categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

Khoai sọ - thức ăn b́nh dân và vị thuốc quư

 

Phụ nữ đang có thai nếu tâm phiền mê man, thai động không yên có thể dùng lá khoai sọ 20-30 g, sắc nước uống, th́ yên.

Khoai sọ rất thông dụng, rẻ tiền, ít người biết rằng tất cả các bộ phận của nó đều là những vị thuốc, có thể sử dụng để chữa trị nhiều chứng bệnh thường gặp hằng ngày. Nó được dùng làm thuốc từ hơn 1.500 năm trước.

Củ khoai sọ: Tính b́nh, vị cay ngọt (tân cam), vào 3 kinh tỳ, vị và đại tràng. Có tác dụng tán khối kết, tiêu u hạch ở cổ, nhuận tràng, thông đại tiện. Thường dùng chữa các loại thũng độc sưng đau, khối kết (u, hạch), bỏng lửa, viêm khớp, viêm thận, sưng hạch, bạch huyết...

Lá khoai sọ: Vị cay, tính mát, có tác dụng chữa tiêu chảy, cầm mồ hôi, tiêu thũng độc, chữa ra nhiều mồ hôi khi thức, mồ hôi trộm, ra nhiều mồ hôi khi nằm ngủ, ung nhọt, thũng độc...

Cuống lá (dọc) khoai sọ: Tính vị giống như lá. Có tác dụng lợi thủy, điều ḥa chức năng tiêu hóa, tiêu thũng. Chữa tiêu chảy, kiết lỵ, thũng độc...

Hoa khoai sọ: Vị the, tính b́nh, có độc, chữa đau dạ dày, thổ huyết, sa tử cung, trĩ sang (trĩ lở loét), thoát giang (sa trực tràng)...

Một số bài thuốc có sử dụng khoai sọ

Cháo bổ tỳ: Khoai sọ 200 g, sơn dược (củ mài) 50 g, gạo tẻ 50 g, nấu cháo ăn trong ngày. Thường xuyên ăn món cháo này có tác dụng ích khí (tăng thể lực), bổ tỳ vị (tăng cường chức năng tiêu hóa), dùng chữa chứng đuối sức, mệt mỏi, kém ăn, miệng khát, hay phiền táo.

Canh khoai sọ thịt lợn: Khoai sọ 100 g, thịt lợn nạc 50 g; nấu canh ăn trong các bữa cơm. Tác dụng: bổ âm chống khô khát, ích khí, nuôi dưỡng dạ dày, chống mệt mỏi. Có thể dùng để bồi dưỡng cho những trường hợp cơ thể suy nhược, phiền khát sau khi bị bệnh.

Bồi dưỡng sau khi bị bệnh: Dân gian có kinh nghiệm dùng khoai sọ nấu với thịt lợn, cua đồng, cá quả, cá diếc... làm món canh ăn trong bữa cơm hằng ngày để bồi bổ cơ thể, tăng sức lực, chống khát.

Chè khoai sọ táo tàu: Khoai sọ 250 g (gọt vỏ thái thành miếng nhỏ), táo tàu 50 g, đường đỏ 50 g, nấu nhỏ lửa thành món chè, chia 3-4 lần ăn trong ngày. Có thể dùng để bồi dưỡng cho những trường hợp cơ thể suy nhược, phiền khát sau khi mắc bệnh nặng.

Viêm màng năo cấp tính mới phát: Tại một số địa phương ở Trung Quốc, dân gian có kinh nghiệm dùng khoai sọ sống, gọt bỏ vỏ, cho vào miệng nhai kỹ và nuốt dần. Nếu bị viêm màng năo, người bệnh sẽ cảm thấy khoai có vị ngọt, nhai đến khi cảm thấy miệng tê tê th́ ngừng. Kinh nghiệm này có thể sử dụng chẩn đoán phân biệt giữa bệnh viêm năo cấp với các bệnh sốt khác, đồng thời cũng có tác dụng điều trị nhất định. Lưu ư: Chỉ nên sử dụng trong những trường hợp quá cấp bách, nếu không thấy đỡ, phải t́m cách đưa ngay bệnh nhân tới bệnh viện.

Chữa kiết lỵ lâu ngày không khỏi: Khoai sọ 10-15 g, sắc nước uống mỗi ngày 2 lần. Nếu đi lỵ ra máu, khi uống ḥa thêm đường đỏ; không ra máu chỉ có mủ th́ pha với đường trắng. Hoặc: Dùng thân khoai sọ 15 g, củ cải 15 g, tỏi 6 g sắc nước uống thay trà trong ngày.

Chữa viêm thận mạn tính: Khoai sọ rửa sạch, thái lát, rang cháy đen, nghiền thành bột mịn, thêm đường đỏ vào trộn đều. Mỗi lần uống 30 g, ngày uống 2 lần. Hoặc: Khoai sọ 60 g (rửa sạch, gọt vỏ, thái nhỏ), gạo tẻ 50-100 g nấu cháo, khi ăn thêm đường đỏ cho đủ ngọt. Bài thuốc này c̣n có tác dụng chữa cả đau dạ dày.

Gân cốt đau nhức, sưng tấy: Khoai sọ, gừng tươi - hai thứ liều lượng bằng nhau, tất cả đem rửa sạch, gọt bỏ vỏ, giă nát, đắp vào chỗ bị bệnh, mỗi ngày thay thuốc 2 lần.

Chữa tràng nhạc: Khoai sọ khô bỏ vỏ, thái nhỏ, nghiền thành bột mịn. Mỗi ngày dùng 20-30 g bột khoai sọ, gạo tẻ 50-100 g, nấu cháo ăn liên tục đến khi khỏi. Kinh nghiệm dân gian cho thấy, trẻ nhỏ thường ăn loại cháo bột khoai sọ này ít bị ghẻ lở, mụn nhọt.

Chữa chín mé (đầu ngón tay, ngón chân sưng tấy, đau kịch liệt): Khoai sọ giă nát, trộn thêm chút muối, đắp vào chỗ sưng đau, lấy gạc băng lại, ngày thay thuốc 2 lần. Hoặc: Dùng thân khoai sọ giă nát đắp vào chỗ bị bệnh. Dùng củ khoai sọ trộn muối giă đắp lên những chỗ sưng đau trên cơ thể, đối với các loại đinh nhọt khác cũng có tác dụng tốt. Chú ư: Dùng khoai sọ xát lên da có thể gây dị ứng viêm tấy, nhưng giă gừng sống lấy nước bôi vào sẽ đỡ.

Bị rắn cắn, sâu cắn, ong đốt: Lấy lá hoặc thân khoai sọ xát hoặc giă nát đắp vào chỗ bị thương. Nếu bị ong nghệ đốt, ăn ngay khoai sọ sống, đến khi cảm thấy khoai có mùi tanh và lưỡi tê th́ thôi.

(Theo Sức Khỏe & Đời Sống


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang ăn chay >>