categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

 

Bồ Tát Hạnh
(Bodhicaryàvatàra)

Santideva (B́nh Thiên)
Thích Trí Siêu
dịch

 

 

Kính dâng sách này lên
Ḥa Thượng Bổn Sư thượng Huyền hạ Vi
và Lama Guendune Rinpoché

-ooOoo-

Lời Tựa

Mục đích chung của người tu Phật là cầu giác ngộ giải thoát, nhưng đối với người theo Phật giáo Đại Thừa th́ mục đích chính là phải cầu thành Phật.

A La Hán cũng giác ngộ giải thoát, Bích Chi Phật cũng giác ngộ giải thoát, chư Tổ Thiền cũng giác ngộ giải thoát, nhưng các Ngài vẫn chưa phải là Phật. Nhưng tại sao lại phải cầu thành Phật chứ? Được giác ngộ giải thoát chưa đủ sao?

- Chưa đủ! Đủ làm sao được đối với người đă hiểu, đă thấy tất cả chúng sinh chính là ḿnh, ḿnh chẳng khác với chúng sinh; cái khổ của chúng sinh chính là cái khổ của ḿnh và sự giải thoát của chúng sinh cũng là sự giải thoát của ḿnh. Nếu chưa hiểu được vậy th́ ít nhất cũng phải suy nghĩ, từ vô thỉ đến nay, trôi lăn trong sinh tử luân hồi tất cả chúng sinh đều đă ít nhất một lần làm cha mẹ ta, đă nuôi nấng, thương yêu, chăm sóc ta chẳng quản khó nhọc, nhiều khi c̣n phải hy sinh tánh mạng v́ ta. Như thế, ta nỡ ḷng nào cầu giác ngộ giải thoát một ḿnh? Nhưng chúng sinh đông quá làm sao độ cho hết? Đại A La Hán kia như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên c̣n chỉ độ được vài trăm đệ tử, nói chi ta đây là kẻ phàm phu? Đành rằng các vị A La Hán là những người giác ngộ giải thoát, nhờ chuyên tu thiền định, diệt trừ phiền năo, song từ những kiếp xa xưa, các ngài không lập những thệ nguyện rộng lớn v́ chúng sinh, không dám xả thí thân mạng, tài sản, vợ con, không biết gần gũi, thân cận, cúng dường chư Phật, Bồ Tát, Thiện tri thức. Do đó các ngài chưa có đủ công đức, trí huệ, hùng lực như chư Phật. Chỉ có Phật mới đầy đủ khả năng giáo hóa, cứu độ chúng sanh vô lượng. Ngoài ra trong kinh Pháp Hoa và Niết Bàn, đức Phật đă khai thị rơ về Phật tánh, khuyên nhắc chúng sinh cầu Phật quả. Chúng ta là con Phật (Phật tử) th́ phải cố gắng được như cha của ḿnh chứ! Bước đầu tiên là chúng ta phải phát nguyện cầu thành Phật để cứu độ chúng sinh. Sự phát nguyện (hay tâm niệm) đó gọi là Bồ Đề Tâm (Bodhicitta). Khi vừa phát tâm như vậy th́ chúng ta liền trở thành một Bồ Tát (Sơ phát tâm). Chư Phật ba đời cũng đều phát xuất từ chư Bồ Tát, do đó trong kinh Bảo Tích Đức Phật đă không ngớt khen ngợi và đề cao hàng Sơ phát tâm Bồ Tát: "Hàng Sơ phát tâm Bồ Tát, tuy căn tánh Bồ Tát chưa đầy đủ, đức tướng Bồ Tát chưa trọn vẹn hiển bày cho mọi người thấy được, nhưng các Thiện Thần Vương hết ḷng tôn trọng đến hộ vệ... Bồ Tát Sơ phát tâm chưa có công đức ǵ, nhưng đem so với A La Hán vẫn c̣n cao hơn ... Này Ca Diếp! Thí như hạt châu lưu ly nhỏ mà giá trị hơn là khối thủy tinh lớn như núi Tu Di. Bồ Tát cũng như vậy, ngay từ khi phát tâm cũng đă hơn hàng Thanh Văn, Bích Chi (tr 142, kinh Bảo Tích do T.T. Đức Niệm dịch). Do đó, khi vừa phát tâm Bồ Đề th́ liền trở thành Bồ Tát, không cứ phải đến các Đại Giới Đàn thọ Bồ Tát giới mới được xem là Bồ Tát. Nói như vậy không có nghĩa là bác bỏ việc thọ giới, ngược lại hành giả Đại Thừa rất nên cầu thọ giới pháp, v́ thọ (hay truyền) giới trong sự trang nghiêm, đúng phép rất có lợi ích, nó có khả năng tác động mạnh vào tâm khảm của giới tử, và nếu giới tử thanh tịnh thành khẩn th́ được xem là đắc giới. Nhưng thọ Bồ Tát giới và chỉ lo giữ giới Bồ Tát không chưa đủ để được xem là Bồ Tát. Bồ Tát giới chỉ là hàng rào ngăn chặn giúp hành giả Bồ Tát không bị sa đọa, đó là phần tiêu cực.

Hành giả Bồ Tát phải tích cực hành Bồ Tát hạnh, nghĩa là mỗi hành động, mỗi lời nói, mỗi ư niệm đều hướng về chúng sinh, v́ lợi ích chúng sinh. Khi tụng một thời kinh th́ trên cúng dường chư Phật, dưới cầu cho pháp âm tỏa khắp pháp giới làm lợi ích chúng sinh. Ngồi thiền dù chỉ năm phút cũng cầu giác ngộ bổn tánh. Để làm ǵ? Để cứu độ chúng sinh. Niệm Phật dù chỉ mười câu cũng không quên hồi hướng công đức cho chúng sinh. Được như thế mới xứng đáng là Bồ Tát, là trưởng tử của Như Lai. Đâu cứ phải làm chùa to, tượng lớn mới gọi là Bồ Tát. Nói như vậy không có nghĩa là đả kích việc làm chùa to, tượng lớn, v́ chùa to, tượng lớn cũng chỉ là vật vô tri, tự nó đâu có lỗi lầm ǵ, chẳng qua tùy thuộc nơi người làm, nếu làm với tinh thần vô ngă, bất vụ lợi, v́ lợi ích chúng sinh th́ rất được xưng tán, cúng dường.

Sau khi phát tâm Bồ Đề (c̣n gọi là Bồ Đề Tâm nguyện), hành giả Bồ Tát cần phải noi theo gương của chư Bồ Tát quá khứ, hiện tại, vị lai, hành Bồ Tát Hạnh (c̣n gọi là Bồ Đề Tâm Hạnh). Bồ Tát Hạnh được nói nhiều trong kinh Hoa Nghiêm và Đại Bát Nhă, nhưng lời kinh quá thâm diệu và chư Bồ Tát nhất là trong kinh Hoa Nghiêm đều là những bậc Đại Sĩ Bồ Tát đă phát tâm Bồ Đề và thực hành Bồ Tát Hạnh từ quá khứ vô lượng vô biên kiếp hải. Do đó chúng ta, hàng Sơ phát tâm Bồ Tát chỉ biết đảnh lễ hoặc lắc đầu thè lưỡi, không dám hoặc không biết làm sao noi theo. Hạnh của Bồ Tát tuy nhiều vô lượng vô biên nhưng tóm lại không nằm ngoài Thập Ba La Mật hay Lục Ba La Mật, và như thế chúng ta có thể bắt đầu học hỏi và tu tập Lục Ba La Mật, c̣n gọi là Lục Độ.

Người học Đạo nên có tinh thần như của Thiện Tài Đồng Tử, tức là không bao giờ cho sự hiểu biết đạo lư hay chứng đắc của ḿnh là đủ, luôn luôn t́m thầy hoặc thiện tri thức tham vấn học hỏi. Nếu không có duyên gặp được thầy lành bạn tốt th́ ít nhất cũng phải nương theo Kinh, Luật, Luận vạch cho ḿnh một hướng đi áp dụng vào đời sống hằng ngày.

Vào cuối hạ năm 89, tôi có dịp gặp Guéshé Tengyé, Viện Trưởng Tu Viện Vajrayogini ở Lavaur, thấy ngài đọc một quyển sách. Hỏi ra, tôi được biết đó là Bodhicaryàvatàra (Bồ Tát Hạnh) và cũng là kinh nhật tụng của ngài. Rồi ngài hỏi lại tôi: "Có là Bồ Tát không, nếu là Bồ Tát th́ phải đọc Bồ Tát Hạnh". Thế là từ đó trở về, tôi t́m đọc và nghiên cứu Bồ Tát Hạnh. Măi đến năm nay, gặp nhân duyên và được khuyến khích nên tôi mạo muội dịch tập sách này v́ thấy những hạnh Bồ Tát nằm trong đó có vẻ gần gũi với chúng ta (hàng Sơ phát tâm Bồ Tát) hơn là trong các kinh như Hoa Nghiêm, Bát Nhă... Tuy có học được một chút Tạng ngữ, nhưng tự thấy chưa đủ để có thể dịch hoàn toàn từ Tạng văn ra Việt văn nên cuối cùng tôi nương vào 3 tài liệu sau:

1. Byang.chub.sems.dpai'.spyod.pa.la.'jug.pa: bản Tạng văn.
2. La marche à la lumière: bản Pháp văn dịch từ Phạn văn của Louis Finot.
3. A guide to the Bodhisattva's way of life: bản Anh văn dịch từ Tạng văn của Stephen Batchelor.

Bồ Tát Hạnh nguyên bản Phạn văn là một loại thi ca, viết theo văn vần, gồm 913 bài kệ, chia làm 10 chương. Bản Tạng văn cũng được dịch theo văn vần. Nhưng ở đây, trước hết v́ không phải là thi sĩ, sau nữa tôi noi theo các bản dịch đă có trước bằng Anh và Pháp văn, viết theo văn xuôi dễ hiểu cho người đọc.

Tác giả tập Bồ Tát Hạnh là Tôn Giả Santideva (B́nh Thiên) người Ấn Độ, sống vào khoảng thế kỷ thứ 7 (xin xem tiểu sử ở chương sau). Trong tập sách này tôn giả đi từ Xưng tán Bồ Đề Tâm, Sám hối, Lục Độ và sau cùng đến Hồi Hướng công đức. Bạn đọc có thể ngạc nhiên không thấy nói về Bố Thí, nhưng phát Bồ Đề Tâm và hành Bồ Tát Hạnh đă là một sự bố thí cao thượng lắm rồi, ngoài ra Bố Thí được bàng bạc nói đến trong các chương sau. Riêng trong phẩm Thiền Định, tôn giả nhấn mạnh tới lối sống ẩn dật nơi rừng núi, hoặc những nơi thanh vắng để tu tập quán chiếu về Vô Ngă. Trong phẩm Trí Huệ, tôn giả Santideva (thuộc trường phái Trung quán) lập cuộc đối thoại tranh luận giữa ngài và các trường phái khác, cốt để xiển dương Tánh Không. Có nhiều đoạn quá xúc tích nên tôi thêm vào những chú thích ở cuối trang giúp bạn đọc hiểu rơ hơn.

Rất mong Bồ Tát Hạnh sẽ bổ túc cho Bồ Tát Giới. Bạn đọc có thể học thuộc ḷng vài phẩm, vài đoạn hoặc đọc tụng, cũng như các thiền sinh thuở trước học thuộc Quy Sơn Cảnh Sách, hoặc như tu sĩ Nam Tông thuộc làu kinh Pháp Cú vậy. Đọc tụng để những tư tưởng Bồ Tát thâm nhập vào tâm và từ đó sẽ khởi ra hiện hành hướng dẫn ta trong từng ư nghĩ, từng lời nói, từng hành động đúng theo hạnh mà chư Bồ Tát đă làm.

Sau cùng tôi xin ghi ơn Dagpo Rinpoché, giáo sư Phật học và Tạng ngữ tại đại học INALCO Paris Dauphine, đă giảng dạy và giải đáp nhiều thắc mắc cho tôi, Jenny Tcheuden đă cung cấp cho tôi tài liệu, Thérésa Scott-Carroll và phật tử Chúc Tịnh đă khuyến khích tôi soạn dịch tập sách này. Tuy vậy, bản dịch chắc c̣n nhiều thiếu sót, vụng về, trách nhiệm đó hoàn toàn về du tăng. Rất mong sau này sẽ có các bậc cao minh giảo chính lại cho hoàn hảo hơn.

Xin hồi hướng công đức này cầu cho tất cả chúng sinh ư thức được sự vô thường, đau khổ của cuộc đời, đồng phát tâm Bồ Đề và đồng sanh Tây phương Cực Lạc.

Thanh Sơn Lộ, tháng 7 năm 1990.
Thích Trí Siêu.

 

Tiểu Sử Tôn Giả Santideva

Theo truyền thuyết, tôn giả Santideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua Surastra.

Từ những kiếp quá khứ, ngài đă cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đă tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đă nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát. Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ Tát : Văn Thù và Tara [1]. Bồ Tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: "Ở đây không có chỗ cho hai người"; Bồ Tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài nói rằng: "Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi với nước này đây".

Tĩnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ Tát nên đêm hôm trước ngày lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống th́ có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống v́ đó là nước độc. Sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: "Cô ở đâu đến?"

- Thiếu nữ trả lời: "Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đă thành tựu phép tam muội của Văn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây". Vừa nghe như thế, tôn giả Santideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy đó là một hành giả Du Già (Yogi) sống trong một cḥi lá. Ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát.

Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia chính là Tara.

Kể từ đó, ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát. Sau đó ngài đi về phương đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Để tỏ ḷng thành kính nhớ ơn vị thần linh thủ hộ của ḿnh, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên ḿnh một thanh kiếm gỗ [2].

Ngài giúp vua trị v́ đúng theo Phật Pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, t́m cách dèm pha và hăm hại ngài. Họ bảo vua rằng: "Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên ḿnh một thanh kiếm mà không bào giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hăy khám nghiệm lại". Vua tin lời, cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: "Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nh́n được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận". Nghe vậy, vua càng nghi ngờ nhất quyết đ̣i xem. Cuối cùng Thừa tướng tâu: "Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem th́ hăy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nh́n bằng mắt trái thôi". Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của Vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Đại thành tựu giả [3] nên cầu xin sám hối. Biết vua đă ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tṛng lại khiến vua khỏi mù.

Sau đó tôn giả từ bỏ chức Thừa tướng, t́m đến Tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Santideva. Sau khi nghe hết 3 tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksasamuccaya, Sutrasamuccaya và Bodhicaryavatara. Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ Tát trong thiền định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang (Eussel, Clear Light). Tuy vậy chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ không chịu văn, tư, tu ǵ cả. Thấy thế, một số Thượng tọa học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ư kiến: "Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận, chắc chắn y sẽ phải tự động rút lui, rời bỏ Tu viện v́ y chỉ ăn với ngủ đâu có bao giờ tu học ǵ". Thế rồi đến phiên tôn giả Santideva phải trùng tuyên lại Kinh Luận, ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết ǵ. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: "Nếu vậy phải làm cho tôi một ṭa sư tử [4] tôi mới trùng tuyên". Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận v́ tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận ǵ được.

Sau khi lên ngồi ṭa sư tử, ngài hỏi: "Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đă có từ trước hay những sáng tác mới sau này". V́ muốn chế diễu ngài nên đại chúng nói: "Những sáng tác mới sau này".Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattva-carya-vatara). Khi tụng đến câu: "Khi Có và Không không c̣n khởi lên trong tâm..." th́ ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài c̣n vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, tăng chúng hối hận trở về pḥng ngài t́m kiếm, thấy trên bàn để lại 3 quyển: Sutrasamuccaya [5], Siksacamuccaya và Bodhicaryavatara.

Chú thích:

[1] Tara là một hóa thân h́nh nữ của Quán Thế Âm, trong Phật giáo Ấn Độ và Tây Tạng được nói đến rất nhiều. Quán Thế Âm, khi nh́n thấy chúng sinh đau khổ, ngài nhỏ lệ từ bi và giọt lệ này rơi xuống hóa thành Tara.

[2] Văn Thù Bồ Tát, thường hiện thân, tay phải cầm kiếm trí tuệ, tay trái cầm kinh Bát Nhă.

[3] Mahasiddha: người tu hành đắc đạo có thần thông.

[4] Simhasana: ṭa ngồi chỉ dành cho những hàng Tỳ Kheo Trưởng lăo Pháp sư.

[5] Hai tập Siksasamuccaya (Giáo Tập Yếu) và Bodhicaryavatara (Bồ Tát Hạnh) chắc chắn tác giả là ngài Santideva, riêng tập Sutrasamuccaya, đa số các học giả đều công nhận tác giả là ngài Long Thọ (Nagarjuna). Tiểu sử này tôi rút tỉa từ 2 tài liệu History of Buddhism in India của Taranatha và La Légende de Santideva trong Indo-Iranian Journal Volume XVi. Trong tạng luận của Tây Tạng có nói đến bộ Mdo.sde.sna.tshogs.kyi.mdo.btus.pa mà học giả Marcelle Lalou đă chuyển sang lại Sanskrit là Visvasutrasamuccaya, tập này ngày nay đă bị mất tích. Theo học giả J.W.DeJong th́ có lẽ 2 tập này tương tựa nhau nên các sử gia Tây Tạng và luận gia Ấn Độ cùng cho tác giả của Kinh Tập Yếu (Sutrasamuccaya) là ngài Santideva. Kinh Tập Yếu đă được Ḥa Thượng Linh Sơn thượng Huyền hạ Vi dịch từ Hán văn ra Việt văn năm 1985 với tựa đề là Yếu Nghĩa Phật Pháp.

 

Chương 1

Xưng Tán Bồ đề Tâm

1) Sau khi thành tâm đảnh lễ tất cả chư Phật, chư Bồ Tát cùng tất cả thầy tổ đáng kính, tôi xin tŕnh bày sơ lược con đường tu tập mà tất cả hàng con Phật (Bồ Tát) đều đă đi qua.

2) Về giáo pháp, tôi không có ǵ đáng nói thêm và tôi cũng không phải là một văn sĩ trước tác. Tôi viết tập sách này với mục đích chính là để nhắc nhở và điều phục tâm ḿnh chứ không phải cho ai khác.

3) Nhờ sự nhắc nhở hướng thiện này mà căn lành nơi tôi được tăng trưởng. Bởi thế, rất mong những ai đồng hoàn cảnh cũng có thể rút tỉa được sự lợi ích nơi đây.

4) May mắn thay! Hy hữu thay cho chúng ta đă gặp đủ thiện duyên để tu hành giải thoát. Nhưng nếu không biết suy nghĩ thừa cơ hội trau giồi phước huệ th́ không biết đến bao giờ (kiếp nào) mới có lại được như ngày hôm nay.

5) Chúng sinh tuy trôi lăn trong sinh tử luân hồi, nhưng nhờ thần lực của chư Phật, lâu lâu cũng khởi được một niệm nghĩ đến điều lành. Giống như trong đêm tối, bao phủ bởi mây đen, ánh sáng của sấm chớp lóe lên rồi liền tắt.

6) Làm sao chống chọi được với nghiệp chướng sâu dày, khi căn lành tích tụ lại quá mỏng manh, nếu ta không biết nương theo Bồ Đề Tâm?

7) Quán chiếu trong vô lượng kiếp, chư Phật đă t́m ra được bảo vật này (Bồ Đề Tâm) có thể đưa vô lượng chúng sinh đến bờ an vui giải thoát.

8) Những ai muốn thoát khỏi đau khổ của luân hồi, cứu độ chúng sinh, an hưởng chân hạnh phúc, phải luôn luôn nhớ không được rời bỏ Bồ Đề Tâm.

9) Tuy c̣n trôi lăn trong luân hồi, trói buộc bởi phiền năo, nhưng kẻ nào vừa phát Bồ Đề Tâm th́ ngay khi đó liền trở thành "Con của Đấng Thiện Thệ" (Fils des Sugatas). Chư thiên và loài người sẽ cung kính kẻ đó.

10) Nước phép Bồ Đề Tâm sẽ biến thân thể bất tịnh này thành một ḥn ngọc vô giá v́ nó chứa đựng một đức Phật (tương lai). Do đó hăy ǵn giữ cẩn thận Bồ Đề Tâm.

11) Là người trôi lăn trong ba cơi, muốn cầu giải thoát, bạn phải nắm giữ cẩn thận Bồ Đề Tâm. Nó là ḥn ngọc vô giá đă được kiểm chứng và công nhận bởi các bậc Đạo Sư giải thoát duy nhất.

12) Tương tự như cây chuối, tất cả công đức khác đều tan biến sau khi đă cho ra quả. Nhưng Bồ Đề Tâm là một loại cây công đức luôn luôn tăng trưởng, tiếp tục sinh hoa kết trái không bao giờ tàn lụi.

13) Một người, dù cho có phạm nhiều tội nặng đi nữa, chỉ trong một chốc lát cũng có thể giải trừ được nếu biết trở về với Bồ Đề Tâm. Giống như thoát khỏi cơn hoạn nạn v́ biết t́m sự bảo vệ nơi kẻ có thế lực mạnh. Chỉ có những kẻ vô ư mới không nương tựa Bồ Đề Tâm.

14) Cũng như hỏa tai của kiếp hoại, Bồ Đề Tâm có thể đốt cháy tất cả tội lỗi, nghiệp chướng trong chốc lát. Công đức vô lượng không thể nghĩ bàn của nó đă được Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) giảng nói cho Thiện Tài (Sudhana) [1].

15) Tóm lại có hai loại Bồ Đề Tâm: Bồ Đề Tâm Nguyện và Bồ Đề Tâm Hạnh.

16) Sự khác biệt có thể ví như một người muốn đi và một người đang đi.

17) Riêng Bồ Đề Tâm Nguyện, tự nó đă mang sẵn nhiều quả báo lành nhưng vẫn chưa bằng Bồ Đề Tâm Hạnh, nguồn gốc của tất cả công đức.

18-19) Người nào mà trong tâm biết khởi một ư niệm nguyện cứu tất cả chúng sinh ra khỏi cảnh khổ th́ dù ngay trong giấc ngủ hay những lúc lơ đễnh, công đức của người nay vẫn tiếp tục tăng trưởng, phủ khắp hư không.

20) Công đức của Bồ Đề Tâm đă được chính đức Như Lai tuyên thuyết trong kinh Subahupriccha để sách tấn những người chùn chân, muốn dừng bước nơi Nhị Thừa.

21-22) Nhất tâm chữa trị bịnh nhức đầu cho vài người thôi cũng đă đem lại vô số công đức, nói chi đến muốn cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi đau khổ phiền năo, đưa họ đến chỗ an vui hạnh phúc.

23) Từ xưa đến nay, đă có người cha nào, mẹ nào dám phát một lời nguyện rộng lớn như thế? Có vị Trời nào, Đạo sĩ nào, Bà la môn nào?

24) Chưa từng có một ai dám phát nguyện như thế, dù cho chính ḿnh, ngay trong giấc mơ, nói chi đến chuyện cứu độ kẻ khác!

25) Ôi làm sao t́m ra được một vị Bồ Tát (ḥn ngọc vô giá) trong khi tất cả chúng sinh quá ích kỷ, không bao giờ biết làm điều lành cho kẻ khác?

26) Nó là nguồn cội của hạnh phúc thế gian, là liều thuốc trị đau khổ cho nhân loại, là ngọc kim cương của tâm... Làm sao kể cho hết giá trị của nó (Bồ Đề Tâm).

27) Khởi một niệm lành đến một người thôi, công đức cũng đă hơn sự lễ Phật. Thử hỏi công đức sẽ bao nhiêu nếu biết thực hiện an vui hạnh phúc cho tất cả chúng sanh?

28) Con người muốn chạy trốn đau khổ nhưng lại trầm ḿnh trong đau khổ; mong cầu hạnh phúc nhưng lại (vô t́nh) tàn hoại nguyên nhân của hạnh phúc, xem nó như kẻ thù.

29-30) Ai sẽ cắt đứt sự hành hạ khổ đau cho chúng sinh, thỏa măn sự thèm khát hạnh phúc, cũng như sự điên cuồng của họ? T́m đâu ra được một hiền giả, một thiện tri thức như thế?

31) Người ta luôn luôn khen ngợi kẻ mang ơn mà biết đền ơn. Vậy sẽ nói sao đây đối với một vị Bồ Tát luôn luôn ban ơn mà không cần ai hỏi?

32) Kẻ biết bố thí một bữa ăn cho vài người ăn xin cũng đă được xem như một hiền giả đạo đức. Dù sự bố thí đó chỉ kéo dài một giờ đồng hồ, với những món ăn tầm thường vừa đủ để lót dạ nửa ngày cho những kẻ ăn xin khổ cực kia.

33) Chúng ta phải nói sao đây đối với vị Bồ Tát đă bố thí trong vô lượng kiếp, cung cấp thỏa măn tất cả mong muốn hạnh phúc của vô số chúng sinh số lượng như hư không?

34) Người nào khởi một niệm xấu ác trong bao nhiêu giây đối với bậc hiền giả Bồ Tát trên th́ sẽ phải đọa địa ngục bấy nhiêu kiếp. Đức Như Lai đă tuyên bố như thế.

35) Những kẻ nào, tâm biết trở về nương tựa nơi vị Bồ Tát trên th́ kẻ đó sẽ gặt hái rất nhiều công đức, dư đủ để tiêu trừ tội chướng quá khứ.

36) Tôi xin đảnh lễ và xưng tán tất cả chư Bồ Tát, những người mà trong tâm đă làm phát sinh ra ḥn ngọc vô giá (Bồ Đề Tâm). Các ngài luôn luôn đem lại hạnh phúc cho mọi người, ngay cả đối với những ai hủy báng, năo hại các ngài. Tôi xin trở về nương tựa nơi chư Bồ Tát, nguồn cội của chân hạnh phúc.

Chú thích:

[1] Trong kinh Hoa Nghiêm (Gandavyuhasutra)

 

Chương 2

Sám Hối

1) Để có được ḥn ngọc vô giá (Bồ Đề Tâm) tôi xin xưng tán và đảnh lễ tất cả chư Phật, Thánh Diệu Pháp và chư Bồ Tát, các ngài là biển công đức của tất cả chúng sinh.

2-6) Tất cả hoa trái, báu vật thế gian, các loại nước cam lồ thanh tịnh và ngon ngọt, những nọn núi đầy bảo châu, hoa thơm, cỏ lạ, tất cả mùi hương trầm của thế giới Trời, Người, những cây cho ra quả bằng ngọc lưu ly, những cây thành tựu điều ước [1], những hồ sen thanh khiết với tiếng hát của đàn thiên nga, tất cả bảo vật đầy dăy hư không. Sau khi quán tưởng những thứ trên trong tâm, tôi xin cúng dường lên chư Phật và các Trưởng Tử của Như Lai (Bồ Tát). Các Ngài là những bậc Ứng cúng, Đại Từ, Đại Bi, xin hăy thương xót tôi mà chấp nhận sự cúng dường trên.

7) Tôi là kẻ bần cùng không chút phước đức, không có ǵ khác để cúng dường. Ôi! Những đấng Che Chở [2] luôn thương xót bảo vệ kẻ yếu, hăy v́ tôi mà chấp nhận sự cúng dường trên.

8) Từ nay cho đến cùng tột đời vị lai, tôi xin cúng dường và phó mặc toàn thân tôi cho các bậc Thắng Vương [3] và các Thắng Vương Tử. Xin hăy chấp nhận cho tôi được phụng sự các ngài với ḷng thành kính.

9) Được nằm trong tay của các ngài, tôi sẽ trở thành kẻ vô úy, không c̣n sợ hăi điều ǵ ở thế gian này. Tôi sẽ làm cho chúng sinh được an vui, tẩy trừ mọi nghiệp chướng và không bao giờ tái phạm.

10-11) Trong những bồn tắm thơm ngát, lát bằng cẩm thạch và lưu ly trong suốt, có những cột trụ kết bằng bảy báu huy hoàng. Tôi sửa soạn nước tắm cho chư Phật và các Trưởng tử của ngài, trong nhịp điệu của tiếng hát và âm nhạc với những b́nh nước khảm ngọc trai, chứa toàn hoa lạ và nước thơm.

12) Sau đó tôi sẽ lau khô báo thân của các ngài bằng những giải lụa thanh tịnh vô nhiễm và khoác lên các ngài những y phục trong sạch, thơm ngát.

13) Với những thiên phục mềm mỏng, huy hoàng rực rỡ, tôi sẽ khoác lên ngài Phổ Hiền (Samantabhadra), Di Lặc (Ajita), Văn Thù (Manjughosa), Quán Âm (Lokesvara) và tất cả chư Bồ Tát khác.

14) Trên thân của chư Phật sắc vàng óng ánh, tôi sẽ xức lên tất cả các loại dầu thơm tuyệt diệu mà mùi hương thông khắp pháp giới.

15) Tôi sẽ kết tất cả loại hoa thơm và đẹp như hoa đinh hương, hoa lài, hoa sen xanh thành tràng để cúng dường và xưng tán chư Phật.

16) Tiếp theo tôi sẽ xông lên những đám mây hương thanh khiết, vi diệu và dâng lên các ngài những món trân vị mềm và cứng cùng các loại giải lao.

17) Tôi sẽ trang hoàng những ngọn đèn làm bằng ngọc báu, xếp trên những bông sen vàng và dọc trên đường đi tôi sẽ rải đầy hương thơm cỏ lạ.

18) Trên hư không, vang dội những khúc nhạc trời, vô số dinh thự nguy nga, trang hoàng bằng những ṿng đai bằng cẩm thạch, bảo châu...

19) Tôi sẽ cúng dường lên các đấng Mâu Ni những tàng lọng cao lớn khảm xà cừ tuyệt đẹp, với trục làm bằng vàng ṛng.

20) Để chúng sinh được an vui, kể từ bây giờ, nguyện cho những đám mây cúng dường trên được trổi dậy vang rền tiếng nhạc trời.

21) Nguyện cho những đám mưa hoa và ngọc báu luôn rơi trên những bảo tháp, tượng Phật và kinh Phật.

22) Như Văn Thù và các Bồ Tát đă cúng dường các bậc Thắng Vương, tôi cũng xin cúng dường chư Phật và các Trưởng tử của Phật.

23) Tôi cũng xin xưng tán các biển công đức (chư Phật, chư Bồ Tát) bằng những lời êm dịu bất tận. Nguyện những lời ca tán thán này luôn luôn hướng về các ngài.

24) Trong pháp giới có bao nhiêu vi trần th́ tôi cũng xin phân thân ra bấy nhiêu để đảnh lễ chư Phật ba đời cùng Pháp và Tăng.

25) Tôi cũng xin đảnh lễ trước tất cả bảo tháp, trước những nơi nào Bồ Đề Tâm ảnh hiện [4], trước những bậc thầy tôn kính và các nhà tu hành.

26) Từ nay cho đến khi được Vô Thượng Bồ Đề, con nguyện quy y nơi Phật, Pháp và toàn thể chư Bồ Tát.

27) Với hai tay chắp lại, con xin khấn nguyện đến chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi ở khắp mười phương.

28-29) Từ vô thỉ trôi lăn trong sinh tử cho đến ngày nay, bởi vô minh che lắp, con đă tạo nhiều điều ác và xúi giục người khác phạm lỗi. Ngày nay biết sự lỗi lầm, con xin thành tâm sám hối trước chư Phật.

30-31) Tất cả lỗi lầm đă phạm qua ba nghiệp, thân, khẩu, ư, đối với Tam Bảo, với cha mẹ và các bậc tôn trưởng, tất cả lỗi lầm thúc đẩy bởi vô minh ái dục, tất cả con xin phát lồ sám hối. Ôi đấng Thiện Thệ!

32) Làm sao thoát khỏi tội lỗi đă làm? Xin ngài hăy cứu con! Giúp con tẩy trừ nghiệp xấu trước khi thần chết đến.

33) Ôi mạng sống con người mong manh. Thần chết không bao giờ biết chờ ai cả, dù kẻ đó khỏe mạnh hay bịnh tật.

34) Chỉ v́ ham cầu sung sướng, chạy trốn khổ cực mà ta đă tạo nhiều điều ác. Há ta không hiểu rằng một ngày nào đó sẽ phải ra đi với hai bàn tay trắng sao?

35) Ngày đó sẽ chẳng c̣n lại ǵ cả! Từ những kẻ thù ta, những kẻ thương ta và ngay cả chính xác thân ta cũng không c̣n nữa.

36) Tất cả cảnh vật mà ta đă thấy, nghe, chỉ c̣n lại là một kư ức, tựa như giấc chiêm bao, trải qua rồi biến mất, không bao giờ trở lại.

37) Trong cuộc đời ngắn ngủi này, biết bao bạn bè và kẻ thù ta đă ra đi. Duy chỉ c̣n lại nghiệp xấu ác (mà ta đă tạo với họ) là c̣n ở lại bên ta đe dọa.

38) V́ không hiểu và ư thức được ta chỉ là một kẻ du khách trên cuộc đời này nên ta đă để cho vô minh, ái dục, sân hận dẫn dắt tạo nghiệp.

39) Mạng căn, nhựa sống tàn lụi ngày đêm không ngừng. Không có chi ngăn cản được. Làm sao cái chết lại không thể đến với ta được?

40) Nằm dài trên giường bịnh, tuy có họ hàng vây quanh nhưng ta sẽ phải cảm thọ đau đớn một ḿnh trong cơn hấp hối.

41) Một khi bị sứ thần của Yama [5] bắt đi, thử hỏi t́m đâu ra được anh em bạn bè? Duy chỉ có công đức lành mới có thể cứu được ta, nhưng ô hô, trong lúc sống có bao giờ ta nghĩ đến nó đâu?

42) V́ ngu si, nông nỗi không ư thức được hậu quả mai sau nên ta đă bám víu vào cuộc đời phù du này mà tạo nhiều điều xấu ác.

43) Một tên tù binh khi bị hành h́nh th́ thân ḿnh co rút, cổ họng thắt nghẹt, ánh mắt lờ đờ không c̣n nh́n rơ ǵ nữa.

44) Thử hỏi trường hợp của ta sẽ ra sao khi bị bịnh tật, hấp hối hành hạ và nhất là bị sứ thần của Yama bắt đi?

45) Lúc đó mắt ta sẽ hốt hoảng cầu cứu. Nhưng ai là người có thể bảo vệ che chở cho ta trong cơn hiểm nạn này.

46) T́m khắp không thấy ai che chở, sợ hăi ta rơi vào hôn mê bất tỉnh. Ôi số phận ta sẽ ra sao?

47) Do đó, ngày hôm nay đây, con xin nương tựa, cầu sự che chở của chư Phật, chư Thắng Vương, là những bậc Đại Hùng, Đại Lực giải trừ mọi sợ hăi cho chúng sinh.

48) Nơi Thánh Pháp mà chư Phật đă chứng ngộ, có thể đưa chúng sinh đến giải thoát và nơi toàn thể chư Bồ Tát.

49) V́ yếu đưối, sợ hăi nên con xin nương tựa và phó mặc đời con cho Phổ Hiền Bồ Tát, con cũng xin dâng ḿnh cho Văn Thù Bồ Tát.

50) Nơi Quán Thế Âm Bồ Tát, luôn luôn cứu khổ v́ ḷng đại bi, con xin khẩn cầu đến Ngài với tiếng kêu sợ hăi, thất vọng: "Xin Ngài cứu con, một kẻ lầm mê!"

51) Nơi Hư Không Tạng Bồ Tát (Akasagarbha) và Địa Tạng Vương Bồ Tát (Ksitigarbha) cùng chư Đại Bồ Tát, con xin khẩn nguyện đến tất cả cầu sự che chở.

52) Con cũng xin nương tựa nơi Kim Cang Tạng Bồ Tát (Vajrapani), người mà tất cả ma quỷ và sứ thần của Yama đều sợ hăi chạy trốn.

53) Bao lần con đă quên lời dạy bảo của các ngài, ngày nay đứng trước hiểm nạn, sợ hăi, con trở về nương tựa nơi các ngài. Xin hăy mau cứu con!

54) Thông thường khi đau bịnh nhẹ, người ta c̣n không dám trái lời bác sĩ. Nói chi đến khi bị hành hạ bởi 404 căn bịnh [6], quả báo của nghiệp quá khứ.

55) Trong số các bịnh, có một loại vô phương cứu chữa, nó tàn hoại tất cả dân chúng cơi Diêm Phù Đề.

56) Có một vị Đại Y Vương chuyên chữa lành tất cả bịnh khổ của thân và tâm. Thế nhưng ta đă xem thường và làm trái lời vị ấy. Ôi! Sao ta có thể điên rồ như vậy được!

57) Khi đi cạnh một hố sâu vài trượng, ta biết cẩn thận, hết sức chăm chú. Thế nhưng sao ta lại vô t́nh nhởn nhơ đi trên bờ vực thẳm không đáy của địa ngục?

58) Nói rằng: "Ngày hôm nay cái chết sẽ không đến!", đó là một sự an ủi giả dối. Chắc chắn nó sẽ đến và khi nó đến th́ ta sẽ không c̣n ở đó mà nói năng ǵ được nữa.

59) Ai sẽ bảo ta: "Đừng sợ hăi!". Ai sẽ chỉ ta lối thoát? Chắc chắn ta sẽ phải chết và như vậy làm sao có thể yên tâm vui đùa được?

60) Những cảm giác khoái lạc ngày trước đă để lại cho ta những ǵ? Ôi! Mải mê theo cám dỗ, ta quên lời dạy bảo của bậc thầy!

61) Thôi ngày nay ta phải xa ĺa vĩnh viễn cơi trần, bỏ lại cha mẹ, anh em, bạn bè, ra đi lang thang một ḿnh, không biết về đâu? Ôi! T́nh yêu và hận thù c̣n có nghĩa lư ǵ?

62) Chỉ có một điều đáng được lo lắng ngày đêm, đó là: làm ác chắc chắn đưa đến đau khổ; làm thế nào để thoát đây?

63-64) Hết thảy tội lỗi mà con đă tạo v́ vô minh hay vô ư, phạm giới hoặc sai lầm, con xin phát lồ sám hối tất cả trước chư Phật, Bồ Tát. Ghê sợ tội lỗi, con xin chắp hai tay đảnh lễ không ngừng dưới chân các ngài.

65-66) Xin các ngài chứng giám cho sự phát lồ thành thật của con. Từ nay cho đến về sau, con xin phát nguyện, không bao giờ tái phạm nữa.

Chú thích:

[1] Kalpadruma: đây là 5 loại cây của cơi trời, mỗi khi chư thiên ước muốn điều chi, nó liền cho ra quả như thế.

[2] Mgon.po: protecteur, là một danh từ khác để chỉ chư Phật, Bồ Tát.

[3] Rgyal.ba: vainqueur, cũng chỉ đức Phật

[4] Tức chư Bồ Tát, v́ Bồ Tát là người đă phát Bồ Đề Tâm

[5] Yama: tử thần, c̣n gọi là Diêm Vương.

[6] Trong quyển Médecine Tibétaine Bouddhique, của Terry Clifford nói có 4 loại bịnh: nóng, lạnh, ma quỷ ếm và nghiệp. Mỗi loại có 101 căn bịnh, tổng cộng là 404 căn bịnh.

 

Chương 3

Phát bồ đề tâm

(Bồ Đề Tâm Nguyện)

1) Tất cả chúng sinh có bao nhiêu công đức, hạnh lành tôi đều xin tùy hỷ và nguyện cho họ được an vui hạnh phúc.

2) Có bao nhiêu chúng sinh đă thoát khỏi đau khổ luân hồi, bao nhiêu hiền giả, hành giả đă chứng quả Bồ Tát, quả Phật, tôi đều xin vui mừng tán thán.

3) Tôi xin tùy hỷ, xưng tán tất cả tâm nguyện rộng lớn như biển cả của các đấng Pháp Vương, luôn đem lại hạnh phúc cho chúng sinh.

4) Tôi chắp hai tay, khẩn cầu chư Phật mười phương, xin hăy thắp sáng ngọn đuốc pháp cho những kẻ lạc đường đang rơi trong hố thẳm đau khổ.

5) Chư Phật muốn nhập Niết Bàn, tôi xin thành kính chắp tay, thỉnh cầu các ngài trụ thế vô lượng kiếp cho thế gian thoát khỏi tối tăm.

6) Bao nhiêu công đức góp nhặt được qua các hạnh lành trên, tôi hồi hướng nguyện sẽ làm người cứu khổ chúng sinh.

7) Đối với chúng sinh đau bịnh, tôi nguyện sẽ là thuốc hay, là bác sĩ, là y tá cho đến khi nào không c̣n một ai đau ốm.

8) Tôi nguyện sẽ dập tắt ngọn lửa đói khát nơi chúng sinh bằng những đám mưa cam lồ. Trong thời nạn đói của kiếp hoại [1], chính tôi sẽ là đồ ăn và thức uống cho tất cả chúng sinh.

9) Tôi nguyện sẽ là kho báu vô tận, cung cấp mọi điều cần thiết cho những kẻ nghèo khổ.

10) Trong những kiếp vị lai, tất cả tài vật, công đức tích tụ trong ba đời, tôi sẽ xả bỏ không luyến tiếc để thành tựu sự giải thoát cho tất cả chúng sinh.

11) Niết Bàn chính là sự xả bỏ hoàn toàn. Trước sau ǵ cũng phải xả bỏ, tốt hơn là nên bố thí, cúng dường cho tất cả chúng sinh.

12-13) Tôi xin quên ḿnh để phụng sự chúng sinh. Dù có bị đánh đập, mắng chửi, chém giết hay bị xem như một món vật mua vui đi nữa, tâm tôi vẫn vắng lặng. V́ tôi đă xả bỏ thân này cho họ rồi! C̣n ǵ đâu mà lo lắng.

14) Dù họ có sung sướng trong khi hành hạ thân này, tôi cũng xin nguyện cho họ không bị quả báo.

15-16) Dù họ có tức giận, ác ư với tôi, có vu khống, năo hại và chế diễu tôi, tôi cũng xin nguyện cho tất cả đắc quả Bồ Đề.

17-18) Tôi nguyện sẽ là người bảo vệ cho những kẻ yếu đuối, người chỉ đường cho những hành khách, một con thuyền hay một cái cầu cho những kẻ muốn qua sông, một ngọn đèn cho những ai đi trong đêm tối, một cái giường cho những ai muốn nằm nghỉ, một kẻ nô lệ cho những ai cần nô lệ.

19) Tôi nguyện sẽ là viên ngọc phép, một lu thần, một linh chú, một cỏ thuốc, một cây như ư và một con ḅ ước cho tất cả chúng sinh [2].

20-21) Cũng như quả đất (đại địa) và các đại khác cần thiết cho đời sống của vô số chúng sinh trong khắp hư không, tôi nguyện sẽ là người lợi ích cho tất cả mọi loài cho tới khi nào không c̣n một ai là kẻ chưa giải thoát.

22-23) Như chư Phật quá khứ đă phát Bồ Đề Tâm, thực hành Bồ Tát Hạnh, tôi đây cũng xin phát tâm Bồ Đề làm lợi ích chúng sinh và thực hành hạnh lành mà chư Bồ Tát đă trải qua.

24) Sau khi đă sáng suốt phát Bồ Đề Tâm, hành giả cần phải nuôi dưỡng, tăng trưởng nó bằng những lời khích lệ sau:

25) Ôi! Từ đây cuộc đời ta đầy ư nghĩa, ta không được bỏ lỡ cơ hội làm người. Ngay ngày hôm nay đây, ta được sinh trong gia đ́nh của chư Phật và làm con trai của Phật.

26) Từ nay trở đi, ta sẽ cư xử, hành động đúng theo truyền thống của gia đ́nh Phật. Nhất định không làm cho gia đ́nh thanh tịnh quư báu này mang danh xấu nhơ v́ ta.

27) Như một kẻ mù bắt được ngọc báu trong thùng rác, không biết nhờ phép lạ nào đă khiến cho Bồ Đề Tâm sinh khởi nơi tôi.

28-31) Nó là một cây thuốc trường sinh khắc trừ sự chết, là một kho tàng vô tận thay thế sự nghèo khổ cho chúng sinh, là một phương thuốc vi diệu chữa trị tất cả bịnh tật thế gian, là một bóng cây mát nghỉ ngơi cho kẻ bộ hành mệt mỏi lang thang trên đường luân hồi, là một cái cầu vĩ đại đưa mọi hành khách thoát khỏi hiểm đạo, là một bóng trăng xoa dịu vết thương ái nhiễm, là một mặt trời tỏ rạng đẩy lui đám sương mù vô minh, là một tô lạc mới làm bằng sữa diệu pháp.

32) Những ai đang lang thang trên nẻo đường luân hồi, khao khát hạnh phúc, th́ đây, bữa tiệc hạnh phúc tôi đă dọn sẵn, hăy mau đến dự cho thỏa ḷng.

33) Ngày hôm nay, trước sự chứng giám của chư Phật, Bồ Tát, con nguyện đưa hết chúng sinh đến Phật quả. Tất cả chư Thiên, A tu La và mọi loài hăy vui mừng lên!

Chú thích:

[1] Trước khi măn một tiểu kiếp, sẽ xẩy ra 7 ngày binh đao chiến tranh, 7 tháng bịnh dịch hoành hành và 7 năm hạn hán đói khát

[2] Ngọc phép (cintamani) hay ngọc như ư: khi tâm nghĩ điều ǵ th́ liền có điều đó. Lu thần (bhadragata): khi cần điều ǵ, chỉ cần tḥ tay vào lu là lấy được. Linh chú (Siddhavidya): khi đọc câu chú này th́ mọi việc đều thành tựu. Cỏ thuốc (mahaushadhi): là một cỏ chữa bá bịnh. Cây như ư (kalpaviksha) và con ḅ ước (kamadhenu) là bảo vật của chư thiên. Trái cây và sữa ḅ cho ra tất cả điều ước.

 

Chương 4

Thực hành Bồ Đề Tâm

(Bồ Đề Tâm Hạnh)

1) Sau khi mạnh mẽ phát nguyện Bồ Đề Tâm, bậc Bồ Tát (con trai của Phật) phải tinh tấn tu tập không được xao lăng.

2) Khi quyết định một việc ǵ hấp tấp, không suy nghĩ chín chắn, người ta có thể hoặc thi hành hoặc lăng quên, mặc dầu đă phát nguyện.

3) Nhưng làm sao có thể từ bỏ được những ǵ đă được suy nghĩ, quán chiếu bởi chư Phật, chư hiền giả Bồ Tát và ngay cả ta nữa?

4) Khi đă nguyện, đă hứa mà không làm th́ hóa ra ta lừa tất cả chúng sinh! Như vậy số phận ta sẽ ra sao?

5) Đức Phật dạy rằng: "Ai có ư định cho người một vật ǵ, dù thật nhỏ không đáng giá, mà cuối cùng không cho th́ sẽ đầu thai thành ngạ quỷ".

6) Vậy th́ ta đây, sau khi thành tâm phát nguyện sẽ đem lại cho chúng sinh hạnh phúc tối thượng mà nay lại từ bỏ. Không biết đời sau ta sẽ tái sinh làm ǵ đây?

7) Tuy vậy, cũng có những người từ bỏ Bồ Đề Tâm mà vẫn được giải thoát [1]. Song le việc đó chỉ có bậc Nhất Thiết Trí (Phật) mới thấu rơ hoàn toàn nguyên nhân bất khả tư ngh́ của luật nhân quả mà thôi.

8) Tất cả sự yếu đuối, vi ước của Bồ Tát rất là tai hại. V́ khi phạm lỗi, Bồ Tát sẽ bị quả báo ác không thể tính đếm, v́ y đă vô t́nh làm hại đến tất cả chúng sinh.

9) Và kẻ nào làm chướng ngại, dù chỉ một tích tắc, hạnh lành của Bồ Tát, sẽ bị quả báo ác không thể tính đếm , v́ y đă vô t́nh làm hại đến tất cả chúng sinh.

10) Khi phá hại sự an vui của một chúng sinh, chắc chắn ta sẽ bị quả báo hại lại. Thử hỏi, nếu ta phá hại sự an vui của vô lượng chúng sinh trong hư không vô biên th́ hậu quả sẽ ra sao?

11) Kẻ nào có sức mạnh dám phát Bồ Đề Nguyện, nhưng lại từ bỏ hoặc làm ngược lại Bồ Đề Hạnh th́ kẻ ấy sẽ tiếp tục trôi lăn trong biển sinh tử, không biết bao giờ mới đến được Bồ Tát địa (Bodhisattvabhumi).

12) Như vậy, ta phải thi hành những ǵ đă hứa, nếu không ta sẽ bị đọa, càng ngày càng sâu.

13) Vô lượng chư Phật đă qua lại làm lợi ích, cứu độ chúng sinh. Nhưng lỗi tại ta đă tạo nghiệp chướng quá sâu dày nên không cảm nhận được sự cứu độ của các ngài.

14) Nếu ngày hôm nay, ta cũng lại tiếp tục làm những việc (xấu) như trước, chắc chắn sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt, bịnh tật, đánh đập, chém giết.

15) Biết đến bao giờ ta mới có lại được những duyên lành hy hữu như: mang thân người, gặp được Phật, có ḷng tin, đầy đủ các căn để tu hành?

16) Hiện thời, ta khỏe mạnh, ăn uống đầy đủ, không bị khổ nạn. Nhưng tất cả chỉ là ảo ảnh phù du: chính cái thân này cũng chỉ là vật vay mượn.

17) Hành động như ta hôm nay, chắc chắn không thể nào tái sinh làm người được. Mà nếu không được thân người th́ làm sao có thể tạo hạnh lành được?

18) Ngày hôm nay đầy đủ duyên lành mà không biết tạo công đức th́ hỏi làm sao ta có thể tạo công đức khi bị đau khổ hành hạ trong ba đường ác?

19) Nếu không làm lành mà chỉ tạo ác th́ trong trăm triệu kiếp ta sẽ không bao giờ nghe được một danh từ tốt như "thân người" khó được.

20) Đó là lư do v́ sao đấng Thiện Thệ đă tuyên bố: "Được thân người khó hơn việc con rùa mù gặp được bọng cây trôi giạt trên biển cả".

21) Phạm tội dù chỉ trong chốc lát cũng đủ đọa địa ngục A Tỳ (Avici) một tiểu kiếp. Thử hỏi khi tội lỗi đă được tạo từ vô thỉ th́ làm sao có thể nói đến chuyện tái sinh trong đường lành?

22) Nếu sau khi trả hết tội ở địa ngục mà được giải thoát th́ cũng c̣n may! Nhưng trong lúc đền tội, con người lại tạo thêm nghiệp ác.

23) Không có ǵ điên cuồng ngu xuẩn bằng, sau khi được thân người, ta lại không biết thừa cơ tạo công đức lành.

24) Hiểu được vậy mà vẫn để cho lười biếng ngự trị th́ ta sẽ không kịp ăn năn khi tử thần đến gơ cửa.

25) Và lúc đó thân ta sẽ bị thiêu đốt nhiều kiếp bởi ngọn lửa ác độc của địa ngục, tâm ta sẽ bị ngọn lửa ân hận dày ṿ.

26) Không biết nhờ phép lạ nào đă khiến ta may mắn được thân người khó được này. Thế mà vừa ư thức được điều đó, ta lại phải trở xuống địa ngục!

27) Ta chẳng khác ǵ kẻ mất hồn, bị thôi miên bởi tà thuật! Không biết cái ǵ đă ngự trị trong ta, đă làm ta mất trí?

28) Trời ơi! Những kẻ thù của ta: tham dục, sân hận và phiền năo, chúng không có tay, không có chân, không can đảm cũng không có trí huệ. Thế sao ta lại có thể trở thành nô lệ cho chúng?

29) Ngự trị trong tâm ta, chúng tự do hoành hành, phá phách mà ta chẳng hề tức giận. Ôi! Quả là một sự chịu đựng, nhẫn nhục vô lư!

30) Tất cả Trời, Người, A tu La hợp lại cũng không thể lôi kéo ta vào địa ngục được.

31) Nhưng phiền năo, ái dục là những kẻ thù không tưởng, lại có thể vứt ta vào địa ngục A Tỳ trong nháy mắt. Trong đó, to lớn như núi Tu Di cũng bị cháy tiêu không c̣n một hạt tro.

32) Trong số các kẻ thù, không có ai sống dai hơn kẻ thù vô minh, ái dục, vô thỉ vô chung.

33) Một người chủ khi được phục vụ trung thành thường biết bảo vệ tôi tớ của ḿnh. Nhưng ái dục th́ ngược lại, luôn luôn đem lại đau khổ cho những ai đă phục vụ nó.

34) Sự ác độc của nó trường kỳ dai dẳng. Nó chính là nguồn gốc của biển khổ và oái ăm thay, nó lại ở ngay trong tâm ta. Như thế làm sao ta có thể an nhiên vui chơi theo lạc thú của đời?

35) Nó là kẻ cai tù, là kẻ hành quyết tội nhân trong địa ngục. Làm sao mơ ước được hạnh phúc khi nó c̣n ngự trị trong tâm ta?

36-37) Chỉ khi nào nó bị tiêu diệt hoàn toàn dưới mắt ta th́ lúc đó ta mới cởi bỏ chiến bào. Những kẻ kiêu ngạo, khi bị mắng chửi, họ liền nổi giận t́m cách trả thù cho đến khi hạ nhục được đối thủ th́ họ mới yên tâm đi ngủ. Trên băi chiến trường, họ có thể đánh đập tàn nhẫn kẻ thù dù kẻ đó đă bị thương gần chết. Họ thản nhiên bắn tên, liệng dao, xem thường sự đau đớn của kẻ thù và họ chỉ quay lưng đi khi kẻ thù đă chết.

38) Như thế th́ ta đây, người đă đứng lên quyết thắng kẻ thù ái dục, nguyên nhân của khổ đau, tại sao lại có thể thất vọng, thối lui được?

39) Đối với những vết thương vô ích gây ra bởi kẻ thù mà người chiến sĩ lại xem đó như một vinh quang th́ chẳng lẽ ta đây, quyết làm đại sự, lại lẩn tránh khổ cực sao?

40) Chỉ v́ sinh nhai thôi mà những kẻ chài lưới những nông phu, những thợ săn c̣n chịu đựng được nóng lạnh, đói khát. Chẳng lẽ ta, v́ muốn giải thoát chúng sinh, lại không làm được hơn thế sao?

41) Ta đă phát nguyện cứu độ chúng sinh trong mười phương ra khỏi ái dục, phiền năo trong khi chính ta chưa tự độ giải thoát!

42) Không biết tự lượng khả năng của ḿnh, ta đă ngạo nghễ phát nguyện một cách vô ư thức. Vậy từ nay ta phải không ngừng chiến đău, tiêu diệt phiền năo của chính ḿnh trước.

43) Sự chiến đău này sẽ là mục đích duy nhất của đời ta. Như một chiến sĩ căm thù, chỉ c̣n một say mê, đó là: say mê tiêu diệt tất cả những say mê khác (tức ái dục).

44) Dù có bị chặt đầu, moi ruột, móc gan! Ta cũng không bao giờ chịu khuất phục trước kẻ thù muôn đời của ta.

45) B́nh thường khi một kẻ địch thua trận, y có thể rút lui ẩn trú một nơi để phục hồi sức lực và sau đó sẽ trở lại. Nhung kẻ thù ái dục th́ không thể ẩn náu một nơi nào khác cả!

46) Một khi bị tống khứ ra khỏi tâm ta, thử hỏi nó sẽ ẩn trú nơi đâu để có thể phục thù ta được? Sức lực duy nhất của nó, không ǵ khác hơn, chính là sự yếu hèn và ngu si của ta. Ái dục chính là một bọn tiểu nhân hèn hạ, chạy trốn khi gặp trí huệ.

47) Ái dục không nằm ngoài cảnh vật, không nằm trong các căn, không nằm ở giữa (cảnh và căn), cũng không nơi nào khác. Vậy nó nằm ở đâu để có thể làm điên đảo tất cả thế gian? Nó chỉ là một ảo ảnh mà thôi. Hỡi tâm ơi! Hăy trở về với Trí Huệ, xa ĺa mọi sợ hăi. Tại sao ngươi lại muốn bị đau khổ nơi địa ngục một cách vô lư?

48) Nhất quyết! Từ nay ta sẽ tinh tấn thực hành giới hạnh của Bồ Tát. Vẫn biết thuốc hay có thể chữa lành bịnh, nhưng làm sao hồi phục được sức khỏe nếu không làm đúng theo lời bác sĩ?

Chú thích:

[1] Ư nói các bậc A La Hán ban đầu phát tâm Đại Thừa nhưng nửa đường thối chí.

 

Chương 5

Giữ ǵn tâm ư

1) Người nào muốn giữ ǵn giới hạnh th́ trước hết phải biết giữ ǵn cẩn thận tâm ư; nếu không giữ ǵn được tâm ư th́ sẽ không giữ ǵn được giới hạnh.

2) Những con voi rừng, khi bị động cỡn, dày xéo phá hoại mọi vật nhưng vẫn chưa bằng con "voi tâm" phóng túng nơi địa ngục.

3) Nhưng nếu cột được con "voi tâm" này bằng sợi dây chánh niệm th́ mọi nguy hiểm sẽ tan biến, mọi hanh thông sẽ hiển bày.

4-5) Tất cả sư tử, cọp, voi, gấu, rắn, độc thú, những tên cai tù địa ngục, La Sát, Dạ Xa sẽ bị giam trói nếu chính tâm bị giam trói; hết thảy sẽ được điều phục nếu tâm được điều phục.

6) Bao nhiêu tai nạn, đau khổ, thảy đều phát xuất từ tâm! Bậc Đạo Sư đă dạy như thế.

7) Ai đă tạo ra những giường sắt nung đỏ, những rừng đao kiếm nơi địa ngục? Và những người đàn bà răng bằng sắt này [1] ở đâu ra?

8) Tất cả đều do cái tâm tội lỗi tạo ra. Đức Phật đă nói: trên đời này chỉ có tâm tội lỗi là nguy hiểm nhất.

9) Nghe nói Bố Thí Ba La Mật sẽ đem lại giàu sang, thế sao ngày nay loài người vẫn c̣n nghèo khổ? Chẳng lẽ chư Phật quá khứ đă không thành tựu sự bố thí sao?

10) Bố Thí Ba La Mật là tâm niệm xả bỏ, bố thí cho tất cả chúng sinh những vật sở hữu, và cho (hồi hướng) luôn cả công đức bố thí kia. Như vậy Bố Thí Ba La Mật cũng chính là tâm (niệm) không ǵ khác.

11) Làm thế nào để tránh khỏi giết hại chúng sinh, đưa họ đến nơi an ổn? Tŕ giới Ba La Mật chính là tâm niệm từ bỏ lỗi lầm.

12) Chúng sinh ngỗ nghịch, số lượng vô cùng vô tận làm thế nào hàng phục được tất cả? Nếu ta hàng phục được tâm sân hận th́ tức khắc sẽ hàng phục được tất cả.

13) T́m ở đâu được mảnh da lớn có thể bao phủ toàn quả địa cầu? Ngay nơi chiếc dép da này, toàn mặt đất sẽ được bao phủ.

14) Cũng vậy, tuy chưa làm chủ được ngoại cảnh nhưng ta làm chủ được tâm ḿnh: c̣n ǵ đáng làm hơn nữa!

15) Dù có phối hợp với khẩu và thân nghiệp đi nữa, cái tâm nặng trĩu (tà kiến) cũng không đạt được cảnh trời Phạm Thiên, trong khi chỉ cần riêng một ḿnh cái tâm thanh tịnh cũng đủ!

16) Dù tụng kinh, ép xác lâu ngày cũng đều vô ích nếu tâm tán loạn, chứa đầy tà kiến.

17) Những kẻ đi t́m hạnh phúc, chạy trốn khổ đau, sẽ tiếp tục lầm đường lạc lối nếu không hiểu được cái tâm kỳ bí năng chứa tất cả các pháp này.

18) Như vậy tâm phải được canh chừng, ǵn giữ cẩn thận. Nếu không biết giữ ǵn tâm ư th́ tu tập những pháp môn khác có nghĩa lư ǵ?

19) Như một kẻ bị thương, đứng giữa đám khùng cố gắng bảo vệ vết thương không cho bị đụng. Cũng vậy, giữa những người lưu manh, dối trá, ta phải giữ ǵn tâm ư ḿnh như bảo vệ vết thương vậy.

20) Thay v́ bảo vệ vết thương ngoài da để nó đừng làm đau, tốt hơn ta nên bảo vệ vết thương tâm để nó đừng bị đè nát dưới chân núi địa ngục.

21) Nếu giữ đúng giới hạnh trên, ta sẽ cứng rắn, điềm nhiên giữa những người tội lỗi và nữ sắc.

22) Ta có thể để mất tất cả tài sản, danh dự, mạng sống cùng các công đức, nhưng không bao giờ để mất tâm [2]. Không bao giờ!

23) Hỡi những ai muốn bảo vệ tâm ư. Tôi xin chắp tay khẩn cầu: "Hăy hết sức giữ ǵn chánh niệm và tỉnh thức".

24) Một người bịnh hoạn đau ốm sẽ không có sức để làm bất cứ một việc ǵ. Cũng vậy nếu tâm si mê, phóng túng th́ sẽ không làm được công đức ǵ cả.

25) Nếu vô ư (không tỉnh thức) th́ tất cả công lao, kết quả của sự học hỏi, suy nghĩ, thỉền quán sẽ tan mất như nước chứa trong một b́nh nứt.

26) Có nhiều người thông thái, trí thức, sùng tín nhưng v́ thiếu tỉnh thức nên đă lầm theo tà kiến.

27) Sự thất niệm cũng giống như tên ăn trộm, luôn ŕnh rập thừa lúc ta vô ư, nhảy vào đánh cắp tất cả công đức và khiến ta rơi vào khổ nạn.

28) Ái dục cũng giống như đoàn hải tặc, chuyên t́m cơ hội để đánh cướp. Nếu t́m được, chúng sẽ cướp giật hết căn lành khiến ta không c̣n hy vọng tái sinh nhàn cảnh.

29) Như vậy, ta sẽ không bao giờ để tâm thất niệm. Nếu thất niệm th́ phải nhớ đến cảnh khổ địa ngục mà mau mau đưa tâm trở về chánh niệm.

30) May mắn thay, những ai được ở gần các bậc thầy lành, nhờ biết kính nể và tuân theo lời chỉ dạy nên dễ dàng giữ ǵn chánh niệm.

31) "Chư Phật, Bồ Tát có thanh tịnh nhăn nh́n thấu mười phương không chướng ngại, tất cả đều hiển lộ trước mắt các ngài và ta đây cũng luôn ở trước mặt các ngài".

32) Nhớ nghĩ như vậy, ta sẽ sinh ḷng hổ thẹn, kính nể và luôn nhớ tưởng đến chư Phật trong từng sát na.

33) Tỉnh thức, một khi đến sẽ không bỏ đi nữa nếu được chánh niệm giữ ǵn ngoài cửa (tâm).

34) Cứ như thế, ta phải giữ ǵn tâm ư. Nếu cảm thấy như bị thúc giục bởi một ư niệm bất chánh, ta phải tức khắc đứng yên bất động như một cây khô.

35) Mắt không được ngó đây liếc kia một cách vô ích mà phải nh́n xuống như trong lúc tọa thiền.

36) Nh́n xuống lâu mỏi mắt, ta có thể ngẩng lên nh́n chân trời và lúc đó nếu có người đến gần, ta cũng nên chào hỏi lễ phép.

37) Trong khi đi đường, nếu nghi ngờ tai nạn, ta có thể nh́n bốn phía, nhưng phải đứng lại để nh́n.

38) Sau khi nh́n trước ngó sau, ta có thể tiến tới hoặc thối lui tùy trường hợp.

39) "Đây là tư thế của thân" hành giả sơ cơ cần phải niệm như vậy trước khi làm một động tác nào. Và trong khi hành động cũng phải kiểm soát tư thế của ḿnh.

40) Hành giả phải canh chừng cẩn mật tâm ư như canh chừng một con voi rừng không cho nó giựt đứt giây xẩy thoát khỏi cột trụ chánh pháp.

41) "Tâm ta ở đâu, đang làm ǵ?". Hành giả niệm như vậy và quán sát tâm ḿnh nếu muốn an trụ nơi thiền định.

42) Tuy vậy, gặp trường hợp bất ngờ như tai nạn hoặc trong lúc bố thí, nếu thất niệm th́ cũng có thể tha thứ được.

43) Nếu quyết định làm một việc lành nào th́ phải để hết tâm thi hành xong việc đó không được nghĩ đến chuyện khác.

44) Như vậy mọi việc sẽ được hoàn tất. Ngược lại th́ "xôi hỏng bỏng không" và thất niệm sẽ trở về lấn át.

45) Phải xa ĺa các cuộc nói chuyện tầm phào và những cảnh tượng kích thích.

46) Nhớ lời Phật dạy không nên làm điều vô ích, ta sẽ không gạch đường, bới đất, cắt cỏ.

47) Trước khi nói năng hay cử động, ta phải kiểm soát tâm ư đưa nó trở về chánh niệm.

48) Nếu thấy tâm đang ái nhiễm hay sân hận th́ ta ngưng mọi nói năng, cử động và đứng yên như một cây khô.

49-50) Khi nào thấy tâm ngă mạn, kiêu ngạo, háo thắng, khoe khoang, tà vạy, ác độc, muốn chỉ trích lừa đảo kẻ khác th́ ta hăy đứng yên bất động như một cây khô.

51) Khi tâm muốn tiền của, danh dự, vinh quang, khen ngợi th́ ta sẽ đứng yên bất động như một cây gỗ.

52) Khi tâm ích kỷ, không muốn làm lợi ích cho người mà chỉ muốn lợi cho ḿnh th́ khi sắp nói, ta sẽ đứng yên bất động như một cây khô.

53) Khi tâm bồn chồn, lo lắng, lười biếng, thích nói chuyện phù phiếm, thiên vị th́ ta sẽ đứng yên bất động như một cây khô.

54) Khi nhận thấy tâm ḿnh bị xao động, đang làm mồi cho ư niệm tà kiến th́ người dũng sĩ (Bồ Tát) phải giữ chặt giây cương, dùng phương pháp đối trị.

55-56) Cương quyết từ bi, khiêm nhường, lễ phép, thông cảm, b́nh tĩnh, luôn luôn làm lợi ích cho kẻ khác. Không bao giờ bực tức, nổi giận v́ những đ̣i hỏi vô lư của những kẻ vô tri mà ngược lại, khởi tâm thương xót v́ biết họ đang bị vô minh phiền năo sai sử.

57) Trong lúc làm lợi ích cho ḿnh và cho người, Bồ Tát luôn thuận theo Chánh pháp, giữ ǵn cẩn mật tâm ư, xa ḱa mọi ư niệm về "Ta".

58) Luôn ghi nhớ giờ phút hy hữu có được ngày hôm nay, sau bao kiếp đau khổ, ta sẽ giữ ǵn tâm ư vững chắc, bất động như núi Tu Di.

59) Khi bị đám diều hâu thèm thịt, cắn xé, mổ xẻ, sao cái thân (thây) chết kia không biết đau đớn, la hét?

60) Ôi, tâm ơi! Sao ngươi lại lo lắng, cho cái thây đó là ngươi? Là bản ngă (cái ta) của ngươi? Nếu nó không phải là ngươi th́ sự c̣n mất của nó có ăn nhằm ǵ?

61) Ôi, ngu xuẩn! Tại sao ngươi không lấy một con búp bê bằng gỗ sạch sẽ cho đó là cái Ta (bản ngă) của ngươi mà lại đi săn sóc một cái máy dơ bẩn cấu tạo bằng những thứ bất tịnh?

62-63) Trước hết bằng sự quán tưởng, hăy nhấc bỏ cái lớp vỏ "da" này ra; với trí phân biệt làm con dao, hăy cắt rời từng mảnh thịt ra khỏi xương; tiếp theo chặt từng khúc xương và nh́n vào tủy xem thực chất của nó là ǵ?

64) Sau khi t́m kiếm kỹ lưỡng, không thấy được thực chất nào. Tại sao ngươi vẫn tiếp tục bảo vệ, ái luyến cái thân?

65) Người ta không ăn được những thứ bất tịnh, không uống được máu mủ. Vậy thử hỏi ngươi làm ǵ với cái thân?

66-67) A! Phải ngươi ǵn giữ nó để sau này làm mồi nuôi chó sói và diều hâu chăng? Thay v́ dùng cái thân khốn nạn này vào việc tạo công đức, ngươi lại săn sóc ái luyến nó để cuối cùng tử thần cũng đến giựt của ngươi, vứt cho diều hâu ăn. Ôi, lúc đó ngươi sẽ làm ǵ?

68) Thông thường, một kẻ đầy tớ khi thôi việc rời khỏi nhà, người ta có cho y quần áo cùng tặng vật không? Cũng thế, cái thân này, sau khi được nuôi dưỡng, chăm sóc, cuối cùng nó sẽ ra đi, tại sao ngươi lại tốn công v́ nó?

69) Hăy trả vừa đủ lương cho nó thôi! Và tâm của ta ơi! Hăy lo cho chính ngươi, đừng tốn th́ giờ vô ích cho cái thân nữa.

70) Hăy xem cái thân như một chiếc thuyền qua lại. Hăy làm chủ và điều khiển nó theo ư ngươi để đưa chúng sinh đến bờ giải thoát.

71) Băy giờ làm chủ được cái ta, Bồ Tát trở nên người bạn lành của tất cả mọi người, luôn mỉm cười không c̣n nhăn mặt chau mày.

72) Không c̣n bồn chồn, xao động, đập phá bàn ghế, xô cửa ầm ĩ. Bồ Tát an trụ trong yên lặng và khiêm tốn.

73) Con hạc, con mèo và kẻ trộm luôn bước đi nhẹ nhàng yên lặng nên dễ bắt được mồi. Bồ Tát cũng nên tập như vậy.

74) Đối với các bậc hiền giả khéo dùng phương tiện hướng dẫn làm lợi ích cho chúng sinh, Bồ Tát luôn đảnh lễ kính trọng. Đối với mọi người, Bồ Tát luôn nhún nhường như một người đệ tử vậy.

75) Nghe ai thuyết giảng chánh pháp, Bồ Tát gật đầu xưng tán. Thấy ai làm việc lành, Bồ Tát liền khen ngợi và tùy hỷ.

 

76) Bồ Tát luôn khéo léo kể lại hạnh lành của những kẻ khác. Nếu nghe người khen ngợi công đức của ḿnh th́ Bồ Tát phải xem đó là lời khen ngợi hạnh lành (chứ không phải khen ngợi ḿnh).

77) Công đức chính là nguồn gốc của an vui hạnh phúc. Tuy vậy, chúng rất hy hữu, dù có nhiều tiền của cũng không thể mua được. Bởi thế nên ta sung sướng tùy hỷ công đức của kẻ khác.

78) Được vậy, trong đời này ta không mất mát ǵ cả mà đời sau lại được sung sướng hạnh phúc. Ngược lại, nếu ganh ghét, đố kỵ th́ đời này ta bị hận thù ray rứt và đời sau s? phải chịu nghèo hèn khổ sở.

79) Lời nói của Bồ Tát cần phải rành mạch, rơ ràng, thành thật, dịu dàng, dễ nghe, ẩn chứa từ bi, vắng lặng.

80) Khi gặp một người nào đó, Bồ Tát nh́n thẳng và nghĩ rằng: "Ta phải biết cám ơn kẻ này v́ nhờ họ mà ta sẽ được thành Phật".

81) Thành kính cúng dường chư Phật, vâng lời phụng sự các bậc Thầy, cứu khổ giúp đỡ chúng sinh: đó là những cơ hội cho Bồ Tát tích tụ công đức.

82) Với sự cương quyết, khéo léo, Bồ Tát hành động một ḿnh, không nhờ vả lệ thuộc vào ai.

83) Các hạnh Ba La Mật như bố thí, tŕ giới, v.v... được xem từ thấp lên cao, từ dễ đến khó. Nhưng Bồ Tát không được xem thường hạnh Bố thí (cho nó là thấp kém) hoặc bất cứ hạnh nào.

84) Sau khi hiểu rơ điều trên, Bồ Tát phải đem hết nghị lực làm việc không ngừng để lợi ích chúng sinh. Nhiều khi Bồ Tát cũng có thể phạm vào giới cấm nếu biết điều đó đem lại lợi ích cho chúng sinh.

85) Bồ Tát sẽ chia xẻ thức ăn của ḿnh cho kẻ đau khổ, cô thế và những tu sĩ khác. Bồ Tát xả bỏ hết, trừ ba y (cà sa).

86) Thân của Bồ Tát chỉ dùng để tu tập chánh pháp nên Bồ Tát không hành hạ, lạm dụng nó vào những việc tầm thường thế gian. Như thế, Bồ Tát sẽ hoàn tất nhanh chóng sự mong ước của chúng sinh.

87) Bồ Tát không được hy sinh thân mạng của ḿnh cho những người lợi dụng, không có ḷng từ bi. Bồ Tát chỉ nên hy sinh nó v́ lư do chánh đáng (tức giải thoát chúng sinh).

88) Bồ Tát không thuyết pháp cho kẻ bất kính, hoặc kẻ đội mũ, che đầu, cầm dù, cầm gậy, cầm dao.

89) Giáo pháp cao thượng, thâm sâu, không được giảng dạy cho những kẻ thô tục hoặc cho người nữ nếu không có người nam cùng nghe. Bồ Tát kính trọng bằng nhau giáo lư Đại Thừa và Tiểu Thừa.

90) Nếu thấy người nào có đủ nhân duyên lănh thọ giáo pháp Đại Thừa th́ Bồ Tát không nên giảng dạy giáo pháp Tiểu Thừa cho người đó. Bồ Tát cũng không được thu hút người khác bằng cách giảng dạy sai lạc Kinh giáo (Sutra) và Mật giáo (Mantra).

91) Bồ Tát không vứt tăm xỉa răng hay khạc nhổ bừa băi. Tiểu tiện trên ḍng nước sạch, trên đất cấy là điều xấu hổ đáng trách.

92) Bồ Tát không ăn đầy miệng, há miệng to, khua húp ra tiếng; không ngồi duỗi chân, đong đưa, cũng không được xoa tay xào xạc.

93) Bồ Tát không du lịch một ḿnh hoặc ngủ lại đêm với người nữ (đă có chồng). Bồ Tát cần học hỏi để giữ ǵn, không làm những việc có thể gây tai tiếng.

94) Bồ Tát không ra dấu (hay ra lệnh) bằng một ngón tay, mà bằng cả một bàn tay phải, một cách lịch sự, dù để chỉ đường cũng vậy.

95) Khi cần gọi ai, Bồ Tát không dơ tay xua vẫy, trừ trường hợp gấp rút, mà Bồ Tát chỉ búng tay (đàn chỉ) ra tiếng động. Nếu không Bồ Tát sẽ mất tự chủ (oai nghi).

96) Khi ngủ, Bồ Tát sẽ nằm theo tư thế của Đức Phật khi nhập Niết Bàn. Luôn chánh niệm, tỉnh thức, sẵn sàng ngồi dậy nhanh chóng (không chờ ai bắt buộc).

97) Hạnh của Bồ Tát rất nhiều, không thể tính đếm. Nhưng có một hạnh tuyệt đối cần giữ ǵn đó là luyện tập và thanh lọc tâm ư.

98) Ba lần buổi sáng, ba lần buổi tối, Bồ Tát thực hành (tŕ tụng) ba điều căn bản (Giới, Định. Huệ). Nương tựa chư Phật và Bồ Đề Tâm, Bồ Tát sẽ tẩy sạch mọi tội lỗi cho đến vết cuối cùng.

99) Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù thuận, dù nghịch, Bồ Tát cũng đều nhớ thực hành những giới hạnh trên một cách tương xứng.

100) V́ lợi ích (giải thoát) chúng sinh nên không có hạnh nào mà Bồ Tát không làm. Và như thế, không có hạnh nào mà không đem lại công đức.

101) Bồ Tát làm những hạnh trên chỉ v́ lợi ích trực tiếp hay gián tiếp cho chúng sinh; và cũng chỉ v́ lợi ích chúng sinh mà Bồ Tát hồi hướng tất cả công hạnh cầu quả Bồ Đề (Phật).

102) Dù phải xả bỏ thân này đi nữa, Bồ Tát cũng không bao giờ xa ĺa thiện tri thức thực hành Bồ Tát Hạnh, thông hiểu giáo nghĩa Đại Thừa.

103) Bồ Tát phải thành kính tin tưởng bậc thầy dẫn đạo của ḿnh, như phẩm Srisambhavavimoksa đă dạy. Những giới hạnh được tŕnh bày nơi đây và những lời dạy của Phật cần được t́m học trong Kinh tạng.

104) Những giới luật cùng sự hành tŕ đều được giảng nói trong Kinh, do đó Bồ Tát cần phải đọc (tụng) Kinh, đặc biệt là Kinh Akacagarbhasutra để biết các lỗi nào nên tránh.

105) Thêm nữa, Bồ Tát cần phải đọc Siksasamuccaya v́ trong đó kể chi tiết những hạnh của Bồ Tát.

106) Hoặc Bồ Tát nghiên cứu tập Sutrasamuccaya, tóm tắt các hạnh của Bồ Tát và tác phẩm trùng tên của ngài Long Thọ [3].

107) Qua những sách trên, Bồ Tát sẽ biết rơ những ǵ nên tránh và nên làm. Như thế, Bồ Tát mới có thể hoàn tất chu đáo giới hạnh của ḿnh.

108) Tóm lại, chánh niệm tỉnh thức có nghĩa là quán sát tỉ mỉ, thường xuyên những trạng thái của tâm ư và thân thể.

109) Sau cùng ta phải áp dụng, thực hành những điều trên, v́ chỉ đọc tụng và nói suông không thể đem lại lợi ích nào cả. Nếu một bịnh nhân chỉ biết đọc toa thuốc thôi th́ y có hết bịnh chăng?

Chú thích:

[1] Ở địa ngục, kẻ phạm tội tà dâm bị bắt buộc leo lên cây Kutacalmali, trên đó có những người đàn bà khổng lồ răng sắt nhọn bám níu cắn xé.

[2] Nghĩa là để tâm phóng túng khởi nghĩ những điều trái với Bồ Tát Hạnh.

[3] Xem phần chú thích ở tiểu sử Tôn Giả Santideva.

 

Chương 6

Nhẫn nhục

1) Tất cả hạnh lành tích tụ trong nhiều kiếp như bố thí, lễ Phật, v.v.. chỉ cần một giây phút sân hận thôi cũng đủ đốt cháy tiêu tất cả.

2) Không có tội nào tai hại hơn sân hận, cũng không có khổ hạnh nào dũng cảm hơn hạnh nhẫn nhục. Do đó, bằng mọi cách, ta (Bồ Tát) sẽ nuôi dưỡng, tăng trưởng tánh nhẫn nhục.

3) Ta sẽ không bao giờ an ổn hay nếm được mùi vị sung sướng thảnh thơi, không bao giờ được yên ngủ tự tại nếu ngày đó nọc độc sân hận c̣n nằm ở trong tâm .

4) Dù được dạy dỗ, bảo vệ, nhưng một khi chán ghét, bực tức, người đệ tử có thể mong muốn hủy diệt vị thầy của ḿnh.

5) Nếu ta giống như người đệ tử trên th́ anh em, bạn bè sẽ ghê tởm, xa lánh ta. Dù ta có rộng răi bố thí đi nữa, họ cũng không tin tưởng ta. Tóm lại, sự an vui không thể đến với người sân hận.

6) Kẻ nào, sau khi ư thức được sân hận là nguồn gốc của đau khổ, hăng hái diệt trừ nó, kẻ đó sẽ hưởng sung sướng trong đời này và đời sau.

7) Sự bất măn hay sợ hăi v́ bị lừa dối chính là nhiên liệu của sân hận. Nếu để nó bùng cháy chắc chắn ta sẽ bị hại.

8) Do đó, ta phải tiêu hủy chất nhiên liệu này trước khi nó sát hại ta.

9) Dù có bị vu khống thậm tệ đi nữa, sự an lạc trong tâm ta cũng không lay động. V́ ta biết rằng bất măn không đem lại an vui mà ngược lại nó sẽ làm tiêu tan công đức.

10) Cần ǵ phải buồn rầu bất măn, nếu ta có giải pháp? Và dù không có giải pháp th́ bất măn sẽ đem lại lợi ích ǵ?

11) Đau khổ, mạ nhục, chỉ trích, vu oan, tất cả điều đó ta không muốn nó xảy đến với ta và người thân, nhưng ta lại muốn nó xảy đến cho kẻ thù.

12) Sung sướng, dù được cực nhọc t́m kiếm, vẫn măi không đến. Đau khổ, dù không ai mời mọc, lại đến thường xuyên. Giải thoát không thể có nếu không đi qua đau khổ. Ôi, tâm (của ta ) ơi, hăy can đảm nhẫn nhục!

13) Ngoại đạo và chúng sinh ở Carnatic sẵn sàng tự thiêu, rọc xé thân ḿnh mà không hy vọng có ngày giải thoát. Trong khi ta đây, v́ mục đích giải thoát, há lại hèn nhát sao?

14) Không có ǵ khó làm cả, nếu biết luyện tập. Như thế, hăy bắt đầu làm quen với sự cực khổ tầm thường, sau này ta sẽ nhẫn chịu được những cực khổ dữ dội hơn.

15) Ruồi, muỗi, đói, khát, nhức, ngứa v.v... Tại sao lại xem thường, bảo chúng là vô ích?

16) Nếu không nhẫn chịu được nóng, lạnh, mưa, gió, nhọc, mệt, hành hung, đấm đá th́ làm sao có thể nhẫn chịu được những khổ cực khác?

17-18) Có những người lính khi bị đổ máu, họ lại càng can đảm; lại cũng có người chỉ nh́n thấy máu của kẻ khác cũng đủ té xỉu. Cái đó tùy thuộc ở tâm vững mạnh hay yếu đuối. Bồ Tát phải vượt lên làm chủ, chống lại đau khổ.

19) Đau khổ không thể lay động sự b́nh tĩnh của Bồ Tát. Bởi v́ không có sự chiến thắng nào mà không có đau khổ, nhất là chiến thắng ái dục.

20) Thắng được kẻ thù bằng cách chiến đấu hiên ngang th́ đáng được xem là chiến tướng anh hùng; c̣n kẻ chiến thắng bằng thủ đoạn chỉ là người "giết thây chết" mà thôi.

21) Đau khổ nhiều khi cũng đem lại lợi ích: nó dẹp trừ kiêu mạn, khai mở ḷng thương người (đau khổ), ghê sợ tội lỗi và tăng trưởng đức tin nơi chư Phật.

22) Ta không thể nào nổi sân với lục phủ, ngũ tạng, dù biết chúng là nguyên nhân của bịnh tật. Như thế sao ta lại nổi sân đối với người khác? V́ họ cũng (vô chủ) bị nhân duyên chi phối.

23) Dù không ai ưa thích nó, nhưng bịnh tật một khi hội đủ nhân duyên th́ tự phát sinh. Cũng vậy, v́ bị vô minh, tà kiến che lấp nên khi gặp ngoại cảnh nghịch ư th́ con người nổi sân lên.

24) Khi nổi sân, con người đâu có nghĩ trước rằng: "Bây giờ ta phải nổi sân!". Và cơn giận, tự nó cũng đâu có nghĩ rằng: "Bây giờ ta phải xuất hiện".

25) Như vậy, tất cả lỗi lầm cùng hành động xấu ác đều do nhân và duyên ḥa hợp sanh khởi. Không có cái ǵ có thể phát sinh tự nó được.

26) Khi "nhân" và "duyên" phối hợp với nhau, chúng không cố ư tạo ra một cái ǵ cả. Và "quả" cũng vậy, nó không bao giờ nghĩ là nó được tạo ra bởi cái ǵ cả.

27) Cái thường được gán gọi là bản chất đầu tiên hoặc cái được tưởng tượng dưới nhăn hiệu "Ta", không bao giờ tự phát sinh sau khi suy nghĩ: "Ta sinh".

28) V́ trước khi được sinh ra. Nó không có (hiện hữu) và như thế làm sao có thể "muốn" sinh ra được? Nếu nó thường có (vĩnh cửu), nó sẽ không bao giờ tách rời khỏi đối tượng của nó và như vậy việc giải thoát không thể có được.

29) Nếu cái Ta (Atman) thường hằng, vô biên như hư không th́ đương nhiên nó bất động chuyển. Tự tánh nó như vậy th́ dù có xúc chạm với bất cứ vật ǵ đi nữa, nó cũng không bị chuyển động.

30) Ngay khi xúc chạm sự vật mà nó vẫn như như không khác lúc trước khi xúc chạm, vậy nhân duyên nào lại có thể lay chuyển nó? Nếu bảo tự nó chuyển động th́ là cả một sự sai lầm! Một vật làm sao lại có thể có hai tự tánh cùng một lúc được? (vừa bất chuyển động vừa chuyển động) [1].

31) Như vậy tất cả sự vật bắt nguồn từ nhiều nhân, và những nhân này lại tùy thuộc vào nhiều nhân khác nữa. Không có ǵ độc lập tự hữu cả! Hiểu như thế, làm sao ta có thể nổi sân lên đối với những tên người máy (rô bô) vô chủ cử động như ảo ảnh, huyễn thuật?

32) Nhưng người ta sẽ hỏi rằng: "Nếu các pháp không có thật (như ảo như huyễn) vậy "Ai" sẽ dằn cơn giận? Và nếu như không có "Ai" th́ cần ǵ phải dằn cơn giận?" -Cần chứ! Bởi v́ tuy không có "Ai" cả nhưng tiến tŕnh nhân quả vẫn tiếp diễn. Ngăn chặn cơn giận th́ sẽ hóa giải được hậu quả đau khổ.

33) Khi một người bạn hay một kẻ thù có những hành động bất hảo với ta, ta hăy nên nhủ ḷng: "Đây là nhân duyên đang hoạt động" và giữ tâm vắng lặng.

34) Nếu tất cả vật phát sinh theo ư muốn con người th́ chắc không có ai khổ cả: v́ đâu có ai lại muốn đau khổ bao giờ!

35) Bởi si mê, sân hận, ham muốn dục lạc, nữ sắc nên con người cấu xé nhau, đói khát khổ sở.

36) Lại cũng có người v́ đó mà tự hại ḿnh như: thắt cổ, gieo ḿnh xuống vực thẳm, uống thuốc độc, ăn uống quá độ, v.v.. Thảy đều là tội lỗi.

37) Chỉ v́ nô lệ cho ái dục, con người đâm ra hủy hoại thân thể (quư giá) của ḿnh. Như vậy làm sao bảo vệ được thân thể cho người khác?

38) Với những kẻ điên dại v́ ái dục, luôn năo hại ta, nếu ta không khởi được ḷng từ bi thương xót họ, th́ ít nhất ta cũng đừng nên sân hận (với họ).

39) Nếu tự tánh của những kẻ si mê trên là ác độc, chuyên làm khổ người khác th́ nổi sân với họ chẳng khác chi nổi sân với ngọn lửa. Đó là một điều vô lư.

40) Ngược lại, nếu tự tánh của họ hiền lành, ngay thẳng và sự ác độc của họ chỉ là tạm thời chốc lát th́ nổi sân với họ cũng vô lư như nổi sân với làn khói trong hư không.

41) Khi bị đánh đập, không ai giận cây gậy cả, mà giận chính người xử dụng cây gậy. Cũng vậy, đối với người sân hận ta, ta không nên giận họ mà hăy nên giận cái tánh sân hận đă thúc đẩy họ.

42) Xưa kia ta năo hại người nên nay người năo hại ta. Đó là quả báo đương nhiên.

43) Sự đau khổ của ta có hai nguyên nhân: lưỡi kiếm chém ta và thân ta bị chém. Người kia đă lựa cây kiếm c̣n ta th́ khoác cái thân này. Như vậy c̣n trách ai?

44) Bởi vô minh che lấp, ta đă bám víu vào thân này, không biết thực tướng của nó chính là một vết thương nặng, chỉ cần đụng nhẹ cũng gây đau đớn. Như vậy, thử hỏi khi nó đau th́ giận ai (nếu không phải là giận chính ta)?

45) Ta không thích khổ đau nhưng lại thích (tạo) nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Ôi! Không ai điên rồ hơn ta! Chính v́ (tội lội của) ta mà đau khổ phát sinh, tại sao lại đi giận kẻ khác?

46) Chính những hành động của ta đă tạo ra cảnh địa ngục với rừng đao lá kiếm và cũng chính hành động của ta tạo cho ta khổ đau hiện thời. Như vậy ta c̣n giận ai?

47) Chính những hành động của ta đă khiêu khích kẻ khác (để họ tức giận) và khiến họ đọa địa ngục. Thủ phạm há chẳng phải là ta ư?

48) Nhờ họ mà ta thành tựu được hạnh nhẫn nhục, tẩy trừ nhiều tội lỗi. Nhưng ngược lại, v́ ta mà họ phải đọa địa ngục lâu dài.

49) Họ là những ân nhân của ta, trong khi ta lại hành quyết họ. Ôi! Cái tâm (mất dạy của ta) ơi, sao ngươi không biết hổ thẹn mà lại đ̣i giận tức?

50) Nếu biết hành hạnh nhẫn nhục th́ ta sẽ tự cứu được ḿnh không đọa địa ngục. Nhưng những kẻ khác th́ sao?

51) Dù ta có trả thù họ đi nữa, không phải v́ thế mà họ được cứu rỗi. Ngược lại, sự nghiệp Bồ Tát của ta sẽ đổ gẫy và những kẻ đáng thương kia sẽ bị đọa đày.

52) Tâm của ta vô tướng mạo, không phải bằng vật chất nên không ai có thể đánh đập được nó. Nếu nó bị đau đớn, chẳng qua chỉ v́ nó bám víu vào cái thân mà thôi.

53) Những lời mắng chửi, nói xấu, vu oan, v.v.. không ăn nhằm hay tổn thương ǵ đến thân, thế nhưng tại sao ngươi lại nổi giận hả tâm?

54) Nếu có nhiều người thù ghét ta, sự việc đó đâu có cắn xé được ta trong đời này hay đời sau, tại sao ta lại sợ hăi?

55) V́ sợ mất lợi dưỡng chăng? Dù muốn dù không, lợi dưỡng cũng tan biến sau đời này, trong khi đó nghiệp xấu của ta vẫn tiếp tục măi đời sau.

56) Thà chết ngay ngày hôm nay c̣n tốt hơn là sống lâu trong tà kiến. Bởi v́, dù có sống lâu đi nữa cũng không ai thoát khỏi đau đớn của cái chết.

57-58) Một người, trong chiêm bao thấy ḿnh sống sung sướng 100 năm; người khác lại mơ thấy chỉ sung sướng trong một giờ. Cuối cùng cả hai đều thức dậy và khi đó hạnh phúc kia cũng không c̣n. Cũng vậy, dù cuộc đời có dài hay ngắn, khi cái chết đến th́ cũng chấm dứt như nhau.

59) Dù có sống sung sướng, giàu sang, hưởng thọ khoái lạc, cuối cùng ta cũng phải ra đi với hai bàn tay trắng, giống như người bị kẻ cướp bóc lột.

60) Có người bảo: "Nhờ giàu sang ta mới có thể sống lâu để tích tụ công đức, tiêu trừ tội lỗi". Đúng vậy, nhưng nếu v́ lợi dưỡng mà nổi sân th́ đó lại là tích tụ tội lỗi, tiêu ṃn công đức.

61) Nếu không có một mục đích lư tưởng cao thượng trong đời th́ sống lâu có ích lợi ǵ? Phải chăng để tạo nghiệp ác?

62) Chắc chắn ta ghét kẻ nói xấu ta, v́ như thế họ sẽ làm người khác không tin tưởng ta nữa. Thế sao khi họ nói xấu kẻ khác th́ ta lại thản nhiên?

63) Ta thản nhiên được khi kẻ khác bị nói xấu, thế sao ta lại khó chịu trước những lời thật (trái tai) vạch rơ lỗi lầm của ta?

64) Đối với những người bất kính, đập phá tượng, tháp, kinh sách, ta cũng không nên nổi giận. Bởi v́ ngay cả đức Phật và chư thánh tăng cũng đâu có bị (tổn thương) ǵ!

65) Nếu kẻ nào xử tệ với thầy ta, cha mẹ ta và những người thân ta, ta hăy kềm tâm hăm giận, quán chiếu đó chỉ là kết quả của nhiều nhân duyên.

66) Sự đau khổ của chúng sinh chính là hậu quả của những nguyên nhân cố ư hay vô t́nh và nó chỉ phát hiện với một chúng hữu t́nh. Vậy hăy ráng nhẫn chịu tâm ơi!

67) Một kẻ th́ tạo ác bởi vô minh, một kẻ th́ nổi sân v́ si mê. Vậy ai đúng ai sai?

68) Xưa kia ta đă tạo hành động ǵ để ngày nay khiến người khác làm ta đau khổ? Tất cả đều là kết quả nghiệp quá khứ, làm sao trách cứ được ai?

69) Hiểu như vậy, ta sẽ cố gắng tạo nghiệp lành, cầu cho tất cả chúng sinh có được ư niệm thương yêu lẫn nhau.

70) Khi có một căn nhà bị cháy, người ta sẽ chạy sang nhà bên cạnh, lôi vứt tất cả rơm cỏ khô và những đồ dễ bắt lửa.

71) Cũng vậy, tất cả ư niệm nào có thể kích thích ngọn lửa sân hận đều phải được loại trừ tức khắc, nếu không chẳng mấy chốc cái kho công đức của ta sẽ bị cháy rụi.

72) Làm sao một tên tử tội lại có thể than văn khi bị chặt tay rồi được thả, thay v́ phải bị chém đầu? Làm sao ta lại không nhẫn chịu được đau khổ tạm thời nếu biết nhờ đó ta sẽ tránh khỏi cái khổ địa ngục?

73) Nếu ngày hôm nay không nhẫn chịu được một chút đau khổ của thế gian th́ sao ta không biết ngăn chặn sân hận, v́ nó là nguyên nhân dẫn đến đau khổ địa ngục?

74) Chỉ v́ giận tức, sân hận mà ta đă bị thiêu đốt ngàn lần dưới địa ngục một cách ngu xuẩn không lợi ích ǵ cho ta và cho người.

75) Trong khi đó, nếu so sánh th́ cái khổ hiện đời quả thật ít ỏi và hơn nữa nó có thể đem lại lợi ích. Như vậy ta phải hoan hỷ nhẫn chịu cái khổ nhỏ để giải trừ cái khổ lớn cho tất cả chúng sinh.

76) Có những người chuyên môn khen ngợi tán thán công đức của kẻ khác. Tâm (của ta) ơi, tại sao ngươi không biết hoan hỷ tham gia?

77) Đó là một niềm vui tuyệt hảo, không thể chê trách, thường được các bậc thánh nhân ca ngợi. Và đó cũng là một phương tiện tối thắng để thâu phục kẻ khác.

78) Người ta thường sung sướng khi được khen ngợi. Nhưng nếu ngươi không chấp nhận điều đó (v́ ganh tỵ) th́ ngươi sẽ gặt hái hậu quả đời này và đời sau.

79) Nếu có kẻ nào xưng tán ngươi th́ ngươi muốn những người khác cùng tham dự. Nhưng nếu người ta xưng tán kẻ khác th́ ngươi lại không thích tham dự.

80) Ta đă phát tâm Bồ Đề, nguyện làm cho tất cả chúng sinh được an vui. Tại sao lại khó chịu khi thấy người khác t́m được an vui?

81) Ta muốn chúng sinh đều chứng Phật quả, được ba cơi xưng tán th́ sao ta lại buồn rầu khó chịu khi họ chỉ được vài người khen ngợi?

82) Đối với cha mẹ, người thân, ta chưa kịp chăm sóc, cung phụng mà họ vẫn an ổn. Đáng lư ta phải vui mừng chứ sao lại khó chịu?

83) Làm sao giải thoát được chúng sinh nếu không biết cầu cho họ được an vui toại ư? Làm sao tâm Bồ Đề có thể khởi lên được với người chuyên ganh tỵ khi thấy kẻ khác giàu sang?

84) Nếu một khất sĩ không nhận được của cúng dường th́ của đó vẫn nằm trong nhà thí chủ, đâu ăn nhằm ǵ đến ta. V́ dù khất sĩ đó có được cúng dường hay không, của đó vẫn không về phần ta kia mà!

85) Tại sao ngươi lại muốn khất sĩ kia xa ĺa phước báo, từ chối sự cúng dường của đàn na thí chủ? Ôi! Bao giờ ngươi mới ngưng những ư niệm xấu xa hả tâm?

86) Ngươi không biết hối hận việc ác đă làm mà lại ganh tỵ với những người đạo hạnh.

87-88) Nếu chẳng may kẻ thù ngươi gặp nạn, có ǵ đâu mà ngươi lại vui mừng? Đâu phải sự ước mong của ngươi đă làm thay đổi luật nhân quả. Dù hắn có bị đau khổ như ngươi muốn th́ việc đó đem lại ích lợi ǵ cho ngươi? Nếu ngươi nói: "Ta hài ḷng v́ hắn đau khổ!" th́ không có ǵ tai hại hơn cho ngươi sau này.

89) Sự ganh tỵ là miếng mồi câu nguy hiểm của ái dục. Chúng sẽ bán ngươi cho những tên quỷ sứ địa ngục nấu chín ngươi trong nồi đồng sôi.

90) Danh vọng, vinh quang, thảy không tạo thêm công đức, không kéo dài mạng sống, không tăng thêm sức mạnh cũng không chữa lành bịnh tật.

91) Nhưng chúng là những thứ mà "người thông minh ở đời" thường hay t́m kiếm. Cờ bạc, rượu chè, nữ sắc, đó là những thứ ưa thích của người đam mê nhục dục.

92) Danh vọng! Chỉ v́ hai chử này mà con người sẵn sàng hy sinh mạng sống, của cải. Hai chử "danh vọng" này có ăn được không? Một khi chết rồi, ai sẽ nếm được sung sướng (của danh vọng)?

93) Khi ṭa nhà bằng cát của nó bị sụp đổ, đứa trẻ nít sẽ hét lên đau đớn. Cũng thế, khi danh vọng, vinh quang của ta bị sụp đổ, tâm ta chẳng khác ǵ đứa trẻ nít kia.

94) Lời khen chỉ là tiếng vang, một âm thanh vô t́nh, làm sao lại nói là nó khen ta? Nhưng ta sẽ bảo là người đó hài ḷng v́ ta nên ta vui mừng.

95) Nếu thế, lời khen đó về ta hay về người khác th́ ta được ích lợi ǵ? Duy chỉ có người khen mới cảm nhận sự vui sướng thôi.

96) Nếu bảo là vui mừng khi thấy người kia sung sướng th́ trong bất cứ trường hợp nào ta cũng phải vui mừng chứ! Vậy sao lúc nguời kia vui mừng khen ngợi kẻ khác th́ ta lại không vui mừng?

97) A! th́ ra cuối cùng ta vui mừng chỉ v́ họ khen "Ta". Tư cách đó chẳng khác ǵ một đứa trẻ nít.

98) Lời khen vừa làm động tâm, vừa làm e ngại kẻ yếu đuối; nó khiến ta ganh tỵ với người đức hạnh và như thế công đức của ta sẽ tiêu ṃn.

99) Do đó những ai phá hoại danh dự của ta, kẻ đó đang giúp ta thoát khỏi cái đọa địa ngục.

100) Tiền của, danh dự là những dây xích trói buộc, ngăn cản ư chí giải thoát của ta. Như vậy, sao ta ghét bỏ những người đến tháo gỡ xiềng xích cho ta?

101) Nhờ ơn chư Phật xui khiến, những kẻ năo hại ta thật ra họ là những cánh cửa chắn đóng trước mặt để ta không rơi vào đường ác. Như vậy sao ta lại ghét bỏ họ?

102) "Nhưng nếu có người ngăn ch?n không cho ta làm việc công đức th́ sao?". Đối với người đó cũng vậy, ta không được nổi giận. V́ không có sức mạnh nào mănh liệt hơn sự nhẫn nhục, và kẻ đó đang cho ta cơ hội tốt (để tu tập).

103) Nếu không nhẫn nhục được th́ đó là lỗi tại ta. Chính ta đă ngăn chặn việc công đức của ḿnh.

104) Nếu không có cái này th́ cái kia cũng không có. Nếu cái này có th́ cái kia là nguyên nhân. Như vậy kẻ nào năo hại ta chính là nguyên nhân của nhẫn nhục, tại sao lại bảo họ là chướng ngại?

105) Kẻ ăn xin xuất hiện đúng lúc đâu phải là chướng ngại cho sự bố thí? Vị thầy truyền giới đâu phải là chướng ngại cho người muốn đi tu?

106) Kẻ ăn xin đầy dẫy khắp nơi nhưng ít có ai năo hại người. Nếu không hại người th́ lấy đâu bị người hại.

107) Một kẻ thù không gọi mà tự đến cũng giống như một kho tàng tự nhiên xuất hiện trong nhà của ta vậy. Họ là trợ duyên quư giá cho sự tu tập giác ngộ.

108) Nếu nhờ họ mà ta thực hành nhẫn nhục được th́ phải biết mang ơn họ. Có họ nên mới có sự nhẫn nhục của ta.

109) "Nhưng kẻ thù kia đâu có ư tập cho ta tăng trưởng hạnh nhẫn nhục, cần ǵ phải mang ơn y?". Nếu nói vậy th́ sao ta lại biết ơn giáo pháp, v́ giáo pháp cũng đâu có cố ư khiến ta tu hành?

110) "Nhưng hắn cố ư hại ta nên ta không thể biết ơn hắn được!". Như vậy làm sao tu tập nhẫn nhục được? Chẳng lẽ tập nhẫn nhục với những người tốt với ta ư? Với người bác sĩ hết ḷng chữa bịnh cho ta chăng?

111) Sự thù nghịch chính là nhân duyên của nhẫn nhục. Do đó. Ta phải biết ơn kẻ thù cũng như biết ơn Phật Pháp vậy.

112) Đức Phật đă nói: "Tất cả chúng sinh đều là ruộng phước chẳng khác ruộng phước của chư Phật". Bởi nhờ phục vụ chúng sinh mà rất nhiều người đă đến được bờ bên kia (giải thoát).

113) Chính nhờ chúng sinh và nhờ chư Phật mà ta thành tựu được Phật hạnh. Sao ta chỉ biết ơn chư Phật mà không biết ơn chúng sinh?

114) Vẫn biết chủ ư của chư Phật không giống của chúng sinh,nhưng kết quả cho ra giống nhau. Do đó ta phải xem chúng sinh quan trọng không kém chư Phật.

115) Chúng sinh vô lượng nên ta mới có thể tích tụ vô lượng công đức. Công đức của chư Phật vô lượng nên tin tưởng chư Phật cũng giúp ta tích tụ vô lượng công đức.

116) Tất cả chúng sinh chẳng khác chư Phật, đó là v́ nhờ họ mà ta có thể chứng được Phật quả. Nhưng thực tế th́ không một chúng sinh nào có thể so sánh được với Phật (biển công đức vô tận).

117) Tuy vậy trong mỗi chúng sinh đều có một phần nhỏ tinh ba của chư Phật (tức Phật tánh). Và như vậy, cả ba cơi hợp lại cũng không đủ để xưng tán.

118) Nhờ Phật tánh mà chúng sinh có thể thành tựu Phật quả. Ta xưng tán chúng sinh cũng có nghĩa là xưng tán Phật tánh vậy.

119) Thêm nữa, làm thế nào để đền ơn chư Phật, là những thiện tri thức, Đại ân nhân của chúng ta? Không có cách nào khác hơn là cứu giúp và làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.

120) Chỉ v́ chúng sinh mà các ngài đă xả bỏ thân mạng, tự nguyện xuống địa ngục. Do đó những ǵ ta làm cho chúng sinh cũng tức là làm cho các ngài vậy.

121) Trong khi các ngài hết ḷng v́ chúng sinh, xem như con một, th́ sao ta lại có thể đối xử kiêu ngạo với các con của ngài, thay v́ phải khiêm tốn như một kẻ hầu?

122) Chư Phật hoan hỷ khi thấy chúng sinh sung sướng, buồn rầu khi chúng sinh đau khổ, hài ḷng khi chúng sinh an vui. Như thế, năo hại chúng sinh cũng tức là năo hại chư Phật vậy.

123) Khi thân thể bị lửa nóng bao vây, làm sao nói đến sung sướng được? Cũng vậy, khi thấy chúng sinh đau khổ, những bậc Đại Từ Bi làm sao yên vui được?

124) Trong khi làm chúng sinh đau khổ, ta đă vô t́nh làm buồn đấng Đại Từ Bi. Ngày hôm nay ta thành tâm sám hối tội lỗi, cầu xin chư Phật tha thứ.

125) Kể từ giờ phút này, để làm vui ḷng chư Phật, ta sẽ phục vụ tất cả chúng sinh, dù họ có đánh đập hay chà đạp ta.

126) Các Đấng Đại Từ Bi, đối với chúng sinh xem như ḿnh không khác. Nh́n thấy được Phật tánh nơi chúng sinh cũng như nh́n thấy Phật không khác. Như vậy, sao ta lại có thể không kính trọng chúng sinh?

127) Phục vụ chúng sinh tức là làm vui ḷng chư Phật, thành tựu được mục đích tối thượng của ta (giải thoát) và tiêu trừ đau khổ cho thế gian. Đó là lời nguyện mà ta phải luôn nhớ thực hành.

128-130) Một người thân vua, dù có đối xử thậm tệ với dân chúng, nhưng v́ nh́n xa nên không ai dám chống cự. Bởi v́ tuy hắn một ḿnh nhưng sau lưng hắn có thế lực của vua. Cũng vậy, ta không nên chống cự hay trả thù một chúng sinh, bởi v́ sau lưng y có thế lực của quỷ sứ giữ ngục và của chư Phật nữa. Do đó ta phải khép phục chúng sinh cũng như một cận thần phục vụ cho ông vua khó tính vậy.

131-132) Sự trừng phạt của một ông vua nổi giận có đủ để so sánh với sự trừng phạt của địa ngục, kết quả của sự năo hại chúng sinh không? Sự ban ơn của một ông vua có thể so sánh được với Phật quả, thành tựu khi tùy thuận tất cả chúng sinh không?

133-134) Chẳng cần nói đến Phật quả chứng đạt trong tương lai, sau khi tùy thuận vô lượng chúng sinh, mà ngay trong cuộc luân hồi này, sự nhẫn nhục cũng đem lại nhiều lợi lạc: hạnh phúc, danh dự, trường thọ và vô số niềm vui của bậc Đế Vương.

Chú thích:

[1] Từ câu 27 đến 30, tôn giả bác 2 phái Số Luận (Samkhya) và Phệ Đà (Vedanta).

 

Chương 7

Tinh tấn

1) Sau khi có được nhẫn nhục, hành giả phải trau giồi sức tinh tấn, bởi v́ quả Bồ Đề thành hay không là tùy ở tinh tấn. Không có tinh tấn th́ không có công đức nào thành tựu, cũng như không có gió th́ không có sự di động nào cả.

2) Thế nào là tinh tấn? Đó là siêng năng làm các hạnh lành. Ngược lại của tinh tấn là ǵ? Là lười biếng, chán nản, thích tạo ác và không tin tưởng chính ḿnh.

3) Ưa thích khoái lạc, ngủ nghỉ, hay trông cậy kẻ khác, không ư thức được đau khổ của luân hồi, đều là nguyên nhân của giải đăi, lười biếng.

4) Vô minh, tà kiến đă đưa đẩy làm ta trôi lăn trong sinh tử. Thế mà ta vẫn chưa ư thức được là ḿnh đang sống trong miệng của tử thần!

5) Há ta không thấy những người đồng loại luân phiên nhau tắt thở sao ? Thế mà ta vẫn thờ ơ, lười biếng, chẳng khác con ḅ sắp sửa bị làm thịt mà không hay!

6) Tử thần luôn theo dơi ŕnh rập ta, ngăn chặn mọi lối thoát. Thế mà ta vẫn say sưa ăn uống, ngủ nghỉ, yêu đương!

7) "Đợi khi nào gần chết, tôi sẽ tích tụ công đức!" Nhưng đến lúc đó, dù có vùng vẫy khỏi lười biếng th́ cũng quá muộn rồi!

8) "Việc này chưa làm, việc kia mới làm, việc này mới xong phân nửa", rồi bất th́nh ĺnh cái chết đến, ta than rằng: "Thôi, chết tôi rồi !".

9) Khi cha mẹ, thân nhân hoàn toàn thất vọng, buồn bă vây quanh ta với những cặp mắt đỏ lệ, than khóc th́ cùng lúc đó ta cũng thấy luôn các sứ giả của tử thần.

10) Dằn vặt nhớ lại những tội đă làm, tai thoảng nghe thấy tiếng địa ngục, bản thân ô uế v́ nghiệp xấu, lúc đó ta sẽ làm ǵ ?

11) "Ôi ta chẳng khác ǵ cá trong rổ". Nghĩ vậy cũng đủ làm ta (kẻ tạo tội) sợ hăi ngay trong đời này, nói chi đến cảnh tra tấn địa ngục.

12) Mới đụng một chút nước nóng mà ta đă vội kêu đau, trong khi tương lai sẽ bị lửa địa ngục thiêu đốt mà ta lại có thể nhởn nhơ vui đùa được ư ?

13) Ta lười biếng mà lại muốn có phần thưởng; yếu ớt (sợ đau) mà lại thích tạo đau khổ; bị thần chết xích cổ mà lại tưởng ḿnh trường sinh. Than ôi ! Làm sao cứu văn?

14) Ngươi may gặp được chiếc thuyền lớn (tức thân người), hăy mau qua khỏi biển khổ ! Ôi, kẻ si, bây giờ không phải là lúc ngủ ! Chiếc thuyền này không dễ ǵ gặp được lần sau.

15) Đối với giáo pháp cao thượng, nguồn gốc của hạnh phúc vô biên, sao ngươi lại thờ ơ, chạy theo lạc thú phù du, quên rằng đó là nguyên nhân dẫn đến đau khổ ?

16) Biết tự chủ, can đảm, b́nh đẳng xem ḿnh và người như nhau, xả bỏ ích kỷ để làm lợi ích cho người, đó là những điều kiện của tinh tấn.

17-18) Không nên nản chí nghĩ rằng: "Làm sao ta có thể chứng quả Bồ Đề ?". Bởi v́ đấng Như Lai, không vọng ngữ đă nói rằng: "Nhờ sức tinh tấn, những chúng sinh năm xưa đă làm ruồi, muỗi, ong, trùng, đều đă thành tựu quả Bồ Đề (rất khó được)".

19) Trong khi ta đây, may mắn được sinh làm người, biết phân biệt phải trái, nếu làm đúng theo hạnh sống của chư Bồ Tát, chẳng lẽ không chứng được quả Bồ Đề hay sao ?

20) Thế mà ta lại run sợ khi nghĩ đến phải hy sinh bố thí tay, chân và các căn. Đó là ta đă lầm lẫn (thiếu suy xét), không biết cái ǵ quan trọng và cái ǵ vô nghĩa.

21-22) Cái quan trọng là ta đă bị chặt, cưa, đốt sống trong vô lượng kiếp mà vẫn không đắc quả Bồ Đề. Cái vô nghĩa là sự đau khổ nhỏ nhoi nhưng sẽ cho ra quả Bồ Đề, tương tự như lấy dao khoét vết thương độc, tuy đau nhưng sẽ lành bịnh.

23) Để chữa bịnh, các y sĩ nhiều khi cũng cần mổ xẻ đau đớn. Thà đau một chút nhưng khỏi bịnh c̣n hơn là để bịnh nặng sau này.

24) Tuy vậy người y sĩ giỏi sẽ không cần dùng đến mổ xẻ. Bằng những phương thuốc dịu ngọt, ông ta có thể chữa lành bịnh nặng.

25) Ban đầu, bậc Y Vương sẽ dạy đệ tử bố thí đồ ăn, thức uống, sau khi thuần thục, sẽ dạy đến bố thí da thịt, thân thể.

26) Khi tâm được huấn luyện đến mức xem thân thể chẳng khác cỏ cây th́ bố thí xương thịt có khó ǵ ?

27) Lúc đó bậc hiền giả thoát ly mọi đau khổ của thân và tâm. Bởi v́ tâm khổ là do tà kiến, thân khổ do nghiệp xấu.

28) Thân an vui nhờ tạo công đức, tâm thanh tịnh nhờ trí huệ. Tuy vẫn ở trong luân hồi, v́ thương chúng sinh, nhưng c̣n ǵ làm đau khổ được Bồ Tát ?

29) Tẩy trừ tội lỗi xưa, tích tụ công đức hải, nhờ sức Bồ Đề Tâm, Bồ Tát vượt hẳn hàng Thanh Văn.

30) Nhờ cưỡi xe Bồ Đề Tâm, không chút cản trở mệt nhọc, Bồ Tát đi từ hạnh phúc này đến hạnh phúc khác. Như vậy làm sao có thể nản chí được ?

31) Muốn thực hiện giải thoát chúng sinh, cần phải có bốn đội quân: ước nguyện, quyết chí, hoan hỷ và xả bỏ. Nhờ sợ hăi khổ đau nhớ tưởng đến an vui mà ước nguyện được tăng trưởng.

32) Muốn tăng trưởng sức tinh tấn, ta phải loại trừ những chướng ngại đối lập. Muốn có bốn đội quân trên, ta phải biết tự chủ và tu tập đúng đắn.

33) Ta phải tiêu trừ vô lượng tật xấu của ḿnh và người; trong công việc này, tiêu diệt một tật xấu nhỏ thôi cũng đ̣i hỏi nhiều kiếp hải.

34) Trong khi đó ta chưa có được một chút nguyên tử tinh tấn nào. Trước những đau khổ vô biên, không hiểu (may sao) tim ta chưa bị nổ tung ?

35) Thêm nữa, ta phải góp nhặt vô lượng hạnh lành cho ta và cho người; thành tựu được một hạnh lành cũng phải trải qua nhiều biển kiếp.

36) Thế mà ta vẫn chưa làm được một hạnh nhỏ nào. Thật là uổng phí cho kiếp được sinh làm người.

37) Ta không biết hoan hỷ xưng tán cúng dường chư Phật, không biết hoằng truyền chánh pháp, không biết cứu giúp kẻ nghèo khó.

38) Không biết bảo vệ kẻ gặp nạn, không đem lại an vui cho người cô thế. Ta chỉ làm mẹ ta đau đớn khi có thai, chẳng khác mang một lưỡi gươm trong bụng.

39) V́ không biết hướng về Phật pháp trong quá khứ nên ngày nay ta phải chịu thiệt tḥi. Hiểu như vậy, lẽ đâu lại thờ ơ với Phật pháp ?

40) Đức Phật đă nói, (ḷng thành) phát nguyện chính là cội nguồn của tất cả công đức. Phát nguyện được xuất phát từ sự quán chiếu thường xuyên về luật nhân quả.

41) Những đau khổ vật chất, tinh thần, những tai nạn hiểm nguy, chia ly với những ǵ thân yêu: đó là hậu quả của sự sống trong tà kiến.

42) Nhờ tạo nhiều hạnh lành, thúc đẩy bởi tâm nguyện chân chín, bất cứ lúc nào, ta cũng nhận được phần thưởng xứng đáng.

43) Nhưng nếu tạo ác th́ dù có ước muốn hạnh phúc đi nữa, bất cứ nơi nào bước chân đến, ta cũng phải chịu khổ đau v́ đó là hậu quả đương nhiên.

44) Hóa sanh trong những bông sen thơm ngát, thân thể óng ánh hào quang [1] được nuôi lớn dần bằng diệu âm chánh pháp, các hàng Bồ Tát nhờ tạo nhiều căn lành, sẽ xuất hiện với sắc thân thù thắng khi những cánh sen nở x̣e dưới hào quang của đức Phật.

45) Đau đớn la hét v́ bị những tên cai ngục của Yama (Diêm Vương) lóc xương, cổ họng uống nước đồng sôi, da thịt bị băm chém bằng hàng trăm mũi dao nung đỏ. Cứ như thế, kẻ tạo ác không ngừng bị đọa đày trong địa ngục cháy bỏng.

46) Như vậy, chúng ta hăy phát nguyện tạo hạnh lành. Sau khi lập nguyện vững chắc, chúng ta phải trau giồi tin tưởng quyết chí, ứng hợp với Kinh Vajradhvajasutra.

47) Trước khi làm một việc ǵ, cần phải suy xét xem việc đó có đáng làm và ta có đủ sức hay không? Nếu thấy không đủ khả năng th́ tốt hơn đừng làm, không nên làm mà bỏ dở nửa chừng.

48) Nếu bỏ nửa chừng, ta sẽ phải bắt đầu lại trong những đời sau và như thế vô t́nh gây thêm trở ngại, lầm lỗi. Làm việc này, bỏ dở việc kia, mất th́ giờ mà cuối cùng không xong việc nào cả.

49) Sự cương quyết tự tin cần được áp dụng vào ba điều: hành động, phiền năo, năng lực. "Ta sẽ làm một ḿnh !" đó là tự tin trong hành động.

50) V́ nô lệ cho phiền năo nên chúng sinh không thể tự t́m an vui giải thoát. Do đó, chính ta sẽ làm giúp họ, v́ ta không bất lực như chúng sinh.

51) Thấy kẻ khác làm việc nặng nhọc (mà ta cho là) thấp kém, sao ta lại nỡ khoanh tay ngồi yên ? Phải chăng ta cho ḿnh quan trọng hơn kẻ khác ? Nếu vậy, tốt hơn là ta nên dẹp cái tánh ngă mạn kia đi.

52) Khi tấn công được một con thằn lằn sắp chết, con quạ kia lầm tưởng nó là chim đại bàng. Cũng vậy, nếu tâm yếu hèn th́ một sự cám dỗ nhỏ cũng đủ làm ta té nhào.

53) Tại sao lại hèn nhát từ chối, không dám dấn thân trên con đường giải thoát ? Không có một trở ngại nào có thể ngăn cản được sức tinh tấn.

54) Với tâm quyết chí, tự tin ta sẽ vượt qua tất cả cạm bẫy (của cám dỗ). Bởi v́, nếu té nhào dù chỉ một lần thôi, th́ lời nguyện siêu việt ba cơi hóa ra chuyện nói đùa !

55) Ta sẽ chiến thắng tất cả, không bao giờ chịu thua bất cứ cái ǵ. Đây là niềm tự tin cần được tăng trưởng, bởi v́ ta là con trai của Phật, bậc chiến thắng, Sư Tử Vương.

56) Những kẻ kiêu ngạo thật ra rất yếu hèn v́ họ đă bị tánh tự kiêu (ngă mạn) chinh phục rồi. Những kẻ thực sự tự tin th́ không bao giờ chịu khuất phục kẻ thù. Kẻ thù ở đây chính là tánh kiêu mạn.

57-58) Tánh kiêu mạn sẽ đưa đến đọa đày, khổ sở. Dù được thân người đi nữa cũng không được an vui, phải làm nô lệ, ngu si, xấu xí, vừa ăn cơm thừa lại bị hất hủi khinh chê. Đó là số phận của những kẻ kiêu mạn ! Thế c̣n người hạ ḿnh khiêm tốn th́ sao ?

59) Đó là những anh hùng tự tin, chỉ hănh diện khi nào thắng được kẻ thù "kiêu mạn". Sau khi tiêu diệt được kiêu mạn, kẻ thù đáng sợ nhất, họ sẽ tùy ư tuyên bố với thế gian kết quả chiến thắng của họ [2].

60) Dù bị phiền năo, ái dục bao vây ngàn cách, ta cũng vẫn là kẻ vô địch, như sư tử đứng giữa bầy chồn.

61) Bồ Tát không bao giờ chịu để cho phiền năo chinh phục. Dù có gặp nguy hiểm cấp bách, Bồ Tát cũng quyết tự bảo vệ như người bảo vệ cặp mắt ḿnh trong cơn băo cát.

62) Khi quyết định làm việc ǵ, Bồ Tát làm hăng say hết ḿnh với tâm hoan hỷ, giống như người đánh bài nhất quyết ăn thua.

63) Giống như người thở phào nhẹ nhơm sau khi làm xong bản tường tŕnh, Bồ Tát luôn luôn thích thú làm hạnh lành, không bao giờ thấy đủ, v́ Bồ Tát t́m thấy an vui ngay trong công việc làm.

64) Thông thường người làm việc cốt để t́nm hạnh phúc, nhưng chưa chắc đă t́m được. Nhưng đối với người mà làm việc chính là hạnh phúc th́ thử hỏi sao họ không ham làm việc cho được ?

65) Lạc thú trần gian, nguy hiểm như mật trên lưỡi dao mà con người lại cho là không bao giờ được thỏa măn đầy đủ; trong khi đó đối với việc công đức (tương lai sẽ cho ra quả an vui) th́ lại cho là đă góp nhặt đầy đủ. Ôi, thật ngược đời !

66) Do đó, khi xong một hạnh lành, Bồ Tát tức khắc xả bỏ quay sang việc khác, cũng như con voi, dưới sức nóng của mặt trời đứng bóng, vội vàng nhảy vào hồ nước mát.

67) Khi kiệt sức, Bồ Tát tạm ngưng để có thể tiếp tục về sau. Và khi công việc được hoàn tất, Bồ Tát liền bỏ qua một bên, sẵn sàng đón nhận việc khác.

68) Bồ Tát luôn canh chừng cẩn mật sự tấn công của phiền năo để có thể phản công hữu hiệu, chẳng khác một hiệp sĩ đău kiếm với địch thủ tài ba.

69) Trong trận, nếu bị kiếm rơi, hiệp sĩ phải nhanh tay nhặt lại (v́ sợ nguy hiểm). Cũng thế, nếu Bồ Tát làm rơi kiếm chánh niệm th́ phải nhặt lại tức khắc (v́ nghĩ đến địa ngục).

70) Thuốc độc, một khi vào máu sẽ tràn khắp thân thể. Cũng thế, phiền năo một khi gặp tà kiến sẽ tràn khắp trong tâm.

71) Người hành Bồ Tát đạo phải hết sức chú ư cũng như kẻ cầm bát dầu đầy đi vào đám đông, theo sau là những tên đao phủ sẵn sàng chém đầu nếu người kia làm đổ dầu, dù chỉ một giọt.

72) Như người thấy rắn rơi vào ḿnh , vội vă đứng dậy hất bỏ, Bồ Tát cũng phải tức khắc phản ứng như thế đối với hôn trầm, uể oải.

73) Mỗi lần vấp ngă, Bồ Tát tự trách ḿnh và quán chiếu sâu xa để lần sau không tái phạm.

74) V́ lư do này nên Bồ Tát luôn t́m cầu, thân cận người hiền, thiện tri thức để học hỏi cách thức tu tập giữ ǵn tâm ư trong nhiều trường hợp khác nhau.

75) Để củng cố sức tinh tấn, trước khi làm bất cứ việc ǵ, Bồ Tát luôn nhớ đến phẩm "Không phóng dật" [3] và nhờ đó hành động được an vui, tự tin.

76) Cũng như bông giấy, bay đến bay đi thuận theo làn gió thổi, Bồ Tát làm tất cả hạnh thuận theo chánh niệm tinh tấn.

Chú thích:

[1] Đây là cảnh hóa sanh ở Cực Lạc (Bdé.ba.chen, Sukhavati) của Phật A Di Đà.

[2] Tức thành Phật và chuyển Pháp Luân.

[3] Chương II (Appamadavagga) của Kinh Pháp Cú

 

Chương 8

Thiền định

1) Sau khi tăng trưởng sức tinh tấn, Bồ Tát phải tu tập Thiền Định, tập trung tâm ư. Người mà tâm buông lung sẽ rơi vào tà kiến, phiền năo.

2) Sống cô đơn, ẩn dật sẽ giúp hành giả loại trừ mọi sự phóng dật. Do đó Bồ Tát cần từ bỏ việc đời, không bận tâm lo lắng.

3) Nếu không từ bỏ được việc đời, đó là tại ái nhiễm (người thân) và tham lam vật chất. Ta phải từ bỏ tất cả, noi theo gương của các bậc hiền giả.

4) Hiểu được chỉ có trí huệ (quán chiếu) phối hợp với thiền định (an tâm) mới tiêu trừ được phiền năo, nên trước hết ta sẽ tu tập thiền định, bắt đầu bằng sự từ bỏ thú vui trần gian.

5) Làm sao một người huyễn lại có thể ái luyến được một người huyễn khác? Dầu trải qua ngàn kiếp cũng không bao giờ gặp lại được người yêu.

6) Không gặp được th́ đau khổ, buồn bă, không thể tập trung tâm ư được. Vả nếu được gặp th́ lại bị dục vọng dày xéo, không bao giờ thỏa ḷng.

7) V́ không nh́n thấy thực tại nên con người quên sợ tội lỗi, v́ ái luyến người yêu mà cam để sầu khổ dày xéo.

8) Cứ thế trầm ḿnh, cuộc đời ngắn ngủi trôi qua một cách vô ích. Chỉ v́ một người bạn phù du mà đành bỏ diệu pháp vĩnh cửu.

9) Nếu bắt chước kẻ điên (người đời), chắc chắn sẽ xuống địa ngục. Mà nếu không làm giống họ th́ cần ǵ phải ở gần giao thiệp.

10) Phút trước là bạn, phút sau đă thành thù. Muốn làm vừa ḷng, họ lại giận tức. Làm sao chiều ư được những người tráo trở ?

11) Được khuyên làm lành, họ lại nổi giận và muốn kéo ta theo họ. Nếu ta không nghe, họ cũng nổi giận và như thế chắc chắn (họ) sẽ bị đọa.

12) Thèm muốn (chức vị của) người trên, ganh tỵ với kẻ ngang hàng, khinh khi người dưới. Được khen th́ kiêu ngạo, bị chỉ trích th́ nổi giận, bao giờ kẻ ngu mới tạo công đức?

13) Tâng bốc ḿnh, khinh chê kẻ khác, nói chuyện phù phiếm thế gian. Kẻ điên luôn luôn thích thâu nhặt điều vô ích của những kẻ điên khác.

14) Giao thiệp như vậy với người đời chỉ đem lại khổ năo. Tốt hơn ta sống một ḿnh ẩn dật, thân tự tại, tâm an vui.

15) Hăy xa lánh người đời ! Nếu có gặp th́ ta đối xử nhă nhặn, không phải để làm quen mà v́ ḷng b́nh đẳng.

16) Cũng như ong hút nhụy hoa, ta chỉ lănh nhận những ǵ lợi ích cho sự tu đạo, ngoài ra ta thản nhiên như người chưa hề quen biết.

17) Nếu ham thích tiền của, danh vọng, địa vị v.v... ta sẽ hoảng sợ khi tử thần đến.

18) Không biết đâu là chân hạnh phúc nên bất cứ vật ǵ mà tâm bám víu (để cầu khoái lạc) cũng đều trở thành khổ đau.

19) Do đó, bậc hiền giả không bao giờ ái nhiễm, v́ ái nhiễm sẽ đưa đến lo sợ. Ngay khi một ư niệm ái nhiễm khởi lên, tâm cũng phải cứng rắn ĺa bỏ.

20) Dù có giàu sang, nổi tiếng, nhiều tiền của, nhưng cuối cùng chúng cũng đâu có theo ta vào cơi chết.

21) Tại sao vui mừng khi được khen? Thiếu ǵ kẻ khác sẽ chê ta. Tại sao lại buồn khi bị chê? Chẳng lẽ không c̣n ai khen ta sao?

22) Chúng sinh mong ước đủ điều, ngay cả chư Phật cũng không chiều ư nổi huống chi một kẻ ngu dốt như ta. Tốt hơn nên ẩn dật xa ĺa cảnh đời đảo điên.

23) Khinh chê kẻ nghèo, kết tội kẻ giàu : với những người tráo trở như vậy, làm sao vui sướng ở gần?

24) Người đời (thực sự) không thương ai cả, chư Phật đă nói, họ chỉ thương v́ ích kỷ mà thôi.

25) Ôi ! Bao giờ ta mới được sống trong rừng, giữa loài cỏ cây, chim muông hiền ḥa, không bao giờ biết nói xấu ai?

26) Ta sẽ an trú trong một am vắng dưới gốc cây hoặc hang núi nhỏ. Ôi ! Khi nào ta mới xả bỏ tất cả ra đi không luyến tiếc?

27) Khi nào ta mới sống độc lập, tự tại trong cảnh thiên nhiên, ẩn dật?

28) Vỏn vẹn chỉ một b́nh bát và áo cà sa, khi nào ta mới sống vô úy, không cần lo nghĩ cho thân?

29) Khi nào ta mới đến nghĩa địa (quán chiếu) để hiểu rằng thân ta cũng như bao xác chết kia, chỉ là đồ bất tịnh thối rữa?

30) Hăy nh́n đi! Thân ta sẽ như thế đó! Ngay cả đám sói rừng cũng không dám đến gần v́ mùi thối.

31) B́nh thường thân người lúc sống, dường như một vật độc lập tự tánh, nhưng lúc đó xương thịt sẽ tan ră rời rạc. Thân của bạn bè ta cũng sẽ như vậy không khác!

32) Con người được sinh ra một ḿnh và sẽ chết đi một ḿnh ! Không ai có thể chia xẻ đau đớn cho ai. Thế th́ bạn bè nhiều để làm ǵ? Chỉ là chướng ngại cho sự tu hành.

33) Như người du khách dừng nghỉ nơi khách sạn, người đi du lịch luân hồi cũng tạm ghé qua một cuộc đời.

34) Từ đây cho đến lúc bốn tên phu đám ma tới khiêng cái thây này đi, giữa tiếng gào thét của người thân, ta phải mau rút vào rừng.

35) Không thương tiếc mà cũng không ghét bỏ ai, ta sống một ḿnh ẩn dật. Đối với đời xem như đă chết, khi ta chết thật sẽ không c̣n ai than khóc ta nữa.

36) Không ai ở gần bên quấy rầy than khóc, như thế tâm ta chánh niệm chỉ nhớ đến Phật và Pháp.

37) Sống ẩn dật thật là sung sướng, không sầu năo, tự tại, biết đủ, dễ trừ phóng dật, xao lăng. Ta sẽ sống như vậy suốt đời.

38) Thoát ly mọi lo nghĩ, ta chỉ c̣n một việc: tập trung tâm ư trong thiền định và quán chiếu thâm sâu [1].

39) Ái dục, t́nh yêu là nguyên nhân của đau khổ: tù tội, đâm chém, sát hại trong đời này, địa ngục cho đời sau.

40-42) V́ t́nh yêu, ái dục mà ngươi đă luồn cúi bao nhiêu ông mai, bà mai; ngươi bất kể tội lỗi, danh dự, nhiều khi tiêu gia bại sản, thiếu điều mất mạng. Cái mà xưa kia ngươi sung sướng ôm ấp đó, nó chỉ là đ?ng xương vô chủ, không có tự tánh. Ngày nay nó hiện nguyên h́nh, sao ngươi không tiếp tục ôm ấp nó đi?

43-45) Cái gương mặt e thẹn ưa cúi gầm xuống, hay được che bằng tấm lụa mỏng không cho ai xem thấy, th́ nay đàn diều hâu kia đang mở tung cho ngươi thấy đó. Hăy nh́n kỹ đi ! Ô ḱa ! Sao ngươi lại bỏ chạy? Chính cái gương mặt đó, xưa kia ngươi đă ích kỷ, bảo vệ cẩn thận không cho kẻ khác nh́n ngắm mà ! Bây giờ nó đang bị mổ ăn đó, sao ngươi không bảo vệ nữa đi? Ôi, kẻ ghen sắc!

46) Ngươi có thấy cái đống thịt kia đang bị cắn xé ngấu nghiến bởi diều hâu và thú rừng không? Tại sao ngươi lại có thể biếu tặng ṿng hoa, nữ trang, hương trầm cho cái gọi là "đồ ăn của thú vật"?

47) Khi thấy xác chết nằm im không cựa quậy th́ ngươi sợ hăi. Thế sao đối với những cái xác cử động (kích thích bởi thú tính) th́ ngươi lại không sợ?

48) Bộ xương kia khi được bao bọc bởi một lớp da th́ ngươi yêu thương nó; bây giờ nó được lột trần th́ ngươi lại hoảng sợ. Nếu bảo không cần dùng th́ sao xưa kia ngươi lại vuốt ve nó?

49) Nước miếng và phân uế cũng cùng từ đồ ăn mà ra. Thế sao ngươi lại ưa nước miếng, ghét phân uế [2].

50) Cái gối ngủ kia làm bằng bông lụa êm mát, sao ngươi không ưa thích. Chẳng lẽ ngươi không ư thức được mùi ô uế của thân t́nh nhân sao? Ôi, kẻ tham dâm, ngươi không c̣n biết đâu là nhơ là sạch sao?

51) Cái gối kia vừa êm vừa mát, lại không bài tiết ra đồ bất tịnh, sao ngươi không ôm ấp nó mà lại giận dữ vứt bỏ?

52) Nếu ngươi không ưa đồ bất tịnh tanh hôi th́ sao ngươi lại thích ôm ấp những thân thể, chúng chỉ là một thùng xương gắn liền với nhau bằng gân thịt, bao bọc bởi một lớp da.

53) Chính ngay thân thể ngươi cũng đă đầy đủ thứ bất tịnh, bấy nhiêu chưa đủ cho ngươi thưởng thức sao? Ôi kẻ ham thích đồ bẩn!

54) "Nhưng tôi thích da thịt của người đàn bà này! Tôi thích nh́n ngắm và sờ mó nó!". Tại sao ngươi lại có thể thèm khát da thịt, là một thứ vô tri? Nếu vậy khi nó nằm trơ, không c̣n thần thức, sao ngươi không ưa thích đi?

55) Nếu bảo cái mà ngươi ưa thích là tâm nằm ở trong cái thân này, th́ ngươi lại càng không thể thấy hay sờ mó nó. V́ cái mà ngươi sờ mó được, đó không phải là tâm. Vậy ngươi ôm ấp cái thân kia làm chi vô ích!

56) Ngươi có thể không hay biết về sự bất tịnh nơi thân thể kẻ khác, nhưng không ư thức được chính thân thể ngươi là một thùng rác nhơ bẩn th́ quả là một điều không tưởng!

57) Tại sao ngươi có thể xem thường, bỏ rơi một bông sen chớm nở dưới ánh mặt trời để đi ưa thích một thùng rác nhơ bẩn?

58) Ngươi ghê tởm không dám đụng vào đồ vật bị dính chút phân uế, thế sao ngươi lại vui thích sờ mó cái thân (t́nh nhân) là nơi xuất xứ ra phẩn uế?

59) Nếu không say mê đồ bất tịnh, tại sao ngươi lại thích ôm ấp một cái thân khác, xuất xứ từ nơi bất tịnh và chuyên chứa tinh huyết?

60) Ngươi không thích những con trùng xuất xứ từ đống rác, chắc tại ngưoi chê nó nhỏ, phải chăng ngươi thích một cái thân lớn hơn chuyên chứa và xuất xứ từ bất tịnh?

61) Không những không biết ghê tởm sự bất tịnh nơi thân ḿnh, ngươi lại thèm khát, t́m kiếm những túi, những thùng bất tịnh khác. Ôi, kẻ thực uế!

62) Ngay cả những đồ sạch sẽ, thơm ngon hấp dẫn như long năo, cơm canh, mỹ vị, một khi được khạc ra khỏi miệng, chúng cũng làm dơ cả mặt đất.

63) Tuy hiển nhiên, nhưng nếu ngươi không tin sự bất tịnh của thân th́ hăy vào nghĩa địa, nh́n những xác chết kia xem!

64) Khi được lột hết lớp da ra, cái thân kia chỉ là một vật ghê tởm. Hiểu thực tướng của nó như thế, sao ngươi vẫn c̣n say mê?

65) Nếu nó xức hương trầm và tỏa ra mùi thơm dễ chịu th́ đó là mùi hương trầm chứ đâu phải là mùi của nó (thân). Tại sao chỉ v́ mùi khác mà lại bám víu thân này?

66) Nếu để thân thể tự nhiên hôi thối nó sẽ không kích thích ḷng dục, như thế có tốt hơn không? Tại sao lại đi tẩm xức dầu thơm cho nó để sau này nó hại ḿnh?

67) Hương trầm tỏa mùi thơm th́ ăn nhằm ǵ đến thân này? Tại sao chỉ v́ một mùi thơm khác mà lại ái nhiễm thân này?

68) Thân người thật đáng tởm, nếu để nguyên nó tự nhiên sẽ thấy: tóc dài, móng dài, răng vàng, cấu ghét nhơ bẩn,...

69) Tại sao lại phải mệt nhọc sửa soạn, trang sức cho nó, có khác chi mài gươm để tự chém ḿnh sau này? Ôi, thế gian đầy những kẻ điên chuyên tự lừa dối ḿnh!

70) Thấy vài bộ xương trong nghĩa địa th́ ngươi ghê tởm, trong khi đó ngươi lại vui thích thấy đầy những bộ xương di động trong thành phố.

71) Chưa hết! Cái thân bất tịnh của người yêu ngươi, đâu phải không tiền mà có được nó. Ngươi phải tốn nhiều công của mới có được nó để rồi sau này phải trả giá khổ đau nơi địa ngục.

72) Muốn có được một người đàn bà (vợ) th́ phải có tiền. Lúc nhỏ th́ không thể kiếm tiền. Lớn lên th́ phải lo làm ăn. Khi đủ tiền, giàu có th́ tuổi đă về chiều, bắt đầu già nua lụm cụm. Như vậy khoái lạc nhục dục đem lại cho ngươi lợi ích ǵ?

73) Để có thể thoả măn nhục dục, có người phải làm lụng cực nhọc suốt ngày. Đến tối về mệt lả nằm dài như những xác chết.

74) Có người phải đi buôn hoặc lưu đày xa nhà lâu năm, không được gặp vợ con ḿnh.

75) Có người tham của, tự bán ḿnh để cầu dục lạc nhưng không bao giờ như ư v́ phải luôn luôn hầu hạ kẻ khác.

76) Có người bị bán cho những thương gia, trưởng giả nên phải luôn hộ tống phái đoàn. Vợ của họ nhiều khi phải sanh đẻ trong rừng rậm, hang hóc.

77) Có người v́ mưu sống, xung vào quân trận bất chấp nguy hiểm tánh mạng. Họ t́m vinh quang nhưng lại gặp tù đày.

78) Có người v́ cướp giật tiền của, vợ con kẻ khác nên bị chém chặt, xuyên cọc, thiêu sống hay ném lao.

79) Khổ cực t́m cầu, có được th́ phải lo giữ ǵn, để rồi cuối cùng đau buồn v́ mất tất cả, đó là tiến tŕnh của sự ham mê tài sản! Những kẻ hay bám víu tài sản, danh lợi, không nghĩ đến giải thoát, sẽ không bao giờ tránh khỏi khổ đau của cuộc đời.

80) Những kẻ nô lệ cho ái dục thường lâm vào cảnh khốn cùng, nếu được thỏa măn th́ cũng không hơn ǵ con trâu kéo cầy được thưởng cho vài cọng cỏ.

81) Chỉ v́ một chút xíu thỏa măn sung sướng (mà ngay cả súc vật cũng có thể làm được), con người, che lấp bởi nghiệp chướng, lại tự thả trôi qua thời giờ vàng ngọc của kiếp người khó được.

82) Chỉ v́ cái thân phù du khốn nạn này mà con người ra vào địa ngục, nhẫn chịu khổ đau từ vô thỉ đến giờ.

83) Trong khi chỉ cần cố gắng một triệu lần ít hơn (trên), người ta có thể chứng đạt quả Bồ Đề. Thật ra những kẻ nô lệ cho ái dục chịu khổ nhiều hơn chư Bồ Tát mà vẫn không chứng quả Bồ Đề.

84) Không có nguy hiểm nào có thể sánh được với ái dục, dù là đao kiếm, thuốc độc, sắt nóng, vực thẳm, v.v... chỉ cần nghĩ đến cực h́nh của địa ngục cũng đủ sợ rồi.

85) Do đó hăy cẩn thận coi chừng ái dục! Hăy sống an vui một ḿnh, noi gương các bậc hiền giả, sống trong rừng yên tĩnh, xa ĺa tranh luận hơn thua.

86) Trên những tảng đá thiên nhiên bằng phẳng rộng răi, phảng phất mùi hương trầm làm thơm ngát ánh trăng, ngọn gió núi thổi mát cánh rừng yên lặng; b́nh thản, các ngài an trú, luôn nghĩ đến sự lợi ích, giải thoát chúng sinh.

87) Các ngài ở lâu tùy ư trong những căn nhà bỏ hoang, dưới gốc cây hoặc trong hang núi; không c̣n bận tâm giữ ǵn của cải, các ngài sống độc lập, an nhiên.

88) Đến đi tự tại, không ham cầu, không dính mắc, không liên lụy một ai, các ngài vui hưởng niềm hạnh phúc mà ngay cả vua trời Indra cũng khó biết mùi.

89) Nhờ luôn nhớ tưởng đến lợi ích của cuộc sống độc thân ẩn dật, bao nhiêu ư niệm phù du sẽ bị dẹp trừ. Từ đó hăy quán chiếu về Bồ Đề Tâm.

90) Trước hết ta quán chiếu về sự b́nh đẳng giữa ta và người : "Tất cả chúng sinh đều như nhau, ai cũng muốn hạnh phúc, xa ĺa khổ đau. Do đó ta phải biết bảo vệ chúng sinh cũng như chính ta vậy".

91) Thân người, tuy được cấu tạo bởi nhiều phần khác nhau, nhưng ta luôn bảo vệ và xem nó như là "một". Cũng vậy, chúng sinh tuy nhiều loài, nhưng cùng chung khổ đau và sung sướng nên cần được xem là "một".

92) Khi ta cảm thọ đau đớn, sao những người khác không hề hấn ǵ? Bởi v́ ta cho cảm thọ đó là Ta, là của Ta nên ta không thể chịu nổi sự đau đớn đó.

93) Cũng thế khi kẻ khác bị đau đớn, ta đây đâu cảm thấy ǵ. Tuy vậy, nếu xem kẻ khác "chính là ta" th́ sự đau đớn của họ cũng là của ta và ta sẽ kham chịu không nổi.

94) Từ nay trở đi, ta sẽ tiêu diệt tất cả khổ đau của kẻ khác cũng như của ta vậy. Và ta sẽ làm lợi ích cho kẻ khác v́ họ cũng là chúng sinh như ta vậy.

95) Ta và chúng sinh đồng cầu hạnh phúc như nhau, lư do ǵ ta lại tranh đấu t́m hạnh phúc cho riêng ḿnh?

96) Ta và chúng sinh cùng sợ nguy hiểm khổ đau như nhau, ưu tiên ǵ mà ta chỉ muốn cứu thoát lấy ḿnh?

97) "Nhưng khổ đau của kẻ khác, không liên quan ǵ đến ta, tại sao phải bảo vệ họ chứ?". Nói thế, sao đau khổ của thân đời sau, không làm ta đau bây giờ, cần ǵ phải sửa soạn (tu hành)?

98) "Tại v́ thân đời sau vẫn là Ta". Lầm rồi! Chết là một người, tái sinh là một người khác.

99) "Người nào đau th́ người đó phải tự chữa lấy!". Nói vậy th́ cái đau của chân không ăn nhằm ǵ đến tay, sao tay lại phải xoa bóp chân?

100) "Cái đó tuy vô lư nhưng mọi người đều làm v́ cảm thọ liên quan đến cái Ta". Tất cả những ǵ vô lư, dù của ta hay của người khác cũng đều phải loại bỏ.

101) Tràng hạt và một đội quân là ảo tưởng của sự liên tục và tập kết. Không có "ai" là chủ thể của đau khổ và như thế "ai" cảm thọ đau khổ?

102) Bất cứ sự đau khổ nào cũng đều "vô chủ". Không có đau khổ nào là của riêng ta hay riêng của người khác cả! Sao lại nghĩ rằng ta không tiêu trừ được đau khổ cho kẻ khác?

103) "Nhưng nếu không có ai là người đau khổ th́ tại sao phải diệt trừ khổ đau?". Bởi v́ tất cả chúng sinh b́nh đẳng như nhau. Nếu đau khổ cần được diệt trừ th́ phải diệt trừ hết mọi nơi. Nếu không th́ không cả, có lư nào chỉ diệt trừ (đau khổ) nơi ta mà không nơi kẻ khác?

104) "Nhưng từ bi như vậy chỉ đem lại lo lắng, khổ nhọc, hơi đâu tăng trưởng làm chi?". Sự khổ nhọc đó so sánh với sự khổ đau của chúng sinh có thấm thía vào đâu!

105) Nếu sự đau khổ của một người có thể dập tắt đau khổ của nhiiều người khác th́ bậc từ bi sẽ sẵn sàng t́nh nguyện hy sinh.

106) Cũng như Bồ Tát Supuspacandra, dù biết nhà vua ác độc, nhưng vẫn can đảm đối đầu, hy sinh tánh mạng cứu vớt chúng sinh [3].

107) V́ đă điều phục được tâm, sung sướng khi xoa dịu được nỗi đau của kẻ khác, bậc Bồ Tát xông vào địa ngục cũng như thiên nga nhảy vào hồ sen.

108) Làm sao giải thoát riêng ḿnh khi sự giải thoát tất cả chúng sinh, đối với các ngài, là cả một biển an vui?

109) Ta sẽ không kiêu ngạo khoe khoang khi làm lợi ích cho kẻ khác và cũng không mong cầu được đền đáp. Làm v́ kẻ khác chính là niềm vui của ta rồi.

110) Như vậy nếu ta biết bảo vệ ḿnh trước sự nhục mạ, lấn áp bao nhiêu th́ ta cũng phải hết sức bảo vệ người khác bấy nhiêu với tấm ḷng từ bi.

111) Tuy không thể t́m thấy một nền tảng thực chất nào, nhưng v́ nghiệp lực hay thói quen, con người đă gán vào tinh, huyết của kẻ khác [4] một cái danh từ "Ta".

112) Như vậy tại sao lại không thể xem thân thể kẻ khác cũng là "Ta"? Và xem thân ta như làm bằng thân thể của kẻ khác?

113) Chỉ biết thương ḿnh là một tánh xấu, biết thương yêu kẻ khác là biển công đức. Ư thức được như thế, ta sẽ ĺa bỏ tánh ích kỷ và tập thương yêu kẻ khác.

114) Con người biết xem tay và chân là một phần của thân thể, tại sao lại không biết xem kẻ khác là một phần của sự sống?

115) V́ thói quen, chúng ta đă xem cái thân "vô tri" này là Ta, tại sao không chịu tập thói quen xem kẻ khác là Ta?

116) Nhờ thực hành không c̣n ư niệm về cái "Ta" nên khi làm việc cho kẻ khác, chúng ta sẽ không tự phụ, khoe khoang, cũng không cầu đền đáp.

117) Ta biết lo lắng cho ḿnh khỏi bị bần cùng, khốn khổ, v.v... th́ ta cũng phải tập khởi lên những ư niệm thương yêu, bảo vệ kẻ khác như một thói quen vậy.

118) Chính v́ thế mà Đấng Bảo Vệ đại từ bi Quán Thế Âm (Avalokita) đă để lại danh hiệu của ngài cho chúng sinh dùng khi sợ hăi, ngay cả lúc hồi hộp trong đám đông.

119) Không nên thụt lùi trước trở ngại, khó khăn, bởi v́ với (sức của) thói quen, ta sẽ không c̣n sợ hăi bất cứ một ai, dù xưa kia chỉ nghe danh người đó cũng đủ làm ta khiếp sợ.

120) Người nào muốn giải thoát ḿnh và người cần phải thực hành một pháp tối mật: đổi người thành ta hay đổi ta thành người.

121) Chỉ v́ ái luyến thân này xem nó là ta nên con người hoảng sợ trước mọi sự nguy hiểm, dầu nhỏ nhoi. Tốt hơn nên xem nó như kẻ thù, v́ nó chính là nguyên nhân của sợ hăi.

122) Để chống chọi với bịnh tật, đói khát, nóng lạnh, ta đă thản nhiên giết hại chim, cá, thú rừng và theo dơi cướp giật kẻ khác.

123) Bởi tham lam tài sản tiện nghi mà ta đă không ngần ngại giết cha, mẹ và trộm cắp của cúng dường Tam bảo. Như vậy, làm sao thoát khỏi sự thiêu đốt của địa ngục?

124) Làm sao một bậc hiền giả, thấy rơ thân này là kẻ thù, lại có thể nâng niu chiều chuộng nó được?

125) "Nếu tôi cho th́ c̣n ǵ để ăn?". V́ sự ích kỷ này ngươi sẽ tái sinh trong loài ngạ quỷ. "Nếu tôi ăn th́ lấy ǵ mà cho họ?" nhờ ḷng thương người này ngươi sẽ là vua cơi trời.

126) Kẻ nào v́ ích kỷ mà làm hại người khác th́ sẽ bị nấu chín trong địa ngục. Kẻ nào v́ lợi người mà nhẫn chịu khổ, sẽ hưởng quả báo an vui vô cùng.

127) Nếu xem ḿnh là quan trọng, đáng quư th́ đời sau sẽ tái sinh làm kẻ xấu xí, ngu dốt, bần cùng. Nhưng nếu biết chuyển cái nh́n đó về kẻ khác th́ ta sẽ hưởng quả báo thông minh, vinh dự, an vui cơi trời.

128) Nếu lợi dụng kẻ khác khiến họ làm việc cho ḿnh th́ ta sẽ bị quả báo nô lệ. Nhưng nếu hiến ḿnh phụng sự kẻ khác, ta sẽ hưởng quả báo giàu sang, quyền quư.

129) Những ai đau khổ đời này đều là những kẻ năm xưa chỉ biết t́m hạnh phúc cho riêng ḿnh (cái ta). Những ai sung sướng đời này đều là những kẻ đă t́m hạnh phúc cho người khác.

130) Nói thêm nữa có ích lợi ǵ? Hăy nh́n và so sánh giữa kẻ ngu (trần gian) chỉ biết ích kỷ cá nhân và bậc thánh (Bồ Tát) chuyên làm lợi ích cho kẻ khác.

131) Nếu không biết trao hạnh phúc của ḿnh đổi lấy đau khổ của chúng sinh th́ làm sao có được quả báo an vui trong kiếp luân hồi, nói chi đến việc thành tựu Phật quả.

132) Chẳng cần nói đến đời sau, ngay trong đời này, nếu kẻ nô bộc, không làm tṛn phận sự, hoặc chủ nhân không trả tiền xứng đáng, thử hỏi công việc có trôi chảy xong xuôi không?

133) Thay v́ làm lợi ích cho nhau, căn bản hạnh phúc của đời này và đời sau, con người lại chuyên làm hại lẫn nhau để chuốc lấy quả báo khổ đau khốn cùng.

134) Tất cả tai nạn, khổ đau, nguy hiểm của đời này đều bắt nguồn từ sự bám víu vào cái Ta (chấp ngă). Tại sao lại bám víu vào nó?

135) Nếu không phân tách, tháo gỡ được cái "Ta" th́ không thể thoát khỏi đau khổ, cũng như không tránh xa lửa th́ khó tránh khỏi rát bỏng.

136) Thế th́, để xoa dịu nỗi kh? của ta và người, ta sẽ hiến ḿnh cho kẻ khác và xem kẻ khác như "chính ta" vậy.

137) Tâm ơi hăy tin chắc rằng: "Ta đây thuộc kẻ khác!". Từ nay trở đi, ngươi chỉ được quyền nghĩ đến lợi ích của kẻ khác mà thôi.

138) Cặp mắt này không phải là của ta nữa nên nó không c̣n nh́n thấy những cái lợi cho ta; tay và các bộ phận khác cũng vậy, chúng thuộc về kẻ khác nên không c̣n cử động cho cái lợi của ta nữa.

139) Hoàn toàn hiến ḿnh cho chúng sinh, tất cả năng lực của thân này ta sẽ đem ra dùng làm ích cho kẻ khác, v́ họ là mối lo bậc nhất của ta.

140) Hăy xem những người khiêm tốn kia là ta và đặt ta vào địa vị của họ, như vậy ta có thể khởi tâm kiêu mạn, ganh ghét mà không sợ dính mắc tà kiến.

141) "Cái ǵ! Nó được khen c̣n ta bị chê! Nó nhiều tài sản c̣n ta th́ nghèo! Nó được đối xử tốt c̣n ta th́ không! Nó sướng ta khổ!" [5].

142) "Trong khi ta phải làm việc th́ nó được nằm nghỉ ! Phải chăng nó quan trọng v́ có nhiều đức tính, c̣n ta hèn hạ v́ thiếu tư cách?"

143) "Nhưng làm sao đánh giá được người nào thiếu tư cách? Ai cũng có tư cách riêng của họ, so với người này ta thấp kém, nhưng so với người kia ta trội hơn".

144) "Sự thấp kém về tài đức và trí huệ của ta bắt nguồn từ ái dục, tà kiến. Nếu nó chữa trị được cho ta th́ khó khăn cách mấy ta cũng sẵn sàng chấp nhận".

145) "Nhưng nó (cái Ta) không thể chữa trị cho ta được, tại sao nó lại dám khinh miệt ta chứ? Như vậy những đức tính của nó giúp ích ǵ được cho ta nếu nó chỉ biết ích kỷ?".

146) "Nó không có một chút từ bi đối với những người xấu số rơi rớt trong ba đường ác, vậy mà nó dám kiêu ngạo, khoe khoang tài đức và hạ nhục kẻ hiền".

147) "Gặp kẻ ngang hàng, nó luôn t́m cách vượt hơn, nếu cần nó có thể kiếm chuyện chửi bới để thỏa măn ḷng tham và tội lỗi của nó".

148) "Bằng mọi cách ta sẽ phô trương tất cả đặc tính của ta trước mọi người và không để cho ai biết được một chút đức tính nào của nó".

149) "Ta sẽ che giấu tật xấu của ḿnh và như thế ta sẽ được trọng vọng, giàu sang, tiếp đón, c̣n nó th́ không!".

150) "Ta sẽ vui sướng thật lâu khi nh́n thấy nó bị sỉ nhục, chế nhạo, xua đuổi".

151) "Và nếu nó có một chút tài sản hay làm công cho ta th́ ta sẽ trả cho nó vừa đủ sống, c̣n lại bao nhiêu ta sẽ dùng bạo lực chiếm hết".

152) Khi nghe mọi nơi khen ngợi đức tính của ta, ta sẽ cảm động vui mừng, khoái lạc.

153) Nếu nó c̣n một chút của cải, ta sẽ dùng bạo lực chiếm lấy và chỉ cho nó một ít đủ sống để có thể phục dịch cho ta.

154) Phải đẩy nó ra khỏi hạnh phúc, vứt lên lưng nó những cực nhọc của ta. V́ nó, (cái ta) mà chúng ta đă chịu 100 lần khổ đau của luân hồi.

155) Tâm ơi, ngươi đă chạy măi trong vô lượng kiếp t́m cầu lợi ích cá nhân để cuối cùng, bù lại với sự cố gắng đó, ngươi chỉ gặt hái khổ đau.

156) Đừng ngần ngại nghe lời ta khuyên, sau này ngươi sẽ thấy được lợi ích, v́ lời nói của đức Thế Tôn chân thật không lầm lẫn.

157) Nếu xưa kia ngươi sớm biết thực hành phương pháp "đổi người thành ta" th́ ngươi đă hưởng Phật quả sung sướng rồi, có đâu khổ sở nông nỗi như ngày hôm nay.

158) Cũng thế, từ lâu ngươi đă xem những giọt tinh, huyết của kẻ khác là "Ta" th́ nay, ngươi hăy tập nh́n những kẻ khác là "Ta".

159) Sau khi nh́n kỹ, nếu thấy có ǵ lợi ích nơi thân này th́ ngươi hăy cướp lấy dành cho kẻ khác.

160) "Kẻ này vui, người kia buồn; kẻ này cao, người kia thấp; kẻ này làm, người kia không". Sao ngươi chỉ biết ganh tỵ kẻ khác mà không biết ganh tỵ chính ngươi?

161) Hăy kéo "cái Ta" của ngươi ra khỏi sự sung sướng, trói nó vào khổ đau của kẻ khác. Để đừng bị lừa, hăy canh chừng cẩn mật hành động của nó.

162) Hăy đổ lên đầu nó (cái Ta) tất cả lỗi lầm của kẻ khác. Và nếu nó có lỗi, dù thật nhỏ, cũng phải khai ra để sám hối.

163) Hăy hạ bệ tiếng tăm của nó xuống và nâng cao danh dự của kẻ khác lên. Hăy bắt nó làm việc cho chúng sinh, như một kẻ hầu thấp nhất.

164) Nếu nó có vài hạnh tốt, ngươi cũng đừng khen ngợi và đừng cho kẻ khác hay biết.

165) Tóm lại, hăy đổ lên "cái Ta" của ngươi tất cả niềm đau mà ngươi đă tạo cho kẻ khác.

166) Đừng cho nó quyền hành, lắm lời, xấc xược. Hăy bắt nó e thẹn như một nàng dâu, kín đáo, dè dặt khi mới về nhà chồng.

167) "Không được làm cái này! Phải đứng như thế kia!" cứ như thế ngươi điều phục nó theo ư muốn. Nếu nó vi phạm th́ phải trừng trị liền.

168) "Khi ta nói như vậy mà ngươi không nghe lời th́ tâm ơi, ngươi sẽ biết tay ta. Hỡi đồ chuyên tạo tội !".

169) "Thời gian mà ngươi tùy ư lừa đảo ta đă qua rồi ! Giờ đây ngươi làm ǵ, nghĩ ǵ ta đều thấy hết và ta sẽ chà đạp tất cả sự kiêu hănh của ngươi".

170) "Nếu ngươi c̣n hy vọng t́m kiếm lợi ích riêng tư th́ hăy mau từ bỏ đi! Ta không buồn chút nào về sự khổ sở của ngươi, v́ ta đă bán ngươi cho kẻ khác rồi".

171) "Nếu ta dại dột không bán ngươi cho kẻ khác th́ chắc chắn ngươi sẽ trao ta cho loài quỷ giữ ngục".

172) "Không biết bao lần ngươi đă trao ta cho chúng nó hành hạ đau khổ triền miên! Giờ đây nhớ lại sự độc ác đó, ta phải chà đạp ngươi, ôi cái tâm ích kỷ!"

173) Nếu muốn sung sướng, nhớ đừng nuông chiều cái Ta! Nếu muốn yên thân, nhớ đừng thèm bảo vệ nó!

174-175) Nếu chiều chuộng nó, ngươi sẽ sa vào hố thất vọng. V́ lúc đó toàn quả địa cầu này cũng không đủ thỏa măn ḷng tham của nó.

176) Ham muốn điều không thể có chỉ dẫn đến khổ đau và thất vọng. Ngược lại, không hy vọng tham cầu th́ sẽ an nhiên hưởng lạc không bao giờ hết.

177) Do đó hăy chặn đứng những cơ hội ham muốn của thể xác. Chỉ nên ham muốn những ǵ không đáng ham muốn.

178) Ôi thể xác! Đồ bất tịnh ghê tởm. Cuối cùng nó sẽ bất động và tan thành tro bụi. Tại sao lại bám víu vào nó, cho đó là "Ta"?

179) Dù sống hay là chết, cái "máy thân" này có ích ǵ? Có ǵ khác giữa nó và một nắm đất? Ôi tâm niệm chấp ngă, sao ngươi chưa chết đi?

180) Chỉ v́ phụng sự cho thân này một cách ngu xuẩn mà ta phải chịu muôn vàn khổ đau. Thương tiếc hay ái luyến nó có ích ǵ trong khi nó chỉ là một h́nh nộm.

181) Được ta săn sóc, nó cũng không thương. Bị diều hâu cắn xé, nó cũng không ghét. Thế th́ sao lại phải thương yêu nó chứ?

182) Ta nổi giận khi nó bị xử tệ; ta sung sướng khi nó được khen thưởng. Nhưng tự tánh nó vô tri không biết ǵ, tại sao ta phải khổ sở giùm nó chứ?

183) "Những ai thương thân này th́ kẻ đó là bạn của Ta". - Được! Nhưng mọi người ai cũng thương thân của họ, tại sao ta lại không phải là bạn của họ?

184) Như vậy, v́ lợi ích chúng sinh, ta sẽ từ bỏ ái luyến thân này. Nếu giữ ǵn nó, chẳng qua chỉ để làm khí cụ hoạt động mà thôi.

185) Thôi đủ rồi! Những thói phàm phu! Từ nay ta quyết theo chân các bậc hiền giả, luôn giữ ǵn chánh niệm, không để hôn trầm, giải đăi lôi cuốn.

186) Cũng như các Bồ Tát, con trai của bậc Thắng Vương, ta sẽ nhẫn chịu tất cả khó khăn xảy đến. V́ nếu không tinh tấn ngày đêm như thế, ngày nào mới chấm dứt được khổ đau?

187) Ta phải kéo tâm ra khỏi ảo ảnh tà kiến, đặt nó vào nẻo chánh của Thiền Định.

Chú thích:

[1] Shiné-Lhagtong: Chỉ-Quán

[2] Ở đây tôn giả Santideva nói thẳng, không quanh co về sự bất tịnh và si mê ái dục của con người.

[3] Chuyện Bồ Tát Supuspacandra, v́ cương quyết thuyết pháp nên bị vua Curadatta hành hạ. Trong Tam ma địa Vương Kinh (Samadhirajasutra).

[4] Tức của cha mẹ

[5] Ở đây tác giả đặt ḿnh vào địa vị kẻ khác rồi hướng về "cái Ta" (Ngă) mà nói. Do đó chữ "nó" tức là cái Ta (Ngă), c̣n "ta" tức là người khác (kẻ khiêm tốn).

 

Chương 9

Trí huệ

1) Tất cả những hạnh trước được chỉ dạy bởi đấng Xuất Thế cốt để cuối cùng dẫn đến trí huệ. Do đó, kẻ nào muốn diệt trừ tận gốc khổ đau phải tập khai triển trí huệ.

2) Có hai loại chân lư: chân lư bao phủ [1] và chân lư tuyệt đối. Chân lư tuyệt đối, vượt ngoài tầm hiểu biết của thông minh trí thức nên nó không bị "bao phủ".

3-4) Cũng từ đó mà có hai loại người: a) Người trầm tư hiền giả [2] thường an trú trong thiền định và quán chiếu nội tâm, và b) "Người thường" là người sống ngược lại như trên, họ xem thân là một tự thể và tâm là thường hằng vĩnh cữu. Trong số các bậc hiền giả cũng có hai hạng: thượng và hạ tùy theo căn cơ, nhưng cả hai cùng hướng tới một mục đích chung.

5) Người thường th́ thấy và cho rằng sự vật hiện hữu thực sự, c̣n bậc hiền giả th́ thấy chúng chỉ là ảo tưởng. Đó là sự khác biệt giữa hai bên.

6) H́nh sắc và trần cảnh được công nhận là có thật do sự nhận thức của số đông (người thường) chứ nó không có một bằng chứng vững chắc. Sự nhận thức này thường là sai lầm, thí dụ như cho những ǵ bất tịnh là trong sạch.

7) Khi bậc Đạo Sư giảng nói về sự thật, ngài dùng phương tiện thiện xảo cốt dẫn đưa về Không Tánh. - Thế th́ khi nói các pháp là "tạm thời" [3], phải chăng là chân lư tuyệt đối?. - Không! - Là chân lư bao phủ chăng? Nếu vậy th́ thật là mâu thuẫn.

8) - Không có lỗi trong chân lư bao phủ của bậc hiền giả, v́ so sánh với người thường, các ngài nh́n thấy rơ sự thật. - Các anh chối hả? Chính các anh tự tách rời quan niệm quần chúng, cho đàn bà (nữ sắc) là bất tịnh.

9-10) Nếu các pháp không có thật th́ đức Phật cũng chỉ là một ảo tưởng. Và như thế, lễ lạy ngài được công đức ǵ? - Theo các anh, lễ lạy một đức Phật thật cho ra công đức thật th́ đối với chúng tôi cũng vậy, lễ lạy một đức Phật ảo sẽ cho ra công đức ảo. - Nhưng nếu con người là ảo tưởng th́ làm sao y có thể chết và tái sinh lại được? - Ngày nào c̣n đầy đủ nhân duyên th́ ngày đó ảo tưởng c̣n tiếp hiện. Đâu phải v́ thời gian hiện hữu của con người dài hơn một ảo tưởng mà dám quả quyết con người hiện hữu thực sự.

11) - Nếu vậy th́ giết người sẽ không bị tội, v́ họ (là ảo tưởng) không có tâm thức. - Bị tội! V́ con người chính là ngoại ảnh của tâm thức và từ đó phát sinh ra công đức cùng tội lỗi.

12-13) - Một cái tâm ảnh hiện bên ngoài không thể có được, ngay cả thần chú, ảo thuật cũng không thể tạo ra nó được. - Nhưng những h́nh ảnh này phát xuất từ nhiều nhân khác nhau; một nhân độc nhất đâu hẳn cho ra nhiều quả.

14-15) - Nếu theo chân lư tuyệt đối, tất cả chúng sinh đều tự tánh Niết Bàn, sự luân hồi chỉ là ảo tưởng, vậy th́ đức Phật cũng luân hồi. Như thế tu tập Bồ Tát Hạnh có ích lợi ǵ? - Ngày nào nhân duyên của nó chưa bị tiêu diệt th́ ngày đó ảo tưởng vẫn tiếp tục. Khi nhân duyên không c̣n th́ ngày đó nó mới tan biến. Đức Phật đă diệt trừ được nhân duyên của ảo tưởng nên tuy có h́nh tướng nhưng ngài không lệ thuộc vào luân hồi.

16) Nếu các pháp không thực có, ngay cả cái tâm năng quán, vật th́ ai (hay cái ǵ) thấy biết được ảo tưởng? - Theo các anh, các pháp bên ngoài là ảo tưởng không có thật, vậy th́ cái ǵ bị nhận thức? [4]

17-18) - Đó là những h́nh ảnh (đối tượng) của tâm và cũng chính là tâm. -Nhưng nếu ảo cảnh cũng chính là tâm th́ tâm nào thấy và tâm nào bị thấy? Đức Phật có nói: "Tâm không thể thấy tâm cũng như lưỡi gươm không thể tự chặt nó được."

19-20) - Tâm tự biết tâm cũng như ngọn đèn tự chiếu rọi nó. - Ngọn đèn không tự rọi nó được, v́ nó chưa từng bị che khuất.

21-23) - Chúng tôi muốn nói là nó tự sáng, không lệ thuộc ǵ bên ngoài. Cũng như màu xanh của ngọc lưu ly, tự nó xanh, khác với màu xanh của một tấm kính đặt trên vải xanh. Do đó sự vật có cái tùy thuộc nhân duyên, có cái độc lập tự tánh. - Màu xanh không có tự tánh độc lập, v́ nó tùy nơi ngọc lưu ly. Nó không phải là cái ǵ không xanh mà trở thành xanh. Giả dụ tâm thấy và xác nhận rằng ngọn đèn chiếu sáng, nhưng ai (cái ǵ) thấy và xác nhận rằng tâm chiếu sáng (biết)? Thí dụ (về ngọn đèn) của các anh không hợp lư, v́ chưa có cái tâm nào thấy được cái tâm năng chiếu. Như vậy không c̣n lư do ǵ để tiếp tục nói là tâm có khả năng tự biết. Nếu không, chẳng khác ǵ bàn căi xem con gái của người đàn bà bất thụ [5] đẹp hay xấu!

24) - Nhưng nếu không có tánh tự biết [6] th́ làm sao con người nhớ được sự việc đă qua? - Trí nhớ xuất hiện do tương duyên với cảnh vật bên ngoài, tựa như vết cắn của chuột gấu [7].

25) - Có người đầy đủ nhân duyên (như thiên nhăn hay linh cảm) thấy được tâm ư kẻ khác, chẳng lẽ họ không thấy được chính tâm họ sao? - Người dán bùa trên mắt có thể thấy được đồ vật cất dấu dưới đất nhưng không thể thấy được lá bùa ngay trên mắt họ.

26) - Nếu biết cái tự biết không có thật th́ những tánh biết khác (của các căn) như thấy, nghe, biết, v.v... cũng không có thật. - Chúng tôi không phủ nhận sự thấy, nghe, biết..., nhưng nếu bảo chúng có thật th́ chúng tôi không chấp nhận v́ đó là nguyên nhân của đau khổ.

27) Nếu bảo ảo cảnh không phải tâm là sai, nếu bảo là tâm cũng là sai. Nếu nó có thật th́ làm sao là tâm được? Nếu nó là tâm th́ làm sao có thật được?

28) Tuy không có thật, nhưng ảo cảnh vẫn bị thấy (ảnh hiện). Tuy không có thật, nhưng tâm vẫn thấy được (ảo cảnh).

29-30) Theo các anh (Duy Thức) th́ luân hồi (không có thật) bắt nguồn từ một nền tảng có thật (tức là tâm). Làm sao một vật không có thật lại có thể hành động, tạo tác trên một vật có thật được? Theo lập luận của các anh, tâm là một loại Thức-bất-nhị-độc hành không cần có đối tượng. Và nếu tâm hiện hữu riêng biệt ngoài đối tượng th́ tất cả chúng sinh đều đă là Phật rồi. Như thế, công đức nào đáng tích tụ, v́ nó cũng chỉ là tâm?

31) Nhưng biết được các pháp là ảo ảnh hư vọng, có đủ để tiêu trừ ái dục phiền năo không? Há chẳng thấy người phù thủy tạo ra một đàn bà huyễn rồi đem tâm yêu mến?

32) Trong trường hợp này, người phù thủy chưa diệt được những khuynh hướng ái nhiễm đ?i với trần cảnh. Khi nh́n người đàn bà huyễn (do chính ḿnh tạo), khả năng thấy được Tánh Không của anh hăy c̣n quá yếu để có thể giúp anh nhớ lại thực tại.

33-35) Khi luyện tập, quán chiếu thành thói quen thấy được Tánh Không của các pháp th́ sự bám víu, cho rằng chúng thực có, sẽ tan biến. Nhờ lập đi lập lại trong tâm: "các pháp không thực có", cuối cùng ngay cả ư niệm về tánh Không cũng tan biến. Khi nói một vật không thực có (hiện hữu) có nghĩa là không thể t́m thấy nó sau cuộc khảo sát tối hậu. Khi không c̣n t́m ra được một sự hiện hữu nào có thể phủ nhận, th́ nói chi đến sự không-hiện hữu? [8]. Khi Có và Không không c̣n khởi lên trong tâm th́ không c̣n ǵ khác có thể khởi lên được nữa là lúc đó tâm sẽ hoàn toàn vắng lặng.

36) Cũng như ngọc Mani và cây Như Ư thành tựu những lời ước của chúng sinh, thân Phật vẫn ảnh hiện nhờ những lời nguyện xưa của ngài và ḷng thành mong ước của các đệ tử [9].

37-38) Như Bà la môn Sanku tuy đă chết lâu rồi, nhưng cái hộp đựng tro Garuda [10] mà ông đă làm phép tŕ chú trước kia, vẫn có khả năng giải trừ nọc rắn. Cũng thế, sau khi thành tựu vô lượng hạnh nguyện Bồ Đề, bậc Bồ Tát nhập Vô Dư Niết Bàn, nhưng xá lợi của ngài vẫn tiếp tục làm lợi ích chúng sinh.

39-40) Làm sao thờ lạy một tượng vô tri lại có thể đem lại phước báo? - Trong Kinh có nói, theo Tục Đế và Chân Đế, cả hai sự thờ lạy: khi đức Phật c̣n tại thế và khi ngài đă nhập Niết Bàn, đều phước đức như nhau. Các anh (Tiểu Thừa) chấp nhận thờ một đức Phật thật để được công đức thật th́ chúng tôi thờ một đức Phật huyễn để được công đức huyễn, đâu có ngại ǵ?

41) - Người ta có thể giải thoát bằng sự giác ngộ Tứ Diệu Đế cần ǵ phải quán chiếu Tánh Không? - Cần chứ! V́ theo kinh (Bát Nhă) quả Bồ Đề không thể thành tựu nếu không có trí huệ Bát Nhă [11].

42) - Nhưng giáo lư Đại Thừa không phải do Phật nói. - Thế th́ kinh sách của các anh, ai chứng nhận (là do Phật nói)? - Kinh sách của chúng tôi đáng tin v́ nó được chấp nhận bởi (ít nhất) hai người chúng tôi. Nếu vậy, trước khi được chấp nhận bởi các anh th́ nó không đáng tin à? - Đáng tin! V́ nó được truyền thừa không ngừng từ các bậc Trưởng Lăo.

43) - Kiểu tin của các anh chẳng khác ǵ chúng tôi (Đại Thừa), v́ chúng tôi cũng được tổ tổ tương truyền. Hơn nữa, nếu các anh chấp nhận một điều cho nó là phải, v́ được chấp nhận bởi hai người, th́ các anh cũng phải chấp nhận luôn cả kinh điển Vệ Đà và ngoại đạo.

44) - Kinh điển Đại Thừa không đáng tin v́ nó luôn bị tranh luận! - Nếu vậy th́ cũng phải từ bỏ luôn cả kinh điển của các anh, v́ nó cũng bị tranh luận bởi các nội phái và ngoại đạo.

45) Đời sống xuất gia là nền tảng của sự tu hành, cũng như Niết Bàn, tuy vậy nó rất khó đối với những người tâm c̣n bám víu vào sự vật cho là thực có.

46-47) - Các bậc A La Hán tuy không hiểu được Tánh Không nhưng đă giải thoát đau khổ v́ các ngài đă xả bỏ tất cả tà kiến bằng con đường thiền định quán chiếu về Vô Thường, Vô Ngă. - Nhưng ai dám bảo, khi vừa thành A La Hán Hữu Dư [12] là hết thọ khổ? Có nhiều vị, v́ nghiệp lực quả báo quá khứ, vẫn c̣n thọ khổ như A La Hán Mục Kiền Liên.

48) - Tuy c̣n thọ khổ khi c̣n báo thân, nhưng khi xả bỏ báo thân, các ngài vĩnh viễn giải thoát v́ không c̣n chấp vào các uẩn của thân và tâm nữa.

49) - Nhưng khi chưa xả bỏ báo thân th́ c̣n cảm thọ, và như vậy tâm vẫn c̣n đối tượng (bám víu) cho rằng nó thực có.

50-51) Không hiểu Tánh Không th́ tà kiến chỉ tạm lắng yên trong những cơn nhập định, sau đó sẽ tái khởi lại. Do đó, nếu muốn tận diệt khổ đau th́ phải quán chiếu Tánh Không.

52-53) - Nhưng nếu hiệu lực của tham lam, sợ hăi là giam giữ chúng sinh trong luân hồi, th́ hiệu lực của Tánh Không sẽ là cầm chân họ (trong luân hồi) v́ cho họ ảo tưởng cứu độ kẻ khác.

54) - Lời chỉ trích trên không có nền tảng, do đó chúng ta không nên ngần ngại tu tập Tánh Không.

55) Tánh Không là liều thuốc đối trị vô minh (phát xuất từ ái dục và chấp pháp). Làm sao lơ là bỏ qua được, nếu muốn được nhất thiết trí?

56) - Tôi không muốn quán chiếu về Tánh Không v́ nó làm tôi sợ! - Cái ǵ làm ḿnh đau khổ th́ sợ là phải. Nhưng Tánh Không (điều trị) xoa dịu đau khổ, tại sao lại sợ?

57) Người ta sợ cái này, cái kia v́ cho và tin rằng cái Ta có thật (hiện hữu). Được! Nhưng đối với người đă hiểu cái "Ta" không có thật th́ sợ cái ǵ? Ai sợ?

58-60) Răng, tóc, móng, xương, không phải là Ta, cái Ta cũng không phải là máu, mủ, đờm, mật, tạng, phủ, ..., phân, tiểu, gân, hơi nóng, chín khứu, sáu thức.

61) Nếu nhĩ thức là Ta th́ phải luôn nghe thấy âm thanh (ngay cả lúc nó không c̣n) chứ? Khi đối tượng nhận thức (trần cảnh) vắng mặt th́ làm ǵ có nhận thức? [13]

62) Nếu gán sự biết (nhận thức) vào những ǵ không (có khả năng) biết th́ cây gỗ kia cũng phải biết được chứ! Do đó không thể có sự nhận thức nếu không có đối tượng.

63) Tại sao cái Ta, khi thấy h́nh sắc lại không nghe được âm thanh? Các anh sẽ nói v́ gần đó không có âm thanh. Và nếu vậy th́ nó (cái Ta) không phải là nhĩ thức.

64) Cái mà tánh của nó là thâu nhận âm thanh, làm sao có thể thâu nhận được h́nh sắc? Đồng ư là một người đàn ông, tùy trường hợp, có lúc được xem là cha, có lúc là con, nhưng theo Chân Đế th́ không thể như vậy được. Nếu các anh (Samkhya) cho rằng thực tại là một trạng thái ḥa hợp quân b́nh giữa ba tánh: thanh tịnh, tạo tác, u mê th́ không có ǵ được xem là cha hay con cả.

65) - Khi cái Ta đang thâu nhận âm thanh th́ tánh thấy của nó không hoạt động. Và khi nó thấy th́ đó là tánh nghe đă chuyển sang tánh thấy, cũng như một kịch gia thay đổi vai tṛ.

66) - Như vậy theo các anh (Samkhya) th́ chính cùng một cái ta thâu nhận cảnh trần (sắc, thanh, hương, ...) với nhiều tánh (không thực) khác nhau, nhưng thực tế nó vẫn có một tánh (thực có) độc nhất. Đây là một điều mà các anh chưa hề tuyên bố trước đây!

67) Chắc chắn các anh sẽ không nói tánh này là huyễn. Thế th́ thực tánh của nó là ǵ? Phải chăng đó là cái tánh biết (nhận thức)? Nếu vậy th́ tất cả chúng sinh sẽ cùng là một thứ độc nhất!

68) Thêm nữa, tất cả chúng sinh hữu thức và vô thức cũng sẽ là một, bởi v́ họ cùng hiện hữu. Nếu các tánh như thấy, nghe, biết, ... được xem là không thực th́ làm sao nền tảng của nó (cái Ta) lại được xem là thực có?

69) Một vật không có nhận thức th́ không phải là Ta, v́ nó không biết được sự vật cũng như khúc gỗ vậy. [14] - Nó biết được sự vật khi nó phối hợp với tâm thức. - Như vậy, khi không có tâm thức th́ nó cũng tiêu diệt.

70) Các anh cho cái Ta là thường c̣n, không thay đổi. Thế khi phối hợp với tâm thức nó sẽ là ǵ? Nếu cho cái ǵ thường c̣n, không thay đổi, vô thức là ta th́ hư không kia cũng được xem là ta.

71) - Nhưng nếu cái Ta vô thường th́ sự liên hệ nhân quả sẽ không thành, bởi v́ khi làm xong một hành động th́ người tạo nghiệp không c̣n, vậy ai sẽ chịu quả báo.

72) - Nền tảng của người tạo nghiệp chính là năm uẩn đời này, nền tảng của người thọ quả báo là năm uẩn đời sau, hai cái khác nhau. Không có cái Ta nào tạo nghiệp và cũng không có cái Ta nào thọ quả báo.

73) - "Chính chủ nhân tạo nghiệp là người lănh thọ quả báo chứ không ai khác" trong Kinh đă nói! - Đức Phật có dạy như vậy, nhưng cốt để phá trừ sự chấp đoạn của người không tin nhân quả chứ không phải dạy cái Ta thực hữu thường c̣n.

74) Tâm niệm quá khứ cùng tâm niệm vị lai đều không thể là cái Ta v́ chúng không (hiện hữu) có thực. - Nhưng tâm niệm hiện tại không thể là Ta à? - Cho dù nó là Ta nhưng khi vừa nghĩ xong th́ nó cũng không c̣n.

75) Như cây chuối khi bị lột từng bẹ để t́m th́ không thể thấy (đâu là cây chuối). Cũng thế, cái Ta hiện hữu như thực có, khi bị quán chiếu phân tách, không thể t́m thấy nơi năm uẩn.

76) - Nếu chúng sinh không có thật th́ tu tập từ bi với ai? - Tuy không có thật (v́ là ảo tưởng) nhưng chúng sinh là đối tượng lợi ích và cần thiết cho những ai tu tập Bồ Tát Hạnh.

77) - Nhưng nếu chúng sinh không có thật th́ ai lănh thọ phước báo sau khi tu hạnh từ bi? - Theo Chân Đế tuyệt đối th́ không có ǵ thực có, dù đó là chúng sinh, là từ bi hay phước báo; nhưng trên Tục Đế, ảo tưởng, đối với người tâm c̣n lầm lẫn thực tướng các pháp th́ phải cần tu tập từ bi huyễn v́ nó cho ra phước báo huyễn.

78) Sự ái luyến chấp Ta th́ ngược lại, tuy cũng là huyễn nhưng cần phải diệt trừ v́ nó là nguyên nhân của đau khổ. Và để diệt trừ nó không có cách ǵ khác hơn là tu tập quán chiếu về Vô ngă.

79-80) Thân không phải là chân, đùi, hông, bụng, lưng, ngực, tay, vai, nách, cổ, đầu, ... Vậy cái ǵ là thân? [15]

81) Nếu thân nằm trong tất cả bộ phận của nó th́ hóa ra tất cả phần của thân nằm trong từng phần của thân sao? C̣n cái thân tự tánh, hiện hữu độc lập nằm ở đâu?

82) Nếu cái thân là Một [16], có thật, nằm riêng biệt trong từng bộ phận th́ như thế có bao nhiêu bộ phận th́ phải có bấy nhiêu ấy thân.

83) Thân không nằm ở trong cũng không ở ngoài các bộ phận. Nhưng ĺa các bộ phận ra, nó cũng không thể có (hiện hữu). Vậy nó hiện hữu kiểu nào?

84) Cái thân không có thật! Nhưng v́ ảo tưởng lầm lẫn, ư niệm "thân" được gán vào những bộ phận (tay, chân,...) cũng như lầm tưởng cho cái cột là một người đàn ông.

85) Khi hội đủ nhân duyên đưa đến lầm lẫn th́ người ta cho cái cột là người đàn ông. Cũng thế, khi c̣n nhân duyên đưa đến lầm lẫn th́ người ta cho những bộ phận (tay, chân, ...) là cái thân.

86) Như thân không thật có th́ bàn tay cũng không có thật: chỉ có những ngón tay hợp lại với nhau. Ngón tay cũng không có thật, chỉ có những đốt xương và gân hợp lại với nhau, và những đốt xương này được cấu tạo bởi nhiều phân tử.

87) Những phân tử này lại được cấu tạo bởi nhiều nguyên tử, và những nguyên tử lại được chia chẻ ra theo sáu hướng [17], chia chẻ đến cùng cực (không c̣n chia chẻ được nữa) th́ chỉ c̣n hư không trống rỗng. Cuối cùng, nguyên tử cũng không có thật.

88) Như vậy, h́nh sắc chẳng khác chiêm bao, bậc hiền giả nào lại muốn bám víu vào? Thân kia c̣n không có thật, nói chi đến (sự phân biệt) đàn ông hay đàn bà?

89) Nếu đau khổ có thật tự tánh th́ sao nó không xúc động được người đang vui? Nếu những món ngon đem lại khoái lạc th́ sao người đang sầu khổ ăn vào cảm thấy vô vị?

90) Người ta sẽ bảo rằng đau khổ và khoái lạc có thật, nhưng trong trường hợp trên, không được cảm thấy v́ chúng bị một cảm giác mạnh hơn lấn át. Nhưng sao lại gọi là cảm giác khi tánh của nó không được người ta cảm thấy?

91) - Vẫn cảm thấy chứ! V́ khi khoái lạc th́ cảm giác đau khổ nằm ở trạng thái yếu (vi tế). - Nhưng cảm giác vi tế này không thể là đau khổ v́ một cảm giác không thể cùng lúc vừa là đau khổ vừa là khoái lạc được.

92) Nếu đau khổ không xuất hiện được nơi tâm v́ lúc đó đang có một cảm giác đối lập th́ cái gọi là cảm giác đau khổ chỉ là một ảo tưởng (tà kiến).

93) Để đối trị tà kiến này, chúng ta phải trau dồi trí huệ quán chiếu "tánh không thực có" của các pháp. Sự nhập định quán chiếu những ảo tưởng của tâm chính là món ăn độc nhất của hành giả Du Già [16].

94) Cảm thọ được xem là kết quả của một sự xúc chạm. Nhưng giữa căn và trần có một khoảng cách, vậy chúng làm thế nào xúc chạm được nhau? Và nếu không có khoảng cách th́ chúng là một, nói giao hội đâu c̣n nghĩa lư?

95) Không thể nói đó là một sự xuyên nhập giữa các nguyên tử được, bởi v́ nguyên tử không trống rỗng, cũng không có khía cạnh nên không có ǵ xuyên nhập được. Mà không có xuyên nhập th́ không có ḥa hợp, nếu không có ḥa hợp th́ không có cảm thọ [19].

96) Làm sao có được sự xúc chạm giữa hai vật không khía cạnh? Nếu có th́ hăy chỉ cho chúng tôi biết [20].

97) Nói tâm xúc chạm vật cũng vô lư, v́ tâm vô h́nh chất, không thể xúc chạm được với vật hữu chất.

98-99) Sự xúc chạm không thể có th́ lấy đâu ra cảm thọ? Cảm thọ không có thật th́ tội ǵ nhọc cầu khoái lạc? Lấy đâu ra đau khổ, và ai đau khổ? Không có ai là người cảm thọ và cũng không có ǵ là cảm thọ. Trước sự kiện này, ôi ḷng khát ái, sao ngươi chưa tan biến đi?

100) Ta thấy và sờ mó được trần cảnh nhưng cảm giác chỉ là những ư niệm phát xuất từ tâm, chẳng khác ǵ ảo ảnh, giấc mơ. Nó không có thật!

101) Ta có thể nhớ lại cảm giác quá khứ hoặc thèm muốn cảm giác tương lai, nhưng đó không phải là một cảm giác mà là sự nhớ tưởng.

102) Cho nên không có người cảm thọ (thọ giả) nào có thật, cũng không có một cảm thọ nào thật có. Làm sao cái đám uẩn vô ngă này lại có thể có được cảm thọ khoái lạc hay khổ đau?

103) Thức không nằm trong căn, không ở nơi khác cũng không chính giữa. Tâm cũng thế, không nằm trong thân, ngoài thân hay ở nơi khác.

104) Không phải là thân cũng không phải khác; không phải trộn lẫn cũng không phải khác biệt (với thân) nên tâm không có thật. Do đó nói rằng tất cả chúng sinh đă Niết Bàn.

105-106) Ư thức có thể không có thật, nhưng chẳng lẽ năm thức kia (nhăn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân) cũng không có thật à? Muốn biết th́ hăy phân tách xem năm thức đó có trước, cùng lúc hay sau cảnh vật? Nếu bảo có trước khi gặp cảnh vật th́ nó nương đâu mà khởi? Nếu thức và đối tượng của nó phát sinh cùng lúc th́ cũng thế, cả hai nương đâu mà khởi? V́ nếu cùng một lúc th́ không thể nói cái này nương cái kia khởi. Và nếu thức phát sinh sau đối tượng th́ nó nương đâu mà khởi? V́ khi nó khởi th́ đối tượng đă không c̣n.

107) - Qua sự phân tách trên, ta hiểu là không có pháp nào thực sự phát sinh. Nhưng như thế làm sao có được Nhị Đế ( Chân Đế và Tục Đế)? Và làm sao chúng sinh đến được Niết Bàn?

108) - Thật ra Niết Bàn thường hằng, nhưng v́ không hiểu nên người ta lầm lẫn (khái niệm) cho rằng nó sinh khởi và hoại diệt. Chính sự khái niệm này là chân lư bao phủ (Tục Đế). Người vào được tánh Niết Bàn vẫn hiện hữu qua sự ảo tưởng của kẻ khác (nhưng y không c̣n ảo tưởng).

109) - Tâm năng quán và vật sở quán nương nhau hiện hữu, nếu vật không có thật th́ tâm cũng không có thật. Và nếu tâm không có thật th́ sự phân tách lập luận Tánh Không của các anh cũng vô hiệu.

110-111) - Thật ra cả tâm và vật đều không có thật, nhưng không phải v́ thế mà sự phân tách bị coi là sai. Bởi v́ tất cả những tâm phân tách được xem là ư thức tương đối, dựa đặt trên nền tảng lập luận chấp nhận bởi thế gian. Khi vật sở quán bị phân tách và xác nhận là trống rỗng th́ cái tâm năng quán (phân tách) kia trở nên mất đối tượng. Không có đối tượng th́ tâm năng quán lấy đâu mà khởi? Trong trạng thái yên lặng, không c̣n vật sở quán và tâm năng quán, đó gọi là Niết Bàn.

112-114) Kẻ nào cho tâm và vật có thật th́ kẻ đó lâm vào t́nh trạng khó xử. - Vật có thật v́ căn (là nơi thức phát sinh) có thật. [21] - Nhưng sao một vật lại được xem là có thật nếu nó tùy thuộc vào thức? - Mặt khác, có thể nói thức có thật v́ nó dựa trên vật. - Nếu cả hai nương nhau mà có th́ cả hai đều không có thật. Thí dụ: một người không có con th́ không thể được xem là cha; nếu không có cha th́ làm ǵ có con? Như vậy tâm và vật không thể hiện hữu độc lập, riêng biệt.

115) - Cây sanh ra từ hạt, biết có hạt nhờ thấy cây. Sao không thể chấp nhận được tâm (nhận thức) có thật v́ nó được phát sinh từ vật (bị thấy)?

116) - Sự có (hiện hữu) của hạt có thể chấp nhận được v́ có tâm nh́n thấy cây. Nhưng ai (hay cái ǵ) biết được tâm thực có, phát sinh từ cảnh vật?

117) Một người thường, qua sự quán sát, cũng có thể nhận ra tính phức tạp của nhân: như những cánh sen phát xuất từ nhiều nhân khác nhau.

118) Tính phức tạp của nhân bắt nguồn từ đâu? Từ nhiều nhân trước. Tại sao nhân này lại cho ra quả kia? Đó là do ảnh hưởng của nhân trước nữa.

119) Nếu cho Trời là nguyên nhân của thế giới th́ Trời là ǵ? [22] - Là tất cả đại (nguyên chất): đất, nước, lửa, gió, hư không. - Được! Nhưng nếu vậy cần ǵ phải đặt tên những thứ ấy là Trời?

120) Hơn nữa, những thứ: đất, nước, v.v... nhiều loại, vô thường, vô tri, bất tịnh, không có ǵ thần thánh, sao lại gọi là Trời?

121) Hư không không phải là Trời, v́ nó bất động; cái Ta cũng không phải, v́ trước đây nó đă bị chúng tôi phủ nhận. Nếu không thể diễn tả, chỉ đâu là Trời th́ nói chi đến sự sáng tạo của Trời?

122) Theo các anh th́ Trời đă tạo những ǵ? Cái Ta à? Các anh nói nó thường hằng mà, đâu cần tạo. Tứ đại à? Chúng cũng thường hằng mà. Trời à? Trời cũng thường hằng mà. Thức à? Nó phát sinh từ đối tượng nhận thức. Sung sướng và khổ đau à? Đó là kết quả của nghiệp lành và ác. Như vậy Trời tạo cái ǵ?

123) Nếu Trời là nguyên nhân đầu tiên, không có đầu mối (vô thỉ) th́ kết quả, là các pháp, làm sao có đầu mối được?

124) Trời không bao giờ hết (vô chung) th́ sao những sự sáng tạo của Trời lại lúc có lúc không? - Trời không bắt buộc phải luôn luôn tạo ra một cái ǵ, và tuy thường c̣n nhưng khi tạo ra một cái ǵ, Trời cũng phải tùy nhân duyên. - Nói Trời tùy thuộc một cái ǵ th́ vô lư, v́ không có cái ǵ mà không được tạo ra bởi Trời.

125) Nếu bảo những sự vật kia là do nhiều trợ duyên phối hợp th́ Trời không c̣n là nguyên nhân nữa. V́ khi hội đủ nhân duyên th́ dù Trời không có mặt, sự vật vẫn thành. Khi thiếu nhân duyên th́ dù Trời có mặt, sự vật cũng không thành.

126) Nếu sự vật thành h́nh ngoài ư muốn của Trời th́ hóa ra Trời không có quyền (tự chủ) ǵ. Nếu bảo là do Trời muốn th́ Trời lại lệ thuộc vào ư muốn của ông ta. Như vậy c̣n đâu là ông Trời chúa tể sáng tạo, độc lập, tự chủ?

127) Có kẻ [23] cho rằng thế giới hữu t́nh và vô t́nh này là do các nguyên tử thường hằng cấu tạo thành. Lập luận này đă bị chúng tôi phủ nhận.

128) Phái Samkhya cho rằng trạng thái dung ḥa giữa ba tánh: b́nh đẳng, khoái lạc và khổ đau, chính là bản chất nguyên thủy của thế giới. Khi ba tánh này mất quân b́nh th́ lúc đó thế giới bắt đầu thành h́nh.

129) Một vật nếu thực có th́ không thể có ba tánh cùng một lúc, do đó cái bản chất nguyên thủy kia không có thật. Và ba tánh trên cũng không có thật, v́ nếu có thật th́ mỗi tánh sẽ biến thành ba.

130) Như ba tánh này không có thật th́ âm thanh cùng trần cảnh (đối tượng của căn) cũng không có thật. Ngoài ra ba tánh này cũng không thể nào có được trong những vật vô tri như quần, áo, v.v...

131) Phải chăng các anh muốn nói là đồ vật như quần áo, tánh của nó là tạo ra khoái lạc, v.v...? Nhưng chúng tôi đă dẫn chứng sự không thực có của chúng rồi. Hơn nữa theo các anh th́ khoái lạc là nhân của quần áo chứ quần áo đâu phải là nhân của khoái lạc.

132) Nhưng thật ra khoái lạc phát sinh từ quần áo, v́ nếu không có quần áo th́ làm ǵ có khoái lạc. Như vậy tánh khoái lạc, v.v... không thường hằng!

133) - Khi khổ thọ phát sinh th́ người ta không cảm thấy được tánh khoái lạc, v́ lúc đó khoái lạc trở thành vi tế. - Nhưng cái ǵ thường hằng làm sao có thể biến đổi từ thô mạt đến vi tế?

134) Nếu chuyển từ thô mạt đến vi tế th́ nó là vô thường. Như vậy tại sao các anh không chịu chấp nhận mọi sự vật đều vô thường? - Tuy những trạng thái thay đổi của khoái lạc là vô thường nhưng tánh của nó vẫn là thường. - Nhưng những trạng thái vi tế, thô mạt chẳng phải khác khoái lạc, nên khoái lạc cũng vô thường.

135) Nhưng các anh sẽ nói: vật ǵ trước kia không có th́ nay không thể sinh ra (có) được, cũng như dầu không có trong cát nên ép cát không thể cho ra dầu được. Thế mà các anh lại chấp nhận cho trạng thái thô mạt là có trong khi trước đó nó chưa có.

136) Nếu nói quả đă có sẵn trong nhân th́ hóa ra ăn cơm chẳng khác ăn phân. Và thay v́ mua hàng vải, người ta có thể mua bông vải để mặc.

137) - Sự thật là thế nhưng người thế gian si mê không chịu mặc những bông vải v́ họ không thể thấy được hàng vải trong ấy. - Nói vậy, thế sao Kapila [24], người mà các anh cho là đă thấy chân lư, lại mặc hàng vải mà không mặc bông vải?

138) Hơn nữa, theo các anh th́ người thấy được chân lư (là quả) đă hiện hữu sẵn trong một người thường (là nhân), như vậy sao những người thường không thấy được hàng vải trong bông vải? - Thật ra người thấy chân lư đă có sẵn nơi nhân, nhưng khi c̣n ở trạng thái nhân (tức người thường) th́ mọi sự thấy biết đều lầm lẫn. - Nếu vậy th́ những sự vật mà người ta thường nh́n thấy như: hàng vải, đồ ăn, người thấy chân lư, v.v... đều không thực, v́ chúng chỉ là sự ảnh hiện của cái tâm lầm lẫn.

139) - Nếu theo các anh (Trung Quán), tất cả phương tiện dẫn đến trí huệ đều vô hiệu v́ nó cho ra những khái niệm sai lầm th́ Tánh Không các pháp cũng là một lập luận vô hiệu.

140) Nếu không giả dụ một sự thực có th́ không thể suy ra sự không thực có. Do đó, nếu Tánh Có không thực th́ Tánh Không cũng không thực. Tuy nhiên quán chiếu về Tánh Không vẫn có hiệu lực v́ nó là phương thuốc đối trị bịnh chấp (các pháp thực) có.

141) Khi một người chiêm bao thấy con ḿnh bị chết, ư nghĩ cho con thực chết tuy sai lầm nhưng phá trừ được ư nghĩ cho con c̣n sống.

142-143) Tóm lại qua sự phân tách trên, không có vật nào hiện hữu không nhân, cũng không có nhân độc nhất ban đầu nào được t́m thấy. Các pháp không sanh từ một vật khác, không tồn tại, không tiêu diệt. Những cái mà kẻ ngu bám víu cho là thực có, có khác ǵ ảo ảnh, huyễn thuật?

144) Đến từ đâu? Đi về đâu, những vật đuợc tạo ra bởi huyễn thuật, bởi nhân duyên? Đó là điều cần phải t́m kiếm.

145) Đủ duyên th́ hiện (như có), thiếu duyên th́ mất. Nó do nhân duyên giả hợp, như bóng trong gương, làm sao thực có (tự tánh) độc lập được?

146-147) Một vật nếu thực có th́ cần ǵ đến nhân? Nếu nó không thực có th́ cũng cần ǵ đến nhân? Dù một trăm triệu nhân hợp lại cũng không thay đổi được hư vô. Vật hư vô nào biến thành có được?

148) Có cái ǵ tách rời được trạng thái không-vật để trở thành vật được? Vật và không-vật không thể hiện hữu cùng một lúc. Vật chỉ xuất hiện khi không-vật mất đi, nhưng không-vật làm sao mất đi được khi vật chưa sinh ra?

149) Cũng vậy, chúng sinh (vật) không thể đến hay đi về hư vô (không-vật). V́ một vật thực có không thể có hai tánh.

150-151) Cho nên không có chấm dứt cũng không có hiện hữu. Pháp giới không sinh cũng không diệt. Chúng sinh tuy xuất hiện nhưng không có thật, như chiêm bao. Khi quán chiếu phân tích th́ chẳng thấy, như cây chuối. Trong Tánh Không (thực có của chúng sinh), không có sự khác biệt nào giữa người đă vào Niết Bàn và người chưa vào Niết Bàn.

152-153) Các pháp không thực có, lấy ǵ để được để mất? Ai được khen được chê, và bởi Ai? Đến từ đâu khoái lạc và khổ đau? Ai là người dễ thương, là người đáng ghét? Khi t́m thực tánh th́ Ai là người ham muốn và ham muốn cái ǵ?

154) Nếu quán sát thế giới hữu t́nh này th́ Ai chết? Ai sinh? Ai đă sinh? Ai là cha mẹ, là bạn bè?

155-156) Hỡi các bạn đang quán chiếu thực tại, hăy hiểu rằng tất cả đều trống rỗng như hư không. V́ muốn t́m sung sướng hạnh phúc, chúng ta đă phí phạm cuộc đời trong cảnh tranh giành, thất vọng, lo âu, buồn bă, thương kích lẫn nhau.

157-158) Nếu may mắn tái sinh cảnh trời hưởng thọ khoái lạc, khi chết cũng rơi vào địa ngục muôn kiếp, chịu hành hạ đau đớn khổ sở. Trong cảnh luân hồi làm sao thoát khỏi hố thẳm đọa đày?

159-161) Thêm nữa, sự chấp pháp (thực có) và sự thấu hiểu tánh Không luôn chống trái lẫn nhau. Nếu trong đời này không thấu đạt chân lư tuyệt đối th́ sẽ phải tiếp tục trầm luân trong biển khổ vô bờ. V́ nếu không thấu hiểu tánh Không ta sẽ không có can đảm tu tập vô số hạnh lành. Trong cái kiếp người hy hữu đầy đủ tự do quá ngắn ngủi này, con người chỉ lo hưởng thụ, chăm sóc thân thể, ăn ngon, ngủ sướng, lo sợ đói bịnh, tai nạn và chuyên giao du với những kẻ ngu. Cứ thế cuộc đời trôi mau, t́m được một chút th́ giờ quán chiếu thực tại quả thật rất khó! T́m đâu ra cơ hội đảo ngược cái thói quen vô thỉ chuyên chấp trước các pháp (cho chúng thực có)?

162-163) Thêm nữa, Ma Vương lại luôn ŕnh rập xô đẩy ta vào địa ngục. Đường dẫn đến tà kiến th́ đầy dẫy. T́m lại được thân người hy hữu này rất khó, gặp được Phật lại khó hơn nữa; như thế làm sao thoát khỏi gịng thác ái dục, phiền năo. Ôi! Chỉ toàn khổ là khổ!

164-165) Đáng thương thay cho những kẻ xấu số bị lôi cuốn trong gịng thác khổ mà chẳng hề hay biết. Cũng như người mỗi lần tắm, thay v́ nhảy vào nước, lại nhảy vào lửa.

166) Có những người làm như ḿnh không bao giờ già, không bao giờ chết. Đó là những kẻ được tử thần đến dẫn đi sớm nhất về cơi ác.

167) Khi nào ta mới dập tắt được lửa phiền năo thiêu đốt chúng sinh đau khổ bằng những trận mưa an lạc tuôn chảy từ đám mây công đức của ta? Khi nào ta mới có thể giảng dạy tánh Không cho những kẻ đau khổ đáng thương, dạy họ tích tụ công đức mà không chấp các pháp thực có?

Chú thích:

[1] C̣n gọi là chân lư "lầm lẫn" v́ nó được đặt ra bởi những trí óc lầm lẫn của thế gian, bao phủ bởi vô minh. Danh từ thông dụng gọi là Tục Đế và Chân Đế.

[2] Trong bản Tạng ngử gọi là Naljorpa, tức người tu tập Du Già hay Thiền quán.

[3] Vô thường.

[4] Đây là cuộc tranh luận giữa tôn giả Santideva (Trung Quán) và các nhà Duy Thức. Theo Duy Thức th́ các pháp bên ngoài là ảo tưởng không thực có, chỉ có tâm là hiện hữu thực sự.

[5] Bất thụ: không thể đẻ con.

[6] Tánh tự biết, trong Duy Thức gọi là tự chứng phần.

[7] Một con gấu ngủ suốt mùa đông, bị vết cắn của con chuột làm độc mà không hay. Sang xuân, khi nghe tiếng sấm tỉnh dậy thấy đau, nó mới nhớ lại là đă bị chuột cắn. Sự nhớ lại (kư ức) của con người cũng tương tự như thế.

[8] Theo truyền thuyết, khi nói tới đây, tôn giả Santideva bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài c̣n vọng lại cho tới câu kệ cuối cùng.

[9] Ở đây tôn giả tranh luận với Tiểu Thừa. Theo Tiểu Thừa, khi Phật nhập Niết Bàn th́ ngài không c̣n làm lợi ích cho chúng sinh được nữa.

[10] Kim sí điểu, chim đại bàng hay ăn rồng, rắn

[11] Tức trí huệ thấu hiểu Tánh Không của các pháp.

[12] Tức c̣n báo thân ngũ uẩn.

[13] Ở đây tôn giả Santideva tranh luận với phái ngoại đạo Samkhya (Số luận).

[14] Ở đây tôn giả tranh luận với phái ngoại đạo Nyaya (Chánh lư luận). Phái này cho cái ta có thực thể thường c̣n, nhưng không nằm trong thân thể con người. Cái Ta này biết được sự vật v́ nó có một cái tâm riêng biệt (nhưng nó không phải là tâm). Muốn biết qua các phái ngoại đạo này, bạn đọc có thể xem trong quyển Phật Học Tinh Yếu.

[15] Ở đây tôn giả tranh luận với Tiểu Thừa. Tiểu Thừa cho cái Ta không có thật, nhưng các pháp như năm uẩn, thân, ... có thật.

[16] Theo Trung Quán, một vật có thật, có tự tánh c̣n được gọi là Một, có nghĩa là tự nó là nó, không phải do nhiều thứ khác kết hợp thành.

[17] Đông, Tây, Nam, Bắc, Trên, Dưới.

[18] Đừng lầm lẫn cho Du Già (Yoga) là đặc biệt của Ấn Độ Giáo (Hindouisme) v́ trong Phật Giáo cũng có phái Du Già Sư (Yogacara) là một phái của Duy Thức. Hành giả Du Già ở đây có nghĩa là người chuyên tu Thiền Quán.

[19] Ở đây bác sự cho rằng: nguyên tử của trần cảnh và của căn giao hội lẫn nhau phát sinh ra cảm thọ.

[20] Bác những người cho nguyên tử không có khía cạnh.

[21] Bác lập luận Hữu Bộ cho tâm và vật là hai thực thể cách biệt..

[22] Bác Thần Giáo, cho Trời hay thần Isvara là người sáng tạo ra thế giới.

[23] Thuộc phái ngoại đạo Mimamsaka (Thanh Thường Trú) và Vaiceshika (Thắng Luận).

[24] Kiếp Tỷ La, giáo chủ phái Samkhya

 

Chương 10

Hồi hướng công đức

1) Do công đức biên tập Bồ Tát Hạnh này, nguyện cho tất cả chúng sinh đều bước chân trên Bồ Tát đạo.

2) Nguyện cho tất cả chúng sinh, bất cứ nơi đâu, đang bị đau khổ hành hạ thân và tâm, nhờ công đức này, đều được biển an lạc, sung sướng.

3) Ngày nào (họ) c̣n ở trong luân hồi, ngày đó hạnh phúc của họ không bị tiêu giảm. Nguyện cho họ luôn thành tựu được sự an vui của chư Bồ Tát.

4) Nguyện cho tất cả chúng sinh trong địa ngục đều hưởng được niềm vui sướng của Cực Lạc (Sukhavati).

5) Cho kẻ rét lạnh được sưởi ấm, kẻ nóng khát được mây vô lượng công đức của chư Bồ Tát đổ mưa tưới mát.

6) Cho rừng hoa đao kiếm biến thành vườn hoa đẹp Nandana [1] và những cây gai nhọn biến thành cây thành tựu điều ước.

7) Cho những biên ngục trở thành hồ sen rực rỡ thơm ngát với những đàn thiên nga, bạch hạc.

8) Cho đống than hồng biến thành ngọc báu. Cho mặt đất nóng bỏng trở thành cẩm thạch. Cho những "núi đè người" ở địa ngục hóa thành cung điện chư thiên, thờ phụng các đấng Thế Tôn.

9) Cho những trận mưa than, kiếm, đá lửa biến thành mưa hoa. Cho những trận chém giết bằng đao, gươm biến thành trận hoa chiến.

10) Cho những kẻ trầm ḿnh trong sông Vaitarani, da thịt rách nát lộ xương trắng như hoa huệ, nhờ phước lực của ta, đều được thân trời, vui chơi với thiên thủy thần trong sông Mandakini [2].

11) Cho vệ sĩ của Diêm Vương cùng đàn quạ và diều hâu ghê tởm, bất th́nh ĺnh thấy bóng đêm tan biến, sợ hăi hỏi nhau: "Ánh sáng êm dịu, nhẹ nhàng này từ đâu đến?". Và ḱa! Ngửng mặt lên, thấy Kim Cang Tạng Bồ Tát (Vajrapani) huy hoàng đứng trên không, chúng cảm thấy trút hết tội lỗi và mừng rỡ bay theo ngài.

12) Và đây một trận mưa hoa sen và hương thủy. Ôi, sung sướng! Khi thấy ngọn sóng lửa địa ngục bị dập tắt, những kẻ tội nhân kia tự hỏi: "Ai đă làm thế?". Ngay đó Liên Hoa Tạng Bồ Tát (Padmapani) liền xuất hiện.

13) "Anh em ơi, đừng sợ hăi, hăy mau mau lại đây! Có vị Vương Tử Bồ Tát choàng khăn [3] đến cứu chúng ta đây rồi! Ngài có thần lực bảo vệ chúng sinh, tiêu diệt phiền năo, đem lại an vui".

14) "Hăy nh́n ḱa! Trên những ṭa sen nơi chân ngài óng ánh vương miện của chư thiên đang đảnh lễ ngài; mắt ngài long lanh lệ từ bi, trên đầu ngài mưa hoa rơi từ những cung điện văng vẳng tiếng hát của muông ngàn thiên nữ đang xưng tán ngài. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát đó!". Thấy ngài như vậy, những tội nhân kia mừng rỡ reo ḥ.

15) Do công đức của ta, cầu cho tất cả tội nhân địa ngục được vui mừng thấy Phổ Hiền và chư Bồ Tát hóa hiện những đám mây hương thủy thanh lương đổ tràn xuống họ, dập tắt đau khổ phiền năo.

16) Cầu cho tất cả chúng sinh nơi địa ngục mau giải thoát, an vui.

17) Cho loài súc sanh không c̣n cắn xé lẫn nhau; cho loài ngạ quỷ được sung sướng như người ở Bắc Câu Lư Châu (Uttarakuru).

18) Cho loài ngạ quỷ được no đủ, tắm mát và giải khát trong suối sữa chảy từ tay Quán Thế Âm Bồ Tát.

19) Cho kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe; cho những đàn bà mang thai, sinh con không đau đớn như hoàng hậu Ma Gia.

20) Cho kẻ rách được y phục, kẻ đói được thức ăn, kẻ khát được nước uống, kẻ nghèo được tiền của.

21) Kẻ yếu thế được bảo vệ, người buồn bă được yên vui, kẻ lo âu được may mắn hạnh phúc.

22) Cho bịnh nhân được b́nh phục, tù nhân được tự do, tất cả đều thương yêu lẫn nhau.

23) Cho tất cả du khách, dù đi bất cứ nơi đâu đều gặp an ổn thuận tiện.

24) Cho người thủy thủ lưới được những ǵ mong muốn và trở về b́nh yên, đoàn tụ gia đ́nh.

25) Cho những kẻ lang thang trong rừng, gặp được đoàn du khách cùng đi không mệt, không sợ trộm cắp, thú dữ.

26) Cho những Hộ Thần luôn bảo vệ người già, kẻ điên, người yếu vía, kẻ bị bỏ rơi trong cơn hiểm nghèo của bịnh tật hay rừng hoang.

27) Cho chúng sinh không bị ràng buộc, có đủ đức tin, trí huệ, ḷng thương người, vui vẻ, chánh nghiệp, và chánh niệm.

28) Cho chúng sinh không ham muốn nhiều tiền của mà chỉ thích kho tàng vô tận là hư không và tự do, sống trong ḥa thuận và độc lập.

29) Cho kẻ tu hành yếu đuối có nhiều nghị lực. Nếu thân thể xấu xí sẽ được đẹp đẽ.

30) Cho tất cả người nữ được trở thành nam, những người thấp kém trở nên thanh cao và không kiêu ngạo.

31) Do công đức, phước lực của ta, cầu cho tất cả chúng sinh xa ḱa mọi tội ác, suốt đời tu tập hạnh lành.

32) Cầu cho tất cả chúng sinh không bao giờ ĺa bỏ tâm Bồ Đề, luôn luôn hành hạnh Bồ Tát, thường được chư Phật gia hộ không rơi vào bẫy của Ma Vương.

33) Cho tất cả mạng sống được dài lâu, muôn đời hạnh phúc, không c̣n nghe thấy danh từ "chết".

34) Cho mười phương hư không đầy dẫy chư Phật và Bồ Tát, xuất hiện trong những vườn hoa tuyệt đẹp, có âm thanh êm dịu tuyên nói chánh pháp.

35) Cho toàn cơi mặt đất không gồ ghề đá sỏi, bằng phẳng, êm dịu như ḷng bàn tay và đầy dẫy ngọc báu.

36) Cho các đại hội Bồ Tát mở khắp nơi, trang nghiêm mặt đất bằng hào quang của các ngài.

37) Cho tất cả chúng sinh đều nghe tiếng pháp âm vi diệu phát ra không ngừng từ các loài chim, cây, ánh sáng tỏa khắp bầu trời.

38) Cho chúng sinh luôn được ở gần chư Phật, Bồ Tát; luôn xưng tán bậc Thiên Nhân Sư bằng những đám mây cúng dường.

39) Cho mưa thuận gió ḥa, lúa mạ ph́ nhiêu, mùa màng tươi tốt, vua hiền thương dân, quốc gia thịnh vượng.

40) Cho cây cỏ đều là linh dược, thần chú được thành công; các Nữ thần, La Sát, ma quỷ đều thấm nhuần tâm từ bi.

41) Cho không c̣n một chúng sinh nào đau khổ, tội lỗi, bịnh tật, thua thiệt, chán nản.

42) Cho chùa và Tu viện là những nơi tu học được thanh tịnh, phát triển. Tăng Già luôn ḥa hợp và thành tựu mục đích.

43) Cho các Sư Tăng được nhiều trí huệ, ham thích tu học, t́m được những nơi thanh vắng, tu tập thiền định với tâm tỉnh thức không loạn tưởng.

44) Cho các Sư Ni được bố thí đầy đủ, sống không tranh chấp, căi vă, phiền năo. Cho tất cả hàng xuất gia đều giữ giới cẩn thận.

45) Cho kẻ phạm giới biết nhận lỗi và sám hối không tái phạm. Cho những ai giữ giới thanh tịnh chóng thành Đạo quả.

46) Cho các bậc xuất gia đều là hiền giả, được kính trọng, bố thí, tư cách trong sạch, vang danh bốn phương.

47) Cho chúng sinh không c̣n khổ địa ngục, không gặp chướng ngại khó khăn. Với một thân độc nhất (hơn cả chư thiên) này liền có thể thành Phật.

48) Cho tất cả chúng sinh luôn cúng dường xưng tán chư Phật và hưởng niềm an lạc vô tận, bất khả tư ngh́ của chư Phật.

49) Cho những đại nguyện của chư Bồ Tát thành tựu chúng sinh. Cho những tâm niệm của các Đấng Bảo Vệ [4] thành tựu thế gian.

50) Cho các bậc Thanh Văn, Bích Chi luôn an vui, được Trời, Người, A Tu La cung kính cúng dường.

51) Cho tới khi nào chứng được Hoan Hỷ Địa [5], ta luôn được Văn Thù Bồ Tát gia hộ, thường nhớ lại tất cả đời quá khứ; đời nào cũng xuất gia thọ giới tu hành chánh niệm.

52) Trong tất cả tư thế, thời gian ta đều giữ được định lực. Trong tất cả kiếp tái sinh, ta đều t́m được nơi thanh vắng để tu hành Phật Pháp.

53) Nguyện khi muốn hiểu hay hỏi điều ǵ, ta liền được thấy đấng Thủ Hộ Vương Văn Thù Sư Lợi hiện đến trước mặt.

54) Như Văn Thù Bồ Tát đi khắp mười phương, thành tựu lợi ích cho vô lượng chúng sinh, nguyện cho hạnh của ta cũng được như của ngài.

55) Ngày nào hư không và chúng sinh c̣n, ngày đó ta c̣n tiếp tục tiêu trừ phiền năo thế gian.

56) Nguyện cho tất cả khổ đau của thế gian đều chín mùi nơi ta. Nhờ hạnh-nguyện-lực của chư Bồ Tát, cầu cho chúng sinh thảy đều được an vui.

57) Cho giáo pháp, nguồn gốc của tất cả hạnh phúc, liều thuốc duy nhất giải trừ đau khổ, được trường tồn, xưng tán, hộ tŕ.

58) Tôi xin đảnh lễ Văn Thù Sư Lợi, nhờ ơn Ngài mà tâm tôi hướng thiện. Tôi xin xưng tán bậc Thánh Trí toàn thiện, nhờ ơn Ngài mà tâm tôi tăng trưởng.

Chú thích:

[1] Nandana: vườn hoa cung trời Đế Thích (Indra).

[2] Vaitarani: sông ở địa ngục. Mandakini: sông ở cảnh trời.

[3] Tức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (Manjusri).

[4] Gonpo: đấng Thủ Hộ, tức là chư Phật, Bồ Tát.

[5] Pramuditabhumi: Sơ địa của Bồ Tát.

 

Thư mục - Tài liệu tham khảo

Abhayashri: La vie merveilleuse de 84 grands sages de l'Inde ancienne. Ngor Ewam Phende Ling 1988.

Candrakirti: Madhyamikavatara. L'Entrée au milieu. Editions Dharma 1985.

De la Vallée Poussin: Introduction à la pratique des futurs Buddhas. Librairie Bloud et Cie 1907.

Étienne Lamotte: Mahaprajnaparamitasastra. Institut Orientaliste. Louvain 1949.

Indo-Iranian Journal - Volumes XVi (1974) Mouton The Hague 1975

Santideva:

-La marche à la lumière. Louis Finot. Les deux océans.1987
-A guide to Bodhisattva's way of life. Stephen Batchelor. Library of Tibetan works and archives.

Taranatha: History of Buddhism in India. Edited by Debiprasad Chattopadhyaya.

Thích Trí Tịnh:

Kinh Hoa Nghiêm. Phật Học Viện Quốc Tế 1984.
Kinh Ma Ha Bát Nhă Ba La Mật. Chùa Khánh Anh.

Thích Thiền Tâm: Phật Học Tinh Yếu. Phật Học Viện Quốc Tế 1984

Thích Huyền Vi: Yếu Nghĩa Phật Pháp. Sutrasamuccaya. Institut de Recherche Bouddhique Linh Son 1985.

Thích Đức Niệm: Kinh Bảo Tích. Phật Học Viện Quốc Tế 1987.

Thích Trí Siêu: Bố Thí Ba La Mật 1988.

Tsongkhapa: Lam Rim Chen Mo. Le grand livre de la Progression vers l'Eveil. Editions Dharma 1990.


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Bồ Tát >>