categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo


Linh Ứng

Quán Thế Âm

(Quyển 1)
HT Thích Tịnh Từ

Mục Lục

 
 

(1) NAM MÔ HẮC RA ĐÁT NA ĐA RA DẠ DA (NAMMO RATNATRAYAYA) 

Tay lần tràng hạt châu

Quán âm rất nhiệm mầu

Ai thường cầu lễ niệm

Thân tâm hết khồ sầu.

LỜI ĐẦU CHUYỆN

Bồ Tát Quán Thế Âm, h́nh ảnh rất thân thiết, gần gũi đối với mọi tầng lớp quần chúng, nhất là những người Á Đông. Nhiều người chưa quy y Tam Bảo, chưa trở thành Phật tử chính thức, cũng thường  xưng niệm danh hiệu và thỉnh tôn tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát  để phụng thờ lễ bái hằng ngày trong nhà.

Bồ Tát Quán Thế  Âm là người đắc đạo và đă thành Phật trong quá khứ lâu xa, có tên là Chánh Pháp Minh Như Lai. Ngài v́ t́nh thương và hạnh nguyện cứu khổ chúng sanh nên đời đời hóa hiện nhiều thân tướng khác nhau để ban vui, cứu khổ cho mọi loài.

Bồ Tát Quán Thế Âm được gọi là Mẹ Hiền, bà mẹ có t́nh thương yêu rộng lớn. Ngài đến với mọi người, mọi loài như đến với những đứa con thơ yêu quư, không xa lạ, không đối đăi và ngăn cách. Ngài đến với con người, đến với sự sống như ánh sáng, không khí đến với mọi loài sinh vật trên trái đất.

Trong  kinh Quán Vô Lượng Thọ và  Kinh  Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn, đức Phật Thích Ca có nói đến hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm:

“Quán Âm vị cổ Phật

Chánh Pháp Minh Như Lai

Hạnh nguyện sâu rộng lớn

Cứu độ khắp mọi loài

Nghe tiếng kêu liền đến

Lợi ích chúng hằng sa

Nếu ai thường xưng niệm

Cảm ứng bất tư ngh́.”

Bằng vào hạnh nguyện rộng lớn và thân thiết ấy, Bồ Tát Quán Thế Âm, hiện thân khắp nơi chốn, trong cơi giới khổ đau, lắng nghe tiếng kêu cầu, liền hiện thân kịp thời, nhanh tợ vang theo tiếng. Như t́nh thương của bà mẹ, khi thấy con thơ lâm nạn, liền ra tay cứu độ, không do dự tra vấn. V́ hành động thương yêu cứu khổ đầy thiêng liêng, mầu nhiệm của Mẹ mà mọi đứa con yêu của Mẹ đều kính mến và hằng nhớ tưởng đến Mẹ, thường kêu tên của Mẹ.

Trong tập sách này, chúng tôi ghi thuật lại những mẫu chuyện linh ứng về đức Quán Thế Âm Bồ Tát do tự thân chứng nghiệm, cùng những mẫu chuyện sưu soạn và chọn lọc có liên quan đến hạnh nguyện cứu khổ của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngoài các mẫu chuyện linh ứng của đức Quán Thế Âm, chúng tôi c̣n có tŕnh bày thêm phần thực tập thiền quán qua đề mục niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và có phần Nghi thức tŕ tụng phẩm kinh Phổ Môn, nói rơ hạnh nguyện và năng lực cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm. mỗi phần mẫu chuyện có phụ bản phóng ảnh tám mươi bốn h́nh tượng hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, trích dẫn từ kinh Quán Âm Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, do sa môn Dà Phạm Đạt Ma dịch từ phạn ngữ ra hán văn và do pháp sư Thánh Ấn soạn giải.

Đọc tập sách này, mà bạn khởi phát được niềm tin sâu vững nơi Bồ Tát Quán Thế

Âm, nguyện nổ lực cần mẫn trên tiến tŕnh học hạnh yêu thương và giúp đỡ người thân đồng loại, đó chính là nhờ công năng quán chiếu tu tập hạnh lành của bạn theo tinh thần Từ Bi của đức Quán Thế Âm. Riêng quư vị đă có sẵn tín tâm, duyên lành với hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm, sau khi đọc xong tập sách này, chắc quư vị có thêm kinh nghiệm và tư liệu sống thực để hằng truyền phổ sâu rộng về công đức, hạnh nguyện thù thắng của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngay nơi bản thân chúng tôi, nhờ tin tưởng, xưng niệm, phụng thờ, lễ bái và thực hành hạnh nguyện thương yêu, lắng nghe đức Quán Thế Âm Bồ Tát mà mỗi ngày tăng phần an lạc và hạnh phúc. Bằng vào đó mà chúng tôi tin tưởng vào năng lực cứu khổ mầu nhiệm cùa Bồ Tát Quán Âm một cách tuyệt đối. Nhờ vậy mà chúng tôi càng thêm vững chí trên đường tu tập và hành đạo. Mong bạn đọc qua những mẫu chuyện linh ứng Quán Thế Âm sẽ:

·  Thấu rơ hạnh nguyện cứu khổ sâu rộng, mầu nhiệm của Bồ Tát Quán Thế Âm

·  Tin sâu vào bản thể từ bi, diệu dụng, hóa hiện độ sinh bất khả tư ngh́ của Bồ Tát Quán Thế Âm

·  Tin sâu đạo lư nhân quả và duyên sanh giữa ta và người, giữa hạnh phúc và đau khổ.

·  Hằng phát nguyện hạnh thực tập và lắng nghe và cứu khổ b́nh đẳng của Bồ Tát Quán Thế Âm.

·  Hằng chuyên cần và nhất tâm xưng danh hiệu,lễ bái đức Quán Âm Bồ Tát không hề mỏi mệt.

·  Nguyện cho mọi người, mọi loài sớm biết thực tập lời di huấn, giới răn, thiền định của Phật dạy để tiếp xúc được tự tánh thanh tịnh, từ bi, trí huệ ngay trong long thực tại.

·  Hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm có mặt khắp mọi nơi và mọi thời. Ở đâu có đau khổ, có hận thù tăm tối là ở đó có Pháp Thân, Ứng Thân và Hóa Thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.

·   Xưng niệm, lễ bái, phụng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm và muốn lời cầu nguyện có hiệu lực ta nên xả bỏ những tâm lư oán cừu, phiền hận và tham chấp.

·  Phát nguyện làm điều lợi ích, cứu giúp, ban bố niềm vui cho người; xa lánh những điều ác, tránh sự giết hại, trộm cướp, gian dối, tà dục. Đó chính là những điều kiện tốt để ta có cơ hội tiếp xúc với sự mầu nhiệm, linh cảm của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Đức Quán Âm Bồ Tát

Đă thành Phật lâu xa

V́ hạnh nguyện cứu khổ

Hết mọi loài chúng sanh

Trong luân hồi sáu nẻo

Ứng hóa vô lượng thân

Hiện ngàn muôn diệu ứng

Vào khổ cảnh ngục lao

Cứu giải trừ ách nạn

Đem tin lành muôn nơi

Người tôn xưng Thánh Mẫu

Người gọi đức Quán Âm

 Bậc đại hiền tự tại

Chăm kỉnh lể phụng thờ

Chuyên ḷng tŕ danh hiệu

Vượt thoát mọi tai ương.

Thân chúc bạn đọc thường trau dồi hạnh phúc bằng chất liệu yêu thương, bằng khả năng quán chiếu; hằng đem tâm khách quan, tha thiết trong việc học hỏi, chiêm nghiệm, thực tập hạnh nguyện ban vui, cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm để niềm phúc lạc, b́nh an có mặt đích thực trong cuộc sống.

Thành kính tri ân quư pháp hữu, quư ân nhân, các đệ tử thân cận đă hết ḷng góp phần tài chánh, đánh máy, tŕnh bày và sữa soạn kịp thời cho tập sách này có đủ nhân duyên xuất bản như tâm nguyện:

V́ lợi ích tất cả

V́ hạnh phúc nhiều người

V́ đáp đền ơn nặng

V́ cứu khổ muôn loài

V́ dẫn độ quần sanh

Vào biển tuệ Như Lai

Nơi t́nh thương rộng lớn

Tự tại hằng an vui.

Thích Tịnh Từ.

(2) NAM MO A RI DA     -(Nammo arya)-

Quán Âm hiện diện tướng

Độ đời chuyển pháp luân

Tay nâng ngọc như ư

Ban vui khắp mọi nhà.

 

NHIỆM MẦU THAY ĐỨC TIN |^|

Tôi hồi c̣n nhỏ học trường tư thục Thiên Chúa Giáo, trốn nhà vào chùa ở lúc mười bốn tuổi. Bổn sư tôi là Đại sư Viên Giác, sáng lập tu viện Giác Hải ở làng Viên Tự, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh ḥa, Nha Trang, thầy tôi rất thương tôi, nhưng người cho tôi là loại trẻ “cứng đầu”. Thầy tôi tin tưởng vào”mê” Đức Quán Thế Âm một cách lạ lùng, c̣n tôi th́ hời hợt với chuyện này. Không phải chỉ lúc mới đi tu trí óc c̣n non dại, mà ngay đến khi thọ giới người tu trưởng thành, tôi vẫn quan niệm Đức Quán Thế Âm như một h́nh ảnh biểu tượng về t́nh thương. Thờ Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng qua là hiếu kính người hiền và nặng ḷng tín ngưỡng. Thầy tôi đă huy động dân làng và Phật tử khắp nơi dựng Quán Âm Điện Các ở trên đỉnh núi Ông Sư tại làng Xuân Tự để phụng thờ, tôi là người hưởng ứng và săn sóc hương khói một cách bất đắc dĩ.

Năm 1958, tôi không may bị chứng đau đầu thống trầm trọng. Lư do là tôi ham học và thiếu ngủ. Tôi mê say học kinh điển như một bộ môn triết lư đầy thú vị. Mặt khác tôi lo học chương văn hóa ở cấp trung học. Một đêm tôi không ngủ quá ba tiếng đồng hồ. Sau kỳ thi cử không bao lâu, tôi buông bỏ bút nghiên, sự nghiệp học vấn. Đầu tôi đau như muốn vỡ tung từng mảnh và mắt xốn như bị băo cát lùa vào từng cơn. Mũi chảy ra nước xanh, nước vàng. Tôi bỏ ăn, bỏ ngủ. Bao nhiêu nhà thương, bác sỉ tây y có tiếng, tôi đều t́m đến. Bao nhiêu thầy giỏi thuốc bắc, thuốc nam gia truyền tôi đều khẩn cầu, nhưng tất cả đều vô hiệu. Tôi vào Sài G̣n chữa bệnh, tinh thẩn tôi càng thêm sa sút. Nhiều lần tôi muốn vào trong ḷng đại dương tươi mát để t́m giấc ngủ an lành. Thầy tôi biết rơ t́nh trạng đau khổ, bi quan của tôi nên thường ở bên cạnh để săn sóc an ủi. Dồn hết để lo chữa bệnh cho tôi. Thầy tôi đă nhiều tháng thức trắng đêm với tôi và hai thầy tṛ cùng thường di bộ trên bờ biển hóng mát để tôi bớt dau nhức v́ bệnh hành hạ về đêm.

Có một đêm ngồi trên vịnh eo biển Phan Rang, thầy tôi có vẻ buồn bă lắm, ngưởi bảo tôi rằng: “thầy thương quư con hơn cả vàng ngọc, nhưng nhiều lúc thầy rất giận con, v́ con ngang ngược, cứng đầu, không chịu nghe lời thầy tŕ tụng kinh Phổ Môn, xưng danh hiệu đức Quan Thế Âm Bồ Tát để cầu ngài chữa bệnh cho con”. Đó là đêm hai thầy tṛ chúng tôi ôm nhau mà khóc. Tôi nghe lời thầy tôi như con trẻ tin lời mẹ dạy. Tôi không c̣n đi cầu thầy chữa bệnh nữa, trở lại chùa ở Xuân Tự, nhập thất ba tháng, chuyên tŕ tụng chú Đại Bi, kinh Phổ Môn và niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Sau ra thất bệnh chẳng thuyên giảm, tôi vào chùa Ông ở Nha Trang xin tịnh dưỡng tiếp tục nhập thất, lễ sám hối, chuyên cần tŕ niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ Tát liên tục không ngớt. Kỳ diệu thay, sau hai tháng sám hối,  nhất tâm xưng niệm danh hiệu NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI CỨU KHỔ CỨU NẠN LINH CẢM ỨNG QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT, tôi cảm ứng Mẹ Hiền Quán Âm cứu khổ và dứt trừ cơn bạo bệnh. Thân tâm tôi nhẹ nhơm như một cuộc tái sanh mới.

Tối đó là ngày rằm, khoảng đầu mùa hè năm 1960, tôi ngồi thiền và niệm chú Đại Bi nơi gác chuông Chùa Ông mà có người c̣n gọi là Chùa Núi. Lúc đó khoảng hai giờ sáng, tôi thấy một luồng ánh sáng trên trời cao lùa vào gác chuông, rồi hiện ra một thiên nữ mặc áo trắng trao cho tôi mười hai viên thuốc tể nhỏ xíu và một b́nh nước trắng đựng trong lọ thủy tinh có buộc giải lụa màu xanh. Thiên nữ xoa đầu tôi và nói: “Đây là thần dược, ngươi uống xong sẽ hết bệnh, hết khổ. Nhưng nên nhớ khi khỏe mạnh rồi, lo chăm chỉ hành đạo để cứu người, chớ có để vọng tâm buông lung, t́nh đời chi phối.” Lời thiên nữ hiền dịu như lời mẹ hiền, tôi cúi đầu đănh lễ tạ ơn và phục mệnh.

Lúc ấy, tôi có cảm giác an lạc lạ lung. Tôi chấp tay cung kính cầm thuốc bỏ vào miệng uống mà không nói một lời nào. Vị thiên nữ bảo tôi nằm ngủ để lấy lại sự b́nh an trước khi người biến vào hư không. Sau một giấc ngủ dài, tôi thức dậy không cảm thấy đau đầu nữa.  Bệnh tôi chấm dứt hẳn. H́nh ảnh người thiên nữ mặc áo trắng kia là ai, tùy mỗi người đặt tên gọi. Sự “cứng đầu” cùa tôi đă bắt đầu “mềm” từ đó. Tôi tin tưởng và tích cực t́m hiểu về hạnh nguyện cứu khổ của đức Quán Thế Âm Bồ Tát, khởi đi từ sự cảm ứng này. Hôm tôi lành bệnh trở lại chùa, trong bữa cơm liên hoan của đại chúng chào đón và mừng tôi, thầy tôi có tặng cho tôi bài thơ mà tôi đă nằm ḷng:

Thương con như trái tim ḿnh

Thương con vượt thoát ngục h́nh đớn đau

Quán Âm Bồ Tát nhiệm mầu

Trí bi song vận duyên lành ứng cơ

Tín tâm dứt mối nghi ngờ

Thuyền từ đưa đén bến bờ an vui

Đường tu măi tiến chớ lùi

Giới răng ǵn giữ ngọt bùi chớ mê

Tịnh thiền định huệ đường về

Ngộ tâm đạt tánh nguyện thề độ sanh

Bồ đề quả kết chóng thành

Nối ḍng Phật tổ cứu người trầm luân. 

(3) BÀ LÔ YẾT ĐẾ THƯỚC BÁT RA DA

(Avalokiteshavaraya)

Quán Âm ngời tự tại

Hiện thân tướng tŕ b́nh

Cứu người lâm bệnh khổ

Tăng phước thọ diên trường.

 

THOÁT NẠN NƯỚC CUỐN |^| 

Nước trôi song bị ch́m

Nhờ sức niệm Quán Âm

Được sống lâu thọ mạng

Nhờ Quán Âm thọ tŕ.

Hồi mới lên 6,7 tuổi, tôi và anh tôi cứ mỗi buổi trưa cuốituần hay trốn mẹ ra sông để tắm. Một hôm gặp mùa mưa tháng tám, nước lớn từ trên nguồn tuôn về quá mạnh khiến con đê trong làng bị vỡ, nơi khúc sông cạn bỗng dưng nước ngập, xoáy sâu và chảy xiết. Cả hai anh em tôi đều bị cuốn theo ḍng nước và v́ sức yếu nên hai anh em chúng tôi không sao gượng nổi để vào bờ. Lúc bấy giờ tôi chỉ kịp nghe tiếng anh tôi nhắc: “ em ơi! đừng sợ, niệm Phật Quán Âm đi.”, rồi anh tôi mất dạng. Tôi cũng ch́m ngập trong biển nước xoáy. Nhờ lời nhắc niệm Phật Quán Âm của anh tôi, nên trong ư thức của tôi lúc đó rất b́nh tĩnh, sáng suốt và tôi nói thầm trong miệng: “Phật Quán Âm ơi! cứu con với! con mệt lắm rồi…” tôi cứ lẩm bẩm trong miệng hoài như thế không biết bao nhiêu lần, cho đến khi không c̣n biết ǵ nữa. Tôi đă bị chết trôi? Không, tôi đă được đức Quán Thế Âm Bồ Tát cứu sống đến bây giờ. Năm nay tôi đă 57 tuổi, kể ra tôi cũng thọ mạng đấy chứ.

Trong cơn mê man của một giấc ngủ dài, tôi nghe tiếng một ông lăo gọi bên tai tôi: “Này con, thức dậy để đi t́m anh con vể nhà. Mẹ, ba con, ông bà nội của con đang nóng ḷng chờ hai anh em con về ăn cơm trưa đó.” Qua tiếng gọi, tôi đă tỉnh ngủ. Khi thức dậy, tôi thấy ḿnh đang nằm trên một cồn cát trắng, sát bên cạnh một vùng nước mênh mông. Nh́n quanh bốn phía chẳng thấy nhà cửa, chẳng thấy bóng dạng người qua lại. Nh́n vào thân thể, tôi bỗng thẹn thùng v́ thấy ḿnh trần trục, không có quần áo ǵ cả. Nh́n vào ngực, tôi bắt gặp cái tượng đức Quán Thế Âm
Bồ Tát nhỏ mạ vàng mà mẹ tôi đă đeo trong cổ cho tôi ngay hồi tôi mới sinh được vài tháng. Tôi mĩm cười, cầm cái tượng vân vê trên tay, rồi nói: “Phật Quán Âm ơi! Anh của con đâu rổi? Nếu anh của con mà bị nước cuốn trôi th́ mẹ , ba, ông bà nội, ông bà ngoại của con khóc đó. Con cũng không chịu mất đi anh của con đâu. Phật Quán Âm ơi! chỉ cho con biết anh của con đang ở đâu để con tới dẫn anh con về nhà kẻo mẹ lo. Mẹ thương hai anh em con lắm đó.”

Vừa réo gọi Phật Quan Âm vài tiếng, tôi ngẩng đầu nh́n ra phía sóng nước trùng khơi, tôi thấy một con đ̣ nhỏ đang chạy thoăn thoắt đi về phía tôi. Tôi reo lên mừng rỡ, chờ đợi và nhảy ra con nước ôm lấy anh tôi khi con đ̣ vừa đến. Anh tôi đă đến trên một con đ̣ nhỏ với ông lăo. “Ồ, Anh ơi! chiếc đ̣ và ông lăo đi đâu mất rồi? Sau phút chốc, tôi ôm anh tôi mừng, tủi tủi; tôi quay lại th́ không thấy chiếc đ̣ và ông lăo đâu nữa. Anh tôi cũng ngạc nhiên như tôi, cả hai anh em trố mắt t́m kiếm. Nhưng, giữa cánh đồng con nước mênh mông, vẫn im ĺm không một bong thuyền đ̣ qua lại. Ông lăo chèo đ̣ biến dạng, chiếc đ̣ cũng không c̣n.

Anh tôi thuật lại rằng khi cơn nước đẩy, anh tôi không nh́n thấy tôi đâu cả, nên anh tôi la lớn bảo tôi niệm Phật Bà Quán Âm để được Phật Bà giúp đỡ. Anh tôi biết ḿnh sắp chết đuối và nhớ lời mẹ dặn là khi gặp tai nạn th́ niệm Phật Bà Quán Âm. Lúc đó, anh tôi tin là có Phật Bà và nghĩ là Phật Bà rất linh thiêng, nên anh tôi không có lo sợ. Anh tôi nhắm mắt và thầm niệm: NAM MÔ ĐẠI TỪ ĐẠI BI CỨU KHỔ CỨU NẠN LINH ỨNG QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT. Anh tôi niệm tên của Phật Bà ước chừng được mười lần th́ anh tôi chẳng c̣n hay biết ǵ cả. Khi tỉnh dậy, anh thấy ḿnh đang nằm trên chiếc giường tre với bộ áo quần xanh mới, bên cạnh bếp lửa đang nấu nồi cháo trắng sôi sùng sục. Trong nhà chỉ có một ḿnh ông lăo tuổi chừng bảy mươi, tướng mạo rất đẹp, miệng luôn cười như Phật Di Lạc. Ông lăo lấy cháo trộn với đường cát cho anh tôi ăn một tô lớn rồi ông khen anh tôi ngoan, giỏi, c̣n nhỏ mà biết tin Phật Bà Quán Âm. Anh tôi hỏi: “Bác có biết Phật Bà ở đâu không?” Ông lăo cười và chỉ vào trái tim của anh tôi. Ư ông lăo nói là Phật Bà ở trong tâm của anh tôi. Ăn cháo xong, ông lăo nói với anh tôi là đi t́m tôi và sẽ đưa cả hai anh em về nhà. Anh tôi ngồi trên chiếc đ̣ nhỏ và ông lăo đưa anh tôi tới đây gặp tôi.

Tôi bảo anh tôi: “Như vậy ông lăo đó chính là đức Quán Thế Âm Bồ Tát mà anh em ḿnh thường nghĩ và niệm bấy lâu nay.”

Anh tôi gật đầu thốt lên: “ừ hơ, ờ hơ, anh có cảm giác là ông lăo này là lùng lắm, không phải là một người thường…” Mặt trời chiếu lên cao, anh tôi cởi chiếc áo đang bận trùm lên ḿnh tôi. Hai anh em tôi dắt nhau về nhà một cách b́nh an.

Chuyện này xảy ra tại thôn Phường Sắn là một thôn nhỏ tại làng Long Hưng, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, nơi tôi ra đời và lớn lên.

Nguyễn Năng Diêu, anh hai tôi ghi lại chuyện này trong nhật kư của người. Tôi cung kính chép lại nơi đây để cống hiến đến quư thân hữu xa gần và mong bạn đọc cho anh tôi một lời cầu nguyện. Anh tôi đă qua đời năm 1961 v́ chiến tranh và bom đạn vô t́nh.

NGUYÊN QUANG

 

(4) BỒ ĐỀ TÁT ĐỎA BÀ DA (Bodhisattvaya)

Quán Âm bậc tuệ giác

Đạt chơn tánh rạng ngời

Ḷng từ bi quảng đại

Phổ độ khắp gần xa.

 

NGƯỜI ĐƯA ĐƯỜNG DẪN LỐI |^| 

Quán Âm người dẫn lối

Đi t́m đại từ bi

Quán Âm thầy thắp sáng

Soi nẻo về thênh thang.

 Năm tôi đi tu, đường đi nước bước không rành, chẳng biết chùa và thầy hiền ở đâu mà t́m kiếm. Mới mười bốn tuổi đầu, ḷng tha thiết quyết chí đi tu, song chưa hề quen biết với bất cứ một vị thầy hay một sư chú nào trong chùa viện. Để thực hiện ư định đi tu của ḿnh, ngày đêm tôi chỉ biết cầu nguyện và thầm xưng niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Cách niệm tôi tạm tŕnh bày cho có vẽ “tươm tất” như sau:

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con gặp người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con được vào chùa tu học và có cơ duyên trau dồi t́nh thương cao rộng.

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con gặp được vị thầy sáng suốt và hiền đức để được tu tập.

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, tai ương trên đường đi cầu đạo giải thoát.

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con giữ vững niềm tin nơi bản thân và Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng.

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con không bao giờ thối chí trong mọi hạnh lành, đem niềm vui đến cho nhiều kẻ khác.

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con sớm khai mở trí tuệ và có đ́ều kiện tốt để giúp người thoát khỏi khổ đau.

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con có đủ tâm đại hùng, đại lực để cứu nhân sanh vượt ra mọi ngục h́nh tư tưởng trong đời sống.

·  Nam Mô Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp con mau thành Phật quả để đem đến hạnh phúc, lợi ích cho nhiều người, nhiều tâm hồn đang bị đọa lạc trong kiếp luân hồi.

Hồi ấy, tôi không thể nói ra thành lời như vậy, nhưng trong tâm tôi luôn niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm và hằng khởi lên những ư nghĩ tương tợ như thế.

Khuya hôm ấy, khoảng tháng 10 năm 1956, bên ngoài trời mưa tầm tă, gió nổi tứ bề, cây cảnh ngă đổ, nước lũ tràn khắp đường sá xóm làng. Lúc khoảng 12 giờ đêm, tôi rón rén mở cửa trốn nhà đi vào Huế t́m chùa, t́m thầy học đạo. Từ làng ra tỉnh và từ tỉnh Quảng Trị đón xe đ̣ đi vào Huế đối với tôi lúc bấy giờ là một con đướng thăm thẳm, diệu vợi và hết sức khó khăn trong việc đi lại, song tôi không hề có chút chần chờ, lo ngại. Trong cái năi xách tay của tôi chỉ có hai bộ áo quần màu xám và một tấm h́nh Quán Thế Âm nhỏ bằng giấy dán liền trên tấm ván mỏng được một anh huynh trưởng gia đ́nh Phật tử trong làng cho tôi cách đó hai năm về trước. Ngoài cái “gia bảo” ấy, trong túi tôi c̣n có hai chục bạc để đi đường. Số tiền này đứa em gái đă cho tôi cách đó vài hôm khi em được phần quà thưởng lệ về việc học giỏi từ ông cậu ruột làm công chức gởi cho.

Ra khỏi nhà, tôi phải đi qua chiếc cầu tre bắc ngang một con sông rộng chảy qua làng. Rủi ro, cái cầu tre bị găy và xoáy theo ḍng nước chảy xiết khi tôi đang ḍ dẫm từng bước một trên chiếc cầu tre lắc lẽo ấy. Thế là tôi bị trôi sông,  cuốn theo ḍng thác lũ đưa về xóm Bàu. Nhờ sức niệm Bồ Tát Quán Âm mà tôi thoát tai nạn nước ch́m. Không ngờ trong tai nạn ấy hóa ra tôi đă đi con “đường tắt”. Con đường từ xóm Bàu lên đường cái quan rất gần, chỉ đi bộ khoảng hai mươi phút thôi. Trong khi đó nếu tôi không bị gịng nước cuốn trôi, th́ tôi phải đi con đường dài từ làng ra đường cái quan, lên tỉnh để đón xe đi vào Huế cũng phải mất mấy tiếng đồng hồ. Nhưng chưa chắc thành công, v́ tôi có thể bị người nhà t́m bắt trở lại.

Nước lũ đưa đường chỉ lối cho tôi lên chùa

Nước lũ chỉ nẻo đường tắt đưa tôi về nguồn cội

Nước lũ giúp tôi đi mau tới đích

Và không bị cản, ngăn chướng ngại.

Lên xe đ̣ vào Huế, ông tài xế thấy tôi c̣n nhỏ quá nên không lấy tiền. Khi xuống tại bến đ̣, tôi đang lay hoay t́m kiếm đường lên chùa, th́ một bà cụ nói là bà ở trước chùa Báo Quốc, rồi bà tự động kêu xe xích lô bảo bác tài xế đưa tôi về chùa ấy. Lên đến cửa chùa, tôi lấy hai chục đồng bạc trong túi trả bác xích lô, bác nói là bà cụ khi năy đă trả tiền xong rồi. Thế là gia tài số tiền mặt ấy tôi vẫn c̣n giữ hoài trong túi không bao giờ tiêu xài. Bà cụ thuê xe và chỉ đường lên chùa cho tôi là ai, tôi không biết rơ lai lịch?

Sau này tôi nghiệm lại, tôi mới biết đây là sự chỉ điểm của thánh hiền và sự mầu nhiệm đưa đường chỉ lối của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Chùa Báo Quốc tại Huế là một viện Phật học, đào tạo chư Tăng và nhân sự Phật Giáo tài đức để hoằng pháp, lợi sanh dưới sự dám viện của ḥa thượng Thích Trí Thủ. Khi vừa bước chân lên cổng chùa th́ tôi liền được sư chú Tâm Ḥa tiếp đón rất niềm nở như người nhà, khiến tôi hết sức ngạc nhiên. V́ dường như việc tôi đến đây sư chú có linh tính biết trước rất rơ ràng. Sư chú Tâm Ḥa dẫn tôi vào pḥng khách và nói cho tôi biết: “Có đại sư Thích Viên Giác sáng lập và Trú tŕ tu viện Giác Hải ở tỉnh Khánh Ḥa, Nha Trang đă đến đây ba hôm để đợi em đó. Em có phải từ tỉnh Quảng Trị vào và đang đi t́m thầy, t́m chùa để xuất gia học đạo không?”

Tôi chỉ cuối đầu dạ và chưa kịp nói th́ sư chú Tâm Ḥa nói tiếp: “Đại sư Viên Giác cho tôi hay là được Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ điểm nên ngài đến chùa Báo Quốc từ Nha Trang để nhận một chú bé đem về chùa nuôi. Ngài bảo tôi ra đứng trước của Tam Quan suốt cả buổi chiều nay để đợi em. Em hăy vào trong để ra mắt vị thầy của em”.

Nghe sư chú Tâm Ḥa nói, ḷng tôi sung sướng vô vàn, tràn ngập hạnh phúc và nhẹ nhỏm như ḿnh đang bay trên một không gian vô tận.

Bước chân vào pḥng, tôi thấy một vị thầy mặc áo nâu rộng, thân thể gầy ốm nhưng đôi mắt rất sáng. Thầy trạc tuổi 40 đang ngồi kiết già vững chải, quay mặt về phía cửa chính như đang chờ đợi một người. Ngài chờ đợi tôi, đó là đứa bé mới 14 tuổi đầu, bỏ nhà, bỏ cha mẹ đi t́m thầy khai mở tâm linh.

-Con muốn t́m thầy để được tu tập phải không? – ngài nh́n tôi hỏi.

Tôi cúi đầu trả lời:

-Thưa thầy dạ phải.

-Con đi tu để làm ǵ?

-Thưa thầy, con đi tu để làm giảng sư để dạy cho cái tâm của con trở nên hiền lành và dạy cho người khác bớt đau khổ nhờ cái tâm sáng suốt.

Nghe xong, ngài cười và không hỏi thêm ǵ nữa. Tôi được sư chú Tâm Ḥa và Điệu Trí giúp  Ngài chuẩn bị việc làm lễ xuống tóc cho tôi. Sau khi cạo tóc và măc y phục của chú tiểu vào ḿnh, tôi thấy ḿnh là một con người mới. Sáng hôm sau mới khoảng ba giờ khuya, thầy tṛ tôi ra sân ga trở về tu viện Giác Hải Nha Trang. Cuộc đời tôi thay đổi từ đó. Đời tôi đă có vị thầy đưa đường chỉ lối, đó là đại sư Viên Giác, vị bổn sư của tôi, nuôi dưỡng tâm tôi khôn lớn.

Sau này tôi mới rơ, thầy tôi lập chùa Giác Hải được ba năm, dựng trên núi Ông Sư, làng Xuân Tự ở quận Quảng Ninh, tỉnh Khánh Ḥa. Thầy có nuôi vài ba chú tiểu nhưng tất cả đều bỏ về nhà. Thầy tôi bèn tụng kinh Phổ Môn để nhờ đức Quán Thế Âm Bồ Tát t́m giúp thầy tôi một chú tiểu có nhân duyên và căn khí để nối chí thầy tôi hoằng pháp trong tương lai. Nhờ đức Quán Thế Âm  điểm hóa và thầy tṛ chúng tôi đă gặp nhau. Tôi được xem như đệ tử lớn của thầy tôi. Tâm ư giữa hai thầy tṛ chúng tôi rất tương đắc.

Quán Âm Bồ Tát rất nhiệm mầu

Thanh tịnh trang nghiêm nhiều kiếp tu

Khắp xứ người cầu đều cảm ứng

Biển trần qua lại độ quần mê.

Năm 1975 tôi qua Mỹ học, thầy tôi không vui lắm v́ người lúc nào cũng muốn tôi ở bên cạnh để lo việc chùa viện và giao phó hoằng pháp, nuôi Tăng độ Chúng của thầy tôi. Song thấy chí xuất dương của tôi đă quyết nên thầy tôi không ngăn cản. Bao nhiêu t́nh thương và ánh sáng soi đường, thầy tôi gói trọn cho tôi trong bài kệ:

Trái đất quê hương mẹ

Trong tim có quê hương

Mầu nhiệm trong tỉnh thức

Thực tại nẻo quay về.

 

Nguyên Nguyện.

(5) MA HA TÁT ĐỎA BÀ DA – (Mahasattvaya) –

Quán Âm tŕ mật chú

Biến nước tịnh cam lồ

Diệt trừ tham sân hận

Mở trói buộc ưu phiền.

 

THOÁT NẠN TRÊN BIỂN CẢ |^|

Gia đ́nh tôi gồm có bảy người, hai vợ chồng và năm đứa con nhỏ cùng vượt biển trên một chiếc thuyền nhỏ đánh cá với năm mươi hai người cùng xóm. Chổ khởi hành là cửa biển Thuận An, Huế vào tối hai mươi tháng tư âm lịch năm1979.

Đó là một đêm tối trời và đầy kinh hăi, v́ chúng tôi vừa cho tàu khởi hành vừa được bốn mươi phút th́ bị tàu biên pḥng B́nh Trị Thiên phát giác và đuổi bắt. Chúng tôi ai cũng hoảng sợ, không c̣n đủ b́nh tĩnh để tính toán và nghĩ rằng, phen này tất cả đều bị bỏ tù, v́ đây là lần vượt biên thứ ba bị phát giác của chúng tôi.

Trong khi nhiều người đang bối rối th́ bác Tư Hiền, chủ bán tiệm vải ngày trước ở chợ Đông Ba, hô to như ra lệnh cho mọi người trong tàu yên lặng, và bác bảo mọi người chắp tay thành kính niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Không ai bảo ai, mọi người răm rắp niệm Nam Mô Cứu Khỏ Cứu Nạn Linh Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát râm lên cả một góc trời, theo sự hướng dẫn của bác Tư Hiền giữa sóng nước mênh mông. Lạ thay, th́nh ĺnh một cơn mưa nặng hạt đổ xuống tầm tă trên biển cả. Trong màn đêm dày đặc, sấm chớp nổi lên giữ dội, thét gào như cơn thịnh nộ của những vị hung thần. Kỳ diệu thay, trong lúc đó con tàu nhỏ của chúng tôi chạy vi vút như tên bay, hướng ra khơi bởi một sức mạnh phi thường nào đó, ngoài sự kiểm soát tay lái của tài công. Tài công hôm đó là anh Thông và tôi là người phụ tá cùng chấm địa bàn tay lái của anh. Cùng trong lúc ấy anh cảm thấy như đang rơi vào trong giấc ngủ, nằm kê đầu trên một thác nước chảy róc rách trên một sườn núi. Ở đây có nhiều khóm trúc và trên các cây cổ thụ xinh đẹp, treo sà xuống nhiều gị phong lan đủ màu, tỏa hương thơm ngát.

Trong khi đó, tiếng mọi người trên tàu vẫn tiếp tục niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ước độ mười phút sau, th́ tàu chúng tôi vượt ra khỏi hải phận của công an kiểm soát biên pḥng mà chúng tôi không hề hay biết. Thoát nạn, con tàu nhỏ của chúng tôi chạy thẳng vào đảo Hải Nam chỉ hơn bốn ngày sau. Thức ăn nước uống trên tàu c̣n hơn một nữa, v́ vật thực chúng tôi chuẩn bị cho mọi người có thể sống đến ba tuần lễ trên đường lánh nạn.

Khi tàu ra khỏi hải phận, chúng tôi những người cùng đi hôm đó tôn bác Tư Hiền là mẹ đỡ đầu tinh thần. Bác Tư Hiền khiêm tốn không chịu, nhưng v́ chúng tôi năn nỉ và tŕnh bày chi tiết về sự quan trọng của đời sống tâm linh, nên bác Tư Hiền vui vẻ nhận lời. Mà bác Tư Hiền làm mẹ đỡ đầu tinh thần cho chúng tôi là xứng lắm, v́ bác đă trên sáu mươi tuổi, vóc dáng phương phi, nụ cười hoan hỷ, lời nói lúc nào cũng từ tốn, sắc sảo và đầy tŕu mến. Hơn nữa, bác Tư Hiền đă quy y Tam Bảo năm giới, và thọ thập thiện, và thọ Bồ Tát Giới với ḥa thượng Quy Thiện từ lúc bác mới ba mươi mốt tuổi. Ḥa thượng đặt cho bác cái pháp danh là Thiện Yên. Vị bổn sư không phải đặt pháp danh cho bác theo ḍng kệ mà đặt theo tâm địa hiền lành và b́nh yên của bác. Về sau chúng tôi thường gọi bác là cụ Thiện.

Cụ Thiện Yên đă ăn chay trường trên ba mươi năm kể từ ngày thọ Bồ Tát giới. Hằng ngày cụ thường tŕ tụng kinh Pháp Hoa, mà phẩm Phổ Môn cụ nằm ḷng như kinh tụng mỗi ngày. Cụ không những tự ḿnh tu hành tinh tấn, mà lúc nào cũng vui vẻ khuyên bảo con cháu, người xa kẻ gần, làm lành lánh dữ. V́ cụ Thiện Yên là người đỡ đầu tinh thần cho chúng tôi nên chúng tôi đều lắng nghe lời dạy của cụ là phải ăn chay mỗi tháng sáu ngày và cách tu tập hàng ngày là lấy yếu chỉ kinh Phổ Môn làm đề mục tŕ tụng, sống theo hạnh từ bi, lợi người, cứu khổ của đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Cụ Thiện Yên sống với đứa cháu nội làm nha sĩ ở bên Thụy Sĩ. Chúng tôi cả nhà may mắn được tàu Cao Ủy đưa về Hồng Kông tạm trú sáu tháng, và sau đó được chú em bảo trợ qua Mỹ, đă có nhà ở tại một thành phố nhỏ cận Monterey, tiểu bang Calofonia.

Gia đ́nh chúng tôi mua vé máy bay mời cụ Thiện Yên, bà mẹ đỡ đầu tinh thần của chúng tôi qua Mỹ thăm hai lần. Cụ Thiện Yên cũng có đi Pháp, Cannada, đi Úc… thăm bởi những đứa con tinh thần của cụ bảo trợ tài chánh.

Chúng tôi đến Mỹ và thỉnh tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát về thờ ngay trong nhà. Trong nhà mỗi tuần tụng kinh Phổ Môn một lần và hàng ngày mỗi người đều tŕ niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà và đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Chúng tôi hết ḷng tri ân và kính trọng cụ Thiện Yên như h́nh ảnh của một vị Bồ Tát, v́ không những nhờ ảnh hưởng tu hành của cụ mà chúng tôi được thoát nạn; xa hơn, chính nhờ sự hướng dẫn của cụ mà cả gia đ́nh chúng tôi biết ḥa hợp, biết thương yêu và đùm bọc lẫn nhau một cách tốt đẹp trong nếp sống mới.

Quảng Đại

Nguyễn Thanh Hậu

 

(6)   MA HA CA LÔ NI CA DA – (Mahakarunikaya)

Quán Âm hiện thân tướng

Mă minh hưng đại thừa

Ma quân là chấn nhiếp

Hằng tự giác, độ tha.

 

CỨU CON THOÁT NẠN GIAO THÔNG |^|

Trong chánh điện chùa Từ Quang tại San Francisco, đối diện với tượng thờ đức Bổn Sư Thích Ca là Quan Âm Các. Điện này làm bằng gỗ sơn son thiếp vàng rất đẹp, những đường nét uốn cong, chạm trổ rất công phu. Tượng đức Quán Thế Âm ngồi trên ṭa sen cũng chạm trổ bằng gỗ trầm hương và thếp vàng lá. Đây là một bảo vật vô giá về mặt tinh thần, được Ḥa Thượng Nhất Văn, vị sư người Tàu liên lạc thỉnh từ Đài Loan. Điện Thờ đức Quán Thế Âm được thỉnh về tôn trí tại chùa vào tháng 2 năm 1978. Kinh phí lá 9 ngàn năm trăm Mỹ kim, do gia đ́nh đạo hữu Nguyễn Thị Quy, pháp danh Quảng Lạc phát tâm cúng dường.

Hồi mới lập chùa Từ Quang, đạo hữu Quảng Lạc có nói với tôi rằng: “Bạch thầy, Đức Quán Thế Âm linh hiển lắm, gia đ́nh ba mẹ con của con sống sót trên đất khách quê người, lập nghiệp nên nổi là chính nhờ Đức Quán Thế Âm cứu thoát mọi tai nạn. Ngài đă thường báo cho con nhiều điềm mộng dị thường. Hồi mới qua, con đi làm thuê đầu tắt mặt tối, đứa con trai đầu ḷng của con mười hai tuổi đi học và đi bỏ báo, cháu gái út mới hai tuổi, phải nhờ hàng xóm coi chừng và trả tiền rất đắt. Tiền bạc thiếu kém, nhưng không đáng ngại, về mặt tinh thần của con th́ lại quá trống trải buồn thảm, xuống dốc vô cùng trước nếp sống khác biệt mọi thứ. Nhưng may nhờ nhớ lớ mẹ con ngày xưa dặn là hễ có tai nạn nên nhất tâm lễ niệm, phụng thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát th́ được giải cứu. Con đă làm theo và đă phát tâm thờ Phật Quán Thế Âm, tụng kinh Phổ Môn, bái sám hàng ngày nên cả nhà con đều được hạnh phúc và b́nh yên. Nay con xin phát nguyện và mong thầy hứa khả hoan hỉ thỉnh tôn tượng Đức Quán Thế Âm về thờ ở chùa nhà để Phật tử đến chùa có cơ duyên lễ bái và phát tâm tu tập theo hạnh từ bi của Ngài, phí tổn bao nhiêu cũng được, đ́nh con xin nhất tâm tùy hỷ cúng dường.”

Đó là nguyên do Điện Các Quán Thế Âm tại chùa Từ Quang được thỉnh về thờ. Rất nhiều câu chuyện Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hóa hiện cứu nguy ba mẹ con đạo hữu Quảng Lạc trong những lúc hiểm nghèo mà đạo hữu đă kể cho tôi nghe. Đây là câu chuyện Đức Quán Thế Âm cứu đúa con trai gia đ́nh thoát nạn lưu thông vào năm 1981 trên đường đi Nevada.

Thành, con trai của đạo hữu Quảng Lạc, hôm đó buồn mẹ bỏ nhà đi chơi một tuần lễ chưa về. Mẹ ở nhà lo lắng và nóng ruột quá, ăn không được, ngủ không yên, bèn đóng cửa tiệm ăn mấy hôm để tĩnh tâm tụng kinh và cầu nguyện cho Thành trở lại nhà. Linh tính cho đạo hữu Quảng Lạc cảm thấy có điều chi chẳng lành xảy ra cho đứa con trai duy nhất của ḿnh. Thành đă bỏ nhà đi chơi nhiều lần, nhưng chưa có khi nào tâm thần đạo hữu Quảng Lạc bồn chồn, lo lắng nhu lần này. V́ không an tâm nên đạo hữu Quảng Lạc thức suốt nhiều đêm để niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Trước bàn Phật, đạo hữu Quảng Lạc mệt quá và thiếp đi chốc lát. Trong lúc đó, có một em bé trai độ mười lăm tuổi, bận áo màu xanh trông rất đẹp, tự xưng là đạo sĩ của Đức Bạch Y đến báo mộng cho đạo hữu Quảng Lạc biết là Thành, đứa con trai của bà đă bị tai nạn xe hơi và đă được cảnh sát đưa vào nhà thương lớn nhất tại thành phố Nevada. Và, em bé trai bận áo xanh c̣n báo mộng cho đạo hữu Quảng Lạc luôn cả số đ́ện thoại của nhà thương nữa. Giật ḿnh thức dậy, đạo hữu Quảng Lạc cuống cuồng, khóc lên ầm ĩ và quá sợ nên không dám gọi điện thoại, dù đạo hữu Quảng Lạc nhớ rơ số điện thoại em bé trai đă cho trong mộng. Thay v́ liên lạc ngay để biết hư thực việc tai nạn xe hơi  của con ḿnh, đạo hữu Quảng Lạc với kéo tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thờ trên bàn cao xuống sàn nhà “hạch tội” Đức Quán Thế Âm. Đạo hữu kêu gọi tên Ngài không ngới rồi nói: “tại sao Mẹ Hiền không cứu sống con của con. Con chỉ có một đứa con trai duy nhất mà thôi. Tại sao nó phải chết sớm, chết một cách oan uổng như vậy?...” Ngay khi đạo hữu Quảng Lạc đang “đối chất” với pho tượng đức Quán Thế Âm th́ có đ́ện thoại reo từ cục cảnh sát Nevada gọi về báo tin tất cả chi tiết tai nạn lưu thông của Thành cho đạo hữu Quảng Lạc biết. T́nh trạng tai nạn của Thành vô cùng nguy khốn. Khi nghe tin sét đánh xác thực này, đạo hữu Quảng Lạc ngất xỉu nhiều lần trong đêm. Và trong con mê đạo hữu Quảng Lạc thấy rơ ràng, một người thiếu nữ mặc áo trắng xinh đẹp đến vỗ vai an ủi và báo cho đạo hữu Quảng Lạc hay là mạng sống của Thành đă được cứu thoát, đừng quá đau khổ, lo âu. Người áo trắng nói: “Nhờ phúc đức của mẹ biết làm lành và lễ niệm Đức Quán Thế Âm mà con được nhờ”.

Sáng hôm sau, đạo hữu Quảng Lạc mua vé máy bay cấp tốc đến thành phố Nevada t́m con trai trong một tâm tư hết sức b́nh tĩnh. Bước vào pḥng cấp cứu, bà trông thấy một cơ thể bất động bó vải trắng nằm sóng sượt trên giường. Chung quanh có bác sĩ và nhiều y tá túc trực săn sóc. Hồ sơ bác sĩ cho hay là Thành đă bị thương tích toàn cơ thể, và nhiều đốt xương sườn bị rạn găy, bệnh nhân có thể ở đây từ năm đến sáu tuần lễ mới biết kết quả tốt hay xấu. Dẫu Đức Quán Thế Âm, hiện thân là người áo trắng đă báo cho đạo hữu Quảng Lạc là con trai sẽ thoát hiểm, b́nh an trong tai nạn này, nhưng khi nh́n t́nh trạng mê man và thân thể bất động của con, đạo hữu Quảng Lạc lại hết sức lo lắng và rối loạn tinh thần nên réo gọi, kêu cầu Đức Quan Thế Âm không ngớt.

V́ tiệm ăn quá đông khách, Đạo hữu Quảng Lạc ở lại nhà thương với con ba hôm rồi lại phải về San Francisco xếp đặt công việc để yên tâm săn sóc con trai. Kỳ lạ thay, đạo hữu Quảng Lạc về nhà chưa đầy ba hôm, th́ liền sau đó, Thành, con trai của bà cũng về nhà. Lúc về nhà, Thành t́m không thấy mẹ, cậu ta liền chạy đến chùa Từ Quang lễ tạ Đức Quán Thế Âm và t́m mẹ. Hôm ấy, đạo hữu Quảng Lạc mua lễ vật đến chùa nhờ tôi cầu an cho Thành. Không ngờ, vừa tụng kinh Phổ Môn xong, th́ Thành lù lù mở cửa đi ngay vào chùa, mỉm cười và ḍn dă chào hỏi mọi người một cách tự nhiên như không có tai nạn ǵ xảy ra cho Thành cả. Mẹ của Thành cứ trân tráo nh́n con trai như vừa sung sướng, vừa tưởng Thành như một bóng ma hiện h́nh ban ngày.

Thành kể lại là trong khi chán nản, uống rượu say lúy túy, lái xe chạy quá tốc độ nên xe đâm vào núi và bị ép nhẹp như một đống sắt vụn. Trong lúc đó, Thành cảm thấy như một bàn tay vô h́nh nào ôm Thành ra khỏi xe và đặt Thành nằm bên lề đường. Nhờ vậy mà cảnh sát phát giác và đưa Thành đến nhà thương cấp cứu. Các nhân viên cảnh sát địa phương cũng vô cùng thắc mắc đ́ều này và t́m không ra câu trả lời, nên lúc Thành b́nh phục bị hỏi cung khá rắc rối. Cuối cùng, Thành bị cảnh sát phạt 80 dollars về tội lái xe quá tốc độ. Ông Brian, nhân viên cảnh sát nói: “Mừng cho bạn thoát nạn dị thường”.

Ba mẹ con đạo hữu Quảng Lạc hiện vẫn ở tại vùng Bay Area bắc Califonia. Cả nhà vẫn phát tâm tu học tinh tấn và rất ưa làm phước bố thí. Hàng năm các ngày lễ vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, gia đ́nh đạo hữu Quảng Lạc đều lo hoa trái cúng Phật, thiết lễ trai tăng cúng dường rất chu đáo làm cơm khoản đăi cả chùa.

Tôi xin nhất tâm tùy hỷ ghi lại câu chuyện nầy ra đây để ấn chứng công đức gia đ́nh đạo hữu Quảng Lạc và gây thêm đức tin lành cho mọi người Phật tử xa gần về sự linh cảm của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

 

(7)   ÁN – (OM) –

Quán Âm hiện thân tướng

Quỷ vương độ quần tà

Thủ pháp tŕ mật ngữ

Án ma hàng phục ma.

 

GIẢI TRỪ VONG NHẬP |^|

Bà Trần Thị Tuyết Hạnh, năm mươi bảy tuổi, bị lâm bệnh ngay khi vừa nhập trại tỵ nạn ở đảo Phi Luật Tân. Bác sĩ chiếu khám cho bà nhiều lần và đưa bà ra khỏi trại để chụp h́nh nữa mà vẫn không t́m ra căn nguyên bịnh lư. Bà Hạnh đau rất kỳ cục, bà không chịu ăn uống và không ngủ trên cả tháng mà sức vóc không hề hấn ǵ. Mặt bà đỏ gay, con mắt láo liên và về chiều th́ mí mắt sụp xuống, buồn rầu khóc thảm, làm nhảm kể lể những chuyện đau buồn. V́ lư do mắc bệnh kỳ dị nên ban điều hành trại thương lượng co quan lo hồ sơ định cư cấp tốc cho gia đ́nh bà Hạnh nhập cảnh Hoa Kỳ sớm để có thể đủ điều kiện thuốc thang trị liệu bệnh t́nh cho bà.

Khi đến vùng San Francisco, người nhà cấp đưa bà Hạnh đến nhà thương trị liệu, song các bác sĩ giỏi đều bó tay chứng bệnh “không chịu ăn, không chịu uống”, mà vẫn sống như thường của bà Hạnh. Hai tháng trôi qua, bệnh t́nh không thuyên giảm, người nhà vẫn tiếp tục đưa bà Hạnh đi khám bác sỉ cho có lệ và để ai nấy yên ḷng.

Một hôm có cụ Lành đưa đường, chồng bà Hạnh đem vợ đến chùa Từ Quang gặp tôi để nhờ giúp đỡ. Mới nh́n qua nét mặt, khí sắc của bà Hạnh là tôi biết ngay bà bị âm khí ám nhập. Tôi đưa ngay bà lên chánh điện để “tra vấn” cái vong linh đang nhập trong người bà. Bà Hạnh nh́n tôi với vẻ sợ hăi và run cầm cập như đang ở giữa băng tuyết. Bà cúi đầu khóc thút thít, nghẹn ngào và biểu lộ sự tức tối, uất ức. Tôi gạn hỏi hoài mà vong nhập kia không chịu “khai báo” một chút tung tích ǵ. Tôi bèn gọi các chú trong chùa trợ niệm và lấy chiếc mơ nhỏ đặt ngay trên đầu bà Hạnh tụng chú Đại Bi th́ bà Hạnh nhắm nghiền hai mắt, tóc trên đầu bà bay ngược như một cơn băo thổi mạnh, hai tay bà chấp lại như một búp sen và miệng the thé nói một giọng con gái độ mười chin, hai mươi tuổi.

Tiếng người con gái này nói ḿnh đă chết trên biển cùng mẹ ruột và nhiều người v́ gặp băo, nên tàu ch́m. Tôi hỏi các chi tiết khác th́ vong linh nói mà phát âm không rơ, chỉ thốt lên the thé kêu đói, than lạnh rồi vật lăn giữa điện Phật bất tỉnh. Tôi và những người có mặt thấy thế xúc động quá, liền khai kinh Phổ Môn tụng cầu an cho bà Hạnh và liên tục niệm danh hiệu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát; đồng lúc tụng niệm tôi lấy nước thờ trên bàn Phật và đọc thần chú Quán Âm, Tâm Kinh Bát Nhă rồi đem cho bà Hạnh uống. Khi bà Hạnh vừa uống xong ly nước th́ liền tỉnh dậy và bà vội vàng nhảy tới bàn thờ vong, đưa tay bốc thức ăn bỏ vào miệng ngồm ngoàm như kẻ bị đói lâu ngày. Ăn đă đời, bà quơ tất cả đồ cúng nào là chuối, bánh, trái cây, khoai, bắp… trên bàn thờ cô hồn bỏ vào trong túi áo, lận trong lưng quần và trải tà áo tràng mà bà đang mặc gói tất cả thức ăn, chui vào trong góc bàn thờ linh và tiếp tục ăn như ma quỷ. Bà c̣n khóc và la lên là có nhiều người đang dành ăn và đánh tháo bà.

Thấy h́nh ảnh kỳ quái của bà Hạnh, ai cũng sợ và nhiều người bỏ chạy xuống lầu. Tôi b́nh tĩnh niệm chú Chuẩn Đề và dùng lời nhỏ nhẹ, ngọt ngào kêu bà Hạnh ra ngoài và quỳ giữa chánh điện. Tôi lại tiếp tục “vấn cung” vong linh đang nhập vào trong bà Hạnh một lần nữa. Lúc này, vong linh mới nói rơ tên tuổi, ngày chết là nhu cầu muốn được nghe kinh siêu độ. Tôi liền viết bài vị thờ ngay lúc ấy, kêu các vị dưới bếp nấu cơm chay cúng vong và tôi khai kinh Di Đà cầu siêu hôm đó, có gần một trăm Tăng Ni và Phật tử, v́ hôm đó là nhằm lễ sám hối Bố tát gần đến mùa Vu Ln Rằm tháng bảy.

Sau khi tụng kinh Di Đà, niệm danh hiệu Phật, đến chổ quy y linh kư tự, th́ bà Hạnh ngă xuống đất bất tỉnh. Độ chừng mười phút sau, bà Hạnh tỉnh dậy và trở lại người b́nh thường như ḿnh đă ngủ một giấc thật dài. Gia đ́nh bà Hạnh và mọi người hôm đó đều cảm kích và vô cùng mừng rỡ khi thấy bà Hạnh b́nh phục. Tôi bảo cụ Đức Hạnh, cô Thanh Tịnh nấu cháo trắng để bà Hạnh ăn kẻo nhịn đói lâu ngày ăn cơm vào nặng bao tử, và đưa bà vào pḥng nghỉ. Ngay tối hôm đó, bà Hạnh đ̣i về nhà v́ thấy đă khỏe hoàn toàn. Sáng hôm sau, tự bà Hạnh và cả nhà đến chùa lễ tạ và xin quy y.

Hôm chứng kiến lễ đưa vong linh cô gái Việt Nam chết trên biển ra khỏi người bà Hạnh và kư tự vong linh bất hạnh ấy tại chùa Từ Quang, cụ Tâm Huy chép miệng thành thơ rằng:

Pháp Phật nhiệm mầu

Cứu người khổ đau

Quan Âm linh hiển

Hạnh nguyện thâm sâu.

 

(8)   TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ - (savalavati) –

Quán Âm thị hiện thân tướng

Uy Tứ Đại Thiên Vương

Hùng phục như oán tặc

Cùng các loài thiên ma.

 

CẦU NGUYỆN NHƯ Ư

Tôi tên là Tống Ngọc Lê, pháp danh Thanh Nhẫn hiện ở tại San Jose. Tôi nghe lời mẹ dạy nên thường đi chùa lễ Phật, nghe quư thầy giảng đạo và biết ăn chay kỳ từ thuở c̣n bé. Mẹ tôi cũng bày cho tôi cách ngồi thiền, tụng kinh và niệm Phật. Mẹ tôi hay nhắc nhở, có khi rầy la, v́ tôi ngồi thiền cứ ngủ gục hoài. Tụng kinh và niệm Phật. Mẹ tôi hay nhắc nhở, có khi rầy la, v́ tôi ngồi thiền cứ ngủ gục hoài. Tụng kinh và niệm Phật th́ tôi thích hơn. Mẹ tôi biết ư nên khuyên tôi tụng kinh Phổ Môn để làm yếu chỉ tu học . Sau một thời gian tụng kinh, tôi có đọc 108 danh hiệu Đức Quan Thế Âm Bồ Tát. Hồi c̣n trẻ, tôi tụng kinh niệm Phật không đều, bữa siêng, bữa nhác; nhưng bây giờ th́ đă thuần thục rồi. Tôi thường tụng kinh, niệm Phật hang ngày không hề bỏ sót.

Ngược ḍng thời gian, năm tôi hai mươi tuổi bị bệnh nặng, người nhà đưa tôi vào nhà thương Phúc Kiến ở chợ Lớn cấp cứu. Tôi bị bệnh thường hàn nhập lư và lên cơn sốt dữ dội. Tôi bị mê man suốt hai ngày đêm. Các bác sĩ cho người nhà tôi biết là bệnh khó chữa trị, kinh mạch xáo trộn, độc tố đă nhiễm vào tim. cả nhà tôi ai cũng khóc, song mẹ tôi rất b́nh tĩnh và khuyên mọi người đem tâm thành niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tiếp niệm danh hiệu Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng  Quán Thế Âm Bồ Tát luôn trọn ngày và trọn đêm dậy cả một góc nhà thương. Ngay đêm đó, khoảng hai giờ sáng, tôi đang trong cơn mê mà cảm nghe như có ḍng suối nước chảy, có tiếng chim hót và tiếng chuông chùa. Tôi thấy ḿnh bước chân lên từng cấp của một cảnh nguy nga, hùng vĩ trên một ngọn núi cao. Trước cổng lên núi và chùa có đề ba chữ Phổ Đà Sơn, bên bờ biển Nam Hải, nơi mà Đức Quán Thế Âm thường cư ngụ. Trong chùa có khoảng vài trăm người đang ngồi thiền, xây mặt ra hướng biển Đông. Người nào cũng có tóc và mặc áo nhiều mà rất đẹp nên tôi không nhận biết họ là đàn ông hay đàn bà. Riêng tôi th́ được một người đàn bà mặc áo trắng dẫn vào trong một ngôi nhà tranh nhỏ, nằm giữa khóm trúc nên thơ. Trong cái thất ấy có đến hai co thanh nữ mặc áo xanh; nét mặt cô nào cũng rất đoan trang và vui vẻ. hai vị này cho tôi biết người mặc áo trắng là thầy của họ mà người xưng là Bạch Y Quán Thế Âm. Tôi mừng quá liền cúi xụp lạy, nhưng Đức Bạch Y đưa tay cản lại không cho lạy. Ngài bảo một cô Thanh y rót nước trong b́nh tịnh thủy cho tôi uống. Uống xong, tôi cảm thấy khỏe khoắn vô cùng, tâm thần nhẹ nhàng và đầy sung sướng. Tôi bèn ngỏ lời Bạch Y Quán Âm đại sĩ và hai tiểu đồng rối rít. Kế đó, tôi đột nhiên mở mắt và thấy nhiều người đang đứng chung quanh giường và niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm. Hai hôm sau th́ tôi xuất viện, v́ bệnh t́nh của tôi khỏi hẳn. Điều này khiến cho các bác sĩ trong bệnh viện vô cùng kinh ngạc về bệnh trạng của tôi. Mẹ tôi bảo cho họ hay rằng, tôi được cứu thoát căn bệnh ngặt nghèo là nhờ sự mầu nhiệm của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi cũng tin như vậy, và câu chuyện này đă gây tín tâm rất nhiều cho tôi và mọi người trong gia đ́nh thân nhân của tôi

Tôi là con dâu trưởng sinh sống với chồng tôi nhiều năm mà không có con. Chồng tôi th́ thương tôi hết mực, song những người thân phía chồng tôi nói vào nói ra làm cho tôi rất buồn tủi. Họ bảo tôi rằng: “Đàn bà chi mà không biết sanh đẻ”.

Thay v́ giận, đau buồn, khóc lóc, tủi hổ thân phận th́ tôi lại vui và âm thầm tŕ tụng kinh Pháp Hoa, niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm và mong có được một đứa con gái ra đời cho vui nhà.

Điều mơ ước lại đến, sau suốt nhiều năm tu tập và cầu nguyện, một đêm tôi thấy ḿnh trở lại núi Phổ Đà vào viếng thăm chổ sơ sài của Đại Sĩ Bạch Y Quán Thế Âm ở. Tôi mới bước chân nửa thềm đá cao, th́ thấy hai thanh nữ hầu Đức Quán Thế Âm bước lại gần tôi và trao cho một bé gái nhỏ xinh xinh. Tôi tỉnh dậy và bắt đầu có thai từ đó.

Con tôi ra đời đă đem lại cho tôi và chồng tôi một niềm vui rất lớn. Bé Hiền năm nay đă tám tuổi. Cháu rất ngoan hiền, học giỏi và chí mực hiếu thảo. Cả nhà, các bác, các chú, bà ngoại, bà nội hai bên ai cũng thương cháu.

Trong kinh cứu khổ có bài kệ mà tôi thấy rất hợp với hoàn cảnh của tôi:

Người vô tự quạnh hiu sau trước

Sửa tất ḷng tác phước khẩn cầu

Từ bi linh hiển pháp mầu

Cho trai hiển đạt gái cầu hiền lương.

Cuối năm 1979, gia đ́nh tôi rời khỏi Việt Nam vượt biên ra nước ngoài. Khi tàu rời bến được độ hai ngày đêm th́ máy bị chết. Mọi người trên tàu đều bối rối, lo âu. Nước biển, sóng gợn ́ ầm át cả tiếng khóc của trẻ con, tiếng căi vả của nhiều người với chủ tàu là “ lấy tiền người ta mà làm ăn bê bối”. Riêng tôi ngồi nh́n đứa con đang ngủ trên tay và định tâm niệm Nam Mô Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát. Kỳ lạ thay, vài tiếng đồng hồ sau th́ con tàu chúng tôi nổ máy và chạy khoảng bốn tiếng đồng hồ th́ gặp tàu tuần tiễu của hải quân Trung Hoa Quốc Gia giúp đưa chúng tôi vào địa phận Hồng Kông. Nếu không có chiếc tàu cứu khổ này th́ chúng tôi đă đắm xuống biển 150 mạng v́ con tàu bị chết máy, vừa bị sóng đánh mạnh nên thân tàu bị bể và nước tràn vào ầm ầm không sao tát ra kịp.

Khi được đến Mỹ, gia đ́nh tôi ở một ngôi nhà không đủ pḥng rộng răi, nhưng tôi quyết sắp xếp để nguyên một căn pḥng có nhiều ánh sáng, đẹp làm nơi tĩnh tâm và thờ phượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi có làm bài thơ tám câu để tạ thâm ân cứu khổ của mẹ hiền Đức Quán Thế Âm như sau:

Quán Âm Bồ Tát Đấng Mẹ Hiền

Cứu khổ muôn loài hạnh vô biên

Ứng thân diệu dụng vô cùng tận

Đại nguyện từ bi rải mọi miền.

 

Con xin sám hối những sai lầm

Tinh tấn tu học để thanh tâm

Ngày đêm thiền tịnh không lơ đễnh

Giác ngộ chân tâm đẹp sáng ngời.

(9)   SỐ ĐÁT NA ĐÁT TĂ - (Sudhanatasya) –

Quán Âm hiện thân tướng

Bộ Lạc Tứ Thiên Vương

Khiến cải ác theo thiện

Học tu đạo nhất thừa.

 

HẦU BỒ TÁT QUAN THẾ ÂM |^| 

Sống một đời lương thiện

Thác theo hầu Quán Âm

Mẹ hiền thương con trẻ

Thường đêm ngày chở che.

Mẹ tôi đă qua đời cách đây gần năm mươi năm về trước, v́ một cơn bệnh ngặt nghèo. Năm qua đời, mẹ tôi mới ba mươi hai tuổi, tôi mới lên sáu bảy tuổi đầu. Chúng tôi có bốn anh em. Anh cả và hai em gái. Sau khi mẹ qua đời, chúng tôi được D́ Út săn sóc. D́ Út bây giờ c̣n sống và rất khoẻ, dù tuổi D́ đă hơn tám mươi. Chúng tôi xem D́ Út như mẹ yêu, nên mỗi mùa Vu Lan đến, tôi và mấy anh em tôi đều cài bông hồng màu đỏ lên áo.

Đêm qua, chủ nhật ngày 27 tháng 7 năm 1997 tôi mơ thấy mẹ đến thăm tôi. Gặp lại mẹ, tôi mừng lắm. Mẹ tôi cũng mừng và cả hai đều xúc động đến chảy cả nước mắt. Mẹ tôi c̣n trẻ và đẹp lắm. Vóc dáng trông rất mảnh mai, dung nghi đỉnh đạc. Mẹ tôi khoẻ, nhan sắc hồng hào, tướng mạo đoan trang, thanh nhă như một bà tiên.

Đêm qua nằm mơ thấy mẹ về

Mẹ về như cánh hạc sơn khê

Thiên y lộng ngọc bay trong gió

Mỉm cười nụ hoa tiên mẹ vỗ về.

Tôi hỏi lâu nay mẹ ở đâu?

Quán Âm Bồ Tát mẹ theo hầu

Cơi phàm qua lại quê Cực Lạc

Đi đứng tùy duyên với phép mầu.

Từ ngày mẹ tôi qua đời cho đến nay, lần đầu tiên tôi nằm mơ thấy người. Đúng là giấc mơ, nhưng giấc mơ thật kỳ lạ. Đêm ấy ba lần thức giấc, ba lần tôi thấy mẹ tôi khi vừa nhắm mắt trở lại. H́nh ảnh mẹ tôi hiện ra như ban ngày và vẫn tiếp dẫn cùng câu chuyện. Tôi nhớ rất rơ từng lời nói, từng cử chỉ, từng câu nhắc nhở, khuyến khích, hỏi han của mẹ.

-   mẹ từ đâu tới?

-   Đủ duyên th́ tới, chẳng chổ tới, chổ về.

-   Mẹ lâu nay làm ǵ?

-   Mẹ theo hầu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Thấy tôi phân vân, và có vẻ nghi ngờ, mẹ tôi nh́n tôi mỉm cười chậm

Răi nói:

Thật ra các cơi giới khác nhau đều do tâm sở duyên và sở hiện, chứ chẳng phải đâu xa. Tâm vui th́ cảnh giới vui, tâm buồn th́ cảnh giới buồn. Tâm tương hợp và tạo nên mọi cảnh giới, mọi hiện tượng trong trời đất.

“ từ khi mẹ tắt hơi thở, ai cũng nghĩ là mẹ đă mất. Kỳ thực, mẹ vẫn sống và c̣n có duyên lành theo hầu Đức Quán Thế Âm đi lại khắp nơi để độ người, giúp kẻ lầm than, lâm hoạn nạn. Con là người có nhiều tai kiếp, nhưng lúc nào Đức Quan Thế Âm Bồ Tát và mẹ cũng luôn luôn có mặt bên cạnh con để hộ tŕ cho con, giúp sức cho con lập nên chí nguyện lớn, làm lợi ích cho nhiều người.”

“Thưa mẹ, mẹ nói là Bồ Tát Quán Thế Âm và mẹ luôn luôn có mặt bên cạnh để hộ tŕ cho con lập nên chí nguyện.”

“Quả như vậy, v́ con là hài nhi của Đức Quan Thế Âm gởi cho mẹ săn sóc; do đó, Đức Quan Thế Âm và mẹ vẫn có liên hệ với con trên suốt hành tŕnh tu tập, phụng sự của con.”

“Thưa mẹ, mẹ có thể chứng minh và nói rơ hơn điều này cho con nghe được không? Con xin thất lễ với mẹ là nếu con có Đức Quán Âm, có mẹ nâng đỡ, th́ con không bao giờ gặp đủ mọi gian nguy, bệnh tật, tai ách, chướng nạn trong cuộc đời đi tu, hành đạo của con?

“Con nên trầm tư, hồi tưởng lại vài sự việc nguy biến xẩy ra trong đời con, mà con vẫn được b́nh yên vô sự. Hơn nữa, tu tập mà không gặp khó khăn, chướng nạn th́ do đâu mà lập chí? Mẹ muốn thuật lại một vài việc cho con nhớ:

1-     Năm con trốn nhà đi tu, nửa đêm hôm ấy trời mưa to và băo lụt, nước ngập lối đi. Khi con vừa leo lên chiếc cầu nhỏ để qua sông th́ chiếc cầu tre ấy bị nước cuốn trôi, con ch́m trong biển nước mênh mông với thân h́nh chú bé mười bốn tuổi. Ai đă đưa con lên cồn cát, dẫn tới đường cái quan  và cho xe đón vào chùa Báo Quốc, Huế mà không tốn tiền lệ phí?

2-     Con vừa đến chùa Báo Quốc là có sư tổ khai sơn chùa Giác Hải, tự Viên Giác, hiệu Chiếu Nhiên đứng đợi con tại cửa Tam Quan chùa. Tối đó, người làm lễ xuống tóc cho con và khuya hôm ấy, hai thầy tṛ đón tàu lửa về Nha Trang. Ai đă xếp đặt việc ấy cho con?

3-     Chiều ngày 18 tháng 8 năm 1959, con bị té từ trên cây dừa lửa cao vút phía bên trái cổng chùa Giác Hải, thôn Xuân Tự, Nha Trang, Khánh Ḥa. Dưới gốc dừa chất từng đống đá tổ ong để xây trường học, thế mà khi con té xuống đầu, ḿnh và toàn thân của con không bị một chút thương tích nào, con tưởng con là h́nh đồng da sắt hay sao?

4-     Thời gian con học nội trú bốn năm tại chùa Linh Quang, Huế. Đó là ngày 20 tháng 05 năm 1968, con bị đau thương hàn nhập lư đưa vào bệnh viện, các bác sĩ đều bó tay và đă đưa con qua nhà xác. Sau đó vài phút, hóa thân thứ bốn mươi sáu của Đức Quan Thế Âm và mẹ đă đến mang con trở lại pḥng điều dưỡng, khiến cho quư thầy, chư vị Tăng Ni và các bác sĩ, y tá tại bệnh viện Huế đều hết sức kinh ngạc. Con c̣n nhớ chuyện ấy không?”

 

Nghe đến đây, tôi không c̣n ngạc nhiên và nghi ngờ ǵ về lời nói và việc làm của mẹ tôi nữa. V́ những điều mẹ tôi nhắc lại cho tôi nghe, đều hoàn toàn đúng như sự thật. không phải khi đang đối diện với mẹ tôi trong mộng, mà ngay trong khi thức giấc, tôi kiểm chứng lại những lời mẹ tôi kể không sai điểm nào, dù các việc xảy ra trong quá khứ tôi hầu như quên hết từ lâu.

Nằm mơ thấy mẹ về thăm

Tỉnh rồi như huyễn tháng năm miệt mài

Ngủ thức quả giấc mộng dài

Đâu là chân cảnh là đài gương trong?

Bâng khuâng ấp ủ trong ḷng

Tŕnh ra thay giọt lệ ḷng trầm tư

Nhân duyên có tự bao chừ.

Chân thân như thể thái hư sạch làu

Bây giờ cho đến ngàn sau

T́nh thương của mẹ nhiệm mầu vô song

Năm mươi cách bóng mẹ hiền

Được duyên gặp mẹ thỏa ḷng con thơ.

(10) NAM MÔ TẤT CÁT LẬT ĐỎA Y MÔNG A RỊ DA – (Namaskrittva naman arya) -

Tướng Long Thọ Bồ Tát

Quán Âm thị hiện thân

Hàng phục như tà phái

Hiển lư tánh chơn không.

 

CẦU SINH CON GÁI TOẠI Ư |^| 

Quán Âm chuyên lễ niệm

Cầu con gái thỏa ḷng

Được môn đăng rể quư

Cả nhà đều mừng vui.

Ông bà ngoại chúng tôi sinh liên tục ba người cậu, cả đại gia đ́nh và ḍng họ ai cũng đều lấy làm vui. Riêng ông ngoại có lúc ngồi một ḿnh uống trà đăm chiêu, nghĩ ngợi và buồn rầu. Bà ngoại thấy vậy, gạn hỏi căn do nhiều lần, ông ngoại không dấu diếm được liền nói với bà ngoại rằng:

Tôi một ḿnh tự ư hứa với Ngài chánh tổng trong làng là hễ trong nhà có sinh con gái th́ sẽ kết nghĩa làm sui gia với bên họ Nguyễn. Thế nhưng đă hơn năm trôi qua mà thời gian hứa của tôi chưa thành sự thật. Bà đừng hiểu lầm là tôi trách bà nghe, chỉ là nhà ta thiếu phước nên chưa đủ duyên cùng làm người nhà với Ngài chánh tổng đó thôi.

Nghe ông ngoại nói xong, bà ngoại thấy thương chồng, sốt ruột và lại cũng đâm ra lo lắng. Bà ngoại dầu chưa bao giờ biết việc ông ngoại có hứa về vị chánh tổng nhà họ Nguyễn về việc ông ngoại âm thầm ước muốn trong nhà có một cô con gái cho nội ngoại đề huề, ấm áp gia phong. Đồng t́nh, thuận ư như nhau, ông bà ngoại tôi đều nghĩ tới việc lên chùa cầu tự, xin Phật phù hộ được sinh con gái.

Hôm ấy nhằm tiết trung thu rằm tháng bảy, ông bà ngoại tôi về thăm chùa Sắc Tứ, tổ đ́nh Quăng Trị cúng Phật và bày tỏ ư nguyện. Trong dịp ấy ông bà ngoại tôi được duyên may gặp tổ Bích Phong từ Huế ra giảng pháp, Ngài dạy ông bà ngoại tôi phát tâm mua ngói lợp lại ngôi Phật điện bị hư dột v́ chiến tranh. Ông bà ngoại tôi lại được quy y với tổ và biết lễ niệm, phụng thờ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát từ đó. Tổ Bích Phong căn dặn ông bà ngoại tôi là nên phát nguyện ăn chay, giữ giới thanh tịnh, trong sạch thân tâm th́ mọi ư mong cầu đều được toại nguyện. Nhân đó tổ ban cho ông bà ngoại tôi một bài kệ văn bằng chữ Nôm như sau:

“Quán Âm Bồ Tát từ bi

Cứu người đau khổ lâm nguy ách nàn

Ăn chay giữ giới làm lành

Cầu chi được nấy toại nguyền hôm mai

Muốn cầu con gái con trai

Thành tâm lễ niệm gái trai phỉ nguyền.

Quán Âm niệm niệm tinh chuyên

Tham sân chừa bỏ lặng yên sóng cồn

Ngồi thiền đèn tuệ rạng chong

Sống v́ tất cả mát ḍng chân minh

Một đời chớ có sát sinh

Nguyện ḷng chớ có trộm cắp dâm tà

Dối gian lường gạt tránh xa

Rượu say cờ bạc quyết từ bỏ đi.

Quán Âm cứu khổ từ bi

Thiết tha cầu khẩn thỏa ḷng ước mơ.”

Bằng vào lời dạy của Tổ, ông bà ngoại tôi hết ḷng phát nguyện tu tập, giữ ǵn giới hạnh tinh nghiêm; thỉnh tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát để thờ phượng, lễ bái, xưng niệm, cầu nguyện rất chuyên cần và tha thiết. Một năm sau điều nguyện ước mong của ông bà ngoại tôi được thỏa măn. Bà ngoại thọ thai, mẹ tôi ra đời, rồi kế đến là D́ Út ra đời. Ông cố ngoại đặt tên cho mẹ tôi là Trần Thị Vui, đặt tên cho D́ Út là Trần Thị Mừng, là niềm vui lớn tràn ngập cả nhà mong ước nguyện cầu sanh con gái được sanh con gái của ông bà ngoại tôi. Chính nhờ sự linh ứng cầu nguyện Đức Quán Thế Âm có hiệu nghiệm này mà trong đại gia đ́nh ông ngoại và trong đại gia đ́nh ông nội tôi, cùng bà con gịng họ xa gần, dân chúng thôn trên xóm dưới, ai ai cũng một ḷng tín cẩn, phụng thờ chăm ḷng lễ niệm và sống theo hạnh lành của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Chuyện này được viết theo lời kể của ông Trần Hải và Trần Phước, hai người con của ông bà ngoại, cậu ruột của tôi hiện c̣n sống tại Long Hưng, quận Hải Làng, tỉnh Quảng Trị.

 

(11) BÀ LÔ CÁT ĐẾ THẤT PHẬT RA LĂNG ĐÀ BÀ – (Avalokitashavara lantabha) -

Quán Âm thị hiện tướng

Viên măn thân trang nghiêm

Tỳ Lô Giá Na Phật

Độ vô lượng chúng sanh.

 

NGỒI THIỀN TRÊN SỪNG TRÂU |^| 

Cậu bé mặc áo đỏ

Trâu ô húc vướng sừng

Mang chạy quanh miếu cổ

Lăo bà hiện, trâu quỳ. 

Em bé trai bận áo đỏ chừng bốn tuổi, chạy tung tăng bắt bướm từ trong vườn ngôi miếu cổ của làng. Một con trâu mộng, sừng nhọn, to tướng đang ăn cỏ nơi vỉa hè ngôi miếu cổ, bỗng hai con mắt nổi lửa đỏ ngầu, sung sục chạy đến húc cậu bé cắm lên hai sừng, rồi chạy đến khắp đường làng, khiến ai nh́n thấy cũng đều kinh hoàng và hoảng sợ. Riêng cậu bé lắc lư trên sừng trâu như đang “tọa thiền” khoái chí. Con trâu mang cậu bé chạy cùng đường, rồi lạ thay nó chạy trở về lại ngôi miếu cổ. Vừa chạy vào sân miếu, con trâu thấy một bà lăo tóc bạc, chống gậy đứng trước ngôi miếu, con trâu liền quỳ hai chân trước một cách cung kính và để bà lăo ẵm em bé xuống đất một cách b́nh yên, rồi th́ bà lăo biến mất. Cậu bé ấy chính là tôi, chứ không ai khác. Vết sẹo năm xưa bị trâu húc sát bụng dưới của tôi, bây giờ vẫn c̣n là một “di tích lịch sử” chưa phai mờ.

Khi tôi lớn lên được người nhà thuật lại rằng, mẹ tôi hay tin em bé bận áo đỏ bị trâu húc liền run rẩy bà báo tin cho bà nội hay. Bà nội nghe xong hết sức b́nh tỉnh, bà thong thả thắp hương đèn trước bàn Phật, rồi gọi hết cả nhà cùng người ăn kẻ ở xúm lại đông gần năm mươi người cả thảy, đồng thanh niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Chỉ trong ṿng mười phút sau là tôi được cứu và mang về nhà. Mẹ tôi kể là, v́ câu chuyện tôi bị trâu húc mà từ đó không mấy người ưa màu áo quần đỏ, cho chí khăn màu đỏ, ông bà nội tôi đều cấm con cháu dung tới.

Bà lăo hiện thân đó là ai?

Tại sao trâu lại chống chân quỳ

Bé thơ ngộ nạn mà không chết

Có phải tổ tiên có đức dày?

Những nghi vấn trên đây, tùy nơi đức tin, kinh nghiệm, sự thực tập của mỗi người để trả lời. Riêng ông bà nội và mọi người trong gia đ́nh tôi cho rằng, bà lăo hiện thân trong miếu để ra uy cho con trâu mang tôi trở lại miếu và quỳ xuống để tôi không ngộ nạn, là hóa thân của Đức Quan Thế Âm Bồ Tát.

(12) NAM MÔ NA RA CẨN TR̀ – (Nammo Nilakantha)

Quán Âm thị hiện tướng

Tự tánh Tỳ Lô Hải

Thanh tịnh pháp thân Phật

Cứu khổ hằng ban vui.

 

BÀ CỤ BÁN CHÈ THOÁT NẠN. |^|

Cụ Sen trên sáu mươi lăm tuổi, cư ngụ tại Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam, ngày ngày trời mưa cũng như trời nắng, phải đi bán cho xong hai gánh chè rong, mới đủ ít tiền lời mua gạo nuôi một đàn cháu.

Cụ có một người con trai lấy vợ sinh được bốn cháu nội, ba trai một gái. Cháu đầu mười một tuổi, ba cháu sau cách nhau một đứa hai tuổi. Bốn cháu nội của cụ chưa khôn lớn nhưng rủi thay, cha mẹ chúng đă qua đời cùng một lúc v́ ḿn nổ khi cả hai ḅ qua hàng rào kẽm gai của một đồn lính cũ, lượm các lon bia và lon nước ngọt để đổi gạo nuôi các con trong cảnh nghèo khó. Tám đứa cháu ngoại khác, con của người con gái lớn của cụ cũng rất thương tâm. Đứa đầu là con trai mười sáu tuổi, bị cụt hai chân v́ chiến tranh. Em thường ở nhà ḅ lê trên nền đất của cái bếp nhỏ xíu, giúp bà ngoại nấu đủ các loại chè. Bảy bé gái, từ mười bốn tuổi trở xuống, chỉ cách nhau một đứa vài ba tuổi. May mắn là ba cô bé sau ở trong viện cô nhi Diệu Định, lâu lâu mới được phép kéo nhau về nhà thăm bà ngoại, bốn chị lớn và người anh tàn tật. Cha chúng đi lính bị chết, mẹ mắc phải bệnh đau tim và qua đời hồi đứa con gái mới sinh được ba tháng. Nhờ lúc c̣n sống, mẹ của các cháu hay đến cô nhi viện Diệu Định làm công quả, tắm giặt, lo cơm nước cho các em bé mồ côi, nên sau khi bà qua đời ba đứa nhỏ được ban giám đốc viện mồ côi ưu tiên giúp đỡ.

Tôi được biết chút ít về gia cảnh buồn tủi, khốn khổ của cụ Sen, v́ tôi quen biết cụ bằng những chén chè nếp canh khuya khi cụ đi ngang qua chùa Phổ Đà trên đường đi bán chè về nhà của cụ. Hồi đó, năm 1964 tôi đang chương tŕnh đệ tứ trường trung học Bồ Đề Đà Nẵng. Đêm nào tôi cũng thức để học bài và làm bài đến mười hai giờ khuya. Làm bài xong, ngồi canh chừng ở bờ tường có lổ hổng chờ cụ Sen đi bán chè về. Nếu may lắm th́ những chén chè nếp nấu với đậu ngự c̣n sót lại, cụ chỉ bán cho tôi và các chú tiểu giá tiền phân nửa. Khi mua được những chén chè của cụ, chúng tôi phải ngồi ăn tại bờ tường để trả chén lại cho cụ. Có lần nghe tôi nói chuyện đi tu cũng nhớ cha nhớ mẹ, nhớ ông bà nội, ông bà ngoại lắm. Cụ nghe xong rồi chảy nước mắt. Từ đó cụ cho chúng tôi ăn chè mà không hề tính toán; hễ có chút ít tiền th́ trả, bằng không th́ thôi, cụ cho ăn miễn phí. Cụ nói cụ xem chúng tôi như cháu của cụ. Ăn chè của cụ mà được miễn phí nhiều lần quá, nên tôi rất ngại. Tôi liền nghĩ ra cách đền đáp cụ là dạy cho cụ Sen bán chuyên tâm lễ niệm Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Một hôm tôi nói với cụ.

“Đức Quán Thế Âm Bồ Tát linh lắm cụ ơi! cụ có rănh nên ghé vào chùa lễ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Bằng như quá bận rộn, th́ cụ cứ chuyên tâm mà niệm “ Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” lâm râm trong miệng thường xuyên cũng được. Cụ rất tin và nghe lời. Nhưng v́ cụ không biết chữ, nên tôi phải dạy cho cụ đến cả bảy lần cụ mới nhớ nổi. Cũng từ đó, tôi được nếm đủ các loại chè của cụ hoàn toàn miễn phí. Lần đầu tiên tôi được ăn chè hạt sen, một loại chè đắt tiền nhất trong các loại chè. Gọi là cụ Sen v́ tôi được nhiều lần ăn chè hạt sen thượng hạng của cụ, nên tôi tự động đặt tên ấy cho cụ để nhớ ḷng tốt của cụ.

Một ngày nọ, cụ Sen gánh chè đi bán, và v́ trời quá nóng nên cụ ngồi sát bên bờ tường táp lô ở hông chùa Phổ Đà để nghỉ. Vừa ngồi chốc lát th́ cụ thấy có một người bận áo trắng, mặt mày rất xinh vừa đi vừa khóc như có chuyện buồn. Thấy vậy cụ động ḷng trắc ẩn liền chạy theo để hỏi lư do và có thể an ủi người ấy. Nhưng khi cụ vừa đến th́ nàng biến mất như một cái bóng liền ngay lúc đó, bờ tường cũ mà cụ Sen ngồi nghỉ mát bỗng ngă xuống rất mạnh, choán hết cả lối đi và làm tan nát gánh chè của cụ. Tôi và các chú trong chùa nghe mọi người hô hoán là bờ tường chùa bị đổ, chúng tôi chạy ra xem th́ thấy cụ Sen mếu máo khóc v́ tiếc rẻ gánh chè bị mất và soong nồi chén bát đều bị tiêu tán. Tôi đă an ủi cụ là “của mất mà người c̣n”. Và tôi “báo cáo” cho cụ Sen rơ, đó là nhờ cụ tin tưởng Đứa Quán Thế Âm Bồ Tát. Nhờ cụ thường niệm danh hiệu Ngài mỗi ngày nên có sự linh nghiệm. Thưa cụ, người thiếu nữ bận áo trắng mà cụ thầy kia chính là hóa thân thị hiện cứu khổ, cứu nạn Quan Thế Âm Bồ Tát. Nếu không có Bồ Tát giả làm người con gái đến cứu cụ th́ cụ đă theo ông bà rồi.

Không chỉ an ủi cụ Sen thôi, thực tế hơn tôi đă đi xin tiền các D́ Văi trong chùa và các Phật tử quen thân để tạo “cơ nghiệp” gánh chè bán hàng rong cho cụ Sen. T́nh nghĩa giữa gia đ́nh cụ Sen và tôi đă khắn khít nhau từ đó. Tôi có làm bài thơ tặng cụ Sen:

Chú tiểu thức khuya để ăn chè

Ăn chè miễn phí thẹn ấp e

Bèn khuyên bà cụ Quán Âm niệm

Linh ứng cho nên thành khỏi đè.

 

(13) HÊ RỊ MA HA BÀN ĐA SA MẾ ( Srimahapatashami)

Quán Âm hiện thân tướng

Vị vua Dương Đầu Thần

Hộ tŕ các hành giả

Đạo quả chóng viên thành.

 

BÀN TAY MẦU NHIỆM CỦA ĐỨC QUÁN THẾ ÂM |^| 

Tôi sống nhờ bàn tay mầu nhiệm

Đức Quán Âm cứu khổ mẹ hiền

Một tai nạn lưu thông khó thoát

Một linh ngời linh diệu b́nh yên.

Hôm đó tôi đi lên bộ nội vụ với thầy Pháp Bạc để xin giấy tờ đi Mỹ. Trên đường đi, di chuyển bằng chiếc xe Vespa cũ của thầy Pháp Bạc và do thầy cầm lái. Không may, khi chiếc xe chúng tôi lướt nhanh trên đường từ Phú Lâm lên Sài G̣n th́ bị một chiếc xe M.C của quân đội, do một anh lính hạ sĩ quan Việt Nam say rượu cầm lái, húc mạnh và cán lên chiếc xe Vespa của hai chúng tôi. Lúc vừa bị xe lớn cán lên xe và lên người hai chúng tôi, tôi thoáng thấy một bàn tay dài, lớn, mềm mại nhanh nhẹn ẵm lấy tôi đặt vào một gốc cây to sát lề đường. Nhiều người đi đường thấy hai ông thầy tu bị  xe “chạy ẩu” cán nát bèn xúm lại và kéo ông tài xế xe M.C xuống để hạch tội, hành hung. Một số người khác dùng sức kéo chiếc xe Vespa nghiền nát như bánh tráng đang kẹp dưới chiếc xe lớn. Nhưng lạ thay, họ không thấy hai chúng tôi đâu cả. Ngồi yên trong gốc cây, tôi quán sát cảnh tượng náo nhiệt một hồi, rồi nh́n thấy thầy Pháp Bạc đang lom khom ḅ lên từ ống cống của rănh nước. Kiểm soát kỷ, cả hai chúng tôi thấy không hề bị thương tích ǵ cả bèn chạy tới đám đông “cứu khổ” cho tài xế M.C. đang bị bà con tấn công chuộc tội. Tôi thong thả bước tới dang hai tay cản những người đang hành hung bác tài xế và nói to: “chúng tôi c̣n đây nè, cả hai thầy tu chúng tôi không bị thương tích ǵ cả trong tai nạn này, xin cảm ơn bà con cô bác đă quan tâm và xin tất cả vui ḷng, tuyệt đối không nên làm khó dễ bác tài xế.” Nghe lời tuyên bố, cả đám đông gần mấy chục người yên lặng và vô cùng kinh ngạc nh́n hai chúng tôi với nét mặt mừng rỡ, cung kính. Riêng bác tài xế th́ khóc sướt mướt và quỳ xuống đường chấp hai tay lạy chúng tôi như lạy tế trời.

Nhân đám đông và cảnh sát công lộ có mặt làm hồ sơ tai nạn lưu thông, tôi đă lợi dụng cơ hội này diễn thuyết một hồi về sự mầu nhiệm của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi nói vắn tắt mấy lời như sau:

“Kính thưa quư vị, hai chúng tôi bị tai nạn khủng khiếp, có thể chết trong đường tơ kẻ tóc. Nhưng quư vị xem thân thể hai anh em chúng tôi dây, không hề bị thương tích ǵ cả. Áo quần chúng tôi rất sạch sẽ, không bị lấm đất, không dính một giọt máu v́ tai nạn. Quư vị thấy có lạ không? Đây là pháp Phật nhiệm mầu. Hai anh em chúng tôi nhờ sớm biết đi tu, không gây tạo điều xấu ác, nên có thiện quả và có Phật Thánh, Hộ pháp, Long thiên, Chư thiên che chở. Vừa rồi hai anh em chúng tôi được thoát nạn, chính là nhờ bàn tay cứu vớt của Đức Quán thế Âm Bồ Tát. Ngài là Phật, là vị Thánh linh hiển hay cứu giúp mọi người khi ai thường tin cẩn và niệm tên của ngài…” Nói tới đây, bổng tôi niệm lớn Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát và kỳ diệu thay, tất cả mọi người kể cả những cảnh sát viên cũng niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát theo sự hướng dẫn của tôi. Cũng nhờ vậy mà trong đám đông ấy có rất nhiều người trở thành Phật tử thân tín của tôi trước khi tôi đi học ở Mỹ.

Sau tai nạn ấy, tôi hỏi cách tu tập hàng ngày của thầy Pháp Bạc. Thầy nói, thầy đă tin Đức Quan Thế Âm Bồ Tát hồi c̣n chưa xuất gia và đêm nào thầy cũng tŕ tụng kinh Đại Bi ba biến, niệm tên Đức Quán Thế Âm Bồ Tát 108 lần mới đi ngủ. Riêng tôi th́ hay tụng kinh Phổ Môn và kinh Pháp Hoa suốt trong cuộc đời xuất gia. Tôi tin Đức Quán Thế Âm Bồ Tát như năng lực mầu nhiệm sẵn có trong tự tâm và năng lực ấy giao cảm được với năng lục tối cao của chư Phật, chư Bồ Tát. Và, Bồ Tát Quán Thế Âm, cứu khổ chúng sinh vô cùng tận trong đời vị lai. Ngài, vị thánh linh hiển.

 

(14) TÁT BÀ A THA ĐẬU DU BẰNG (Sarvadvatashubham)

Quán Âm hiện thân tướng

Bồ Tát Cam Lộ Vương

Tay cầm b́nh tịnh thủy

Cành dương giải oán thù.

 

CHỮA LÀNH BỆNH BÀI BẠC|^| 

Bệnh bài bạc khảo đảo

Chuyên tŕ chú Đại Bi

Niệm Quán Âm danh hiệu

Thoát khỏi khổ tai ương.

D́ Ẩn một nữ tu tại gia và phát nguyện lui tới ngôi chùa nhỏ, không có thầy trú tŕ để lau bàn Phật, quét tước và làm công quả. Quê của D́ ở Huế, nhưng vào trú ngụ với người cháu họ tại Đà Nẵng, thuộc tỉnh Quảng Nam.

Tôi quen D́ v́ có thời gian tôi xin thầy giáo thọ rời Phật học viện Phổ Đà về khuôn hội Vĩnh An tạm trú để học bài thi và được D́ Ẩn lui tới nấu cơm, làm bánh nậm, bánh bèo cho ăn. Ăn hoài nên “mắc nợ” của D́ quá nhiều, tôi nghĩ tới chuyện đền đáp nên t́m cách hướng dẫn cho D́ Ẩn học thuộc mười hai lời nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tôi khuyên d́ nên niệm danh hiệu Quán Thế Âm, cùng lễ lạy Bồ Tát mỗi sáng sau khi thức dậy và mỗi tối trước khi đi ngủ. D́ rất vui, tha thiết tin theo và thực tập rất tin cần. Khoảng hai tháng sau, một hôm D́ tới chùa gặp tôi với nét mặt buồn rầu, mỏi mệt, chán nản, đau khổ. Hỏi ra tôi mới biết về chuyện “xấu” đă xảy đến cho D́.

D́ Ẩn nói cách đây bốn tuần lễ, có một bà bạn cũ ghiền cờ bạc tới chơi nhà rủ ŕ rủ rê D́ nhập song bài “cầu tài”. Không dè tiền chẳng tới mà nhà cửa sa sút. Bao nhiêu vốn liếng làm việc cực khổ dành dụm bấy lâu bây giờ D́ đă đem tế sống cho “cô hồn ác đảng” lại c̣n phải mắc nợ mấy bà bạn “giàu ḷng” thiện cảm nữa. Nói xong rồi D́ khóc nức nở và cho là Phật Bà Quán Âm không thương tưởng, không cứu khổ, không linh thiêng pḥ tŕ cho vụ nhập ṣng đen đỏ của D́.

Tôi nghe D́ kể xong mà phát giận. Giận v́ D́ không tới chùa làm bánh cho ăn. Giận v́ D́ để ḷng tham xui khiến sa vào thói đỏ đen bài bạc rồi lại trách Phật Thánh, Bồ tát Quán Âm không cứu độ, phù hộ cho việc đánh bạc của D́. Trong khi tôi bực bội quá đỗi, D́ lại năn nỉ tôi cứu D́ bằng cách cho D́ mượn mấy chục ngàn để trả nợ, nếu không tiền lời của chủ nợ sẽ làm lên ngập đầu. Tôi chịu hết nổi sự khóc lóc, kêu nài vô lư của D́. Tôi bèn làm dữ với D́ và thay v́ nói tới tiền bạc, tôi khuyên D́ Ần nên tiếp tục niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, đọc kinh Đại Bi mỗi ngày hai mươi mốt biến và phát nguyện tụng kinh Pháp Hoa với tôi mỗi buổi tối tại chùa.

D́ Ần ở chùa làm công quả và tu tập được một tuần sau th́ có hai bà to mập, ph́ nộn tới chùa t́m D́ Ẩn đ̣i tiền lời và tiền vốn cho D́ vay để đánh bạc. Tôi đă tiếp họ thay v́ để D́ Ẩn chường mặt với hai bà phụ tá chủ ṣng bạc kín tại thành phố Đà Nẵng. Trong khi tiếp xúc với hai bà, tôi đă khéo lời khuyên hai bà ấy về “tội dụ dỗ” người hiền đánh bạc. Nhân đó tôi đọc một bài thơ cho hai bà nghe và D́ Ẩn ngồi trốn trong liêu cũng nghe nữa. Bà thơ ấy tôi không nhớ rơ là của ai, nhưng khi nó tuôn ra từ miệng của tôi th́ có một năng lực kỳ diệu. Bởi v́ tôi đọc xong và giải thích thêm về ư nghĩa, chi tiết của bài thơ th́ hai bà rơi nước mắt. Sau đó, xin vào điện Phật lạy sám hối. Trước khi hai bà ra về, họ hứa với tôi là sẽ t́m thầy quy y học đạo không tham gia vào nghề đen đỏ và họ hứa không đ̣i tiền nợ do D́ Ẩn mượn nữa.

Bài thơ ấy có nhan đề là đồng tiền phi nghĩa:

Bạc ác chi mi lắm rứa tiền

Mi làm nhân loại hóa ra điên

Mi tô mặt nạ đên thành trắng

Mi khiến nhân t́nh thẳng hóa xiên.

Mi đạp luân thường vô một xó

Mi xô trí tín dẹp đôi bên

Mi xua thế giới đâm nhau măi

Ác nghiệt chi mi lắm rứa tiền.

Sau khi “cứu” được D́ Ẩn ra khỏi bệnh bài bạc, tôi rất có niềm tin nơi Đức Quán Thế Âm Bồ tát. V́ tôi không ngờ chuyện khó “tầy trời” của D́ Ẩn và chuyện đ̣i tiền của hai bà nghề bài bạc mà có thể vượt qua được. Người tin tưởng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát sâu sắc, chân thành hơn tôi nữa, đó là D́ Ẩn. V́ từ khi có biến cố khó khăn cùng cực xảy ra và vượt qua khỏi, th́ D́ Ẩn mới phát tâm tin hạnh cứu khổ của Đức Quán Thế Âm nhiều hơn. Mừng chuyện tiến tu của D́ Ẩn tôi có làm bài thơ trào phúng tặng D́ như sau:

D́ Ẩn trong pḥng trốn nợ kêu

Tim run muốn rớt nhịp không đều

Quán Âm thầm niệm thôi lia lịa

Để chú trọc đầu phải chịu true

Quán Âm cứu khổ pháp linh mầau

Giúp người ra khỏi chốn sầu đau

Múa gậy đọc thơ đất chuyển động

T́nh mê sáng dậy chiếu ngàn sau.

 

(15) A THỆ DỰNG ( Ashiyum)

Quán Âm hiện thân tướng

Phi Đằng Quỷ Dạ Xoa

Độ những người hung hiểm

Bỏ ác theo pháp lành.

 

MẮT MÙ LẠI SÁNG |^|

 

Lúc53 tuổi, mắt của D́ Măo tự nhiên bị đỏ lói rồi sưng to. Sau đó không bao lâu th́ hai mắt của D́ bị mù. Các thầy thuốc đông y, tây y đều t́m đến chữa trị, song không có hiệu quả. T́nh trạng này kéo dài rất nhiều năm, khiến D́ rất đau khổ và khó khăn cho đời sống vô cùng. Có một lần D́ ṃ ra bờ ao hái rau muống, không may bị trượt chân té xuống hồ sâu ngập nước, suưt chết. May có người hàng xóm đi qua nhanh tay cứu D́ qua cơn tai nạn.

Gặp lúc bệnh khổ ụp tới, cùng đường bí lối, D́ Măo mới quay về Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, niệm danh hiệu của Ngài cầu cứu Ngài cứu khổ, cứu nạn. Cộng thêm sự huy động tinh thần và lời khuyên dạy của Ḥa Thượng Phổ Phổ Thiên, Trụ tŕ chùa Phổ Đà tại Đà Nẵng. D́ Măo tăng phần tín nhiệm, tin tưởng vào thần lực của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Từ đó, D́ Măo bắt đầu chuyên niệm Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và lễ bái chuyên cần sớm tối, tha thiết mong cầu được sớm lành mắt, tai qua nạn khỏi. Cứ sau mỗi lần lễ bái, niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm được 108 lần, d́ Măo lại đọc lời tác bạch trước tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát:

Nam Mô Đại Từ Đại Bi Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát D́ cứ lặp đi lặp lại 21 lần rồi nói: “con là người mê muội, chữ nghĩa không rành, lư đạo chẳng thông, nghiệp chướng sâu dày, mang nhiều nổi khổ. Nay hai mắt bị mù ḷa, tâm thần rối loạn, sống mà cũng như chết. Ḷng con không an, khổ lắm. Mong Đức Phật Bà Quan Âm cứu giúp, chữa trị cho hai con mắt của con sáng lại. Con nguyện sau khi hai mắt của con được sáng, con xin trọn đời vào chùa làm công quả, chuyên làm việc lành, phụng sự Tam Bảo, không hề luống phí thời gian, chuốc thêm nghiệp xấu, phiền năo. Xin Đức Phật mười phương soi sáng, xin Đức Bồ Tát Quán Âm chứng giám cho lời phát nguyện chân thật của con”.

Kỳ diệu và linh nghiệm thay, sau gần ba tháng chuyên tâm tŕ niệm hồng danh, lễ bái và cầu nguyện Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, đôi mắt của D́ Măo được sáng lại như xưa. Trước khi lành bệnh có chuyện xảy ra là một buổi sáng D́ Măo đang ngồi lần chuỗi, miệng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát tại góc chuông chùa Vĩnh An, thuộc khuôn hội Phật Giáo tỉnh quảng Nam Đà Nẵng th́ bỗng có một người “khách lạ” nói giọng người con gái nhỏ nhẹ và tự xưng là học tṛ của Đức Quán Thế Âm mang tới biếu người có ḷng tin cậy, lễ niệm thuốc Phật Bà. Nói xong tự tay cô gái bỏ thuốc vào miệng cho D́ Măo và bảo là uống thuốc rồi chắc chắn sáng mai mắt sáng. Th́ ra đó là giấc mơ của D́ Măo đă xảy ra đêm qua trước khi mắt d́ được sáng lại. D́ nói giấc mơ rơ ràng như chuyện xảy ra ban ngày vậy.

Chuyện D́ Măo lành đôi mắt nhờ lễ niệm Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đă lan tràn khắp tỉnh và xóm làng. Khiến nhiều người chưa quy y, chưa biết ǵ về đạo Phật cũng đều phát tâm tín cẩn Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và đi thỉnh tôn tượng của Bồ Tát về thờ phượng, lễ bái.

Mắt mù khó sáng lại

Thuốc Đông tây khó lành

Niệm Quán Âm lễ nguyện

Cảm ứng bất tư ngh́.

D́ Măo là một thành viên rất thuần thành và hết sức tích cực trong việc hộ tŕ Tăng, Ni trẻ tu học thiếu điều kiện vật chất trong số đó có tôi. Từ khi D́ được Bồ Tát Quán Âm cứu khổ và điểm hóa, D́ Măo đă trở thành bà mẹ t́nh thương của rất nhiều trẻ thơ mồ côi, xấu số. D́ đă trải dài cuộc đời c̣n lại của ḿnh để phụng sự Phật pháp và t́nh thương với nụ cười, đôi tay khoẻ trong trái tim giản dị, tươi mát, mộc mạc, hiền lành của D́. D́ sống gần đến chin mươi mới qua đời. Nhà thơ Nguyễn Duy An đă từng thọ ơn của D́ Măo rất nhiều và có đọc tặng D́ bài thơ Bà Mẹ T́nh Thương khi tiễn D́ lần cuối:

D́ không sinh con đẻ cháu

Mà con cháu đầy đàn

Tâm D́ hiền như Phật

 Ḷng D́ rộng thái không

T́nh nào bằng t́nh mẹ

T́nh D́ c̣n trội hơn

Một đời trong như ngọc

Lấy nụ cười hồn nhiên

Dùng đôi tay mềm nhẹ

Bên lời nói ngọt ngào

Với nghi biểu ngời sáng

Nuôi bé nghèo đơn côi

D́ t́nh mẹ cao vút

Nhớ hạnh D́ bao la

Lời không thể nói được

Kính thương D́ không nguôi.

Xin cầu D́ về bến

Cơi Cực Lạc Di Đà

Sống an ḥa tự tại

Hóa thân về thăm quê.

 

(16) TÁT BÀ TÁT ĐA ( NA MA BÀ TÁT ĐA) NA MA BÀ GIÀ

Quán Âm hiện thân tướng

Thần Vương Bà Già Bà

Hàng phục các ma chướng

Độ những kẻ hữu duyên.

 

ĐỨC QUÁN ÂM ĐIỂM HÓA |^|

 

Bất đắc làm thiện sự

Chán hầu điện Quán Âm

Bồ Tát hóa thân nữ

Dẫn độ tiểu đồng vui.

Chú tiểu mười bốn tuổi, đến tu chùa Giác Hải, núi Ông Sư. Chùa dựng lên trên mấy chục mẫu đất, cây cảnh xanh tươi, có nhiều thú dữ. Đỉnh núi Ông Sư có điện Quán Âm thờ Phật Bà, tiếng đồn rất linh hiển. Chùa thiêng, cảnh rộng, việc tụng kinh, quét tước và tạp dịch có muôn thứ, thế mà trong cảnh già thanh lam thanh tịnh, u tịch chỉ có bóng dáng hai thầy tṛ, sớm tối lễ bái, chuyên tay làm đủ mọi thứ không có giờ giấc nghỉ ngơi. Đă thế, có lúc sư phụ phải đi xa, ít th́ vài ba tuần và nhiều th́ vài ba tháng, để lại chú tiểu ở nhà một ḿnh quán xuyến tất cả.

Nỗi lo lắng, sợ hăi và bối rối nhất của chú tiểu là cứ mỗi buổi chiều mặt trời sắp lặn th́ chú tiểu phải leo lên đỉnh núi Ông Sư để thắp hương, lau các bóng đèn hột vịt và châm dầu vào các b́nh đèn lồng. Để trốn sự lo lắng, sợ hăi về bóng tối, cọp, ma, quỷ, thần linh…chú tiểu phải leo lên điện Quán Âm lúc trời đứng bóng. Nhưng chú tiểu vỡ lẽ là không thể châm dầu và thắp đèn lúc này được, v́ lên đèn sớm quá dầu lại hết khi trời mới nhá nhem tối. Chú tiểu lại “lỡ” học bài và “lỡ” hứa với sư phụ là không thể làm dối, nói dối. Thế là sự lo lắng, sợ hăi và bối rối của chú tiểu mặc sức bành trướng và bao trùm. Từ đó chú tiểu đâm ra giận dỗi sư phụ, giận dỗi Điện Bà và Phật Bà Quán Âm. Dù biết giận dỗi như thế là vô lư song chú tiểu vẫn không biết làm ǵ khác hơn.

Một hôm trời c̣n sáng, chú tiểu ngồi bậc dưới chân Đức Quán Thế Âm, mắt ngước nh́n diện mạo Phật Bà, khóc tức tưởi. Khóc đă them rồi đôi co với tượng Phật Bà

“Sư phụ đi vắng, con ở nhà một ḿnh sợ gần chết, sợ té nước trong quần mỗi tối lên đây thắp dầu. Phật Bà có linh thiêng th́ giúp con làm cho các cây đèn hột vịt này sáng hoài, bóng sạch sẽ hoài và dầu trong b́nh không hề cạn. Phật Bà mà làm không được th́ không thể gọi là Phật Bà linh thiêng được, phải không Phật Bà.”

Nói xong, chú tiểu như trút được một ít sự bực nhọc, lo lắng, sợ hăi và giận dữ trong ḷng. Dù vậy, chú tiểu vẫn không tin tưởng là Phật Bà làm được chuyện nhỏ thắp đèn mà chú cằn cựa thách đố. V́ vậy, mỗi lần lên điện Quán Âm lau bóng đèn, châm dầu là chú lại ngồi khóc, bực tức, giận dỗi, thách đố và cằn cựa với Đức Quán Âm bằng cách lập đi lập lại sự đ̣i ḥi của ḿnh. Một buổi chiều mưa băo lớn, cây cối ngă đổ khắp vường chùa, chú tiểu không hề nh́n và không màng nghĩ tới. Trời mới ráo cơn mưa, chú tiểu cấm đầu chạy ù leo lên đỉnh núi vội vàng vào điện Quán Âm để kiểm tra mấy đèn hột vịt thắp trong điện thờ Phật Bà. Trực nh́n vào điện thờ, chú tiểu kinh hăi vô cùng và run lên như cầy sấy, v́ ba mươi hai cây đèn hột vịt bóng c̣n trong sáng, tim đèn c̣n cháy và các b́nh c̣n đầy dầu nguyên vẹn không hao hụt. Băo to, gió lờn và cơn mưa ầm ầm như thác chảy, thế mà các cây đèn hột vịt nhỏ nhoi kia và mấy dăy đèn có lồng kiến bốn góc kia không một cây nào đổ bể. Chú tiẻu từ đó, không dám “cằn cựa” và “hằn học” với Đức Quán Âm nữa. Một hôm khác, chú tiểu vừa lên điện Quán Âm, xa xa có thấy ba bốn cô thiếu nữ mặc áo trắng rất xinh đẹp từ điện Phật Bà đi ra và bay nhẹ trong gió. Chú tiểu vào điện Bà quán sát, các cây đèn vẫn sáng, bóng dèn như vừa mới được lau và dầu trong các b́nh c̣n đầy nguyên vẹn.

Chú tiểu đó chính là tôi đây. Ai đă lau bóng đèn? Ai đă châm dầu và các b́nh dầu? Ai là các thiếu nữ mặc áo trắng bay trong gió và biến dạng vào hư không? Những câu hỏi ấy không ngừng khởi dậy trong đầu một chú bé như tôi. Tôi có đem chuyện này kể lại cho sư phụ tôi nghe. Người nói: “Đó là Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân để điểm hóa con. Từ nay con phải hết sức kỉnh lễ, niệm danh hiệu và phụng sự Ngài, chớ đem tâm dể duôi, thất kính đối với Đức Quán Thế Âm nữa.”

Hồi đó, sư phụ nói vậy tôi nghe vậy, ḷng tin cậy vào sự gia ân, thị hiện cứu độ của Đức Quán Thế Âm đối với tôi vẫn c̣n nghi ngờ, xa lạ. Nhưng bây giờ th́ đă khác hẳn, không những tôi tin năng lực cứu độ mầu nhiệm của Đức Quán Thế Âm thôi mà tôi c̣n tập sống theo hạnh từ bi của Ngài một cách tích cực và bền bỉ.

 

(17) MA PHẠT ĐẠT ĐẬU – (Ma bhate tu) –

Quán Âm hiện thân tướng

Quân Tra Lợi Thắng Vương

Mặt có ba con mắt

Soi suốt tâm con người.

 

CẢN NGĂN SỰ GIẾT CHÓC |^|

 

Điện Quán Âm linh ứng

Trên đỉnh núi ông sư

Cản ngăn sự giết hại

Lính đôi bên an toàn.

Năm 1960, đó là đêm trăng sáng, Rằm tháng Tám âm lịch. Một đại hội nghĩa quân hợp tác với lính pḥng vệ quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Ḥa do trung úy Nam, người thiên chúa giáo âm thầm kéo quân lên điện Quán Âm, đỉnh núi Ông Sư, chùa Giác Hải, thôn Xuân Tự để phục kích lính Việt cộng nằm vùng để cổ động dân làng hội họp, tuyên truyền, chống đối chính sách quốc gia dưới trào ông Ngô Đ́nh Diệm, Rủi thay hôm đó lính quốc gia đă tới trễ một nước, lính du kích Việt Cộng đă đến trước và dàn binh bố trận xung quanh Điện Quán Âm để tàn sát lính quốc gia. Họ đă nổ sung và ném lựu đạn vào đội binh quốc gia do trung úy Nam chỉ huy. Song kỳ lạ thay, Việt Cộng khai hỏa trước, nhưng các ṇng sung đều bị điếc. Các quả lựu đạn như trái khế được ném tung ra để ném đội binh quốc gia, nhưng chúng lăn lóc như đá núi, không có trái nào nổ cả. Hai bên hô hoán, xáp chiến vật lộn nhau một hồi, rồi tản mạn và rút lui có trật tự, không một bên nào bị tổn thất nhân mạng.

Cũng từ đó, lính du kích Việt Cộng không bao giờ bén mảng đến chân núi Ông Sư, chứ nói chi là vô ngồi cười nói vô lễ, thất kính, ngổn ngang trong công viên điện thờ Phật Bà như những lúc trước. Đại đội lính nghĩa quân trong làng Xuân Tự và lính canh pḥng quân Vạn Ninh lại đều kiêng nể Phật, Bồ Tát, thánh linh Quán Âm từ dạo xảy ra chuyện “Đức Quán Thế Âm ngăn cản sự giết choc” trong khu viên núi Ông Sư, điện Phật Bà Quán Thế Âm.

Chuyện này chúng tôi biết rơ tự sự từ chi tiết, v́ chỉ ngày hôm sau xảy ra cảnh lính đôi bên “ẩu đả” nhau trên núi linh thờ Phật Bà, đại úy tiểu đoàn phó giữ an ninh biên pḥng quận Vạn Ninh và trung úy Nam hướng dẫn khoảng hơn một trăm người ăn bận lịch sự, mang lễ vật hương đèn, trái cây, gạo nếp, dầu thắp và một số tiền mặt đến chùa Giác Hải, gặp bổn sư chúng tôi, tức là Đại sư Viên Giác trú tŕ chùa Giác Hải, sáng lập điện Quán Âm tŕnh bày chuyện Quán Âm linh ứng, cứu thoát trên năm trăm mạng người, nhờ các ṇng súng AKa và lựu đạn trái khế của Việt Cộng được Đức Quán Âm hăm ng̣i.

Không bao lâu chuyện này được lan truyền khắp thôn xóm, tỉnh lỵ xa gần và đến tai các cấp chủ chiến đôi bên. Từ dạo ấy núi Ông Sư, chùa Giác Hải, Điện Quán Âm không c̣n là nơi sát phạt, thù nghịch lẫn nhau giữa người quốc gia và Việt Cộng nữa. Cũng từ dạo ấy người Phật tử, khách bàng quan, từ các tỉnh trong ra tỉnh ngoài và từ các tỉnh ngoài vào các tỉnh trong, ai ai cũng ghé chiêm cung, đănh lễ điện Nam Hải Phật Bà ngày lại tháng qua đông như hội tết. Nhân việc này, Bác Bảy Trưởng Bạn Hộ Niệm và nghi lễ chùa Giác Hải có thơ đề:

TA BÀ NỞ HOA

Nam bắc anh em một nhà

Là con của mẹ Âu cơ hiền ḥa

Giết nhau chi huyết lệ nḥa

Tổ tiên đắng mật khổ nhục cháu con

Đất trời cây cỏ núi sông

Giọt sầu thiên cổ xa trông mỏi ṃn

Hiển linh sáng dậy đầu non

Quán Âm hóa giải oan gia thâm thù

Đêm về trăng sáng trời thu

Súng đôi bên hăm, mây mù sương tan

Quân thoát nạn, dạ b́nh an

Quán Âm Bồ Tát giải nàn ách tai

Hoa từ bi kết sen đài

Thánh linh Nam Hải độ đời lầm than

Chấp tay quỳ tụng Ma- ha

Xin cho khổ năo ta bà nhẹ vơi

Xin cho t́nh lại về ngôi

Để cho súng đạn là hoa trôi ḍng

Xin cho vận nước long đong

Biến thành hoa tạng khơi nguồn yêu thương

Xin cho vạn đợt tai ương

Biến thành chân thể bên đường trầm luân.

 

(18) ĐÁT ĐIỆT THA – (Tadyatha) –

Quán Âm hiện thân tướng

A La Hán vào đời

Tùy phương tiện thuyết pháp

Giác hóa độ nhân sinh.

 

GIẢI NHẬP OAN KHIÊN |^| 

Vong nhập người con gái

Thuốc khó chữa trị lành

Quán Âm thường lễ niệm

Giải oan khiên khó trừ.

Ở Ninh Ḥa, cách tỉnh Nha Trang một giờ lái xe, có người con gái con một gia đ́nh người tàu giàu có tên là A Thố. A Thố người to, tướng mạo đẹp, mạnh khỏe, phương phi như một nữ vơ tướng. Tuy vậy tâm tánh của A Thố rất hiền lành, thích đến chùa làm công quả, tụng kinh, niệm Phật và may y phục cho quư thầy. Những mùa an cư, A Thố thường đến Phật học viện Hải Đức ở Nha Trang phụ các d́ nấu cơm, gánh nước cúng quư Thầy trong dịp lễ tự tứ, măn ba tháng an cư kiết hạ. Nhờ biết tu tập, kính trọng chư Tăng, siêng năng làm việc, nói năng chất phác, vui vẽ nên từ trên Ḥa Thượng Giám viện đến dưới đại chúng và các d́ đều thương mến A Thố. V́ t́m được không khí an tịnh và niềm vui trong thời gian ở chùa làm công quả, nên A Thố có ư xin xuất gia làm đệ tử Ni sư Chánh Lượng ở chùa Hang, sau này gọi là chùa Hải Ấn, gần xóm Bóng, Nha Trang.

Khi biết con gái có ư định xuất gia, cha mẹ A Thố rất mừng, v́ hai ông bà và cả nhà rất trọng đạo, tổ tiên nhiều đời tin Phật, quy y Tam Bảo. Nhưng ư định đi tu của A Thố không được suông sẻ, v́ cha mẹ có hứa gả A Thố co một cậu con trai con một của ông bà Phú Hưng, một gia đ́nh người Việt gốc tàu, làm tiệm thuốc bắc ở Ninh Ḥa rất khá giả. Nữa ḷng th́ muốn xuất gia làm ni cô, nữa ḷng th́ muốn lấy chồng, giữ chữ tín cho cha mẹ đối với ông bà sui, cha mẹ chồng tương lai. V́ sự việc này, nguyện xuất gia của A Thố kéo dài ba năm mà chưa thành. Trong cái rủi lại gặp cái may, cậu con trai của ông bà Phú Hưng, người chồng tương lai của A Thố bị tai nạn qua đời nên việc chọn đường đi tu của A Thố trở nên dễ dàng. Chừ trong cái may lại phải gặp cái rủi. A Thố đến lúc sữa soạn vào chùa để thế phát xuất gia th́ bỗng nhiên nàng bị lên cơn điên.

Bệnh điên của A Thố rất dễ sợ và khác thường. Mỗi khi A Thố lên cơn, nàng có đủ sức mạnh để lật ngược hay kéo lôi nổi một chiếc xe hơi đang chạy trên đường. A Thố rất thích và khoái chí làm việc này, nên cả nhà và ai biết tới, thấy đều kinh hoàng khiếp sợ. V́ vậy mà tay chân A Thố luôn luôn được trói bằng những sợi dây xích sắt to tướng. Thế nhưng mỗi khi A Thố lên cơn, nàng thét lên từng hồi, hai mắt đỏ ngầu như lửa, rồi nàng vùng vẫy một lúc. Cuối cùng các dây xích đều bị đứt từng khúc, tiếng kêu loảng xoảng ḥa với tiếng cười vang như thách đố, ngạo nghễ vằ trêu chọc rồi nàng ném các đoạn dây xích bị đứt vào tận xa tít lên không. Cái sở thích khi A Thố lên cơn là nàng luôn giựt lấy các bóng đèn điện để ăn ngấu nghiến như nhai những ổ bánh ḿ nướng ḍn. Những lúc đó, A Thố thường nổi cơn giận dữ, nghiến răng, dậm chân và thoát ra giọng the thé nơi cái miệng đầy máu me với âm thanh của một gă đàn ông: “Trời là kẻ đại gian ác, bất công. Trần gian là ngục tù là dày đặc bóng tối.” Câu nói này thường bị đứt quăng, v́ uất nghẹn và bực tức.

Có điều lạ là A Thố đă lên cơn suốt gần ba tháng, không hề chịu ăn uống ǵ cả mà thân thể không hề bị sút giảm, sức mạnh của A Thố c̣n tăng gấp mấy chục lần đối với lúc b́nh thường. Các bác sĩ giỏi trong các bệnh viện đều bó tay v́ họ khám nghiệm đủ cách mà không t́m ra bệnh lư của A Thố. Cùng đường, gia đ́nh được người mách bảo, họ đă xiềng A Thố vào trong một chiếc xe bọc lưới sắt và đưa A Thố đến chùa Giác Hải ở làng Xuân Tự nhờ đại sư Viên Giác chữa trị bệnh vong nhập.

Đại sư Viên Giác là thầy của chúng tôi, người chữa bệnh điên do tà nhập, quỷ ám rất thần diệu. Thấy A Thố bị trói xích sắt, tỏ vẻ hung hăng và giận dữ, thầy chúng tôi chỉ nh́n thẳng vào mặt A Thố rồi niệm chú lâm râm một hồi. AThố quy phục và cúi đầu xuống đất. Thầy chúng tôi bảo người nhà mở trói cho bệnh nhân. A Thố ngồi yên, không la hét, không chạy nhảy và không bạo động. Thầy chúng bèn nhẩm niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và tŕ ba biến chú Đại bi vào trong chén nước trong đem cho A Thố uống. Vừa uống xong chén nước, tóc A Thố dựng ngược lên và xoay tṛn như gió thổi mạnh vào một đám lau sậy. A Thố gục đầu xuống khóc rồi mở lời the thé của một vong thức đàn ông bằng tiếng Việt lơ lớ: “ta là một Anh linh ngoài ṿng cương tỏa. Ai dám dùng danh nghĩa Quán Âm Bồ tát để hù ta, làm chướng ngại ước muốn của ta.”

Đại sư Viên Giác lên tiếng:

“Ta là tỳ kheo, tự Chiếu Nhiên, trú tŕ chùa Giác Hải. Ta nương vào thần lực của đức Hóa thân Quán Thế Âm Bồ tát để khai tâm, độ thoát cho nhà ngươi. Nhà ngươi mau mau nói rơ tên tuổi ra để ta điểm hóa cho, chớ si mê cố chấp theo ái kiến mà phải đọa lạc luân hồi, ác thú trong kiếp này và vô lượng kiếp về sau, khổ cực vô tận, khó nguôi.”

Vẫn một âm thanh the thé của đàn ông như khó thở v́ bị thương tích từ cuống họng và bị dập tim gan:

“Thưa sư phụ, con đây tên là T.M.H là vị hôn phu hụt của A Thố. Con chết v́ tai nạn xe hơi khi đi chở hàng từ Sài G̣n ra Nha Trang, xe lật xuống chân núi v́ ḿn của lính Việt Cộng. Con chết quá đột ngột, không thể đi đầu thai được. Lại v́ thương A Thố nên con đi theo A Thố để được sống bên nhau, đâu có ư làm hại A Thố.”

Đại sư Viên Giác hạ giọng thương xót và giải khuyên: “Ta đây thật thông cảm nổi khổ đau của nhà ngươi. Thôi hăy chí thành quy y theo Phật và chí tâm sám hối, niệm Phật theo lời ta dạy để được sớm giải thoát, đi đầu thai làm người, xả sạch oán thù. Nhà ngươi hăy đọc theo lời ta: “lời hướng dẫn hằn chấn của đại sư Viên Giác:

“Nam mô tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát, xin ngài giúp con chuyển thế làm người.

Nam mô tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát, xin ngài lấy nước cam lồ rữa sạch cho con mọi oan khiên.

“Nam mô tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát, xin ngài độ cho A Thố chóng khôi phục sức khoẻ và chí tu học vững bền.”

Đại sư tiếp tục d́u dắt vong linh:

“Con nguyện đời đời, kiếp kiếp quy y Phật.

Con nguyện đời đời, kiếp kiếp quy y Pháp.

Con nguyện đời đời, kiếp kiếp quy y Tăng.

Con đă quy y Phật rồi, không đọa vào địa ngục.

Con đă quy y Pháp rổi, không đọa vào ngạ quỷ.

Con đă quy y Tăng rồi, không đọa vào súc sanh.”

Khi đại sư Viên Giác, thầy của chúng tôi dẫn dắt vong linh kia lặp lại ba lần quy y Tam Bảo vừa xong, bỗng nhiên A Thố ngă lăn trên mặt đất chừng năm phút rồi tỉnh dậy như một giấc ngủ dài mê man. A Thố ngơ ngác không biết chuyện ǵ đă xảy ra cho ḿnh. A Thố lành bệnh, sức khoẻ b́nh phục ngay lúc đó khiến cha mẹ và mọi người trong thân quyến A Thố hết sức vui mừng. Chùa Giác Hải nhiều người biết tới nhờ thầy chúng tôi niệm đức Quán Thế Âm chữa lành bệnh vong nhập cho A Thố. Gạo cơm chùa dư nuôi điệu chúng, vải vóc có đủ may mặc, vài căn nhà sinh hoạt được xây dựng khang trang, chính là nhờ sự phát tâm cúng dường tích cực của gia đ́nh A Thố và bà con ḍng họ của A Thố. Thầy chúng tôi có bài thơ tặng gia đ́nh A Thố mà tôi đă nằm ḷng sau đây:

Lễ Niệm Đức Quán Thế Âm.

Hằng ngày lễ kính mẹ hiền

Quán Âm thường niệm vô biên linh mầu.

Gặp cơn rối rắm khổ đau

Quán Âm lễ niệm lệ sầu nhẹ vơi.

Sóng ḷng dẫu có trùng khơi

Quán Âm lễ niệm đất trời chuyển rung

Muộn phiền oan nghiệp tương phùng

Quán Âm lễ niệm tâm không thoát nàn.

Mạng vong hồn phách cơ hàn

Quán Âm lễ niệm lạc bang hướng về.

Nguyện mau chứng quả bồ đề

Ta bà hóa hiện độ đời trầm luân.

 

(19) ÁN A BÀ LÔ HÊ – (Om I Avaloka) –

Quán Âm hiện thân tướng

Ngôi ṭa sen trang nghiêm

Ḷng từ bi vô lượng

Hằng cứu khổ ban vui.

 

NƯỚC CAM LỒ CHỮA NGƯỜI CÂM |^| 

Cam lồ trừ năo nhiệt

Chữa lành người bị câm

Xuất gia cầu chí đạo

Ân nghĩa xin đền bồi.

Tỉnh Quy Nhơn, xă Phú Cát có anh Nguyên Lợi làm nghề thợ hồ. Sau khi xây mộ cho một gia đ́nh ở Tu Bông gần Vạn Giả, tự nhiên hai hôm sau anh lên cơn sốt nói mê sảng và sau một tuần lễ chữa trị đủ thuốc mà không thuyên giảm. Thế rồi bị câm, thỉnh thoảng anh Nguyên Lợi lên cơn, cởi áo quần chạy khắp làng xóm. Có khi anh đến ngôi mộ anh xây ngồi yên lặng nhiều giờ, chốc chốc lại khóc và hú lên những tràn âm thanh dài ghê rợn, ai nghe cũng khiếp sợ, không dám lại gần. Ngày lại ngày, tay của anh mọc lông dài như lông heo rừng. Bà con anh cho đây là chuyện oan hồn,ma quái, âm linh trừng phạt anh v́ có lẽ anh xây mộ cho người chết mà tâm anh bất chánh, hoặc có làm điều ǵ lầm lỗi với gia chủ và với vong thức người đă qua đời. Họ tin như thế, v́ người nhà của anh Nguyên Lợi mỗi khi mua cau trầu, xôi, chuối đến khấn vái trước ngôi mộ anh ấy xây, cầu cho anh ta lành bệnh th́ quả nhiên anh lành bệnh được ba hôm, sau đó tái phát trở lại và bệnh câm của anh kéo dài gần cả năm mà chưa chấm dứt.

Một hôm vợ anh Nguyên Lợi được người mach bảo là sư ông chùa Giác Hải, núi Ông Sư có điện Quán Âm Nam Hải, ngài chữa bệnh ma nhập, quỷ ám rất thần diệu, nên cả nhà gồm có hai người anh trai, một em gái và vợ anh Nguyên Lợi đưa anh vào chùa Giác Hải tŕnh với sư ông tất cả tự sự. Sư ông sau khi hỏi tên tuổi người bệnh và tên tuổi người chết mà anh Nguyên Lợi đă xây mộ. Hỏi xong, sư ông hướng dẫn anh Nguyên Lợi và cả gia đ́nh của anh lên điện Quán Âm cầu nguyện. Hồi đó, tôi c̣n là chú sa di nhỏ theo hầu sư ông, nhưng tôi rất để ư những chuyện sư ông cầu đức Quán Thế Âm để chữa các bệnh lạ, nhất là các bệnh có ảnh hưởng từ cơi âm, cơi của người đă qua đời.

Hôm ấy sư ông bảo tôi gơ mơ để đọc thần chú đại bi với sư ông. Tay sư ông cầm chén nước trong, bắt ấn cam lồ búng vào trong chén nước. Đọc ba lần, rồi sư ông tiếp niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát khoảng trên một trăm lần. Kế đến sư ông đem cho anh Nguyên Lợi uống. Kỳ diệu thay, anh Lợi uống xong ly nước trong vừa được sư ông chú nguyện là anh Lợi khai khẩu được ngay, câu nói đầu tiên của anh Lợi là Nam Mô Đại Từ Đại Bi linh cảm ứng Quán Thế Âm Bồ Tát. Anh tự một ḿnh niệm ba lần như thế, sau đó sư ông ra hiệu cho mọi người cùng niệm danh hiệu bồ tát Quán Thế Âm để trợ hóa cho anh Nguyên Lợi. Trong tiếng niệm Quán Âm, tôi nghe xen lẫn tiếng khóc của người nhà anh Nguyên Lợi, v́ họ quá xúc động về sự linh nghiệm và phép cứu khổ nhiệm mầu của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Tôi thấy nhiều người khóc tự nhiên tôi cũng khóc. Tôi khóc v́ không những xúc động khi thấy anh Nguyên Lợi bị câm cả năm bây giờ nói lại được, mà tôi khóc v́ tôi thấy thầy tôi giao cảm được với Đức Quán Thế Âm Bồ Tát nên tôi rất bội phục, rất kính nể người. Tôi tự hỏi, tại sao Đức Quán Thế Âm Bồ Tát rất linh hiển, thầy tôi cầu nguyện cho ai cũng đều có linh nghiệm, mà tôi đứng ra cầu cho người có tai nạn th́ không thấy có kết quả? Tôi nhớ ít nhất là có hai người bị bệnh bởi vong thức người chết nhập vào, gia đ́nh dẫn người bệnh đến chùa Giác Hải nhờ cứu chữa. V́ sư ông đi vắng, tôi rất mừng là có cơ hội để thay thế sư ông cứu người cùng thử nghiệm “tài đức” cầu nguyện của ḿnh, nhưng cả hai lần đều thất vọng nên tôi cảm thấy bị “mất mặt bầu cua” và phải đợi sư ông về mới trị được bệnh t́nh cho hai người kia.

 

(20) LÔ CA ĐẾ - (Lokate) –

Quán Âm hiện thân tướng

Vua trời Đại Phạm Thiên

Có mặt khắp cơi giới

Cứu thoát khổ u đồ.

 

NGHI THỨC TR̀ TỤNG KINH PHỔ MÔN |^|

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (3 lần) ©

Mở kinh

Pháp Phật cao siêu rất nhiệm mầu

Cơ duyên may được thọ tŕ

Xin nguyện đi vào biển tuệ

Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. ©

 

KINH TINH YẾU BÁT NHĂ BA LA MẬT ĐA

Bồ Tát Quán Tự Tại   

Khi quán chiếu thâm sâu

Bát Nhă Ba La Mật

(Tức diệu  pháp trí độ)

Bỗng soi thấy năm uẩn

Đều không có tự tánh

Thực chứng điều ấy xong

Ngài vượt thoát tất cả

Mọi khổ tai ách nạn.(C)

 

“Nghe đây Xá Lợi Tử

Sắc chẳng khác ǵ không

Không chẳng khác ǵ sắc

Sắc chính thực là không

Không chính thực là sắc.

C̣n lại bốn uẩn kia

Cũng đều như vậy cả. ©

 

Xá Lợi Tử nghe đây:

Thể mọi pháp đều không

Không sinh cũng không diệt

Không nhơ cũng không sạch

Không thêm cũng không bớt

Cho nên trong tánh không

Không có sắc, thọ, tưởng

Cũng không có hành, thức

Không có nhăn, nhỉ, tỷ

Thiệt, thân, ư (sáu căn)

Không có sắc, thinh, hương

Vị, xúc, pháp (sáu trần)

Không có mười tám giới

(Từ nhăn đến ư thức)

Không hề có vô minh

Không có hết vô minh

Cho đến không lăo, tử

Cũng không hết lăo tử

Không khổ, tập, diệt, đạo

Không trí, cũng không đắc. ©

V́ không có sở đắc

Khi một vị Bồ tát

Nương diệu pháp trí độ

(Bát Nhă Ba La Mật)

Th́ tâm không chướng ngại

V́ tâm không chướng ngại

Nên không có sợ hăi

Xa ĺa mọi mộng tưởng

Xa ĺa mọi điên đảo

Đại Niết Bàn tuyệt đối

 

Chư Phật trong ba đời

Y diệu pháp trí độ

Bát Nhă Ba La Mật

Nên đắc vô Thượng Giác

Vậy nên phải biết rằng

Bát Nhă Ba La Mật

Là linh chú đại thần

Là linh chú đại minh

Là linh chú vô thượng

Là linh chú tuyệt đỉnh

Là chân lư bất vọng

Có năng lực tiêu trừ

Tất cả mọi khổ nạn

Cho nên tôi muốn thuyết

Câu thần chú trí độ

Bát Nhă Ba La Mật”.

Nói xong Đức Bồ Tát

Liền đọc thần chú rằng:

Gate gate

Paragate

Parasamgate

Bodhi Svaha. (3 lần) (cc)

Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát. (3 lần) ©

 

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA PHẨM PHỔ MÔN |^| 

Đây ṭa Diệu Pháp Liên Hoa

Phổ Môn một phẩm thơm lời kinh thi

Linh mầu pháp nhũ huyền vi

Hoa quang bủa khắp từ bi Mẹ Hiền

Ngài Vô Tận Ư khởi duyên

Cầu xin Phật nói lư huyền vô thâm

Nhân ǵ Bồ Tát Quán Âm

Đẹp như tên gọi cơi trần lưu danh?

Thế Tôn từ mẫu giải rành

Chúng con được hiểu muôn sanh tỏ tường!

Phật nh́n đại chúng mắt thương

Nụ cười hoan hỷ tuyên dương pháp mầu:

“Quán Âm bi trí rộng sâu

Tùy h́nh ứng hiện khổ sầu nhẹ vơi.

Lắng nghe tiếng gọi muôn nơi

Tầm thanh thị hiện kịp thời cứu nguy

Xuống lên biến hóa tương tùy

Đến đi vô ngại giữa ḍng nhân gian.

Quán Âm diệu lực vô vàn

Niệm danh Bồ Tát thoát ṿng tai ương

Lửa vây thiêu đốt phố phường

Niệm danh Bồ Tát lửa liền tắt ngay.

Nước ngập băo lụt đoanh vây

Niệm danh Bồ Tát có thuyền đến ngay.

Gặp quân bạo ác lưu đày

Niệm danh Bồ Tát ác kia hóa hiền

Gặp loài ác quỷ dạ xoa

Niệm danh Bồ Tát pháp mầu giải vây

Bị trù, bị ếm cuồng ngây

Niệm danh Bồ Tát gặp thầy chữa thương

Đi buôn gặp cướp đón đường

Niệm danh Bồ Tát khách thương an toàn

Dục ḷng đắm sắc mê say

Niệm danh Bồ Tát tỉnh ḷng hôm mai

Muốn cầu con gái, con trai

Niệm danh Bồ Tát gái trai phỉ nguyền.” ©

Bồ Tát Vô Tận khởi duyên

Như Lai giải rơ diệu huyền cơ thâm

Quán Âm hạnh nguyện khôn lường

Hiển bày phương tiện độ trần mê say

Pháp hành lưu diễn đó đây

Ba hai thân tướng đổi thay diệu thường.

Thanh Văn, Bích Chi, Pháp Vương

Đế Thích, Thiên Tướng, Phạm Vương, Thánh Hiền

Sa môn, trưởng giả, chư thiên

Quan dân ,cư sĩ phước điền giàu sang.

Môn nhân quư tiện cơ hàn

Tỳ khưu nam, nữ loại h́nh khác nhau

Dạ Xoa, Càn thát, La Hầu

Ca Lâu, Khẩn Na, Ma Hầu, Già La

Kim Cang Bồ Tát, Thánh Phàm

Tùy h́nh hóa hiện độ hàm linh an

Pháp lành vô úy truyền ban

Quán Âm từ mẫu Mẹ Hiền nhân gian

Bồ Tát Vô Tận cùng hàng

Thiên Long, Tứ Chúng cúng tràng ngọc châu

Tỏ ḷng tín nhiệm thâm sâu

Quán Âm Bồ Tát nhiệm mầu từ bi

Kính nhường tận lễ thiết thi

Quán Âm dâng cúng Mâu Ni nửa tràng

Nửa tràng đem để tháp tràng

Cúng Phật Đa Bảo đức lành niệm ân.” ©

 

V́ Vô Tận Ư giải phân

Như Lai tóm lược kết phần kệ tuyên:

 

Người nghe hạnh Quán Âm

Ứng hiện khắp mọi nơi

Nguyện rộng sâu như biển

Không thể nghĩ luận bàn

Trải qua hằng sa kiếp

Phát nguyện lớn trong sạch

Nghe tên cùng thấy h́nh

Quán Âm thường nhớ nghĩ

Hay diệt mọi khổ năo

Như có người muốn hại

Xô xuống hầm lửa thiêu

Nhờ sức niệm Quán Âm

Không mảy may nguy khốn

Hoặc bị kẻ thù đuổi

Ngă vấp nơi núi đá

Nhờ sức niệm Quán Âm

Không tổn hại thân thể

Hoặc gặp phải giặc vây

Dùng dao gậy toan giết

Nhờ sức niệm Quán Âm

Kẻ thù sanh tâm niệm

Hoặc bị nạn pháp luật

Tra hành h́nh sắp chết

Nhờ sức niệm Quán Âm

Đao gươm găy từng đoạn

Hoặc bị tù xiềng xích

Tay chân bị gông cùm

Nhờ sức niệm Quán Âm

Giải trừ mọi tai biến

Hoặc gặp quỷ La Sát

Nhờ sức niệm Quán Âm

Ác quỷ không dám gần

Gặp thù dữ vây quanh

Nhờ sức niệm Quán Âm

Thú dữ liền bỏ đi

Bị trùng độc tát hại

Nhờ sức niệm Quán Âm

Chất độc tự giải trưà. ©

Mây đen, mưa, sấm sét

Nhờ sức niệm Quán Âm

Mây tan trời quang tạnh

Chúng sanh bị khổ ách

Vô lượngv khổ bức bách

Quán Âm diệu trí lực

Hay cứu người đau khổ

Đầy đủ sức thần thông

Trí tuệ làm phương tiện

Khắp cơi nước mười phương

Quán Âm đều hiện thân

Vào ra trong đường ác

Địa ngục, quỷ, súc sanh

Khổ sinh, già, đau, chết

Không c̣n bị bức năo

Thấy lẽ thật trong suốt

Đèn tuệ lớn chiếu soi

Tâm từ bi vô lượng. ©

Thường nguyện, thường chiêm ngưỡng

Hào quang sáng trong ngần

Mặt trời xua bóng đêm

Cản ngăn nạn gió lửa

Sáng rỡ khắp thế gian

Tiếng lành vang sấm dậy

Ư lành tợ đường mây

Rưới mưa pháp cam lộ

Dập tắt lửa phiền năo

Kiện tụng hầu cửa quan

Hoảng hốt nơi chiến địa

Nhờ sức niệm Quán Âm

Binh lửa đều dẹp trừ

Pháp huyền diệu Quán Âm

Chuyển động khắp trời đất

Vượt các tiếng thế gian

Khởi tín tâm thường niệm

Khi niệm ḷng không nghi

Quán Âm bậc Từ Mẫu

Trừ khổ năo tai ách.

Quán Âm chổ nương tựa

Đầy đủ mọi công đức

Mắt thương nh́n cuộc đời

Phước rộng sâu như biển

Xin cúi đầu đảnh lễ. ©

Bấy giờ ngài Tŕ Địa

Đứng dậy lễ Phật thưa:

“Hễ có chúng sanh nào

Nghe làm theo kinh dạy

Trí lực được tự tại

Sức thần thông ứng khắp

Công đức của người ấy

Thật khó nghĩ, khó lường.”

Nhờ nghe lời Phật dạy

Trong đại chúng hôm đó

Tám muôn bốn ngàn người

Đều phát tâm rộng lớn

Tu pháp môn vô lượng

Nguyện độ khắp mọi loài. ©

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần) ©

 

VĂN QUY NGUYỆN 

Trầm hương xông ngát điện

Sen nở Phật hiện thân

Pháp giới thành thanh tịnh

Chúng  sanh lắng nghiệp trần. ©

Đệ tử tâm thành

Hướng về Tam Bảo

Phật là thầy chỉ đạo

Bậc tỉnh thức vẹn toàn

Tướng tốt đoan trang

Trí và bi viên măn. ©

Pháp là con đường sáng

Dẫn người thoát cơi mê

Đưa con trở về

Sống cuộc đời tỉnh thức. ©

Tăng là đoàn thể đẹp

Cùng đi trên đường vui

Tu tập giải thoát

Làm an lạc cuộc đời. ©

Đệ tử nương nhờ Tam Bảo

Trên con đường học đạo

Biết Tam Bảo của tự tâm

Nguyện xin chuyên cần

Làm sáng ḷng ba viên ngọc quư

Nguyện theo hơi thở

Nở nụ cười tươi

Nguyện học nh́n cuộc đời

Bằng con mắt quán chiếu

Nguyện xin t́m hiểu

Nổi khổ của mọi loài

Tập từ bi, hành hỷ xả

Sáng cho người thêm niềm vui

Chiều giúp người bớt khổ

Đệ tử nguyện sống cuộc đời thiểu dục

Nếp sống lành mạnh an ḥa

Cho thân thể kiện khương

Nguyện rũ bỏ âu lo

Học tha thứ bao dung

Cho tâm tư nhẹ nhơm

Đệ tử xin nguyện ơn sâu đền báo

Ơn cha mẹ, ơn thầy

Ơn bạn bè chúng sanh

Nguyện tu học tinh chuyên

Cho cây bi trí nở hoa

Mong một ngày mai

Có khả năng cứu độ muôn loài

Vượt ra ngoài cơi khổ

Xin Phật Pháp Tăng chứng minh

Gia hộ cho đệ tử chúng con

Viên thành đại nguyện. (cc)

 

TR̀ NIỆM

Nam Mô Đức Bổn Sư Phật Thích Ca Mâu Ni (3 lần) ©

Nam Mô Đức Bồ Tát. Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (3lần) ©

Nam Mô Đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền. (3 lần) ©

Nam Mô Đức Bồ Tát Đại Bi Quánj Thế Âm. (3 lần) ©

 

Nguyện ngày an lành đêm an lành

Đêm ngày sáu thời đều an lành

An lành trong mỗi giây mỗi phút

Cầu ơn Tam Bảo luôn che chở

Bốn loài sinh lên đất tịnh

Ba cơi thoát hóa ṭa sen

Hằng sa ngạ quỷ chứng tam hiền

Vạn loại hữu t́nh đăng thập địa. ©

 

Nam Mô Đăng Thập Địa Bồ Tát. (3lần) ©

 

HỘ TR̀ PHẬT PHÁP

 

Trời A Tu La và Dược Xoa

Đến đây nghe pháp nên chí tâm

Ứng hộ Phật Pháp được thường c̣n

Xin nhớ làm theo lời Phật dạy

Tất cả đến đây cùng nghe pháp

Hoặc ở dưới đất hoặc trên không

Hăy nh́n muôn loài bằng mắt thương

Ngày đêm an trú trong chánh niệm

Nguyện cho thế giới thường an ổn

Vô biên phước trí ích quần sanh

Hết thảy tội chướng đều tiêu trừ

Xa ĺa khổ năo ḷng an tịnh

Đại chúng nhất tâm tŕ giới hạnh

Công phu thiền định gắn cần chuyên

Đóa hoa tuệ giác nở trang nghiêm

Khắp nơi mọi loài đều an lạc. ©

 

QUAY VỀ NƯƠNG TỰA 

Con về nương tựa pháp,

Con đường của t́nh thương và sự hiểu biết. ©

Con về nương tựa Tăng,

Đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. ©

 

HỒI HƯỚNG 

Tŕ tụng kinh thâm diệu

Tạo công đức vô biên

Đệ tử xin hồi hướng

Cho chúng sanh mọi miền

Pháp môn xin nguyện học

Ân nghĩa xin nguyện đền

Phiền năo xin nguyện đoạn

Phật quả xin chứng nên. (cc)

(21) CA RA ĐẾ - (Kalati)

Quán Âm hiện thân tướng

Vua Thần trong mười phương

Tùy loại tuơng cảm ứng

Cứu khổ giải ích nàn.

 

PHÁP TU QUÁN ÂM

Trong đời sống chúng ta ít có th́ giờ đều đặn để tụng kinh, ngồi thiền cho có sự định tâm, trau dồi ba nghiệp thân, miệng, ư thanh tịnh. Để bổ khuyết cho việc tu tập, tiêu trừ tai chướng, tười tầm niềm vui, hạnh phúc cho đời sống, chúng ta nên phát nguyện tŕ niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát thường xuyên bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào, như khi lái xe, nấu ăn, ngồi đợi xe bus, chờ bác sĩ, tưới cây, làm vườn, lau nhà cửa. Tŕ niệm danh hiệu Đức Quán Thế Âm và theo dơi từng ba hơi thở ra vào là một phép thiền Quán Âm rất có tác dụng và linh nghiệm. Thở vào thở ra là một hơi thở và thầm niệm Nam mô Đại Từ Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. Cứ theo dơi từ ba hơi thở như thế cho vững chăi, rơ ràng sau khi đọc bài kệ sau đây:

 

KỆ NIỆM QUÁN ÂM 

Quán Âm Bồ Tát

Đấng linh thiêng nhiệm mầu

Con thành tâm tưởng niệm

Kỉnh lễ xin quy y.

Chăm niệm như thế thường xuyên trong mọi lúc, đêm cũng như ngày để được định tâm, tinh thần an ổn và mọi sở cầu sẽ được như ư. Trong lúc ngồi thiền, làm việc cho chí vào nhà tắm ta vẫn có thể tŕ danh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

(22) DI HÊ RỊ (Lshiri)

Quán Âm hiện thân tướng

Thiên Thần Ma Hê Đầu La

Thống lănh thiên binh

Cứu độ chúng sanh.

 

HẾT 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Bồ Tát >>