giả, tức bất khả thuyết - Bằng thế giới mà thật có, th́ đó tức là tướng Nhứt hợp. Tướng Nhứt hợp đó, nói không thể tới vậy".

Bát nhă là Nhứt hợp tướng, là tướng nhứt hiệp, là chơn tánh, là chơn-như mà nói không thể tới vậy.
Cho nên, Bát nhă đâu đâu cũng có mà không có tinh thần để TT có thể ảnh hưởng. Chỉ tùy duyên mà tỏ cùng không, chứ Bát-nhă chẳng có tinh thần. Thí như nói, người chết là hoàn toàn hết thở, mà hoàn toàn hết thở là chết, chứ chẳng thể nói rằng, tôi đă chết mà c̣n thở (c̣n nói) được.

Chỗ mà TT nói là tinh thần Bát nhă chỉ là tưởng tượng để loè người.

Nếu TT là Bát nhă, Bát nhă là TT, th́ chổ thuyết của TT sẽ không ĺa tữ tánh, sẽ không năng không sở, chứ chẳng phải ràng buộc đủ thứ như chỉ trong một câu nói ngắn ở trên mà có đủ cả tứ tướng.

Chúng tôi biết ư TT muốn nói rằng, TT là người đă đạt đạo, đă vô ngă, đă thơng tay vào chợ, là Thánh rồi, nên không c̣n có cái tâm nề hà, câu chấp ǵ về chuyện chay mặn cả. Nghĩa là đối với TT th́ sao cũng được, TT đến đi đă tự tại, an nhiên rồi.

Thưa ! Chưa được ǵ cả đâu! Tâm chưa như-như đâu. Bằng chứng là bốn tướng c̣n hiện to đùng trong mỗi câu nói của TT. Lại nữa, trong chỗ vi tế, điều mà TT nghĩ suy, và có ư muốn khoe ra đó, chính là sợi dây trói buộc của tự ngă, và hoàn toàn đi ngược lại, là chống lại Bát-nhă vậy.

Chỉ một câu nói ngắn mà c̣n chưa hết phàm t́nh, chưa rổng rang không một ư, chẳng phải từ tự tánh xuất sanh th́ làm sao TT có thể nói là có chỗ tự chứng để không c̣n biết phân biệt chay mặn, thiện ác được. Thật khổ tâm !

V́ TT lấy Lục Tổ ra nói, nên chúng tôi mới đem Pháp Bảo đàn ra nói chuyện cùng TT.

Lục Tổ nói :

Ngột ngột bất tu thiện,
Đằng đằng bất tạo ác,
Tịch tịch đoạn kiến văn.
Đăng đăng tâm vô trước.

 

Tạm dịch :

An nhiên không tu thiện.
Tự tại ác chẳng làm.
Lặng lẽ ĺa nghe thấy,
Vô sở trụ, tâm trụ.

Lục Tổ Huệ-Năng lại cũng nói :

Tâm b́nh hà lao tŕ giới,
Hạnh trực hà dụng tu thiền.
Tâm b́nh đẳng chẳng đợi giữ giới,
Hạnh thẳng ngay không đợi tu Thiền.

Thế nào là "an nhiên không tu thiện", thế nào là "tự tại ác chẳng làm" ?

Là đă tự thể hiện cái tâm nhứt như, b́nh đẳng rồi, nên mới được như thế.

Tại sao Tâm b́nh th́ chẳng cần tŕ giới, Hạnh trực th́ chẳng đợi tu thiền ?

Đó là đă tự sống "một" trong Pháp-giới tánh, cũng là thể hiện cái tâm tuyệt đối sáng trong, như như, b́nh đẳng, cùng một với pháp giới tánh không hai không khác.

Thế TT Giác-Chánh đă "một" trong Pháp-tánh chưa, đă tự một với b́nh đẳng tánh chưa mà TT tuyên bố là với tinh thần phá chấp mà TT nói và làm như thế.

Thưa ! Đây chẳng phải là tinh thần phá chấp ǵ ráo, mà là tinh thần phá giới và khuyến khích người phá giới th́ có!

Phật tử mà nghe TT Giác-Chánh thuyết kiểu này ắt trở thành dân ma hết.

Nếu TT thật sự "vô chấp", trọn một trong Pháp tánh, B́nh đẳng, như-như, không ngă, không nhơn , không chúng sanh, không thọ mạng, th́ lời nói của TT không phải bị trói buộc từng câu từng chữ như thế này đâu. Tôi sẽ chỉ ra cho TT trong những bài viết sau nếu có dịp.

TT Giác-Chánh viết "Soạn giả cũng như dịch giả của tập sách này chắc chắn không có ư chỉ trích hay xuyên tạc người ăn chay, chỉ muốn biện minh vấn đề ăn chay không phải là một trong tám muôn bốn ngàn pháp môn của đức Phật Gotama, mà chỉ là "Giáo ngoại biệt truyền" thôi.

Tại sao lại có Giáo ngoại biệt truyền lọt vô trong này.
À th́ ra ông TT này chơi chữ cho thiên hạ khớp mà thôi chứ ư nghĩa câu trên (chay mặn) chẳng có chút ǵ dính dấp tới ông già Hồ mắt xanh cả. Đây chỉ là một cách loè người bằng chữ nghĩa.

Tại sao chúng tôi dám khẳng định là TT loè ?

Bỡi v́ trong lời giới thiệu cho quyển sách, TT nói nào là tinh thần phá chấp (Vô-chấp, Vô-ngă), nào là tinh thần Bát-nhă mà thật ra TT chẳng thể hiện một chút ǵ là vô ngă cả, chí ít là trong lời nói; cũng như tâm thể hiện hoàn toàn trói buộc với sanh diệt pháp mà chẳng có chút ǵ rổng rang không dính mắt của lẽ như ( tự thể hiện trong lời nói của TT), và cũng chẳng có chút ǵ dính dấp tới Bát nhă trong này cả.

Đă nói là phá chấp mà c̣n viết : "Tôi không chê đồ chay, nhưng tôi không chấp nhận thành kiến ăn chay".TT phá chấp, vô ngă cái kiểu này th́ những người nghe TT giảng pháp ắt là vào tà kiến, đoạn diệt hết. Đó là do tâm TT c̣n chất chứa vô số chấp, nhứt là tâm cống cao, ngă mạn.

Trong lời giới thiệu, TT. Giác-Chánh có nói "Thành thật mà nói, tục lệ ăn chay do các tu sĩ Phật giáo về sau xu hướng theo Bà-la-môn (Aán-độ giáo) ở Aán-dộ và đaọ Tiên ở Trung-Quốc để dễ thu hút tín đồ của họ, như ngài Huệ năng nói :

"Muốn lo toan độ thế,
Phương tiện phải saün sàng.
Chớ để người nghi hoặc
Tánh họ mới minh quang".

Thiệt t́nh chúng tôi không biết TT này nói ǵ. Ở phần trích dẫn phía trên, đang nói về việc chay mặn, ông ta đem đút ông già Hồ vào (Giáo Ngoại Biệt Truyền), không chút ǵ ăn khớp với ư của bài viết. C̣n ở đây th́ đem việc chay mặn của các tu sĩ Phật giáo có xu hướng theo Bà la môn Aán độ và Đạo-giáo ở Trung quốc ra nói, rồi cắm vào đó bốn câu rút ra từ trong "bài kệ vô tướng" của Lục-Tổ không dính dấp, ăn nhập ǵ tới chuyện chay lạt hết, như thể lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia vậy, thật là xà bát, chứ chẳng thấy có chút ǵ là Bát-nhă cả.
Nguyên lai bốn câu kệ ấy ở trong bài kệ vô tướng mà Lục tổ dạy người nên tu.

Dục nghị hóa tha nhơn,
Tự tu hữu phương tiện.
Vật linh bỉ hữu nghi.
Tức thị tự tánh hiện,

 

Nếu muốn hóa độ người
Tu và có phương tiện.
Chớ để người nghi lầm,
Tức là tự tánh hiện.

TT thuyết cái kiểu này, những người đọc như chúng tôi nghe qua, xem qua rồi bỏ th́ được, chứ nếu động năo để mà hiểu cho được ư TT muốn nói ǵ, th́ ắt là tẩu hỏa nhập ma mất.

Kính thưa quư vị,

T́nh cờ, Hướng tôi đọc được bài dưới đây của một vị tỳ kheo viết để giới thiệu tập sách "Vấn đề ẩm thực trong Phật giáo" do một vị tỳ kheo khác viết. Người viết bài giới thiệu tự giới thiệu về bản thân là..."...không chê đồ chay nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay, có lẽ ảnh hưởng tinh thần Bát nhă "..."..thấy các vật thực vốn là nguyên chất đất, nước, lửa, gió..."...ăn mặn nói ngay, ăn chay nói dối ..."..."Với tinh thần phá chấp, tôi xin trân trọng giới thiệu ...." vân vân và vân vân ...

Hướng tôi có mấy điều lấn cấn trong tâm như sau, xin tŕnh ra với chư vị Sứ Giả Như Lai, chư Đại Thiện Tri Thức và quư đạo hữu:

---Phải chăng tinh thần Bát Nhă trong đạo Phật là tu sĩ được tự do thoải mái ca ngợi sự ăn thịt chúng sinh, tự biện minh rằng " cá thịt nhưng không phải là cá thịt, nếu lúc ăn có "chánh niệm tỉnh giác", thấy các vật thực vốn là nguyên chất đất, nước, lửa, gió ..", nếu vậy, khi thấy người khác phái, ôm chầm lấy với tinh thần Bát Nhă, thấy "ngưới khác phái nhưng không phải là người khác phái" ...,... thấy thây người chết cháy cũng ăn thịt họ luôn , coi như thịt quay v́ "...vốn là nguyên chất đất, nước , lửa, gió ..", được chăng?

Vị này dùng từ ngữ " đồ chay mà tâm mặn" để nói móc những người ăn những món chay có tên giả món mặn như thịt quay, cá kho v.v... Hướng tôi cầu sao cả thế giới đều chỉ ăn toàn đồ chay với tên mặn, như vậy, cả thế giới sẽ thoát được nợ máu lẫn nhau, cha mẹ đời quá khứ của Hưởng tôi (đức Phật dạy rằng"Tất cả chúng sinh đều là cha mẹ đời quá khứ và là chư Phật tương lai") sẽ không c̣n phải sống trong đau thương khốn khổ trong những trại tù suốt cả cuộc đời, kết thúc bằng cái chết kinh hoàng, treo dốc đầu xuống bằng chân sau, để lănh nhát dao của người đao phủ (hay nhiều nhát dao mới chết đi được) kết thúc cuộc đời khốn khổ , ngơ hầu thỏa măn những cái lưỡi tham ăn ngon, trong số đó có cả những vị tu sĩ trong đạo Phật từ bi, b́nh đẳng, dùng "tinh thần Bát Nhă" để ngụy biện cho sự ăn thịt chúng sinh (chẳng biết khi ăn các vị đó có tinh thần Bát Nhă không, chứ lúc viết bài này, Hướng tôi nghi rằng chỉ có tinh thần "tham ăn thịt chúng sinh cho ngon miệng", một trong ba độc Tham Sân Si , chi phối ng̣i bút, mà thôi !!!)

Kính thưa quư vị đang ăn những món "chay giả mặn":

Xin quư vị cứ việc "ăn chay mà tâm mặn " đi, dầu sao, quư vị đă cứu cha mẹ đời quá khứ của tôi thoát khỏi sự thống khổ, đă cứu ḍng nghiệp lực của chư vị thoát xiềng xích nợ máu lẫn nhau, thanh lọc bầu trời không bị những làn sóng tâm thù hận, kinh hoàng làm ô nhiễm...,xin quư vị hăy nhận nơi đây muôn ngàn đảnh lễ của Cung Đ́nh Hướng !

Sau đây, Hướng tôi xin kính gửi tới toàn thể chư vị những lời Phật dạy trong kinh Tâm Địa Quán:

..."...Các ông Tỳ khưu! Các ông nghe cho kỹ! nghe cho kỹ!

Vào bể Phật pháp, TÍN là căn bản, qua sông sinh tử, GIỚI là thuyền bè. Nếu người xuất gia không giữ giới cấm, tham trước khoái lạc ở đời, hủy giới quư báu của Phật, hoặc mất chánh kiến, vào rừng tà kiến, dẫn vô lượng người rơi xuống hố sâu lớn, Tỳ khưu như thế không gọi là xuất gia, chẳng phải Sa-môn, chẳng phải Bà-la-môn, h́nh tựa Sa-môn, tâm thường tại gia, Sa-môn như thế không có hạnh viễn ly (xa-ĺa).

Hạnh viễn ly có hai thứ:

---Một là, thân viễn ly

---Hai là, tâm viễn ly

Thân viễn ly , như người xuất gia ở nơi thanh vắng, không nhiễm dục cảnh là "thân viễn ly". Thân tuy xa ĺa thế tục , nhưng tâm tham dục cảnh, người như thế không gọi là viễn ly được. Như tịnh-tín-nam và tịnh-tín-nữ, thân ở nơi làng xóm, phát tâm vô thượng, lấy tâm đại từ bi đem lại lợi ích cho hết thảy, tu hành như thế là "chân viễn ly". Lúc đó , lục quần Tỳ khưu ác tính nghe pháp âm ấy được "Nhu-thuận-nhẫn".

Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ Tát .

Kính bái,

Cung Đ́nh Hướng

Xin post lên nguyên văn bài giới thiệu đă được đề cập:

Lời giới thiệu

Mạnh Tử nói "Kiếm kư sanh bất nhẩn thực kỳ nhục", nên "Quân tử bất nhập trù pḥng". Tuy có quan niệm như vậy, nhưng các nhà Nho đâu có ăn chay, có lẽ gần giống quan điểm "Tam Tịnh Nhục" của Phật giáo .Thành thật mà nói: tục lệ ăn chay do các tu sĩ Phật giáo về sau xu hướng theo Bà La Môn (Ấn Độ giáo) ở Ấn Độ và Đạo Tiên ở Trung Quốc để dễ thu hút tín đồ của họ, như ngài Huệ Năng nói:

"Muốn toan lo độ thế
Phương tiện phải saün sàng
Chớ để người nghi hoặc
Tánh họ mới minh quang"

Gịng Thiền Tào Khê Trung Quốc và gịng Thiền Trúc Lâm Việt Nam, các vị tổ cũng không quá cố chấp tập quán ăn chaî Một số nước Phật giáo Đại Thừa như Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bổn v.v...họ cũng không bảo thủ tục ăn chay, với họ th́ "quân tử ưu đạo bất ưu thực" cũng như người Việt Nam thường nói "ăn để sống chớ không phải sống để ăn"; hay là "tham lam sân hận không chừa, bo bo mà giữ tương dưa ít ǵ!"; hoặc "uổng ngật mê chay nan liễu đạo, khống đồ xướng niệm đạo nan thành!"

Riêng tôi th́ "không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay", có lẽ ảnh hưởng tinh thần Bát nhă "cá thịt nhưng không phải là cá thịt" (nếu lúc ăn có chánh niệm tỉnh giác, thấy các vật thực vốn là nguyên chất đất, nước, lửa, gió...), "tuy không phải cá thịt nhưng là cá thịt" (bởi khi ăn các món chay mà h́nh thức lẫn tên gọi đều là đồ mặn như thịt quay, cá kho v.v...đồ chay mà tâm mặn). V́ vậy mới bị người ta phê b́nh là "ăn mặn nói ngay, ăn chay nói dối"

Soạn giả cũng như dịch giả tập sách này chắc chắn không có ư chỉ trích, xuyên tạc người ăn chay, chỉ muốn biện minh vấn đề ăn chay không phải là một trong tám muôn bốn ngàn Pháp môn của đức Phật Gotama mà chỉ là "giáo ngoại biệt truyền" thôi!

Với tinh thần phá chấp, tôi xin trân trọng  giới thiệu tập sách   "Vấn đề ẩm thực trong Phật giáo" do Tỳ Kheo Thích  Thiện Minh dịch, đến chư Phật tử đọc và suy  gẩm.

 Biên Ḥa ngày 20-6-99
 Thượng Tọa Giác Chánh
 Trưởng Ban Văn Hóa Phật Giáo, Tỉnh Hội Đồng  Nai

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang ăn chay >>