categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

HỘI PHẬT HỌC PHỔ MINH

-Xuân 2007-

 


Bodhicaryàvatàra

NHẬP HẠNH BỒ TÁT

 

Sàntideva (Tôn giả Tịch Thiên) 

Việt dịch:  Nguyên Hiển

Hiệu đính: Lê Triều Phương

 

 

 

LỜI NÓI ĐẦU

Ngài Sàntideva (Tịch Thiên, 691-743) viết luận này tại Học Viện Nalanda, Ấn Độ vào thế kỷ 8. Ngài diễn giảng đường tu hạnh Bồ Tát, hạnh Lục độ và tu mười đại hạnh của Phổ Hiền Bồ Tát. Đọc tụng luận này, hành giả có thêm hùng tâm dũng chí để giúp Đạo, cứu đời.

Dịch giả đă tham cứu các bản dịch dưới đây:

- Bản Hán dịch của Trần Ngọc Giao

- Bản Pháp dịch của Georges Driessens

- Bản Anh dịch của Kate Crosby và Andrew Skilton

- Bản Việt dịch của Thích Nữ Trí Hải .

Luận này là sách gối đầu giường của Tăng, Ni, Phật tử theo lối tu Đại thừa ở Ấn Độ, Tây Tạng, Mông Cổ và Trung Hoa. V́ dịch theo lối thi kệ để dễ tụng đọc và dễ nhớ cho nên quá súc tích và quá ngắn gọn, v́ vậy không thể tránh khỏi có chỗ vụng về và tối nghĩa. Xin chư tôn đức cùng quư Phật tử cao minh từ bi chỉ giáo để khi tái bản dịch phẩm này được hoàn chỉnh hơn. 

Xin chân thành cảm tạ hai Pháp hữu Tâm Zen và Như Pháp Trí đă giúp phần hiệu đính và hoàn thành dịch phẩm này. Xin hồi hướng công đức đến pháp giới chúng sanh thoát ly luân hồi khổ năo, viên thành Phật đạo. 

California, Mùa Phật Đản 2459-2005

Nguyên Hiển

 

Lời thưa về việc hiệu đính

 

Tập Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát,“ của Tôn giả Santideva, do cư sĩ Nguyên Hiển dịch sang Việt ngữ năm 2005, theo thể kệ, đă đến tay tôi trong một hoàn cảnh đầy kỷ niệm. Năm 2005, chúng tôi bị một bệnh nặng hành hạ suốt nửa năm dài. Hàng ngày đau nhức vô cùng. Chúng tôi chưa đồng ư để bác sĩ mổ và kham nhẫn chịu đựng. Hàng ngày niệm Phật và thỉnh thoảng đọc phẩm Phổ Môn. 

Một ngày nọ, năm người bạn từ phương xa đến thăm v́ muốn „tiếp sức“ cho chúng tôi. Lúc ấy chúng tôi đang nằm ở bệnh viện trong t́nh trạng nửa tỉnh nửa mê. Các bạn phải tṛ chuyện cùng nhau nơi hành lang của bệnh viện. Cuối cùng chúng tôi gặp mặt nhau khoảng 15 phút rồi chia tay. Riêng đạo hữu Nguyên Định đă đem theo để tặng và khuyên chúng tôi nên đọc tập Luận nói trên. Chúng tôi đọc lướt qua và thấy nội dung vô cùng ư nghĩa. 

Một buổi tối, sau bữa ăn chiều, chúng tôi đọc lại tập Luận kỹ hơn. Bỗng dưng trong đầu chúng tôi vang lên âm thanh như ḍng nhạc của những câu kệ trong phẩm Phổ Môn, ví dụ như  

„Bi thế giới lôi chấn,

Từ ư diệu đại vân,

Chú cam lồ pháp vũ

Diệt trừ phiền năo diệm“ hoặc

„Diệu âm, Quán thế âm,

Phạm âm, hải triều âm,

Thắng bỉ thế gian âm,

Thị cố tu thường niệm“.  

Ḷng chúng tôi bỗng nổi lên cảm hứng chỉnh sửa ngay lại một số câu trong bản dịch của cư sĩ Nguyên Hiển, với ước muốn ḿnh có riêng một bản Luận đọc nghe êm nhẹ hơn, dù không bằng những câu ví dụ trong phẩm Phổ Môn.  

Chúng tôi vừa đọc vừa ghi chép cho đến khi cảm thấy buồn ngủ. Kim đồng hồ cho biết đă hơn 2 giờ khuya. Chúng tôi vô cùng kinh ngạc: Tại sao ḿnh đă mất cảm giác đau nhức và mệt mỏi suốt 6 tiếng đồng hồ? Có ǵ linh thiêng và huyền nhiệm tỏa ra từ những ḍng kệ „Nhập Hạnh Bồ Tát“chăng? Chúng tôi đi ra hành lang bệnh viện để kiểm lại th́ giờ. Đồng hồ cho biết đă hơn 2 giờ khuya. 

Hôm sau, đạo hữu Nguyên Châu, trong nhóm những người đă đến thăm chúng tôi, gọi điện thoại hỏi về bệnh t́nh. Chúng tôi thuật lại chuyện kỳ diệu đă trải qua trong đêm. Đạo hữu liền kể ngay cho tôi biết lược sử của Tôn giả Santideva và cho biết Phật tử Tây Tạng rất sùng kính Luận „Nhập Hạnh Bồ Tát“ như Phật tử châu Á sùng kính phẩm Phô Môn. Nhiều Phật tử đă cảm nhận được sức mạnh thiêng liêng toát ra từ tập Luận. Cuối cùng đạo hữu đă khuyên chúng tôi nên cố gắng „đánh bóng“ công tŕnh việt dịch của cư sĩ Nguyên Hiển v́ điều này vừa giúp cho bản thân chúng tôi giảm được sự đau khổ của thân xác trong lúc đau bệnh và biết đâu bạn bè nhờ đó mà có được một bản dịch dễ tụng hơn. Chúng tôi đă hứa sẽ theo đuổi việc „đánh bóng“ ấy. Động cơ quan trọng nhất đă thúc đẩy việc làm của chúng tôi là đạo hữu Nguyên Hiển đă cho phép chúng tôi hiệu đính lại bản dịch của anh. 

Những ngày hôm sau chúng tôi lần lượt nhận được 5 bản dịch khác do bạn bè gởi đến với lời khuyến khích làm công việc hiệu đính. Đó là bản Đức ngữ „Eintritt in das Leben zur Erleuchtung“ do G.S. Ernst Steinkellner chuyển ngữ năm 1981, ba bản Việt ngữ gồm có: „Bồ Tát Hạnh, do Thượng Tọa Thích Trí Siêu dịch năm 1990, „Nhập Bồ Tát Hạnh“ do Ni Sư Thích Nữ Trí Hải dịch năm 1998 và „Một tia chớp sáng trong đêm tối“ do đức Dalai Lama giảng giải và do Đoàn Phụng Mệnh dịch năm 1999 và bản Anh ngữ „Engaging in Bodhisattva Behavior“ do ông Alexander Berzin dịch năm 2005. Sáu bản dịch rất công phu với những chú giải rơ ràng mà chúng tôi đọc được, đă soi sáng cho chúng tôi thấy được nội dung và ư nghĩa của con đường đi của các bậc Bồ Tát.  Nơi đây, chúng tôi chân thành bày tỏ sự tri ân sâu sắc của chúng tôi đến tất các vị dịch giả và giảng giải. 

Hôm nay, sau gần một năm rưi, chúng tôi hoàn thành bản hiệu đính với tâm trạng khinh an, mặc dù vẫn c̣n nhiều khuyết điểm. Chúng tôi xin hồi hướng công đức đến tất cả chúng sinh và cầu mong cho tất cả đều đạt được mục đích giác ngộ và giải thoát. 

Chúng tôi cũng xin bày tỏ sự cám ơn sâu sắc đến hiền nội và bằng hữu đă khuyến khích và hỗ trợ việc hiệu đính, hỗ trợ t́m tài liệu, đánh vi tính và sửa lỗi chính tả.

 

                Göttingen, Germany, ngày 14.01.2007

Lê Triều Phương

 

 

TIỂU SỬ

TÔN GIẢ TỊCH THIÊN (SÀNTIDEVA) 

 Thích Trí Siêu  (Pháp)

 

  Theo truyền thuyết tôn giả Sàntideva sinh ở miền Nam Ấn, vùng Sri Nagara vào khoảng thế kỷ thứ 7. Ngài là thái tử con vua Surastra. Từ những kiếp quá khứ, ngài đă cúng dường phụng thờ nhiều đức Phật và đă tích tụ nhiều căn lành đưa đến giải thoát. Nhờ phước đức ấy nên ngay từ lúc ấu thơ, ngài đă nhiều lần chiêm bao thấy Văn Thù Bồ Tát.

Lớn lên, đến tuổi sắp được vua cha truyền ngôi, một hôm ngài nằm mộng thấy hai vị Bồ tát: Văn Thù và Tara. Bồ tát Văn Thù ngồi trên ngai vàng, bảo ngài rằng: ”Ở đây không có chỗ cho hai người”. Bồ tát Tara tưới nước nóng trên đầu ngài và nói rằng: ”Vương quyền chính là nước sôi bỏng của địa ngục. Ta đang tấn phong cho ngươi về nước nầy đây.”

 Tỉnh dậy, ngài hiểu rằng đó là sự khuyến cáo của hai vị Bồ tát, nên đêm hôm trước khi ngài lên ngôi, ngài rời bỏ cung thành trốn vào rừng sâu. Sau 21 ngày lang thang trong rừng, vừa khát vừa đói, ngài gặp được một con suối, sắp sửa định uống th́ có một thiếu nữ xuất hiện bảo ngài đừng uống v́ đó là nước độc, sau đó thiếu nữ dâng cho ngài một thứ nước thơm ngọt như cam lồ. Giải khát xong, ngài hỏi thiếu nữ: ” Cô ở đâu đến?” . Thiếu nữ trả lời: ”Ở giữa khu rừng mênh mông này là nơi thầy tôi ở, ngài rất đạo đức, từ bi và đă thành tựu phép tam muội củaVăn Thù Kim Cang Sư Lợi (Sri Manjuvajra). Tôi từ đó đến đây”.

Vừa nghe như thế, tôn giả Sàntideva mừng rỡ như kẻ nghèo bắt được vàng, yêu cầu thiếu nữ dẫn ngài đến gặp vị thầy kia. Đến nơi ngài thấy đó là một vị hành giả (Yogi) sống trong một cḥi lá, ngài liền đảnh lễ, xưng tán cúng dường và cầu xin được truyền phép tam muội của Văn Thù Bồ Tát. Sau 12 năm ở đó tu tập, ngài chứng được phép tam muội trên, thấy được vị thầy kia chính là Văn Thù và thiếu nữ kia chính là Tara. Kể từ đó ngài luôn luôn được thấy Văn Thù Bồ Tát.

Sau đó ngài đi về phương Đông, xin vào làm việc trong triều của vua Pancamasimha. Nhờ tài giỏi và thông minh nên ngài được vua trọng vọng cho làm Thừa Tướng. Để tỏ ḷng thành kính nhớ ơn vị thần linh chủ hộ của ḿnh, tức Văn Thù Bồ Tát, ngài luôn đeo trên ḿnh một thanh kiếm gỗ. Ngài giúp vua trị v́ đúng theo Phật pháp và truyền dạy nhiều kỹ nghệ mới lạ. Điều đó khiến các vị đại thần khác ganh tức, t́m cách gièm pha và hăm hại ngài. Họ bảo vua rằng: ”Thừa tướng là một người gian xảo, luôn đeo trên ḿnh một thanh kiếm mà không bao giờ rút ra cho ai xem cả. Chúng tôi biết thanh kiếm ấy làm bằng gỗ. Gặp lúc nguy biến làm sao Thừa tướng có thể cứu nguy cho Bệ hạ được? Xin Bệ hạ hăy khám nghiệm lại”. Vua tin lời cho triệu Thừa tướng vào bắt phải rút kiếm ra khỏi vỏ cho vua xem. Thừa tướng nói: ” Kiếm của tôi, Bệ hạ không thể nh́n được, nếu không Bệ hạ sẽ hối hận”. Nghe vậy, vua càng nghi ngờ nhất quyết đ̣i xem.

Cuối cùng, Thừa tướng nói với vua: ”Nếu Bệ hạ nhất quyết muốn xem th́ hăy theo tôi đến chỗ vắng, lấy tay che mắt phải lại, chỉ nh́n bằng mắt trái thôi”. Vua chấp thuận và Thừa tướng rút kiếm ra, hào quang lóe lên quá mạnh khiến con mắt trái của vua rơi xuống đất. Vua liền ăn năn hối hận, biết ngài là một người đắc đạo, một Đại thành tựu giả nên cầu xin sám hối. Biết vua đă ăn năn, Thừa tướng nhặt mắt trái của vua bỏ vào tṛng lại khiến vua khỏi mù.

Sau đó tôn giả bỏ chức Thừa tướng, t́m đến tu viện Nalanda, xuất gia thọ giới, được đặt tên là Sàntideva. Sau khi nghe hết ba tạng kinh điển, tôn giả thầm biên soạn 3 bộ luận: Siksàsamuccaya, Sùtrasamuccaya và Bodhicaryàvatàra.

Ngài tu mật hạnh, học trực tiếp với Văn Thù Bồ tát trong thiền định. Tất cả thời ăn, ngủ, đi, đứng, ngài đều thiền quán về Thanh Quang. Tuy vậy, chúng tăng bên ngoài thấy ngài chỉ ăn với ngủ, không chịu văn, tư, tu ǵ cả. Thấy thế một số Thượng toạ học giả họp nhau lại định tống khứ ngài ra khỏi tu viện. Có người cho ư kiến:  Nếu chúng ta họp lại, bắt mỗi người phải tuần tự trùng tuyên lại Kinh Luận ; ban đầu ngài từ chối, nói rằng không biết ǵ. Chúng tăng muốn làm nhục ngài nên làm bộ nài nỉ, cuối cùng ngài nói: ”Nếu vậy, phải làm cho tôi một toà sư tử tôi mới trùng tuyên”. Nghe vậy có vài người đâm ra nghi ngờ, nhưng đa số chấp thuận v́ tin rằng ngài không thể trùng tuyên Kinh Luận ǵ được.

Sau khi lên ngồi toà sư tử, ngài hỏi: ”Các vị muốn tôi tụng lại Kinh Luận đă có từ trước hay những sáng tác mới sau này?”. V́ muốn chế giễu ngài nên đại chúng nói: ”Những sáng tác mới sau này”. Thế là ngài bắt đầu tụng lên Bồ Tát Hạnh (Bodhisattava-caryavatara). Khi tụng đến câu: Khi Có và Không không c̣n khởi lên trong tâm…... th́ ngài bay lên hư không rồi từ từ biến mất, nhưng tiếng của ngài c̣n vọng lại cho đến câu kệ cuối cùng của Bồ Tát Hạnh. Không thấy ngài nữa, Tăng chúng hối hận trở về pḥng ngài t́m kiếm, thấy trên bàn để lại ba quyển: Sutràsamuccaya (Tập kinh luận), Siksàsamuccaya (Tập Bồ Tát học luận) và Bodhicaryàvatàra (Nhập Bồ đề hành luận).

 

 

 CHƯƠNG I 

 

LỢI ÍCH CỦA TÂM BỒ ĐỀ 
 

Đối tượng và mục đích

   
1. Con trân trọng cúi đầu

Đảnh lễ các đức Phật (1)

Cùng các vị Thừa Kế (2)
Và những bậc đáng kính. 
Con nương lời Phật dạy

Xin nêu lên ngắn gọn  
Lối vào hạnh Bồ Tát  
   
2. Luận này nghĩa chẳng mới  
Vần điệu cũng không hay  
Chẳng dám v́ lợi tha  
Viết ra để nhắc nhở

Và thấm nhuần tâm ḿnh.  
   
3. Nhờ sự nhắc nhở này  
Mà tín tâm tăng trưởng  
Ai cùng một tin tưởng  
Cũng được lợi ích nhiều.

 


Lợi ích của tâm bồ đề

   
4. Hạnh phúc thay gặp duyên

Sinh ra thân con người

Nay không nhân cơ hội

Để tu hành giải thoát  
Sau này t́m đâu ra.  
   
5. Như đêm mây dày dặc  
Được lằn chớp chiếu soi 
Nhờ thần lực chư Phật
Tâm lành thoảng khởi lên.  
 
6. Đức hạnh rất yếu ớt

Trước sức mạnh điều xấu   
Chỉ có tâm Bồ đề  
Mới cưỡng lại, đứng vững.  
   
7. Trải nhiều kiếp tư duy  
Phật thấy tâm Bồ đề
Có công đức vô lượng  
Cứu vô số chúng sinh

Thoát ra ngoài biển khổ.  
   
8. Muốn thoát khổ của đời  
Trừ tai họa muôn loài  
Muốn được chân hạnh phúc  
Chớ rời tâm bồ đề  
   
9. Người người trong sanh tử  
Phát được tâm bồ đề  
Được gọi là con Phật  
Xứng đáng được tôn kính  
   
10. Nước phép tâm bồ đề  
 Sẽ biến thân ô trược  
 Thành thân Phật vô giá  
 Hăy giữ Bồ đề tâm 
   

11. Đấng Đạo sư thấy rơ  
 Tâm Bồ đề qúi báu  
 Muốn vượt thoát ba cơi   
 Phải giữ vững tâm này.
   
12. Làm lành như cây chuối  

Quả hết rồi héo khô  
Tâm Bồ đề to lớn

Như đại thụ xum xuê  
Luôn sinh quả tươi tốt.

 

13. Người đời phạm tội nặng  
 Nhờ thế lực che chở  
 Biết sự nghiệp đă tạo  
 Sao chẳng t́m chỗ nương?  
   
14. Đức Di Lặc đă giảng

cho Thiện tài biết rằng

Tâm Bồ đề kỳ diệu

Như lửa thời hoại kiếp

Đốt tan bao tội nặng

Chỉ trong một sát na. 

 

 

Hai loại tâm bồ đề
        
15. Tâm bồ đề bao gồm
 Hai nguyện để tu tập:  
 Trước là nguyện phát tâm  
 Sau thực hành tâm ấy.   
   
16. Ai cũng đều biết rằng
“Muốn đi“ khác với “đi“  
 Người trí nên biết rơ 
 Sự khác biệt như vậy. 
   
17. Nguyện phát tâm bồ đề  
 Tuy sinh kết quả lớn  
 Song không thể sánh bằng
 Nguyện thực hiện tâm này.

 

 

Ca ngợi tâm bồ đề 
   
18-19. Những ai đă quyết tâm

Cứu độ mọi chúng sinh

Th́ không thể ngừng nghỉ

Thực hiện tâm bồ đề.  
Từ lúc ấy trở đi  
ngay trong khi ngủ nghỉ  
Phước đức vẫn liên tục  
Tăng lớn như hư không  
   
20. Để người tin Tiểu thừa

Không ngừng bước tiến lên   
Trong Kinh Vấn Diệu Lư  
Đấng Như Lai đă dạy 
Công đức tâm bồ đề

Thật rộng lớn vô biên.  
   
21-22. Chỉ nghĩ cách chữa lành 
Đầu mọi người khỏi nhức
Là sự phát tâm quư  
Đem cho ta phước đức. 
   
Phước đức càng lớn hơn

Khi cứu giúp chúng sinh

Thoát ưu phiền thống khổ

Đạt được cơi an lành. 
   
23. Có cha nào, mẹ nào  
Đă phát tâm như vậy?  
Tiên, chư Thiên, Phạm Thiên  
Đă có chưa tâm ấy?  
   

24. Xưa nay dù trong mơ

Chưa ai nguyện như thế

Dù v́ lợi cho ḿnh

Nói chi đến phát nguyện

Cứu độ cho người khác.

 

25. Làm sao có thể t́m

Được một vị Bồ Tát

[Một viên ngọc hy hữu]

Giữa chúng sinh ích kỷ

Chẳng biết làm điều lành

V́ lợi ích chúng sinh!

 

26. Tâm bồ đề trân quư  
Là mầm mống an vui  
Là linh dược diệt khổ  
Tạo phước đức vô lường. 
   
 27. Ư nghĩ làm lợi người  
Đă hơn phước cúng Phật  
Huống chi luôn nỗ lực  
Làm lợi lạc chúng sinh. 
   
28. Có biết bao chúng sinh

Tuy cầu mong an vui

Song hủy diệt nguồn cội

Sản sinh ra hạnh phúc

Như tận diệt kẻ thù.   
   
29. Chúng sinh thiếu niềm vui  
Lại chịu nhiều đau khổ  
Tâm nguyện Bồ đề này  
Đem vui và diệt khổ. 
   
30. Tâm Bồ đề có thể  
Trừ diệt sự ngu si  
Có bạn lành nào sánh  
C̣n phước nào lớn hơn?  
   
31. Ta khen kẻ đáp ơn  
Khi thọ ân bố thí   
Bồ tát luôn ban ơn

Dầu chưa được cậy nhờ

Với tâm hạnh như vậy

Đáng ca ngợi xiết bao!  
    

32. Kẻ bố thí thức ăn

Giúp chúng sinh đỡ đói

Dù họ no nửa ngày

Đă là người đáng trọng  
 
33. Bồ tát thường ban cho    

Niềm vui của chánh giác  
Làm thỏa măn tất cả  
Nguyện vọng mọi hữu t́nh . 
   
34. Đức Phật đă dạy rằng

Bồ tát cứu muôn loài

Nên đáng được tôn quư

Ai phỉ báng Bồ tát

Sẽ sa đại địa ngục   
   

35. Ngược lại, ai tín thành

Cung kính chư Bồ tát

Sẽ hưởng phước đức lớn

Bồ Tát dù gian nan

Việc ác vẫn không làm

Càng hăng làm việc thiện. 
   

36. Tôi kính xin đănh lễ

Người phát tâm bồ đề

Đem vui cho chúng sinh

Cho cả kẻ hại ḿnh.

Tôi cúi đầu kính lạy

Và xin được quy y

Nơi chư vị Bồ tát

Cội nguồn chân hạnh phúc.   

 

 

 

CHƯƠNG II

SÁM HỐI TỘI NGHIỆP  
   

Nghi lễ Bồ Tát

 

Ca ngợi

   
1. Để con nắm giữ được

Tâm nguyện quí giá này  
Con cúng dường chư Phật  
Và Pháp Bảo thiêng liêng

Con cúng dường Bồ tát  
Đầy phẩm tính tốt lành.  

 

 

Cúng dường
   
2. Cúng dường hoa quả tươi  
Thức ăn ngon quư nhất

Nước uống thật tinh khiết

Vật quư báu trên đời 
 
3. Cúng dường núi châu báu

Rừng thanh tịnh ngát hương

Hoa cơi trời diễm tuyệt

Trái quư buông trĩu cành  
   
4. Cúng dường những hương thơm

Ngào ngạt cơi trời đất

Cúng dường trang sức quư

Cúng dường cây như ư

Thành tựu mọi ước mơ

Cúng dường mọi ngũ cốc

Tự sinh không người trồng.   
 
5. Cúng dường ao sen đẹp

Thiên nga hót dịu êm

Và mọi vật vô chủ

Đầy dẫy khắp bầu trời.   
   
6. Con giữ chúng trong tâm

Dâng lên đấng Thế Tôn

Và chư vị Bồ tát  
Thỉnh cầu đức Thế Tôn  
Từ bi nghĩ đến con

Mà nhận vật cúng dường.  
   
7. Con vô phước bần cùng  
Không một chút tài sản  
Kính xin đức Phật thương  
Nhận lễ vật tâm con. 
   
8.  Con nguyện đem thân tâm  
Để làm kẻ nô bộc 

Phụng sự Phật, Bồ tát  
Mong quí ngài xót thương

Thâu nhận lễ vật này.  
   
   
9.  Được các ngài thâu nhận

Thân tâm con siêu thoát  
Con nguyện sống lợi tha  
Diệt trừ các ác nghiệp.  
    
10-11. Đây nhà tắm tráng lệ

Nền thủy tinh long lanh

Cột trụ khảm trân châu

Lọng dù bằng ngà ngọc  
   
Trần thiết lộc b́nh quư  
Đầy nước thơm thích ư  

Ngân vang muôn diệu âm  
Thỉnh Phật, Bồ tát tắm  
   
12. Đây khăn tắm sạch thơm
Lau khô thân các ngài  
Đây y phục cơi trời

Với màu sắc mỹ lệ

Lan tỏa hương dịu thơm. 
   
13. Đây y phục mềm mại  
Và trăm trang sức quư  
Dâng lên Đức Phổ Hiền, 
Văn Thù, Quán Thế Âm. 
   
14. Hương liệu thơm vũ trụ  
Xin thoa ngọc thể Ngài  
Tỏa hào quang thanh tịnh  
Óng ánh sắc vàng ṛng.  
   
15. Xin cúng dường chư Phật

Các tràng hoa đẹp đẽ

Kết từ hoa tươi thơm

Như hoa sen, hoa lài

Hay hoa mạn đà la. 
   
16. Con xin dâng chư Phật

Vầng mây hương ngây ngất

Dâng thực phẩm cơi trời

Thức ăn uống đẹp ngon. 
   
17. Con dâng đèn hoa ngọc 
Chân chạm đá sen vàng  
Nền nhà dịu mát hương  
Rải đầy hoa đẹp ư. 
   
18. Xin cúng dường chư Phật

Những lâu đài tráng lệ

Rèm buông ngọc lung linh

Du dương ngân tiếng hát. 
   
19. Xin dâng hiến chư Phật  
Lọng che bằng châu ngọc 
Cán đúc toàn vàng ṛng  
Viền thêu hoa mỹ lệ. 
   
20. Cúng phẩm nhiều như mây  
Nhạc du dương hoà tấu
Khổ đau được dịu xoa
Mong sao chúng măi c̣n.  
   
21. Mưa hoa, mưa ngọc ngà

Mong luôn luôn buông rơi  
Trên thân Phật, tháp Phật

Trên giáo pháp diệu kỳ. 
   
22. Như Ngài Diệu Cát Tường   
Xưa kia cúng dường Phật  
Nay con xin cúng dường  
Phật, Bồ tát như vậy.  
   
23. Dùng âm vang hải triều  
Tán dương công đức Phật  
Nguyện tiếng tán dương này  
Luôn vang đến các Ngài. 
   
24. Nguyện hoá thân như bụi  
Lễ lạy Phật ba đời  
Lễ lạy Pháp và Tăng  
Cùng khắp cả pháp giới. 
    
25. Con lễ lạy tháp Phật  
Các nơi Bồ tát ở (3)
Lễ bậc tŕ giới nhất  
Kính lễ hàng thánh tăng.

 

 

Quy y 
   
26. Từ nay cho đến khi
Đạt Vô thượng Bồ đề  
Con nguyện quy y Phật,  
Pháp và chư Bồ Tát.

 

 

Sám hối 
   
27. Trước chư Phật, Bồ Tát

Ở cùng khắp mười phương  
Thánh chúng bi trí huệ  
Con xin chấp hai tay  
Thành khẩn nguyện như vầy:   
   
28-29. Từ vô thỉ đến nay  
Trôi lăn trong sinh tử

Với tội ác không lường

Do tự ḿnh gây ra

Hay xúi giục người làm

V́ vô minh che lấp

Nay con biết lỗi lầm

Thành tâm xin sám hối. 
   
30-31. Lỗi lầm con đă phạm

Qua nghiệp thân, khẩu, ư

Đă gây bao tổn hại

Cho Tam bảo (4), mẹ cha

Cũng như cho Thầy Tổ

Và cho bao kẻ khác

Nay trước đức Thế Tôn

Con thành tâm sám hối

Mọi tội lỗi gây ra.    
   
 32. Nếu sám hối chưa trọn  
Con lỡ chết th́ sao?   
Vậy xin Ngài mau cứu  
Trước khi thần chết đến.  
   
33. Thần chết thật lừa lọc

Nó không biết đợi chờ  
Tội rửa sạch hay chưa  
Dù đang bệnh hay khỏe

Con không thể nào tin

Vào mạng sống mong manh

Lập loè như lửa đóm. 
   
34. Con đă không ư thức

Chết là bỏ tất cả

Nên con đă quanh quẩn

Với bè bạn, kẻ thù

Nên đă tự gây ra

Biết bao điều xấu ác.

   
35. Đời người như mộng ảo

Điều ǵ đă trải nghiệm

Cũng chỉ là kư ức

Tất cả đều trôi qua

Không bao giờ trở lại. 
   
36. Kẻ thù thành hư vô  
Người thân như mây khói
Thân ta rồi phải chết  
Tất cả trở về không. 
   
37. Trong đời ngắn ngủi này

Kẻ thân, thù đă chết

Duy nghiệp ác đă gây

C̣n lại đe dọa ta. 
    
38. Tôi đă không ư thức

Rồi cũng chết như họ

Nên cứ tham sân si

Tạo ra bao lầm lỗi. 
   
39. Mạng sống giảm từng ngày  
Chẳng bao giờ ngừng nghỉ  
Không thể nào tăng lên  
Làm sao ta thoát chết? 
   
40. Đến lúc sắp lâm chung

Dù thân thuộc vây quanh

Thống khổ lúc hấp hối

Tôi gánh chịu riêng ḿnh.  
   
41. Khi Diêm Vương đến bắt  
Thân bằng có ích ǵ?  
Chỉ phước đức mới cứu  
Tôi lại chưa tu tập!  
   
42. Do buông lung không biết

Hậu quả xấu mai sau

Bám víu đời mong manh

Ta tạo bao nghiệp xấu.   

 

43. Như kẻ ra pháp trường  
Kinh hăi, miệng khô đắng  
Mắt trợn trắng, thất thần  
H́nh sắc cũng đổi khác. 
   
44. Huống chi khi thấy bóng

Ma vương đến bắt ta

Kinh hoàng sao kể xiết

Khổ đau dâng tột cùng.  
   
45. Ai cứu tôi ra khỏi  
Cơn sợ hăi lớn này  
Tôi tṛn xoay đôi mắt   
Nh́n bốn phương van cầu. 
   
46. Bốn phương không thấy ai
Sợ hăi lại càng tăng

Không nơi nào che chở

Tôi phải làm sao đây?  
   
47. Con xin quy y Phật

Ngài là đấng Từ Bi

Bảo vệ, đem lợi ích 
Cho tất cả muôn loài  
Có năng lực giải cứu

Tiêu trừ bao hăi sợ.  
   
48. Con xin quy y Pháp   
Mà chư Phật chứng ngộ

Có thể đưa chúng sinh

Sang đến bờ giải thoát

Và con xin quy y

Nơi chư vị Bồ Tát.

   
49. Trong cơn sợ bấn loạn

Con xin dâng thân mạng

Lên Bồ tát Phổ Hiền

Và Bồ tát Văn Thù.

 
50. Với tiếng kêu khẩn thiết

Con cầu Đức Quan Âm

Với tấm ḷng đại bi

Cứu con, kẻ mê lầm. 

51. Con cầu cứu các Ngài  
Hư Không Tạng Bồ Tát  
Địa Tạng Vương Bồ Tát  
Chư Bồ Tát đại bi.  
   
52. Con cũng xin nương tựa  
Kim Cương Trí Bồ Tát  
Ngài mà các sứ giả  
Của Diêm vương khiếp vía . 
   
53. Xưa trái lời Phật dạy

Nay gặp nạn hăi hùng

Con xin quy y Phật

Mau cứu độ cho con.  
 
54-56. Với bệnh nhẹ tầm thường

Đă tuân lời thầy thuốc

Huống chi trăm thứ bệnh

Sinh từ tham sân si! 
   

Một trong trăm bệnh này

Đă đủ làm tiêu hủy

Mọi loài Nam Diêm phù

Nay chạy khắp mọi nơi

T́m không ra thuốc chữa.  
   
Phật là đại y vương

Dạy giáo lư thoát bệnh

Những ai không làm theo

Thực ngu si đáng trách.  
   
57. Bên hố sâu vài trượng

Tôi đi phải đề pḥng

Cạnh địa ngục sâu thẳm

Sao đời đời nhởn nhơ?  
   
58. Nghĩ rằng tôi chưa chết

Nhởn nhơ sống phóng dật

Quả thật là dại khờ

Bởi v́ sớm hay muộn

Cái chết phải đến thôi. 
     
59. Tôi không thể có được

Cái cảm giác dễ chịu

Rằng trong ngày hôm nay

Thần chết sẽ không đến.

Chắc chắn nó xuất hiện

Làm sao yên hưởng nhàn?

 

59. Ai cho sự không sợ

Ai chỉ tôi lối thoát  
Làm sao thoát hăi kinh

Của sự chết phải đến  
Sao có thể nhởn nhơ? 
   
60. Khoái lạc đă trải qua  
Chỉ c̣n là hoài niệm  
Bám víu mà làm chi  
Để trái lời Phật dạy? 
   
61. Chết là ĺa bỏ hết  
Người thân và bạn bè 
Đi vào cơi vô định  
Bạn hay thù ích chi?  
   
62. Tôi nên hằng ngày đêm

Tỉnh thức với tư duy

Rằng gieo ác, gặt ác

Làm sao ta tránh khỏi

Sự gieo xấu ác đây?  
   
63-64. V́ ngu đần, vô minh

Phạm giới do Phật chế

Gây biết bao tội lỗi

Ḷng run sợ ác báo. 

Nay đối diện chư Phật

Con chấp tay đănh lễ

Chư Phật và Bồ tát

Xin thành tâm sám hối.  
   
65. Mong các Ngài tha thứ

Bao tội lỗi từ xưa

Và con xin thệ nguyện 
Vĩnh viễn không tái phạm

Những hành vi độc ác.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG III 

PHÁT TÂM BỒ ĐỀ  



Vui theo hạnh lành

 
1. Tôi xin vui sướng theo

Công đức và hạnh lành

Mà chúng sinh thực hiện.

Tôi cầu họ an vui. 
 
2. Tôi vui mừng ca ngợi

Chúng sinh thoát khổ ải

Và thoát ṿng luân hồi

Thành Bồ tát, thành Phật.
 
3.  Tôi xin vui sướng theo

Tâm nguyện như biển cả

Của chư Phật, Bồ tát

Giúp mọi loài đang sống

Được hạnh phúc an vui.

 

 

Thỉnh cầu chánh Pháp

 
4. Tôi chấp tay thỉnh cầu

Chư Phật khắp mười phương
Đốt lên đuốc chánh pháp
Soi đường kẻ lầm mê

Đang rơi vào thống khổ.

 

 

Thỉnh cầu bậc Chiến Thắng

    ở lại thế gian
 
5. Tôi chắp tay thỉnh cầu

Xin các bậc Chiến Thắng

Đang muốn nhập Niết Bàn

Hăy ở lại thế gian

Suốt hằng hà sa kiếp

Để cứu độ chúng sinh

Thoát khỏi ṿng tăm tối.

 

 

Hồi hướng công đức
 
6.  Với công đức làm lành

Tôi tích tụ từ lâu

Nay xin nguyện hồi hướng

Cứu khổ mọi sinh linh.
 
7.  Với chúng sinh đau bệnh
Nguyện hoá làm thuốc hay
Vừa làm thầy thuốc giỏi
Vừa làm kẻ điều dưỡng.
 
8.  Thời tai ương đói khát

Nguyện làm thức uống ăn

Nguyện như mưa cam lồ

Dập tắt lửa đói khát.
 
9.  Đối với kẻ bần hàn

Nguyện thành kho vô tận

Nguyện thành nhu yếu phẩm

Đáp ứng mọi nhu cầu.

 

 

Tự hiến thân ḿnh
 
10. V́ an vui chúng sinh

Nguyện dâng hiến tất cả

Tài sản và thân mạng

Làm thiện suốt ba đời.
 
11. Buông hết tất thoát khổ
Tâm tất được thanh tịnh
Trước sau phải bỏ hết
Sao bằng bố thí ngay.
 
12-13. Tôi nguyện đem thân này
Bố thí cho chúng sinh
Họ tha hồ mắng chửi

Đánh đập hay giết hại.
 
Hoặc đem ra mua vui

Tâm tôi vẫn vắng lặng

V́ quyết xả thân này

Nên không hề nuối tiếc.
 
14. Trong khi hành hạ tôi

Dù ḷng họ sướng vui

Tôi cũng xin khấn nguyện

Họ không bị ác báo .
 
15-16. Việc ǵ lợi chúng sinh

Tôi khiến thân này làm.

Nguyện ai gặp gỡ tôi

Đều có nhiều lợi lộc.

 

Nguyện ai giận, ghét tôi

Hay vu khống, năo hại

Đều nhân đấy phát tâm

Hướng về đường Giác Ngộ.
 
17-18. Tôi xin nguyện bảo hộ

Cho những người cô đơn

Khách bộ hành cần giúp 

Tôi làm kẻ chỉ đường

Nguyện làm cầu, làm thuyền

Cho kẻ muốn sang sông

 

Tôi nguyện làm ḥn đảo

Cho người mong cập bến

Cho ai cần ánh sáng

Tôi nguyện hóa đuốc đèn

Tôi nguyện thành nhà cửa

Cho người cần nghỉ ngơi

Tôi nguyện làm tôi tớ

Cho kẻ cần người sai.

19.  Nguyện hoá làm ḅ quư
Thành b́nh ngọc như ư
Thành thuốc tiên, bùa linh
Nguyện thành cây như ư

Đáp nguyện ước chúng sinh.

 

20. Nguyện hóa thành nhu yếu
Căn bản cho sự sống
Của vô số hữu t́nh
Như đất, nước, lửa, khí.
 
21. Nguyện làm nhân duy tŕ
Sinh mạng của chúng sinh
Đến lúc không c̣n ai

Chưa chứng quả Niết Bàn.

 

 

Phát tâm bồ đề
 
22-23. Như chư Phật quá khứ 
Khi phát tâm bồ đề
Đều lần lượt tu học
Giới hạnh của Bồ tát.

 

 

Phần thưởng của sự phát tâm
 
24. Nay v́ lợi chúng sinh
Tôi phát tâm bồ đề
Siêng tu học giới hạnh
Mà Bồ tát hành tŕ.
 
25. Sau khi các bậc trí

Đă phát tâm bồ đề

Rồi khiến nó tăng trưởng

Nên ca ngợi như sau:
 
26. Thật phúc thay cho tôi
Nay được mang thân người
Sinh vào gia đ́nh Phật
Được làm con của Phật .
 
27. Vậy từ nay trở đi

Phải cư xử, hành động

Đúng truyền thống nhà Phật

Quyết không làm ô danh

Gịng giống thanh tịnh này.
  
28. Như người mù may mắn
Nhặt được viên trân châu
Tôi phát tâm bồ đề
Cũng may mắn như vậy.
 
29-31. Tâm Bồ đề cam lộ
Mang lại sự bất tử
Là kho tàng vô tận
Trừ khử cảnh nghèo cùng.
 
Là linh dược tuyệt vời

Chữa mọi bệnh chúng sinh

Là bóng mát nghỉ ngơi

Cho lữ khách mệt mỏi.

 

Là cầu đưa chúng sinh

Vượt khỏi đường nguy hiểm

Là vầng trăng dịu soi

Xoa tan bao nóng bức.

 

Là mặt trời chói lọi

Xua đuổi bóng vô minh

Tâm bồ đề này đây

Ví như chất đề hồ

Rút từ sữa Diệu Pháp.

 
Với người khách phiêu bạt
Là lữ quán nghỉ ngơi

Với người t́m an vui

Là cội nguồn hạnh phúc.

32. Nguyện chư Phật chứng giám
Tôi mời khách thập phương
Đến đây để tận hưởng

Niềm vui được thành Phật

Mong chư Thiên, mọi người

Tất cả đều hoan hỷ .

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG IV


THỰC HÀNH TÂM BỒ ĐỀ  
 

Trách nhiệm của Bồ tát

 

1.  Đă phát tâm bồ đề
Con Phật phải tinh tấn
Tu tập không biếng nhác
Không ĺa hạnh Bồ tát.
 
2. Với công việc ngẫu hứng

Ta có thể nghĩ lại

Rằng nên làm hay không

Mặc dù ta đă hứa

 

3. Nhưng không thể buông bỏ

Điều Phật và Bồ tát

Đă quán chiếu chiêm nghiệm

Mà tôi đă thọ lănh.
 
4. Tôi đă thề làm lợi

Cho tất cả chúng sinh
Mà không làm như hứa
Như vậy tôi lừa dối 
Phận tôi sẽ ra sao?
 
5. Kinh đă dạy rơ rằng

Ai định cho kẻ khác

Một vật dù nhỏ nhoi

Song rồi lại không cho

Sẽ đọa làm quỷ đói.
 
6. Tôi đă mời chúng sinh
Dự tiệc đại an lạc
Rồi tôi lại dối gạt
Đời tôi sẽ bi đát!
 
7. Người bỏ tâm bồ đề
Mà được quả giải thoát
Là điều khó nghĩ bàn
Chỉ chư Phật biết rơ.
 
8. Trong giới hạnh Bồ tát

Ai bỏ tâm Bồ đề

Làm chúng sinh bất lợi

Sẽ gặt quả báo ác.
 
9. Ai trong một sát-na
Cản trở người làm thiện
Khiến hữu t́nh bị hại

Sẽ gặp quả báo ác

Thật vô cùng khủng khiếp.
 
10. Phá an lạc một người 
Ta phải bị khốn khổ

Huống chi phá an lạc

Của vô số hữu t́nh

Ác báo không cùng tận.
 
11. Người phát tâm bồ đề
Nhưng hành động ngược lại

Sẽ trôi trong luân hồi

Khó trở thành Bồ tát.
 
12. Phải cung kính thực hành
 Những ǵ đă thệ nguyện
 Nếu tôi không tinh tấn
 Sẽ đọa chốn thấp hèn.
 

Giá trị của cuộc sống

 

13. Vô số Phật ra đời
Mang lợi đến chúng sinh
Nhưng tôi v́ tội xưa
Nên không được ân phước.
 
14. Nếu tái phạm nghiệp cũ
Chắc chắn không thoát khỏi

Số phận thật hẩm hiu
Bệnh đau và tật nguyền
Lăn lóc trong nẻo ác.
 
15. Bao giờ gặp cơ hội

Gặp được Phật xuất thế
Đem ḷng tin Phật pháp
Được thuận duyên tu hành?
 
16. Mặc dù được khỏe mạnh
Đủ ăn, không tổn thương
Nhưng thân này tạm bợ

Nó chỉ là ảo ảnh.
 
17. Với cuộc sống hiện nay

Khó tái sinh thành người

Mà không được thân người

Làm sao làm việc thiện?
 
18. Có cơ hội làm thiện
Mà bỏ qua không làm
Liệu tôi làm được ǵ
Khi thống khổ bức bách?
 
19. Nếu không làm việc thiện
Chỉ toàn làm việc ác
Dù trải qua muôn kiếp
Vẫn không biết cơi lành.
 
20. Đức Thế tôn dạy rằng
Thân người khó được thay
Như rùa mù dưới biển
Cổ ngoi lên trúng ngay

 Vào lỗ ván phiêu bồng.
 
21. Phạm tội nặng chốc lát
Đă phải bị đọa đày

Vào địa ngục vô gián
Vậy với tội muôn kiếp
Làm sao sinh cơi lành?
 
22. Chờ trả xong ác báo
Cũng khó thoát địa ngục
Bởi trong lúc trả nghiệp

Lại gây tội mới thêm.
 
23. Khi được thân con người

Là được cơ hội tốt

Cho mọi việc tu hành

Nếu bỏ cơ hội ấy

Thật không ǵ điên hơn.

 
24. Nếu đă biết như vậy
Mà vẫn ngu si, lười
Khi thần chết gơ cửa
Sẽ đau khổ dường bao.
 
25. Lửa địa ngục hừng hực

Đốt thân tôi nhiều kiếp

Nhưng ngọn lửa ăn năn 
Càng hành hạ tâm can.
 
26. Thật khó hiểu v́ sao

Tôi có được thân người

Khi nhận biết điều này
Th́ rơi vào địa ngục!

 

 

Diệt trừ ái dục
 
27. Phải chăng các bùa chú
 Khiến tôi bị si mê
Ai làm tôi mù ḷa?

Ma nào ẩn thân tôi?

28. Những kẻ thù tham sân
Không tay chân mặt mũi
Không dũng cảm thông minh
Sao chúng sai sử tôi?
 
29. Chúng ngự trị tâm tôi

Thường làm tôi tổn hại

Mà tôi không biết giận

Đó là nhẫn nhục sai

Quả thật là đáng trách.
 
30-31. Trời người dù hợp lại
Nhất tề tấn công tôi
Vẫn không thể đẩy tôi
Vào địa ngục vô gián.
 
Nhưng phiền năo ái dục
Lại ném tôi vào đó.

Nơi mà núi Tu Di

Cũng cháy không c̣n tro.
  
32. Bè lũ của ái dục
Sống dai dẳng vô cùng

Vô thỉ đến vô chung.
Kẻ thù trong đời tôi
Không sống lâu đến thế!
 
33. Theo kẻ địch ngoài đời 
Chúng c̣n chia lợi lộc

Ngược lại địch tham dục

Ch́ luôn tạo khổ đau

Cho người phục dịch nó.
 
34. Kẻ thù dai dẳng ấy
Là cội nguồn bất hạnh
Nó ở ngay tâm tôi
Tôi an nhiên sao được?
 
35. Nó là kẻ cai tù

Kẻ hành quyết tội nhân

Nó ngự trị tâm tôi

Làm sao tôi hạnh phúc?

36-38. Ái dục chưa tận diệt

Tôi phải tinh tấn hơn!

Kẻ kiêu ngạo bị mắng

Liền nổi giận, trả thù

Khi hạ đối thủ xong

Mới an ḷng yên ngủ.

 

Những chiến sĩ ra trận

Tàn nhẫn diệt quân thù

Dù những kẻ địch ấy

Tự nhiên cũng phải chết.

 

Họ phóng giáo, bắn tên

Không đào tẩu tháo lui

Khi chiến thắng chưa đạt.
 
39. Vậy th́ chính tôi đây

Quyết tâm diệt si mê

Trước kẻ thù gieo khổ

Tôi quyết chí không lùi

V́ đau đớn, thất vọng.

 
40. Con người v́ mưu sinh

Phải chài lưới, làm ruộng

Phải cố chịu đói lạnh

Nay tôi v́ chúng sinh

Sao lại tránh khổ cực

Không gánh vác nhọc nhằn?
 
41-42. Dù tôi chưa giải thoát

Song đă nguyện cứu độ

Chúng sinh khắp mười phương

Vượt khỏi biển ái dục.
 
Tôi chưa tự lượng sức

Mà ḷng đă nguyện thề

Vậy tôi điên hay không?

Dẫu vậy tôi vẫn quyết

Không ngừng diệt ái dục

Nơi chính bản thân ḿnh. 
 
43. Như chiến sĩ hờn căm

Quyết chiến thắng tất cả

Tôi giữ một say mê

Diệt ái dục đến cùng.
 
44. Thà tôi bị thiêu đốt
Bị moi ruột, chặt đầu
Nhưng quyết không khuất phục
Giặc ái dục bạo tàn.
 
45-46. Kẻ địch khi bị thua 

Rút lui, t́m nơi ẩn

Rồi khi phục hồi sức

Quay lại để phục thù.
 
Nhưng ái dục th́ không

Khi nó bị đánh bại

Nó không chạy chỗ khác

Để t́m nơi ẩn trú

Mà chui vào trong tâm

Vốn yếu hèn của tôi

Và lẩn trốn nơi đó.

Ái dục thật hèn hạ

Duy chỉ có Trí tuệ

Mới tiêu diệt nó thôi.
 
47. Nó không ở ngoại cảnh

Không nằm trong các căn

Không ở giữa các căn

Hoặc bất cứ nơi khác.

 

Vậy nó từ đâu đến?

Khiến cho đời đảo điên?

Nó chỉ là ảo ảnh!

 

Hởi tâm của tôi ơi!

Không nên sợ ái dục

Hăy giải phóng nó đi

Hăy tu chứng Trí tuệ!

 

Tại sao tôi vô lư

Chịu khổ trong địa ngục?
 
48. Thường tư duy như vậy
Hăy cố sức tu hành
Trọn đủ giới Bồ tát
Không tuân lời lương y
Làm sao dứt được bệnh?

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG V 

CHÁNH NIỆM, TỈNH GIÁC  
   

Ǵn giữ tâm ư

   
1. Ai giữ giới Bồ tát  
Phải giữ ǵn tâm ư  
Không kềm chế tâm ư  
Th́ không thể duy tŕ

Bất cứ giới luật nào.
   

2. Voi điên tuy gây hại

Nhưng không thể nào bằng

Con “voi tâm“ phóng dật

Mang đến bao tai họa

Đọa ta vào địa ngục.  
   

3.  Luôn dùng thừng chánh niệm  
Cột chặt “voi tâm“ điên

Th́ tai họa tan biến

Phước lành hiện đến liền.  
   

4-5. Điều phục được tâm ư

Là điều phục tất cả

Sư tử, voi, gấu, rắn   
Và tất cả kẻ thù

Cùng lính canh địa ngục

Quỷ Dạ xoa, La Sát

Đều bị trói tất cả.

   
6. Phật đă tuyên bố rằng

Hiểm họa và lo sợ

Với khổ đau vô tận

Đều do tâm phát sinh.  
   

7-8. H́nh cụ trong địa ngục  
Do ai tạo tác nên?  
Nền sắt nóng hỏa ngục  
Nữ nhân kia từ đâu?  
   
Phật dạy rằng tất cả  
Do ác tâm biến ra  
Bởi thế trong ba cơi  
Tâm ḿnh đáng sợ nhất.  
   

9-10. Nếu bố thí cao cả

Đạt được nhờ xóa nghèo

Chẳng lẽ Phật xưa kia

Không đạt hạnh bố thí

V́ thế gian vẫn nghèo?  
   
Bởi vậy tâm bố thí

Cả tài sản, công đức

Là bố thí rốt ráo

Phát xuất từ nội tâm.  
   

11. Lùa cá tôm đến đâu
Để khỏi bị săn giết?

Vĩnh viễn dứt ác tâm

Là thành tựu giới độ. 
   

12. Sân si đầy thế gian  
Làm sao hàng phục hết? 
Hàng phục được tâm sân  
Là hàng phục tất cả.  

 

13-14. Làm sao đủ da thuộc  
Để phủ kín địa cầu?

Nhưng chiếc dép da này

Sẽ bao trùm mặt đất.  
   
Cũng vậy với ngoại cảnh

Tuy chưa làm chủ được  
Nhưng làm chủ tâm ḿnh

Có ǵ quí giá hơn?

   

15. Làm thiện bằng thân, miệng

Nhưng tâm lại tán loạn

Th́ khó đạt phước đức

Không lên cơi Phạm Thiên (5)

Trong khi chỉ một ḿnh

Tâm thanh tịnh cũng đủ.
   
16. Phật dạy dù tụng niệm  
Tu khổ hạnh lâu năm  
Mà tâm cứ tán loạn  
Th́ cũng vô ích thôi.  
   

17. Những người t́m hạnh phúc

Chạy trốn mọi khổ đau

Sẽ tiếp tục lạc lối

Nếu không hiểu cái tâm

Kỳ diệu chứa mọi pháp.

 

 

Chánh niệm và tỉnh giác

 

18. Bởi thế nên cẩn thận  
Ǵn giữ trọn tâm ư
Giữ giới tu luyện tâm  
Đâu cần tu pháp khác. 
   

19. Giữa đám đông hỗn loạn

Ta ǵn giữ vết thương

Không để ai đụng đến;

Giữa cuộc đời hung ác

Ta phải giữ tâm ḿnh

Như ta giữ vết thương.  

 

20. Ta ǵn giữ vết thương

V́ sợ người đụng đau

Sao ta không giữ ǵn

Vết thương của tâm ta

Cho khỏi bị đè bẹp

Dưới chân núi địa ngục?  
   
21. Nếu hành tŕ như vậy  
Ta cứng rắn, tinh tấn

Dù ở giữa người ác  
Hay ở giữa người lành. 
 
   
22. Thà để mất lợi dưỡng  
Mất tài sản, thanh danh
Mất thân xác, mạng sống

Quyết không để mất tâm.  
   

23. Tôi chấp tay nguyện cầu
Cho những ai ước mong

Ǵn giữ được tâm ư

Đều luôn luôn duy tŕ
Chánh niệm và tỉnh giác. 
   

24. Người đau không đủ sức

Làm bất cứ việc ǵ

Cũng vậy, bất cứ ai

Thiếu chánh niệm, tỉnh giác

Sẽ không c̣n đủ sức

Để làm những việc lành.  
   

25. Người tâm không chánh niệm  
Không c̣n ghi trong trí

Lời giáo huấn tu hành 
Như nước rỉ b́nh nứt. 
   

26. Biết bao người thông thái

Sùng tín và tinh tấn

Nhưng v́ không chánh niệm

Nên phạm tội ô uế.  
   
27. Tên giặc không chánh niệm  
Luôn ŕnh cướp tỉnh giác

Vét sạch phước tích lũy

Đưa người vào nẻo ác.  
   

28. Ái dục như lũ giặc

Cướp gia tài phước đức

Hủy hoại tâm chánh niệm

Phá đường đến cơi lành . 
      
29. Tuyệt không để chánh niệm  
Rời khỏi cửa tỉnh giác.

Nếu nó đi lang thang

Phải gọi nó quay lại.

Nó phải nghĩ cảnh khổ  
Trong ba cơi địa ngục

Để an trú chánh niệm. 
   

30. Hạnh phúc thay những ai

Sống cạnh thầy đáng kính

Tuân theo lời giáo huấn  
Để trau dồi chánh niệm.   
   

31-32. “Chư Phật, chư Bồ tát

Nh́n thấu suốt mọi điều

Ta đứng trước các ngài

Đâu dấu được điều chi”.  
   

Nếu có suy nghĩ ấy

Sẽ sinh ḷng hổ thẹn  
Và trong tâm luôn luôn

Có mặt của đức Phật.
   

33. Chánh niệm như lính canh

Trước cửa ngơ của tâm

Nhờ đó mà tỉnh giác

Măi măi được có mặt.

 

34. Nếu ư xấu manh nha  
Phải thấy ngay tai họa.

Vậy phải giữ chánh niệm  
Như cây bám chặt đất . 
   

35. Không bao giờ nên nh́n  
Dáo dác và mông lung  
Mắt thường nh́n thẳng xuống

Như trong lúc ngồi thiền.  
   

36. Để cho mắt nghỉ ngơi  
Thỉnh thoảng nh́n chân trời  
Khi có người xuất hiện  
Hăy nh́n thẳng chào hỏi. 
   

37. Trên đường, nên đứng lại

Nh́n rơ khắp bốn phương  
Lúc dừng nghỉ dưỡng sức  
Hăy quan sát sau lưng . 
   

38. Kiểm tra kỹ trước sau  
Rồi nhận định hoàn cảnh

Tùy nhu cầu hành động

Mà tiến tới hay lui.  
   

39-40. Trước khi ta hành động

Nên ư thức rơ ràng

”Đây tư thế của thân”

Và trong khi hành động

Cũng luôn luôn quán xét

Tư thế của thân ḿnh.  
   

Cũng vậy, thường quán xét

Tâm ư như voi điên

Buộc vào trụ chánh niệm

Không cho nó chạy loạn.   
   

41. Người tu tập thiền định  
Luôn luôn giữ chánh niệm

Thường quán sát tự hỏi  
Tâm ư ḿnh ở đâu?  

 

42. Lúc nguy, khi lễ lạc

Hoặc trong khi bố thí

Khó giữ được chánh niệm

Nên buông giới hạnh nhỏ.  
   

43-44. Quyết định làm việc này

Không nên nghĩ việc khác  
Tâm trí phải chuyên chú  
Làm xong từng việc đă. 
   

Được vậy việc mới thành  
Nếu không, th́ hai việc  
Chẳng việc nào hoàn tất

Chánh niệm chẳng gia tăng.  
   

45. Hăy quyết tâm từ bỏ  
Xem kịch, nói chuyện phiếm  
Hăy tinh tấn đoạn trừ  
Tâm tham đắm thứ ấy. 
   

46. Hăy nhớ lời đức Phật  
Từ bỏ việc vô nghĩa

Như bức cỏ, vẽ đường

Đập đất đá vỡ tan.  
   
47. Trước khi muốn di chuyển  
Hoặc trước khi nói năng

Phải kiểm soát tâm ư

Đưa nó vào chánh niệm.  
   

48. Nếu ư khởi tham ái  
Tâm manh nha nổi giận  
Hăy tạm dừng nói, làm  
Như cây đứng lặng yên.  
   

49-50. Khi tâm ư lăng xăng  
Ngạo mạn hoặc kiêu căng  
Tự măn hoặc thô bạo

Lém lĩnh hoặc lừa dối  
   

Tự khen và chê người  
Nói những lời khinh bạc  
Nói những lời gây gổ  
Hăy như cây đứng yên.  
   

51. Muốn lợi lộc, danh tiếng  
Muốn sai sử người khác  
Muốn được kẻ hầu hạ  
Hăy như cây đứng yên.  
   

52. Khi muốn nói và làm  
Khiến người mất lợi ích  
Để mưu cầu lợi ḿnh  
Hăy như cây đứng yên.  
   

53. Khi bồn chồn lười biếng

Nhát sợ, không biết thẹn  
Nói vô nghĩa, thiên vị  
Hăy như cây đứng yên. 
   

54. Khi thấy tâm ô nhiễm

Lăng xăng việc vô nghĩa

Hăy dùng phép đối trị

Kiên tŕ an định tâm.  
   

55-57. Không nên để phân tâm

V́ những việc tranh chấp

Hăy luôn đem an vui

Làm cho người hạnh phúc.

Với đức tin thâm sâu  
Vững vàng và kiên quyết  
Biết xấu, sợ nhân quả.

   
Đừng sinh tâm chán ghét

Kẻ ngược ngạo, ngu si

Nên mở ḷng thương họ

V́ họ bị vô minh.  
   

Vả lại tôi đă nguyện

V́ lợi ḿnh lợi người  
Tôi không nên phạm tội  
Vậy phải luôn quán tưởng   
Rằng tôi là vô ngă

Tôi là một ảo tưởng.  
   

58. Nên luôn tư duy rằng  
Nhiều kiếp mới thành người  
Vậy phải giữ tâm sáng  
Vững như núi Tu Di.

 

 

Thân 
   

59. Hỡi này tâm ư ơi

Ngươi tự vệ ra sao

Khi kên kên háu đói  
Mổ xé thi thể ngươi?  
   

60. Sao ngươi xem thân này  
Là bản ngă của ngươi? 
Ngươi với nó khác nhau  
Mất nó ăn nhằm ǵ!  
   

61. Này tâm ư ngu si  
Ngươi xem khúc gỗ sạch

Không phải là thân ngươi

Nên ngươi không bám víu

Sao lại bám bộ máy

Cấu tạo từ bẩn dơ?  
   

62-63. Hăy dùng tâm quán tưởng  
Tách da ra khỏi thịt  
Dùng trí tuệ làm dao  
Tách thịt rời khỏi xương. 
   
Rồi chẻ tách xương ra  
Phân tách tủy bên trong  
Quan sát cho thật kỹ  
Thực chất nó là ǵ? 
   

64. Dẫu t́m ṭi cẩn thận

Vẫn không thấy bản chất

Của bất cứ vật nào.
Tại sao c̣n tham luyến  
Nâng niu tấm thân này?   
   

65. Ngươi không thể nào ăn

Thân thể dơ bẩn này

Không uống máu, ăn ḷng

Vậy giữ nó làm chi?  
   

66. Tốt nhất xem thân này

Là thức ăn quạ, cáo

Chỉ nên giữ thân này

Giúp ta làm việc thiện.  
   

67. Dù ngươi bám giữ thân  
Thần chết cũng không tha  
Cướp lấy thẩy cho quạ  
Ngươi làm ǵ được đây?  
   

68-69. Khi tớ bỏ ra đi  
Chủ không cho cơm áo  
Thân này sẽ bỏ ngươi  
Cưng dưỡng nó làm ǵ?   
   
Trả đủ lương cho nó  
Chớ cho thêm quá mức.  
Ôi tâm của ta ơi!

Đối với thân của ngươi 
Hăy xử sự như thế.  
   

70. Hăy xem thân như thuyền  
Dùng để chở chúng sinh

Đưa họ từ bờ khổ

Sang bên bờ giải thoát.  
   

71. Hăy tự chủ thân tâm  
Luôn lộ vẻ vui tươi  
Đừng cau mày giận dữ  
Hăy làm người bạn tốt,

Chân thành của chúng sinh.  
   

72. Khi di dời ghế giường  
Đừng gây tiếng động lớn  
Mở cửa cũng nhẹ nhàng  
Luôn tránh tiếng ồn ào.  
   

73. Sếu, mèo và kẻ trộm   
Hành động rất lặng lẽ  
Để đạt được mục tiêu  
Bồ tát cũng nên thế . 
   

74. Làm học tṛ tất cả

Cung kính nhận lời khuyên

Của bậc thầy hướng dẫn

Dù ta chẳng yêu cầu.

 

 

Nguyên tắc ứng xử
   
75. Ai khéo giảng chánh pháp

Ta nên ngơ lời khen

Ai làm phước làm lành

Ta vui mừng ca tụng.  
   

76. Kín đáo khen người khác  
V́ công đức của họ  
Nghe người khác khen ḿnh  
Tự xét xứng đáng không?  
   

77-78. Ai làm được việc ǵ  
Mang lại nguồn hạnh phúc

Không thể mua bằng tiền

Th́ ta hăy cùng vui

Với công đức kẻ ấy.  
   

Làm vậy không gây hại

Đời sau được vui hơn

Nếu sinh ḷng ganh tị

Ta sẽ gặt khổ đau

Đời sau càng khổ nữa.  
   

79. Nói năng phải minh bạch  
Dễ nghe, thấm tận tim

Phát xuất tại từ tâm

Nhu ḥa và chính xác.  
   

80. Hăy nh́n ngắm chúng sinh  
Với ḷng dạ từ bi
Và nghĩ rằng nhờ họ  
Mà ta sẽ thành Phật. 
   

81. Phước lớn được thành tựu

Nhờ tín tâm vững bền  
Nhờ đối trị việc ác   
Nhờ cúng ba ruộng phước (6) 
   
82. Phát xuất tận đáy ḷng  
Ta thường làm việc thiện  
Điều lành hăy tự làm  
Không giao cho kẻ khác.  
   

83. Bố thí và tŕ giới  
Phải tăng tiến mỗi ngày
Đừng chê nhỏ, theo lớn  
Nên thực hiện mọi hạnh.  
   

84. Nhận thức được như vậy

Nên hiến ḿnh làm thiện

Có thể phạm giới cấm

V́ lợi ích chúng sinh.  
   

85. Chỉ ăn những ǵ cần

Chia sớt thức ăn uống

Cho những vị tu sĩ  
Cho kẻ khổ, cô đơn

Cho người rơi xuống thấp

Bồ tát cho tất cả

Trừ ba bộ áo quần. 
   

86. Thân phục vụ chánh pháp  
Nên không để tổn thương  
Nhờ vậy mau thực hiện

Ước nguyện cứu chúng sinh. 
   

87. Không hy sinh thân mạng

Cho kẻ thiếu từ bi

Bồ tát chỉ xả thân

V́ mục đích tối thượng.  
 
88. Không thuyết pháp cho người  
Có thái độ bệnh hoạn  
Đội mũ, không cung kính  
Cầm gậy, cầm binh khí . 
   

89. Không thuyết pháp cho người  
Khác phái ở một ḿnh  
Không nói pháp thâm sâu  
Cho kẻ thiếu thông minh  
Nhưng cũng phải cung kính  
Mọi pháp dù sâu cạn
(7)

   

90. Không nên giảng Tiểu thừa

Cho người đủ điều kiện

Lănh hội pháp Đại thừa

Không được thu hút người

Bằng cách giảng sai kinh

Và chú thuật Mật giáo (8)  
   

91. Không được nhổ nước bọt

Và vứt tăm xỉa răng

Bừa băi nơi công cộng

Không được phép phóng uế

Lên đất đai canh tác

Và nguồn nước sạch trong.  
   

92. Khi ăn chớ đầy miệng  
Há miệng, nhai ra tiếng

Ngồi không đong đưa chân

Không xoa tay vào nhau.  
   

93. Không đi xe, ngủ đêm  
Chung với người khác phái  
Hầu tránh sự hiềm ghét  
Khiến người mất niềm tin. 
   

94. Không nên dùng ngón tay  
Chỉ đường hoặc ra lệnh  
Mà phải tỏ lịch sự  
Đưa nguyên bàn tay phải . 
   

95. Không đưa tay vẫy gọi

Trừ khi gọi gấp rút

Búng ngón tay thành tiếng  
Bằng không sẽ mất uy.  
   

96. Hăy ngủ trong chánh niệm

Nằm đúng theo tư thế

Như khi Phật nhập diệt  
Lúc tỉnh giấc, dậy liền.  
   

97. Phật dạy vô số hạnh 
Không thể nào kể hết  
Pháp thanh lọc tâm này  
Nên gắng thực hành ngay.  
   

98. Ngày như đêm ba lần  
Tụng niệm Kinh Ba Phần (9)

Y theo tâm Bồ đề  
Giải trừ dần ác nghiệp.  
   

99. Bất cứ hoàn cảnh nào

Do ta hoặc người tạo

Phải tinh tấn thực hành  
Những lời đức Phật dạy. 
   

100. Bất cứ giáo pháp nào

Đưa đến sự giải thoát

Con Phật đều thực hành

Được vậy, sẽ gặt phước.  
   

101. Bồ tát làm mọi hạnh

V́ lợi ích chúng sinh

Trực tiếp hay gián tiếp

Và hồi hướng tất cả

V́ sự nghiệp giác ngộ. 

 

102. Dù phải mất tính mạng  
Bồ tát không xa ĺa  
Các bậc thiện trí thức  
Tinh thông nghĩa đại thừa. 

 

 

Nguồn gốc giới luật
   

103. Để biết cách hầu Thầy

Nên học những phép tắc

Trong truyện Cát Tường Sinh (10)  
Và thêm các kinh khác. 
   
104. Nên đọc các tạng kinh

Có tŕnh bày giới luật

Trước hết hăy t́m đọc  
”Thánh xứ hư không tạng”.  
 
105. Kinh “Học xứ tập yếu”  
Đă diễn rộng lư do  
V́ sao phải tu hành

Vậy cần đọc bộ luận  
”Chúng học xứ tập yếu”.  
   

106. Hoặc cũng nên t́m đọc  
”Nhất thiết kinh tập yếu”  
Và cũng cần đọc kỹ  
Song luận của Long Thọ . 
   

107. Kinh luận trên ghi rơ

Điều cấm, điều nên theo

Tu đúng lời kinh dạy  
Giữ ḷng tin trên đời.  
   

108. Định nghĩa của chánh niệm

Tóm gọn lại như sau:  
Luôn quán sát thật kỹ

Trạng thái Thân và Tâm.  
   

109. Tụng niệm để thực hành  
Đọc suông không có ích  
Nếu chỉ đọc toa thuốc  
Làm sao trị bệnh lành?  
 
 

 

 

 

 

CHƯƠNG VI

   
NHẪN NHỤC

   
   
Sân hận  

 

1. Một cơn giận phá hủy  
Công đức ngàn kiếp tu  
Tích lũy từ bố thí,

Từ cúng dường Thế tôn. 
 
2. Sân hận vô cùng ác  
Nhẫn nhục vô cùng lành  
Bởi thế bằng mọi cách  
Siêng năng tu nhẫn nhục.  
 

3. Ngày nào trong tâm ta  
Nọc hận thù tồn tại  
Ta sẽ không ngủ yên  
Mất an lành, hạnh phúc. 
 

4-5. Một người chủ nổi giận 
Có thể bị giết chết  
Bởi kẻ nhờ ông giúp  
Mà trở nên giàu sang

Và được người kinh trọng.   
   
Với tấm ḷng sân hận  
Dù ban ơn  cho ai

Họ cũng không hạnh phúc

Bạn bè cũng lánh xa.
 

6. Sân hận là kẻ địch  
Tạo nên nhiều khổ đau 
Ai khắc phục sân hận  
Vui đời này, kiếp sau . 
  

7. Được thứ ǵ không thích  
Hoặc ḷng tham bị ngăn  
Đều nuôi dưỡng sân hận
Và làm khốn khổ tôi. 
   

8. V́ vậy tôi muốn diệt  
Những chất nuôi dưỡng này.

Sân hận duy chỉ biết  
Làm hại tôi mà thôi.  


   

Nhẫn nhục

 

Nhẫn nhục đối với đau khổ

 

9. Dù gặp cảnh ngược đăi  
Nên giữ tâm an vui.  
Bực tức không sinh lợi 
Lại cướp mất phước lành.  
   

10. Nếu có cách cứu chữa

Những t́nh huống rắc rối

Th́ khổ đau làm ǵ?

Nếu không có giải pháp  
Khổ đau không lợi chi! 

11. Ta không muốn cho ḿnh  
Cũng như cho bạn bè

Bị khổ đau, khinh dễ  
Bị chửi mắng, vu oan  
Duy chỉ có kẻ thù

Muốn chúng tôi như thế.  
 

12. Hạnh phúc khó đạt thay  
Đau khổ thường xảy đến

Nhưng giải thoát chỉ đạt  
Khi thắng vượt khổ đau  
Bởi vậy, tâm ta ơi  
Hăy dũng cảm kiên định!  
 

13. Người nào tu khổ hạnh

Thờ nữ thần Durga (11)
Tự thiêu, xẻ thịt ḿnh

Không hy vọng giải thoát  
Sao ta không can đảm  
Chịu khổ v́ giải thoát?  

14. Nhờ tập luyện thường xuyên  
Điều ǵ cũng thành tựu  
Trước cố chịu khổ nhỏ  
Sau chịu được khổ lớn.  
   

15. Những loại khổ tầm thường   
Do muỗi ṃng, rít cắn  
Hoặc đói khát, nhức ngứa  
Chúng không vô dụng đâu!   
   

16. Chẳng nên mất kiên nhẫn  
Khi khổ v́ nóng lạnh

Hay kiệt sức bệnh đau  
Hoặc tra tấn, ngục tù  
Nếu ta mất kiên nhẫn  
Đau khổ càng tăng thêm.  
   

17-18. Có người thấy máu chảy  
Ḷng dũng cảm càng tăng
Có người thấy máu chảy  
Lại té xỉu bất tỉnh.

  
Điều ấy tùy thuộc tâm  
Vững mạnh hay yếu đuối  
Bồ tát phải tự chủ   
Vượt qua mọi khổ đau.  
   

19. Dù trải qua  đau khổ
Bậc trí vẫn an nhiên  
Quyết đánh giặc phiền năo  
Dù dễ bị thương tích.

 
20. Kẻ anh hùng vinh quang  
V́ hiên ngang thắng giặc  
C̣n chiến sĩ tầm thường  
Chỉ đâm những thây ma.  
   

21. Khổ cũng có điều hay:   
Giúp ta trừ kiêu mạn  
Mở ḷng thương chúng sinh  
Bỏ ác và kính Phật.   

 

 

 Nhẫn nhục trước bất công

 

22. Ta không giận gan, tim  
Và bộ phận trong người

Dù chúng là nơi sinh

Bao đau đớn, bệnh tật.  
Sao đối với hữu t́nh

Lại nổi ḷng sân hận? 

Họ cũng là nạn nhân

Của đau đớn bệnh tật
Tất cả v́ nhân duyên. 
   

23. Mặc dù không ai muốn  
Bệnh đau vẫn cứ sinh; 
Mặc dù không ai mong  
 Sân hận vẫn nổi dậy.  
   

24. Đâu có ai nghĩ trước:

“Bây giờ ta nổi sân”

Và sân đâu toan tính:

”Bây giờ ta xuất hiện” 

25. Tất cả mọi lỗi lầm  
 Và hành động độc ác  
 Đều do nhân duyên sinh  
Không có ǵ tự phát.  
    

26. Nhân duyên lúc tập hợp
 Không hề có ư nghĩ:

“Ta sinh một thứ ǵ”  
Một cái ǵ được sinh

Trước đó đâu có nghĩ:

“Ta phải được sinh ra”  
   

27. Những ǵ được gán gọi

Là  chất liệu nguyên sơ

Hoặc gán là “Cái Ta”

Đều không tự sinh ra

Sau khi nghĩ: “Ta sinh”.  
   

28. Bởi v́ trước khi sinh

Không có ǵ hiện hữu

Vậy cũng không có ǵ

Khởi ư muốn được sinh

Bởi v́ luôn bám víu

Vào  cái Ta vĩnh cửu

Nên không thể tách rời

Đối tượng của “cái Ta”

Là chất liệu nguyên sơ

Và măi măi như vậy.

 

29. Nếu cái ta vĩnh hằng  
Th́ nó phải bất động

Giống như là hư không.

Làm sao cái không đổi

Lại có thể hành động

Ngay trong khi nối kết

Với những nhân duyên khác.  
   

30. Nếu tiếp xúc duyên khác

Cái ta vẫn như xưa

Vậy th́ trong hai thứ

Cái Ta và duyên khác

Ai tác động ai đây?

Nếu bảo “Ta” tác động

Th́ điều này không đúng.

Cái Ta không tác động

V́ nó không thể có

Một lúc hai tự tánh

[Bất động và biến đổi].  
   

31. Như vậy mọi sự vật

Đều sinh từ nhiều duyên

Và bất cứ duyên nào

Cũng lệ thuộc duyên khác.

Ư thức được như vậy

Ta không bị phiền nhiễu

V́ tất cả đối tượng

Đều chỉ là ảo tưởng

Sinh từ tṛ ảo thuật!  
   
32. (Hỏi) Nếu sự vật huyễn ảo

Th́ “Ai” chế ngự giận?   

Và nếu nói chẳng có “ai”

Th́ cần chi trừ giận?

 

(Đáp) Thực ra cần trừ giận  
V́ tiến tŕnh nhân quả  
Luôn luôn vẫn tiếp diễn

Nhờ chế ngự được giận

Mà cắt đứt khổ đau . 
   

33. Bởi vậy khi nhận thấy

Bạn, thù muốn hại ta  
Hăy nghĩ là duyên sinh  
Và giữ tâm thanh tịnh.  
   

34. Nếu mọi sự phát sinh

Do ư muốn con người  
Thế giới sẽ an lạc   
V́ chẳng ai chọn khổ.  
 
35-36. V́ vô ư tự hại

Bởi vật nhọn, gai đâm

V́ giận, đói nữ sắc

Nên cấu xé lẫn nhau

Chịu đói khát khổ sở …

Có kẻ lại tự tử

Như thắt cổ, nhảy sông

Hoặc uống những chất độc

Hay gây ra tội ác.   
   

37. Dưới bạo lực ái dục

Con người tự hủy ḿnh  
 - Hủy cái thân quư báu -  
Thế th́ sao tránh khỏi

Làm hại những người khác?
   

38. Kẻ điên v́ ái dục  
Luôn t́m cách làm hại  
Nếu không thương xót được  
Th́ cũng đừng giận họ . 
   

39. Nếu bản chất kẻ ấy  
Là chuyên hăm hại người  
Giận họ cũng vô lư  
Khác nào giận lửa đốt . 
   

40. Nếu bản chất họ lành  
Phạm lỗi v́ vô t́nh  
Giận họ cũng vô lư  
Khác nào giận không khí

Bị nhiễm khói sặc sụa. 

 

41. Khi bị đánh bằng gậy  
Ta oán người cầm gậy  
Song chính là cơn giận  
Đă sai khiến họ đánh  
Vậy nên ghét cơn giận.  
   

42. Xưa tôi làm khổ người  
Nay người hăm hại tôi  
Tôi đành phải nhận lănh  
Quả báo tôi đă gieo.  
   

43. Vũ khí của kẻ kia  
Và thân này của tôi  
Cả hai là nguyên nhân  
Tác thành sự đau khổ  
Kẻ kia có vũ khí

C̣n tôi có thân này

Vậy phải giận ai đây?  
   
44. Thân như vết thương nặng,  
Chạm nhẹ cũng đau điếng  
Mù quáng tôi ôm giữ

Thử hỏi khi nó đau  
Tại sao tôi tức giận?  
   

45. Tôi không muốn khổ đau

Nhưng v́ sự ngu muội  
Mà tạo ra nguyên nhân

Gây nên sự đau khổ.
Đó là lỗi của ḿnh  
Sao lại giận người khác?  
   

46. Chính hành động của tôi 
Đă tạo nên địa ngục  
Và rừng kiếm, núi đao  
Vậy nên giận ai đây?  
   

47. Chính hành động của tôi   
Đă khiêu khích người khác

Và khiến họ hại tôi.

Họ bị đọa địa ngục  
Vậy tôi đă hại họ.  
   

48. Nhờ những kẻ hại tôi  
Mà tôi tu nhẫn nhục  
Trừ được nhiều tội lỗi. 
V́ tôi đă nhẫn nhục  
Nên họ sa địa ngục  
Chịu đau khổ lâu dài. 
   

49. Chính tôi làm hại họ  
Khi họ làm lợi tôi  
Sao tôi c̣n lật lọng  
Hỡi cái tâm hồ đồ.  
   

50. Nhờ tâm được thanh lọc  
 Tôi không đoạ địa ngục  
 Tôi đă tự cứu ḿnh  
  Kẻ kia được thứ chi?  
   

51. Nếu ăn miếng trả miếng   
 Tôi chẳng cứu vớt họ  
 Họ phải chịu đọa đày  
 C̣n tôi th́ thất bại  
 Trên con đường tu tập.

 

 

Nhẫn nhục qua nhận thức thực tại

 
52. Tâm không có h́nh thể  
 Nên không bị tổn thương  
 Nếu bám chắc vào thân

Nên khi thân đau khổ,  
 Tâm sẽ bị khổ đau.  
   

53. Lời khinh khi, thô ác  
 Tiếng mắng chưởi, vu oan  
Không làm hại thân được  
Sao tâm lại nổi sân?  
   
54. Rằng: “Có kẻ không ưa”  
 Nhưng sự “Không ưa “ ấy

Từ nay đến đời sau

Có cấu xé ta đâu   
Sao ta ghét guổng họ?   
   

55. Nếu ta ghét guổng họ

V́ sợ mất lợi lộc  
Lúc chết lợi cũng mất  
Nghiệp ác vẫn c̣n hoài.  
  
 56. Tốt nhất thà chết sớm  
Hơn sống làm nghề ác  
Sống lâu đâu thoát được  
Khổ đau của cái chết . 
   

57-58. Hai người nằm chiêm bao  
Kẻ thấy vui trăm năm  
Người sướng trong khoảnh khắc  
Nhưng khi bừng tỉnh giấc

Hạnh phúc đều biến tan .  
   

Cuộc đời như giấc mộng  
Dù tuổi thọ ngắn dài  
Khi sinh mạng chấm dứt

Hạnh phúc đều tiêu tan.  
   

59. Dù tiền rừng bạc biển  
Dù lạc thú lâu dài  
Lúc chết tay trống trơn  
Ḿnh trần như bị cướp.  
   

60. Có kẻ quan niệm rằng

Nhờ của để mà sống  
 Để giải ác, tích thiện  
 Nhưng nổi sân v́ lợi  
Th́ phước mất, tội sinh.  
   

61. Nếu chỉ v́ mưu sinh  
Mà làm chuyện thất đức  
Một đời sống như vậy  
Cuối cùng lănh ác đọa

Sống như thế ích chi?  
   

62. Ta ghét kẻ nói xấu  
 Làm ta mất tín nhiệm  
 Sao ta không ghét kẻ  
 Nói xấu bao người khác?  
  
  63. Ngươi tỏ ra b́nh thản  
 Với kẻ chê người khác  
 Bởi ngươi không dính vào.  
 Sao ngươi không nhẫn nhịn  
 Với kẻ vu oan ngươi

Mà chính ngay kẻ ấy

Bị ái dục chi phối? 
   
 64. Đối với người phá tượng  
Đập chùa, chê chánh pháp  
Ta không nên nổi giận  
Bởi v́ bậc Giác ngộ  
Không v́ vậy khổ đau.  
   

65. Với kẻ xúc phạm Thầy  
 Và người thân của ta  
Ta nên dằn cơn giận  
Mà nên quán chiếu rằng

Đó là nhân duyên sinh.  
  
66. Khổ sinh từ nhân duyên  
Cố ư hay vô t́nh  
Chúng sinh không thể thoát . 
Chỉ chúng sinh hữu t́nh  
Mới ư thức được khổ

Vậy ta nên nhẫn chịu.  
   

67. Người làm ác bởi si  
Kẻ nổi giận v́ mê  
 Vậy ai người có lỗi  
 Vậy kẻ nào vô tội?  
   

68. Xưa ta đă tạo nghiệp  
 Nay ta nhận quả báo  
 Mọi sự sinh từ nghiệp  
 Sao ta trách giận người?   
  
  69. Khi đă hiểu như vậy,  
 Ta cố làm việc lành  
 Cầu mong mọi chúng sinh  
 Biết yêu thương lẫn nhau.  
 
  70-71. Một ngôi nhà bốc lửa  
 Có thể lan nhà bên  
 Ta phải rút tranh rạ  
 Và thứ dễ bắt lửa; 
 Cũng vậy phải loại ngay  
 Bao ư niệm tham đắm  
 Bắt mồi cho lửa sân   
 Thiêu rụi kho công đức.  
   

72. Kẻ tử tù được thả  
 Sau khi bị chặt tay  
 Phải chăng là bất hạnh?  
 Kham chịu khổ thế gian

Để thoát khổ địa ngục

Phải chăng là bất hạnh?  
   

73. Nay ta không chịu nổi  
 Một chút khổ nho nhỏ  
Sao ta không diệt sân

V́ nó là nguyên nhân  
Sinh ra khổ địa ngục?  
   

74. V́ sân nên ngàn lần

Tôi đă bị đau khổ

V́ lửa địa ngục đốt.
 Điều này chẳng lợi ǵ  
 Cho ta và kẻ khác! 
   

75. Đau khổ của đời này  
 So ra tương đối nhẹ  
 Mà c̣n đem lợi lớn.  
 Vậy ta nên vui vẻ

Nhẫn chịu khổ nhỏ này

V́ nó giúp xua tan

Đau khổ của chúng sinh. 

 
   

Ganh tỵ

 

76. Có những kẻ hân hoan  
 Và không ngớt ca ngợi

Công đức của người khác. 
 Tâm ư của ta ơi!

Sao không biết hân hoan  
 Nhập cuộc khen ngợi này!  
   

77. Đó là một niềm vui

Không thể nào chê trách

Nó là nguồn hạnh phúc

Mà thánh nhân không chê  
Nó cũng là phương tiện

Để thu phục ḷng người. 
   

78. Nếu ngươi không chấp nhận  
 Niềm an vui kẻ khác

[Bởi v́ ngươi ganh tỵ] 
Th́ ngươi sẽ mất sạch  
 Tất cả mọi phước đức  
 Hiện rơ hay ẩn tàng.   
  
79. Ai khen công đức ta  
 Ta mong họ an vui  
 Ai khen công đức người  
 Sao ngươi lại thờ ơ?  
   

80. Ta phát tâm Bồ đề  
 Cầu mọi loài an vui  
 Nay chúng sinh hạnh phúc  
 Sao ngươi lại sân hận?  
   

81. Lúc đầu ngươi phát tâm  
 Cầu mọi người thành Phật  
 Được ba cơi cúng dường;  
 Nay sao ngươi sầu khổ  
 Khi người khác được cúng?

82. Đối với gia đ́nh ngươi  
 Ngươi phải lo cấp dưỡng  
 Nay kẻ khác cung phụng  
 Sao ngươi lại nổi sân?  
   

83. Không cầu mong chúng sinh  
 Được một chút toại ư  
 Th́ sao cầu mong chúng  
 Được thành tựu giác ngộ?  

84. Các lễ vật cúng dường  
 Không đến tay khất sĩ  
 Ắt c̣n tại thí chủ    
 Chúng không thuộc phần ta.

Ta bận tâm làm ǵ

Với việc cho hay không?  
   

85. Khất sĩ có nên chăng  
 Bỏ phước báo cúng dường?  
 Thí chủ có nên chăng  
 Kềm hăm hạnh bố thí?

Ngươi c̣n hận nỗi ǵ!  
   

86. Ngươi chẳng hối lỗi ḿnh  
 Do nghiệp ác gây ra  
 Lại tranh chấp với người  
 Biết tô bồi phước đức?  
   

87-88. Kẻ thù ngươi gặp nạn  
 Có ǵ để ngươi vui?  
 Không phải v́ ngươi muốn  
 Mà tai nạn xảy ra.  
   
Dù kẻ kia bị nạn  
 Theo ư ngươi mong muốn  
 Th́ ngươi được lợi ǵ?

Và nếu ngươi nói rằng

“ Thế là tôi măn nguyện”  
 Th́ tai ương lớn hơn

Bám chặt ngươi sau này. 

 

89. Đó là lưỡi câu sắc  
 Mà ái dục tung ra. 
 Lúc cá đă cắn câu  
 Ngục tốt mua nấu nhừ  
Trong nồi đồng địa ngục. 
   

90-91. Khen ngợi và vinh quang  
Không tăng thêm công đức

Không nâng cao tuổi thọ

Và khỏe mạnh , sống lâu
Cũng không khiến thân thể  
Được vui thú, khinh an.  
   
Tuy chúng là những thứ  
Mà người khôn ở đời  
T́m thấy được lợi thế.

Và với kẻ mua vui
Th́ rượu chè bài bạc.  
   

92. V́ mưu cầu danh vọng  
Mà mất của, tán mạng.  
Danh vọng nuốt được chăng?  
Chết rồi ai vui hưởng ?

  

93. Khi lâu đài cát sụp,  
Trẻ nít liền khóc than  
Tâm ta như tâm chúng

Khi danh vọng suy tàn. 
   

94. Lời khen là tiếng vang

Nó  chẳng có trí óc

Vậy th́ nó làm sao

Có thể khen tôi được?

Nhưng với ư nghĩ rằng

Ai đó vui v́ tôi

Th́ đó là lư do

Khiến cho ḷng tôi vui.
    

95. Nếu niềm vui của tôi  
 Đến từ vui của người

Th́ dù trường hợp nào  
Tôi vẫn được vui tươi

Vậy sao tôi không vui

Khi có người sung sướng

Mở lời khen kẻ khác? 
   

96. À thế ra cuối cùng

Ta vui v́ được khen 
Một thái độ như vậy  
Khác ǵ tṛ trẻ con?   
   

98. Danh vọng và lời khen
Quấy nhiễu tâm thanh tịnh

Làm suy nỗi lo sợ

Trước sinh tử luân hồi

Chúng nẩy sinh ganh tỵ  
Đối với người đức độ.

V́ vậy bao công đức

Được chính tôi tạo ra

Sẽ trở thành mây khói.

   

Kẻ thù là ân nhân

 

99. Những kẻ nào chống đối   
Và chôn danh vọng tôi  
 Chính họ là những người  
 Ngăn tôi vào nẻo ác.

 

100. Người tầm cầu giải thoát  
 Không để lợi danh buộc. 
 Sao ta lại tức giận  
 Kẻ cởi trói cho ta?  
   

101. Khi tôi muốn đi đến  
Một nơi đầy thống khổ

Nhờ phước lành của Phật   
Khiến người muốn hại tôi
Đóng cửa chận đuờng đi
Không cho vào chốn khổ

Tai sao tôi giận họ?  
   

102. Bảo rằng: “Họ cản trở  
 Công đức tôi muốn làm”  
 Cũng không nên giận họ

V́ con đường tôi chọn

Là tu hạnh nhẫn nhục. 
Vậy sự ngăn chận ấy

Là điều kiện rất tốt

Giúp cho tôi tu hành.  
   

103. Tự ḿnh đă gây lỗi  
Lại không nhẫn nhịn người  
Là tôi tự cản trở  
Việc tu tạo phước đức.  
   
104. Cái này không thể có  
Nếu cái kia không có  
Và nếu cái này có

Th́ cái kia là nhân.  
Kẻ hại ta là nhân  
Giúp ta tu nhẫn nhục

Sao bảo họ ngăn cản?  
   

105. Người xin đến đúng thời   
Không ngăn việc bố thí 
Khất sĩ đi truyền giới  
Không phải là trở ngại

Cho người muốn xuất gia. 
   

106. Những kẻ đi ăn xin

Có mặt khắp mọi nơi

Ngược lại rất khó t́m

Những kẻ muốn hại người. 
Đâu có ai hại tôi  
Nếu tôi không hại ai.  
   

107. Kẻ thù tự đến tôi   
 Như kho báu trong nhà  
 Không nhọc công t́m kiếm.  
 Kẻ thù ấy giúp tôi

Trên đường đến giác ngộ!  
   

108. Có kẻ thù và tôi  
 Mới tác thành hạnh nhẫn  
 Quả báo công đức ấy  
 Nên dành cho kẻ thù  
 Đă tạo duyên tu nhẫn. 
   

109. Nếu nghĩ rằng kẻ thù  
 Không có ư giúp tôi  
 Để triễn khai hạnh nhẫn  
 Nên không đáng coi trọng  
Th́ tôi cũng không nên

Cung kính với chánh pháp

V́ chánh pháp vô tư

Trong việc tôi tu hành?  
   

110. Nếu không trọng kẻ thù  
 V́ muốn hăm hại tôi  
 Vậy làm sao tu nhẫn?  
 Tu với y sĩ ư

Kẻ hết ḷng chữa bệnh?  
 
111. Khi nhận biết ác ư  
 Th́ nhẫn nhục phát sinh.  
 Duy chỉ có kẻ thù   
 Là nguồn gốc nhẫn nhục

Vậy nên cung kính họ   
 Như cung kính chánh pháp. 

 

 

Yêu thương chúng sinh

 

112. Bởi vậy đức Phật dạy  
 Chúng sinh và chư Phật  
 Đều là ruộng phước tốt  
 Nhờ cúng dường cả hai  
 Nhiều người sẽ giác ngộ.   
   

113. Nhờ chúng sinh và Phật  
 Mà ta đạt hạnh Phật  
 Sao chỉ cung kính Phật  
 Mà không kính chúng sinh?  
   

114. Chủ tâm của chư Phật  
 Không đồng với chúng sinh  
 Song tác động ngang nhau  
 Đều giúp ta thành Phật. 
   

115. Chúng sinh không số lượng  
Nên cúng dường tất cả

Nhờ vậy mà nhận được 
Phước đức lớn vô biên  
Công đức Phật vô lượng

Nhờ cúng dường đức Phật

Cũng được phước không lường.   
   

116. Chư Phật và chúng sinh  
 Tất cả đều giúp ta  
 Thành tựu được hạnh Phật  
 Song không chúng sinh nào

Có thể so với Phật

V́ biển công đức Phật

Vốn vô lượng vô biên.  
   

117. Tuy vậy với chúng sinh  
 Có chút ít công đức  
 Th́ ba cơi hợp lại  
 Không đủ để cúng dường.  
   

118. Tất cả mỗi chúng sinh  
 Đều có sẵn Phật tính  
 Nên cúng dường chúng sinh  
 Là cúng dường Phật tính.  
   

119. Phật là bạn chúng sinh  
 Ban vô lượng ân đức.  
 Vậy muốn báo ơn Phật  
 Hăy cứu giúp chúng sinh.  
   

120. Chỉ làm lợi chúng sinh  
 Mới đủ báo ơn Phật.  
 Phật đă bỏ thân mạng  
 Tự vào ngục Vô gián  
 Để cứu độ chúng sinh  
 Vậy ta nên làm lợi  
 Cho tất cả chúng sinh

Và cho cả kẻ thù.  
   

121. Chư Phật v́ chúng sinh  
 Nên không tiếc thân ḿnh  
 Sao tôi c̣n kiêu ngạo   
 Không phục vụ chúng sinh?  
   

122. Người vui, Phật vui theo  
 Người khổ, Phật thương xót  
 Giúp muôn loài hạnh phúc  
 Th́ Phật cùng hân hoan   
 Làm đau khổ chúng sinh  
 Tức làm tổn thương Phật.  
   

123. Khi thân bị lửa vây  
 Làm sao vui sướng được  
 Khi thấy chúng sinh khổ   
 Các bậc Đại Từ Bi

Không thể nào an lạc.  
   

124. Quá khứ tôi gây khổ  
 Cho bao nhiêu chúng sinh  
 Vô t́nh làm buồn Phật  
 Nay tôi xin sám hối  
 Xin Phật tha thứ cho.  
   

125. Để dâng Phật niềm vui  
 Từ nay đến tương lai  
 Tôi phục vụ muôn loài  
 Với trái tim thành khẩn  
 Dầu tôi bị chà đạp  
 Vẫn ráng làm Phật vui.   
   

126. Phật với tâm Đại bi  
 Xem chúng sinh như ḿnh  
 Tất cả có Phật tính   
 Sao ta không tôn kính?  
   

127. Tôn thờ Đức Thế tôn  
Đạt mục tiêu giải thoát  
Xoá đau khổ trần gian  
Là nhiệm vụ của tôi.  
   

128-129. Vị đại thần của Vua  
 Đàn áp, hại dân chúng  
 Kẻ nh́n xa trông rộng  
 Chẳng thay đổi được ǵ

Bởi sau lưng ông ấy

C̣n thế lực của Vua.  
   
130. Đối với kẻ yếu đuối  
Đă gây nên tội lỗi  
Cũng không nên tiêu diệt  
Bởi v́ sau lưng hắn  
Là thế lực quỷ sứ

Đang giữ cửa địa ngục

Và cửa Phật từ bi

Bởi vậy với chúng sinh

Ta cần phải phục vụ

Như ta là kẻ hầu

Của vị vua dễ cáu.  
   
131. Sự trừng phạt của vua  
 Đủ so sánh nổi chăng  
 Với thống khổ địa ngục   
 Do quả báo hành động

Ngược đăi hại chúng sinh?  
   
132. Sự ban ơn của vua  
 Đủ so sánh được chăng  
 Với thành tựu Phật quả  
 Từ hành động lợi tha

Giúp chúng sinh an lạc?  
   
133-134. Khoan nói đến Phật quả   
Kết tựu từ hành động  
Quư trọng mọi chúng sinh  
Ngay trong cơi đời này

Kẻ nhẫn nhục nhận được

Bao hạnh phúc tràn đầy  
Của một vị Đế vương  
Ví như được danh vọng
Được sắc đẹp, vui tươi  
Được sức khỏe, trường thọ.  

  

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG VII

 

TINH TẤN

 

 

 

1.Sau khi đạt nhẫn nhục

Phải tu hạnh tinh tấn

Sức mạnh của chuyên cần

Là nguồn gốc giác ngộ

Nếu tinh tấn không có

Công đức sẽ không sinh

Như khi gió lặng thinh

Th́ không có chuyển động.

 

2.Vậy Tinh tấn là ǵ ?

- Là làm lành, tránh dữ.

Đối nghịch với Tinh tấn

Là lười biếng, tự khinh

Nghiêng về nẻo bất chính.

 

 

Những lực đối kháng

 

3.Nhàn rỗi,  ham hưởng lạc

Ưa ngủ, thích dựa người

Khiến cho ḷng thờ ơ

Trước luân hồi thống khổ

 

4.Bị tật xấu săn đuổi

Sụp vào bẩy thọ sinh

Sao ngươi không biết ḿnh

Rơi vào miệng thần chết?

 

5.Ngươi thấy chăng đồng bạn

Lần lượt bị giết hại

Sao ngươi vẫn dửng dưng

Như trâu trước đồ tể ?

 

6.Bị tử thần ŕnh rập

Lối thoát bị phủ vây

Sao ngươi vẫn thích thú

Ăn ngủ và yêu đương ?

 

7.Thần chết chuẩn bị xong

Liền t́m ngay đến ngươi

Khi ấy bỏ biếng lười

Cũng đă là quá muộn!

 

8-10. “Việc này tôi chưa đạt

Việc kia vừa khởi công

Việc khác c̣n dang dở“

Tử thần đột nhiên đến

Khiến ḷng tôi suy nghĩ:

“Ôi: Mạng ta hết rồi“

 

Nh́n người thân tuyệt vọng

Lệ đẫm má u sầu

Thấy sứ giả tử thần

Ray rức nhớ tội ác

Tai vang tiếng địa ngục

Cuống quít biết làm ǵ?

 

11. Như cá nằm cát nóng

Thống khổ biết dường nao !

Kinh thay lửa địa ngục

Dành riêng cho tội nhân!

 

12. Như da non trẻ thơ

Bỏng nước sôi đau xót

Làm sao an nhiên được

Trước quả báo địa ngục?

 

13. Lười mà muốn được thưởng

Khác nào đứa trẻ thơ

Thích được nước sôi dội.

Thần chết đến th́nh ĺnh

Lại tưởng ḿnh trường sinh!

Ngươi đương nhiên phải chết!

 

14. Hăy sử dụng thân này

Như một chiếc bè con

Để mau vượt biển khổ

Chiếc bè này mai sai

Thật vô cùng khó kiếm

Này hỡi kẻ ngu ơi!

Đừng  ngủ trong lúc này!

 

15. Hăy theo Pháp cao thượng,

Nguồn an lạc tuyệt đỉnh.

Hăy bỏ thói hư hèn

Dẫn đưa đến khổ đau.

 

 

Phương pháp hỗ trợ cho sự

tu tập tinh tấn

 

16. Hăy tu tập thiền định

Hăy can đảm tự tin

Và làm chủ chính ḿnh

Hăy thực hành b́nh đẳng (12)

Đổi vị trí cho nhau

Đặt người vào chỗ ta

Ta đổi chỗ với người

Xem người cũng như ta.

 

 

Tự tin

 

17-18.  Đừng để nhụt ư chí

V́ lo lắng băn khoăn

“Ḿnh giác ngộ được chăng“

Bởi v́ Phật tuyên bố

Điều chân thật sau đây:

Nhờ sức mạnh Tinh tấn

Mà côn trùng, ruồi muỗi

Cũng t́m được giác ngộ.

 

19. Tôi được sinh làm người

Biết phân biệt xấu tốt

Nếu sống hạnh Bồ Tát

Chẳng lẽ không giác ngộ ?

 

20. Nếu nói : “Tôi lo sợ

Phải bố thí tay chân”.

Đó là thiếu suy xét

Không cân phân nặng nhẹ.

 

21.Trải qua vô số kiếp

Tôi đă muôn triệu lần

Bị đâm, đốt, cưa, xẻ

Song vẫn chưa giác ngộ.

 

22. Ngược lại, khổ hôm nay

Giúp tôi đạt giác ngộ.

Khổ này có giới hạn

Như thể lấy gai đâm

Phải chịu đau khi mổ

 

23. Y sĩ muốn trị bệnh

Dùng liệu pháp gây đau

Vậy cố chịu khổ nhỏ

Để diệt trừ khổ lớn.

 

24. Người y sĩ tài ba

Không cần liệu pháp ấy;

Bằng phương pháp dịu êm

Cũng chữa lành bệnh nặng.

 

25. Đấng Y Vương dạy rằng

Đệ tử lúc ban đầu

Nên bố  thí thực phẩm,

Khi tu tập nhuần nhuyễn

Mới bố thí thịt da.

 

26. Khi tâm đă thuần thục

Xem thân như cỏ cây

Th́ khó chi bố thí

Thân thể và thịt xương! 

 

27. Lúc ấy bậc Bồ Tát

Thoát ly mọi khổ đau

Của cả thân và tâm.

Chính tà kiến chấp ngă

Làm thân tâm khổ sầu.

 

28. Nhờ tạo được phước đức

Nên thân hưởng khinh an

Nhờ tinh tấn tu tập

Nện tâm hưởng thanh tịnh.

V́ lợi ích chúng sinh

Bồ Tát vào sinh tử

Nhưng chẳng hề khổ đau.

 

29. Nhờ năng lực bồ đề

Tẩy trừ nghiệp ác xưa

Tạo vô lượng công đức

Nên hơn hàng Thanh Văn.

 

30. Có bậc Hiền giả nào

Lại sinh ḷng chán nản

Khi cỡi xe bồ đề

Lướt qua mọi mỏi mệt

Đi từ hạnh phúc này

Đến bao hạnh phúc khác?

 

 

Các năng lực

 

31. Để cứu độ chúng sinh

Cần có bốn năng lực:

Là nguyện vọng, quyết tâm

Hoan hỷ và điều độ.

Qua thể nghiệm khổ đau

Và quán sát lợi ích

Phát sinh từ việc thiện

Mà nguyện vọng lớn lên.

 

32.Muốn tăng trưởng Tinh tấn

Hăy trừ lực đối nghịch

Bằng sáu lực sau đây:

Nguyện, tự tin, hỷ, xả

Hy sinh và giới hạnh.

 

 

Nhu cầu làm điều thiện

 

33. Phải diệt trừ vô số

Lỗi của ḿnh và người.

Trong việc thanh lọc này

Để diệt mỗi một lỗi

Phải cần vô số kiếp.

 

34.Trong khi ta chưa có

Một mảy may tinh tấn

Để thực sự diệt lỗi,

Song không hiểu tại sao

Tim ta không vỡ tung

Trước vô số khổ đau?

 

35. Khó thay việc góp nhặt

Hằng hà sa công đức

Cho tôi và cho người

Trong khi chỉ để đạt

Mỗi một công đức thôi

Phải tu vô lượng kiếp.

 

36. Vậy mà tôi chưa hề

Tu được công đức nào

Vô ích thay cái kiếp

Được mang thân con người!

 

37. Tôi chưa được hạnh phúc

Dâng lễ cúng dường Phật

Vẫn chưa cung kính Pháp

Chưa cứu giúp người nghèo.

 

38. Tôi chưa đem an toàn

Đến những người lo sợ

Và chưa đem hạnh phúc

Đến người bị đọa đày.

Tôi trở thành bào thai

Cũng chỉ để đau khổ.

 

39.“V́ trong kiếp quá khứ

Không hướng về Phật Pháp

Nên nay chịu thiệt tḥi!“

Ai nhận thức như vậy

Sẽ không ngơ Chánh Pháp.

 

40. Đức Phật chỉ dạy rằng

Thệ nguyện làm điều lành

Là nguồn gốc phước đức

Nguyện này được khởi sinh

Từ quán chiếu thường xuyên

Về nhân quả hành động.

 

41. Hành động của kẻ ác

Luôn đem lại hậu quả

Là hy vọng tiêu tan

Là khổ đau, ngao ngán.

 

42. Do tâm nguyện hướng thiện

Mà làm nhiều việc lành

Đến đâu cũng gặp được

Những phước báo hiện tiền.

 

43. Những kẻ làm điều ác

Dù cầu mong hạnh phúc

Đến đâu cũng khổ đau

Do gặp quả báo ác.

 

44. Nhờ luôn làm việc lành

Nên Bồ tát hóa sinh

Trong ḷng sen thơm ngát (13)

Với thân thể đẹp tươi

Trong hào quang chư Phật

Được nuôi nấng vinh quang

Bằng pháp âm vi diệu

Và sống như con Phật

Trước mặt đấng Như Lai.

 

45. Nhưng khi gieo nghiệp ác

Hậu quả sẽ bi đát

Bị ngục tốt Diêm Vương

Lột da, lóc thịt xương

Uống nước đồng sôi sục

Quỵ ngă trên sàn nóng

Bị gươm dao nung đỏ

Chém băm thịt nát nhừ.

 

 

Quyết tâm

 

46. Qua quán sát nhân quả

Ta cần phải phát nguyện

Quyết chí tu hạnh lành

Theo Kinh Kim Cương Tràng.

 

47. Trước khi làm việc ǵ

Hăy xét mọi khả năng

Tốt hơn thà không làm

Hơn bỏ dở công việc.

 

48. Nếu cứ bỏ dở việc

Sẽ trở thành thói quen

Suốt đời đời kiếp kiếp.

Từ nghiệp ác như vậy

Đau khổ măi gia tăng

Việc nào cũng dở dang

Th́ giờ đành lăng phí!

 

49.    Cần giữ ba quyết tâm :

V́ công việc của ḿnh

V́ phiền năo của ḿnh

V́ năng lực của ḿnh

“Tôi phải làm một ḿnh“.

Đó chính là ư chí

Thúc đẩy ta hành động.

 

50. Đời không thể tự giúp

V́ bị phiền năo buộc

Vậy tôi phải giúp đời

V́ có khả năng hơn

So với kẻ lang thang.

 

51.Thấy người làm việc hèn

Sao ta nỡ ngồi yên

Phải chăng ta ngă mạn

Nghĩ ḿnh hơn kẻ khác?

Tốt nhất đừng kiêu căng.

 

52. Đối với cắc kè chết

Con quạ lầm tưởng ḿnh

Là đại bàng dũng mănh

Khi tâm ta yếu hèn

Th́ một buông lung nhỏ

Cũng đủ làm hại ta.

 

53. Tại sao lại buông lung

Không tinh tấn hành thiện?

Ta cần phải tự tin

Và hăng hái tu hành

Dù gặp trở ngại lớn

Đều có thể vượt qua.

 

54. Với tín tâm kiên cố

Tôi khắc phục buông lung

Nếu không thể thắng nó

Không thể vượt Tam giới.

 

55. “Tôi phải thắng tất cả

Tôi không để bị thua“

Chính kiến tôi như thế.

Tôi là sư tử con

Con của đấng Chiến thắng.

 

56. Bất cứ chúng sinh nào

Bị kiêu căng chế ngự

Đều thật sự yếu hèn.

Kẻ nào vững tự tin

Sẽ không để gục thua

Trước kẻ thù kiêu ngạo.

 

57.-58. Kiêu ngạo dẫn ta đến

Số phận rất tồi tệ

Dù rằng được làm người

Cũng chẳng được vui tươi.

Ăn cơm thừa canh cặn

Xấu xí và suy nhược

Bị khinh chê khắp nơi.

Đó chính là số phận

Của những kẻ kiêu căng.

 

(Hỏi) “C̣n những kẻ khiêm tốn

Thuộc hạng người tự tin

Th́ họ như thế nào?“

 

59.( Đáp)  Họ là những anh hùng

Đầy chiến công oanh liệt

Thắng kẻ thù kiêu ngạo

Phá hủy sự lớn lên

Của ngă mạn đáng sợ

Rồi họ sẽ tuyên bố

Chiến công họ trọn thành

Cho thế gian đều biết (14).

 

60. Dù phiền năo phủ vây

Họ không hề chiến bại

Hùng dũng như sư tử

Đứng giữa một bầy chồn.

 

61. Họ không để phiền năo

Chiến thắng chế ngự ḿnh

Như giữ ǵn đôi mắt

Lúc cấp bách gặp nguy.

 

 

Hoan hỷ

 

62. Khi quyết làm việc ǵ

Bồ Tát say mê làm

Để trọn tâm vào đó

Giống như người đánh bạc

Mê say quyết ăn thua.

 

63. V́ mưu cầu hạnh phúc

Nên làm việc công đức

Hạnh phúc đến hay không

Nào có hề chi đâu.

Duy chỉ có việc làm

Mới chính là hạnh phúc.

Vậy nếu không làm ǵ

Làm sao đạt hạnh phúc?

 

64. Lạc thú của trần gian

Như mật trên dao bén

Người đời nếm không chán.

Nhưng đối với công đức

Dẫn dắt đến an vui

Bồ Tát chán sao được?

 

65. V́ vậy xong việc này

Bồ Tát làm việc khác

Như voi bị nắng thiêu

Bắt gặp được ao mát

Liền ào ngay xuống tắm.

 

 

Quên ḿnh

 

66. Say sưa làm kiệt sức

Bồ Tát nghỉ xả hơi

Để rồi lại tiếp tục.

Công đức nào hoàn tất

Bồ Tát để sang bên

Sẵn sàng nhận việc khác.

 

 

Hoàn toàn quên ḿnh

 

67. Bồ Tát luôn đề pḥng

Cú đ̣n của lạc thú

Và phản công hữu hiệu

Như kiếm sĩ tài ba

Trước kẻ địch lăo luyện.

 

68. Trong trận kiếm lỡ rơi

Kiếm sĩ vội nhặt lại

Bồ Tát cũng như vậy

Khi kiếm chánh niệm rơi

Liền nhặt lại tức khắc

V́ sợ sa địa ngục.

 

69. Như thuốc độc vào máu

Sẽ lan khắp toàn thân

Phiền năo gặp tà kiến

Sẽ ngập tràn trong tâm.

 

70. Kẻ tu hạnh Bồ Tát

Phải hết sức chú ư

Như người mang bát dầu

Bị dọa chém rơi đầu

Nếu làm rơi một giọt.

 

71. Như rắn ḅ lên bụng

Tức tốc hất nó đi

Cũng vậy, phải xua ngay

Cơn lười biếng, uể oải.

 

72. Mỗi khi lỡ buông lung

Nên tự trách bản thân

Và suy nghĩ chín chắn

Về lỗi lầm đă làm

Để không c̣n tái phạm.

 

73. V́ vậy nên thân cận

Các bậc thiện tri thức

Để học cách tu tập

Giữ ǵn được chánh niệm.

 

74. Trước khi làm công đức

Phải quan tâm nhớ lại

Lời dạy về chánh niệm

Và sẵn sàng tinh tấn.

 

75. Như bông tơ nhẹ nhàng

Bay thuận theo làn gió

Mọi việc của Bồ Tát

Tất cả đều thuận theo

Sức mạnh của Tinh Tấn

Nhờ vậy lực nhiệm mầu

Cũng được tự phát huy.

  

 

 

CHƯƠNG VIII

 

 THIỀN QUÁN

 

 

1. Phát huy tinh tấn rồi

 Bồ Tát tu thiền quán

 Người mà tâm tán loạn

 Bị giam chốn buồn phiền.

 

 

Sống ẩn dật

 

2. Nhờ thân, tâm xa ĺa

Với cuộc đời trần thế

Bồ tát sống ẩn dật

Nên tán loạn không sinh

 

 

Thân sống thoát ly

 

3. V́ luyến ái [tự ngă]

V́ tham lợi tham danh

Nên bám víu trần thế.

Hăy theo bậc trí tuệ

Quán chiếu điều sau đây:

 

4. “Ai có tâm vắng lặng

Với trí tuệ sáng suốt

Mới diệt được buồn phiền”.

Vậy cần phải bắt đầu

Bằng tu tập an định

Những vị đă hoan hỷ

Sống ly cách thế gian

Tu theo phương pháp này

Đă đạt tâm an định.

 

 

Từ bỏ luyến ái

 

5. Thân ta đă hạn định

Vậy ta có thể nào

Yêu người cũng hạn định?

Dù tái sinh ngàn lần

Cũng khó gặp người xưa.

 

6. T́m không gặp, sẽ buồn

Không giữ được chánh định

Nếu gặp, cũng đau khổ

V́ tâm tư sục sôi

Bao đ̣i hỏi thuở xưa.

 

7. V́ không thấy thực tại

Nên con người lăng quên

Nỗi sợ hăi địa ngục.

V́ luyến ái người yêu

Đành chịu tiếp khổ lụy.

 

8. Măi bận bịu người thân

 Đời trôi qua vô nghĩa

 V́ bè bạn không bền

 Đành xa Pháp vĩnh cửu.

 

9.  Ai sống như người ngu

Số phận sẽ tồi tệ.

Ai không sống giống họ

Họ không thèm trọng vọng.

Nhưng được lợi ích ǵ

Khi thân cận kẻ ngu?

 

10. Phút trước c̣n là bạn

Phút sau thành địch thù.

Vui cũng chuốc oán cừu

Khó thỏa ḷng nhân thế.

 

11. Ta khuyên họ điều phải

 Họ giận, kéo ta lui.

 Nếu không nghe lời họ

 Họ bừng bừng nổi sân

 Và rơi vào ngơ ác.

 

12. Ganh ghét người hơn ḿnh

Cạnh tranh kẻ bằng ḿnh

Khinh thị người thua ḿnh

Được khen th́ khoái trá

Bị chê lại giận dữ

Với kẻ ngu như vậy

Làm bạn có ích chi?

 

13.  Giao du với kẻ ngu

Sẽ tự tâng bốc ḿnh

Và hạ thấp người khác,

Ưa bàn chuyện thế tục.

Những tṛ vô ích này

Quanh quẩn với người ngu.

 

14.  Những giao du như vậy

 Chỉ sản sinh bất hạnh.

 Tốt hơn, sống một ḿnh

 Tâm hạnh phúc, sáng trong.

 

15.  Hăy lánh xa người ngu

 Nếu gặp chỉ vui chào

 Không phải để thân mật

 Mà v́ ḷng an nhiên.

 

16.  Như ong lấy mật hoa

Tôi sống với mọi người

V́ phục vụ chánh pháp

B́nh thản như trăng soi.

 

 

Từ bỏ lợi danh

 

17. “Ta giàu có, danh vọng

Ai cũng cầu cạnh ta »

Kẻ nào nghĩ như vậy

Sẽ sợ trước thần chết.

 

18.  V́ tâm ư lỗi lầm

Không biết chân hạnh phúc

Nên khoái lạc tầm cầu

Đều biến thành đau khổ

Gấp ngàn lần lớn hơn.

 

19. V́ vậy bậc Hiền giả

Không vướng bận tham ái.

Tham ái gây lo sợ

Chúng đều đáng buông bỏ

Hăy giữ vững kiên tŕ.

 

20. Nhiều người thật giàu sang

Danh vang khắp thiên hạ.

Cuối cùng họ về đâu

Với những lợi danh ấy?

 

21- 22. Thiếu ǵ kẻ khinh tôi

Sao tôi vui được khen?

Thiếu ǵ kẻ khen tôi

Sao tôi buồn bị chê ?

 

Chúng sinh muốn đủ điều

Phật cũng không chiều nổi

Huống chi ta ngu đần

Lo lắng làm sao được

Cho trần thế đảo điên?

  

23.  Kẻ nghèo họ khinh khi

Người giàu họ nói xấu

Bản chất tráo trở đó

Khiến tôi không thể gần.

 

24.  Đức Như Lai từng dạy

Người ngu không có bạn.

Họ thân thiện với ai

Đều chỉ v́ tư lợi.

 

25.  Cỏ cây không nghĩ xấu

Cũng không khó kết bạn.

Ôi chừng nào tôi được

Sống an lành với chúng?

 

 

Sống nơi hoang vắng

 

26. Chừng nào tôi thảnh thơi

 Đến ở nơi am vắng

 Dưới tàng cây, hang động

 Không lưu luyến trần gian.

 

27.  Bao giờ tôi mới được

Đến những vùng nguyên sơ

Không ai giành làm chủ

Không nhà cửa, tự do.

  

28.  Bao giờ tôi mới được

Ở yên không sợ hăi

Vỏn vẹn một b́nh bát,

Một chiếc áo cà sa

Mà kẻ trộm không thèm

Thậm chí không che thân

Đến, đi đều tự tại.

 

29.  Bao giờ tôi đến gần

Băi tha ma đầy xác

Để quán tưởng thân này

Chẳng khác nào xương kia

Tất cả đều hoại diệt.

 

30. Mai kia tôi chết đi

Thân tôi sẽ vữa nát

Hơi thối bốc nồng nàn

Khiến chó cũng tránh chê

 

31. Thân này, lúc đang sống

Thịt xương dính với nhau

Chết tức th́ tan ră

Thân quyến khác chi tôi.

 

32.  Khi sinh đă một ḿnh

Khi chết vẫn đơn độc

Thống khổ này ai chia

Thân quyến nào ích ǵ

Chỉ cản trở tu tập.

 

33.  Lữ khách trên đường dài

 Tạm trú nơi lữ quán

 Người đi trong luân hồi

 Tạm trú trong một đời.

 

34. Lúc nào tấm thân này

Chưa được bốn người khiêng

Chưa ai đưa tiễn khóc

Th́ nên vào rừng tu.

 

35. Ở đó không người than

Cũng chẳng có kẻ thù

 Một ḿnh sống ẩn dật

 Với đời như đă chết

 Không ai buồn đớn đau.

 

36. Chung quanh đều vắng vẻ

Chẳng ai phiền khóc than

Nên khi tưởng niệm Phật

Tâm không bị tán loạn.

 

37. Hăy nên sống ẩn dật

Ít bận, dễ an vui

Giữa đồi nương xinh đẹp

Tâm tán loạn liền ngưng.

 

 

Tâm sống thoát ly

 

38.  Buông bỏ mọi lo âu

Tâm sẽ được chuyên chú

Tinh tấn tu thiền định

Chế ngự mọi đảo điên.

 

 

Ái dục

 

39.  Ái dục sinh ra họa

Cho đời này, kiếp sau

Đây tù tội chết chóc

Kia địa ngục khổ sầu.

 

40. Cũng chỉ v́ ái dục

Mà ngươi đă khẩn cầu

Bao ông tơ bà nguyệt

Xe chỉ kết lương duyên.

Hăy xem xét thật kỹ

Điều ấy có tội không

Hay đem đến tiếng xấu?

 

41.  Tính mạng dù hiểm nguy

 Gia tài dù khánh tận

Tất cả v́ ái dục

Tất cả v́ khoái lạc

Chỉ ôm được người đẹp

Là khoái chí tiêu hồn.

 

42.  Kẻ ngươi ôm ngày xưa

Cũng chỉ là bộ xương

Vô chủ, không tự tính.

Nay chết hiện nguyên h́nh

Sao ngươi không ôm tiếp?

 

43.  Măi đến ngày lễ cưới

 Người đẹp mới ngẩng  đầu.

 Ngươi kéo khăn che mặt

 Mới thấy được khuôn trăng

 Lúc chết quấn vải liệm

 Ngươi thấy mặt ấy không?

 

 

44.  Dung mạo sau khăn che

Xưa làm mê hoặc ngươi

Nay kên kên mở ra

Ngươi hăy ngắm kỹ đi!

Sao ngươi lại bỏ chạy?

 

45.  Ngày xưa ai lén nh́n

Ngươi vội vàng che dấu

Nay kên kên mổ ăn

Hỡi kẻ ghen nhan sắc

Sao không bảo vệ đi?

 

46. Ngươi nh́n khối thịt vữa

Kên kên tranh giành ăn:

Xưa kia ngươi nhọc công

Trang điểm bằng ṿng hoa,

Hương liệu và nữ trang.

 

47.  Nh́n xương trắng bất động

Sao ngươi lại hăi kinh

Mà trước kia không sợ?

Sao không nghĩ rằng đó

Là tử thi di chuyển.

 

48.  Xưa nàng mặc xiêm y

Xinh đẹp làm ngươi thích

Nay xác thân trơ trụi

Ngươi có thích hay chăng ?

Mê chăng thây choàng áo?

 

49. Nước miếng và phân tiểu

Do thức ăn sinh ra

Sao ngươi thích nước miếng

Mà lại ghê tởm phân?

 

50. Những kẻ thương yêu nhau

Không thích gối nệm sạch

V́ thiếu hơi người t́nh

Từ thân thể tỏa ra. 

 

51. Kẻ mê nhục dục nói:

“Cái gối tuy mềm mại

Nhưng không thể tạo được

Giấc nồng đôi uyên ương”.

Họ giận cả cái gối!

 

52. Ngươi không ưa thứ bẩn

Sao lại ôm thân người

Có gân xương kết nối

Với da thịt đắp lên?

 

 

53. Thân thể ngươi không sạch

Ngươi chưa hài ḷng sao?

C̣n ham chi túi da

Không sạch của người khác?

 

 54. Nếu bảo chỉ thích nh́n

Và vuốt ve da thịt.

Sao ngươi không vuốt  ve

Xác chết chẳng c̣n hồn?

 

55. Vậy ngươi thích cái ǵ?

Là tâm người yêu chăng?

Tâm không thể sờ, thấy

Mọi thứ được cảm nhận

Qua tất cả giác quan

Đều không phải là tâm!

Vậy ôm ấp thân kia

Chẳng nghĩa lư ǵ hết!

 

56. Nếu không nhận thức được

Thân người khác không sạch

Đó chưa phải lạ kỳ

Nhưng chẳng biết ḿnh dơ

Mới thực là kỳ lạ.

 

57. Hỡi cái tâm suy đốn

Sao lại bỏ đóa sen

Vừa mới nở trong nắng

Để thích túi da dơ?

 

58. Ngươi không muốn sờ mó

Đất cát đầy dơ bẩn

Sao ngươi muốn mó sờ

Tấm thân tiết đồ dơ?

 

59. Ngươi không thích dơ bẩn

Tại sao ôm vào ḷng

Tấm thân của người khác

Tiết đủ thứ không sạch?

 

60. Con ḍi sống trong phân

Ngươi không thể ưa thích

Tại sao thích thân này

Đầy chất phế thải dơ?

 

61. Ngươi đă không ghê tởm

Thân không sạch của ḿnh

Sao khát khao cơ thể

Không sạch của người khác?

 

62. Long năo và gia vị

Gạo thơm, thức ăn ngon

Từ miệng khạc nhổ ra

Làm đất bị ô nhiễm.

 

63. Thân không sạch cũng vậy

Ai ai cũng tự thấy.

Nếu ḷng c̣n nghi ngờ

Hăy đi vào nghĩa địa

Quan sát những thây chết.

 

64. Sao ngươi thích thân người

Mặc dù đă ư thức

Khi da bị lóc ra

Trông thật đáng kinh hăi!

 

65. Thân không tự nhiên thơm

Ngát hương nhờ nước hoa

Chỉ v́ mùi hương lạ

Mà đắm say thân nàng!

 

66. Mùi hôi hám tự nhiên

Không kích thích ḷng dục

Không khiến mê thân thể

Đó là niềm hạnh phúc.

Bày chi chuyện độc hại

Xức dầu thơm lên thân!

 

67. Mùi hương trầm tỏa ngát

Can hệ ǵ đến thân?

Tại sao nhân mùi hương

Mà sinh ḷng thích nàng?

 

68- 69. Thân người để tự nhiên

Với mặt, da trần trụi

Móng, tóc dài lê thê,

Răng vàng khè lốm đốm

Thân tự nhiên như thế

Trông đáng sợ vô cùng !

 

Tại sao phải mệt nhọc

Bỏ công săn sóc nó ?

Vậy khác chi mài gươm

Để tự giết bản thân!

Ôi! Đời đầy lũ điên

Lúc nào cũng hồ hởi

Tự mê hoặc chính ḿnh!

 

 70. Thấy xương ngoài nghĩa địa

 Ḷng ngươi sinh khiếp sợ

 Sao lại vui khi thấy

 Những bộ xương di chuyển

 Đầy dăy khắp xóm làng.

 

71. Hơn nữa tấm thân này

Dầu cho không được sạch

Phải trả tiền mới có

Đời này phải phục dịch

Đời sau càng khổ hơn

Trong các cơi địa ngục.

 

72. Trẻ con không khả năng

Làm việc kiếm ra tiền

Nhờ đâu chúng hạnh phúc?

Lớn lên đời trôi qua

Trong công việc kiếm sống

Tuổi già đến bên chân

Sắc dục làm chi nữa?

 

73. Có kẻ tham nhục dục

Suốt ngày làm kiệt sức,

Tối về nhà mệt mỏi

Lăn ngủ say như chết.

 

74. Có kẻ vào quân đội

Khổ sầu xa vợ con

Tháng năm ḷng dằn vặt

Mong ngóng ngày đoàn tụ.

 

75. Có kẻ v́ lợi lộc

Ngu si tự bán thân

Lợi lộc chưa hề thấy

Chỉ biết hầu hạ người.

 

76. Có một số bà vợ

Bán thân làm tôi tớ

Trên bước đường đi xa

Phải sinh đẻ cấp bách

Dưới cây chốn rừng hoang.

 

77. Có kẻ t́m vinh quang

Xông pha giữa chiến trường

Không màng đến tính mạng,

V́ đi t́m vinh quang

Mà gặp cảnh tù đày!

 

78. V́ tham lam lợi danh

Nên thân bị tàn tật

Bị đóng cọc, gươm đâm

Hoặc giáo đâm, lửa đốt.

 

79. Hăy nên nhận rơ rằng

Tài sản là bất hạnh

V́ nhọc nhằn tom góp

Sợ mất phải giữ ôm.

V́ say mê tài sản

Nên không có phút giây

Giải thoát đời đau khổ.

 

80. Tham dục sinh phiền năo

Khoái ít, khổ đau nhiều

Khác chi ḅ kéo xe

Được thưởng cho nhúm cỏ.

 

81. Chỉ v́ chút cảm khoái

- Mà thú vật dễ đạt -

Nhưng người phải bôn ba

Đày đoạ thân, tâm ḿnh!

 

82.- 83. V́ tấm thân bèo bọt

Mà chịu khổ trường kỳ

Rơi vào các địa ngục

Chịu số phận hẩm hiu.

 

Trong khi chỉ cố gắng

Chịu đựng một ít khổ

V́ công việc tu hành

Th́ sẽ thành Chánh giác.

So với hàng Bồ Tát

Kẻ tham dục phải chịu

Khổ cực nặng nề hơn

Mà chẳng đạt chánh quả.

 

 84. Dù dao kiếm, kẻ thù

Dù thuốc độc, vực sâu

Nếu so với ái dục

Không thể nguy hiểm bằng

 

85. Nên nhàm chán ái dục

Ĺa tranh chấp, lao nhọc

Vui  với cảnh ruộng đồng

Và núi rừng an tịnh.

 

86. Đi bộ giữa gió rừng

Như được quạt êm mát

Thong dong trên phiến đá

Như sân thượng cung vua

Dưới ánh trăng trong lành

Mùi hương trầm ngan ngát

Nghĩ đến sự giải thoát

Cho tất cả chúng sinh.

 

87. Tùy ư ở lâu mau

Trong căn nhà hoang vắng

Hay nơi một gốc cây

Hoặc trong những hang đá

Tâm không bận giữ của

An nhiên đi đó đây.

 

88. Tự tại ở hay đi

Không vướng bận một ai

Đó là niềm hạnh phúc

Mà ngay cả Vua Trời

Cũng không thể hưởng được.

 

 

Thiền quán

 

89. Nhờ quán chiếu lợi ích

Của đời sống ẩn tích

Nên vọng tưởng tiêu trừ

Tập trung tu thiền định:

 

 

Quán chiếu b́nh đẳng

 

90. Trước hết nên quán chiếu

Ta với người b́nh đẳng (15)

Ai cũng giống như nhau

Cùng t́m vui, tránh khổ

V́ vậy phải bảo vệ

Chúng sinh cũng như ḿnh.

 

91. Thân gồm nhiều bộ phận

Nhưng khi bảo vệ chúng

Ta xem chúng như “một”

Cũng vậy với chúng sinh

Tuy phân biệt nhiều loài

Song cùng chung sướng khổ

Nên xem chúng như “một”.

 

92. Dù cái khổ của tôi

Không hành thân kẻ khác

Nhưng v́ yêu cái Ta

Nên thật khó kham nỗi.

 

93. Và cái khổ người khác

- Mà tôi không cảm nhận -

Nhưng v́ yêu “cái Ta”

Nên họ cũng khó kham.

 

94. Phải trừ khổ cho người

Như trừ khổ cho tôi

Phải giúp đỡ người khác

V́ kẻ khác và tôi

Đều cùng là chúng sinh.

 

95. Tôi và người giống nhau

Đều mưu cầu hạnh phúc

Thử hỏi thứ ǵ khác

Khiến t́m hạnh phúc riêng?

 

96. Tôi và người giống nhau

Đều sợ nguy, sợ khổ

Vậy v́ lư do nào

Khiến tôi chỉ cứu tôi

Mà không cứu người khác?

 

97. Nói rằng: Không cứu người

V́ nỗi khổ của họ

Không hành hạ đến tôi”

Tại sao tôi bảo vệ

Và che chở cho họ?

Cũng vậy, nỗi đau khổ

Của thân thể kiếp sau

Sẽ không hành hạ tôi.

 

98. Nếu bảo rằng : Kiếp sau

Thân tôi vẫn là tôi

Điều ấy e không đúng

V́ thân lúc chết đi

Không phải thân tái sinh!

 

99. Bảo rằng: “Kẻ nào đau

Th́ họ phải tự chữa

Vậy khi chân bị đau

Tay không can hệ ǵ

Sao tay phải xoa chân?

 

100. Bảo: “Điều vừa biện minh

Mặc dù phi lư thật

Song bởi v́ chấp ngă

Nên nó được sinh ra”.

Nhưng những ǵ phi lư

Dù của ta hay người

Phải cực lực trừ bỏ.

 

101. Tràng hạt và đội quân (16)

Thật ra là ảo tưởng

Của sự nối liên tục

Và của sự kết hợp.

Đau khổ cũng như vậy

Không ai là chủ thể

Của những sự khổ đau?

V́ vậy, ai là kẻ

Cảm nhận được khổ đau ?

 

102. Khổ đau không có chủ

Nó chẳng thuộc về ai.

Chỉ riêng tính khổ đau

Mới cần được tiêu trừ

Vậy cần chi phân biệt

Giữa ta và kẻ khác?

 

103. (Hỏi) Nhưng nếu không có ai

Là người gánh chịu khổ

Tại sao phải diệt khổ ?

 

(Đáp) V́ chúng sinh b́nh đẳng

Nếu cấn phải diệt khổ

Ta phải diệt khắp nơi.

Nếu không th́ không cả.

Không thể diệt cho ḿnh

Mà bỏ lơ người khác.

 

104. (Hỏi) “Mở ḷng từ như vậy

Nỗi khổ chỉ to thêm

Vậy từ bi làm chi!

 

(Đáp) Nỗi khổ dù to hơn

V́ ḷng từ mở rộng

Song thấm thía ǵ đâu

So với khổ muôn loài.

 

105. Nếu một người chịu khổ

Để nhiều người khỏi khổ

Th́ kẻ có ḷng từ

Sẽ gánh trọn khổ ấy.

 

106. Bồ tát Diệu Hoa Nguyệt (17)

Biết vua sắp hại ḿnh

Dù vậy vẫn hy sinh

Chấp nhận chịu đau khổ

Để cứu khổ nhiều người.

 

107. Với tâm được điều phục

Nhờ tu hạnh b́nh đẳng

Thấy chúng sinh như ḿnh

Bồ Tát vào địa ngục

Để cứu độ chúng sinh

Nhẹ nhàng như thiên nga

Sà xuống ao sen mát.

 

108. Giải thoát cho riêng ḿnh

Đâu có nghĩa ǵ lớn;

Giải thoát được chúng sinh

Bồ Tát đươc niềm vui

Dạt dào như biển cả.

 

109. Giúp người được giải thoát

Bồ Tát không kiêu căng

Chuyên tâm làm công đức

Không mong được đáp đền.

 

110. Tôi biết bảo vệ ḿnh

Trước bao sự nhục mạ

Vậy với tâm từ bi

Tôi càng bảo vệ người.

 

111. Tuy không là thực thể

Song nương theo tập quán

Nên ta đă chấp nhận

Tinh huyết của người khác (18)

Cấu tạo thành cái Ta.

 

 

Hoán vị giữa ta với người

 

112. Vậy sao ta không nhận

Thân người là thân ta?

Hoán đổi thân của ḿnh

Thành ra thân của người

Đâu phải là chuyện khó?

 

113. Nếu thấy ḿnh là xấu

Người là biển công đức

Th́ nên tập thương người

Và từ bỏ chấp ngă.

 

114. Ai cũng nhận tay chân

Là bộ phận thân thể

Sao không thừa nhận rằng

Chúng sinh là thành phần

Của toàn bộ thế giới.

 

115.  Thói  quen khiến ta nhận

Thân vô ngă là Ta

Sao không tập thói quen

Xem người cũng là ta ?

 

116. Nhờ thực hiện vô ngă

Ta sẽ không kiêu căng,

Không đợi chờ đền đáp

Khi làm lợi cho người.

 

117. Trước đớn đau lo lắng

Ta biết bảo vệ ḿnh.

Vậy đối với chúng sinh

Cũng phải luyện tâm ư

Biết bảo vệ, yêu thương.

 

118. V́ vậy đấng Bảo Vệ

Đại Bi Quán thế Âm

Đă tặng danh hiệu ḿnh

Để giúp đỡ chúng sinh

Tiêu trừ bao sợ hăi.

 

119. Trước nhiệm vụ khó khăn

Ta không nên trốn chạy

Với thói quen như thế

Ta không sợ một ai

Dù xưa kia nghe tên

Ta đă từng khiếp vía.

 

120. Ai muốn nhanh cứu ḿnh

Và cứu nhanh người khác

Nên đổi người thành ta

Và đổi ta thành người

Đó là bí quyết tốt.

 

121. V́ yêu quí thân ḿnh

Nên luôn sợ nguy hiểm.

Thân là gốc sinh sợ

Sao không thể ghét nó ?

 

122. Cũng chỉ v́ thân này

Mà ta đă chống chọi

Với đói khát, đau bệnh.

Dùng trăm phương ngh́n kế

Bắt giết cá, chim, thú

Ŕnh đường và cướp giựt.

 

123. Hoặc v́ cầu lợi danh

Nhẫn tâm giết cha mẹ

Trộm tài vật Tam Bảo

Đến nỗi bị đốt thiêu

Trong địa ngục Vô gián

 

124. Đă là kẻ thông minh

Th́ không thể bảo vệ

Và cưng dưỡng thân này

Phải xem nó là địch

Và hăy khinh khi nó?

  

125. Ai nghĩ rằng: “Nếu cho

Th́ c̣n ǵ để ăn?”

Với ḷng ích kỷ ấy

Sẽ vào đường ngạ quỷ

Ai nghĩ rằng: “Ta ăn,

Vậy bố thí ǵ đây?”

Với ḷng thương người đó

Sẽ vào đường Vua Trời.

 

126. V́ ḿnh mà hại người

Sẽ vào cơi địa ngục;

V́ người mà chịu khổ

Sẽ hưởng được hạnh phúc.

 

127. V́ tham địa vị cao

Nên kiếp sau thấp hèn ;

Cầu cho người được trọng

Kiếp sau được tôn sùng.

 

128. Sai người khác phục dịch

Kiếp sau làm tôi đ̣i ;

Hiến ḿnh để phụng sự

Kiếp sau được quan quyền.

 

129. Ai thống khổ trên đời

Đều do nghiệp ích kỷ

Chỉ t́m hạnh phúc riêng.

Ai sung sướng trên đời

Đều nhờ nghiệp hy sinh

Đem hạnh phúc cho người.

 

130. Đâu cần nói nhiều lời

Hăy nh́n sự khác biệt

Giữa người ngu, bậc thánh

Người ngu v́ lợi riêng

Thánh nhân v́ lợi người.

 

131. Không đổi vui của ḿnh

Lấy khổ đau kẻ khác

Th́ ta sẽ không thể

Thành tựu quả Chánh giác,

Sẽ trôi trong luân hồi

Và măi không an vui.

 

132. Tạm gác chuyện đời sau

Ngay trong đời hiện tại

Làm tôi tớ biếng lười

Th́ không được lợi lộc

V́ chủ không trả công.

 

133. Kẻ mê muội từ chối

Việc giúp nhau tạo phúc

Lại chuyên làm khổ nhau

Nên chuốc lấy tai ương

Thật vô cùng khủng khiếp.

 

134. Bao bất hạnh ở đời

Như thống khổ, hiểm nguy

Đều sinh từ chấp ngă.

Vậy sao ta chấp ngă?

 

135. Nếu khư khư chấp ngă

Th́ không thoát được khổ

Như chưa tránh xa lửa

Có lúc bị đốt thiêu.

 

136. Để xoa dịu khổ đau

Của tôi và của người

Tôi phải hiến thân ḿnh

Cho bao nhiêu kẻ khác

Và xem họ là tôi.

 

137. Này tâm ư ta ơi!,

Ngươi nên tin chắc rằng

Ta buộc chắc với người

Vậy ngươi chỉ được quyền

Nghĩ đến lợi cho người.

 

138. Mắt và các giác quan

Chúng đă thuộc về người

Mắt không c̣n nh́n thấy

Những lợi riêng cho tôi

Bàn tay này cũng vậy

Nó thuộc kẻ khác rồi

Nên không c̣n hoạt động

Làm lợi ích cho tôi.

 

139. Từ nay thân thể này

Tôi hiến cho muôn loài

Hăy đem nó sử dụng

V́ giải thoát chúng sinh.

 

140. Hăy chọn người thấp hơn

Rồi đặt tôi vào họ

Và đặt họ vào tôi.

Nhờ vậy tôi không ngại

Khi tu tập thiền quán

Về kiêu căng, ghen ghét.

 

141. Hăy nghĩ như thế này (19) :

Tôi không được kính trọng

Tôi không giàu bằng người;

Kẻ ấy được khen thưởng

C̣n tôi bị chê trách

Kẻ ấy được hạnh phúc

C̣n tôi lại khổ sở.

 

142. Tôi làm lụng nhọc nhằn

Kẻ ấy sống nhàn hạ

Tôi thân bại danh liệt

Kẻ ấy được tán dương.

 

143. Ta phải làm ǵ đây

Với kẻ bất tài ấy?

Ai cũng có tài riêng.

Đối với rất nhiều người

Tôi c̣n kém thua họ

Nhưng cũng hơn nhiều người.

 

144. Sự suy yếu giới luật

Và kiến giải của tôi

Phát sinh từ ái dục

Chứ không sinh từ tôi.

Nếu nó chữa giúp tôi

Dù đau đớn thế nào

Tôi cũng sẵn sàng chịu.

 

145. Với tôi nó [cái Ta] không chữa

Sao lại khinh miệt tôi?

Nó có nhiều ưu điểm

Song lợi ǵ cho tôi?

 

146. Nó không có ḷng từ

Đối với kẻ xấu số

Đang kẹt trong đường ác.

Hơn nữa nó hănh diện

Về ưu điểm của ḿnh

Cao hơn bậc hiền đức.

 

147. Đối với  kẻ ngang hàng

Nó [cái Ta] t́m cách lấn lướt

Thậm chí bằng tranh căi

Để nâng cao ưu điểm

Và thắng lợi, thanh danh.

 

148. Tôi sẽ bằng mọi cách

Tuyên dương khắp thiên hạ

Tính ưu việt của ḿnh

“Và không cho ai biết

“Tính ưu việt của nó.

 

149. “Tôi lại phải che dấu

“Những lỗi lầm của ḿnh

“Để tôi được trọng vọng

Thế là tôi giàu sang

Và được người cung kính

Chứ không phải là nó.

 

150. Tôi hoàn toàn thoả măn

V́ nó bị khinh khi

Bị thế gian biếm ngạo

Bị phỉ báng đó đây.

 

151. Bởi kẻ khốn cùng này

Muốn so đọ với tôi

Thử hỏi xem sắc đẹp

Hay trí tuệ, hiểu biết

Ḍng họ, tài sản nó

Làm sao bằng tôi được?”

 

152. Mỗi khi nghe mọi người

Ca tụng ưu điểm tôi

Tôi sướng ran cả người

Vui dựng cả tóc gáy.  

 

153. Nếu nó c̣n tài sản

Tôi sẽ dùng bạo lực

Để chiếm đoạt tất cả.

Nếu nó phục dịch tôi

Tôi cho nó đủ sống.

 

154. Tôi phải đuổi nó khỏi

Niềm hạnh phúc an vui

Và chất lên lưng nó

Những nhọc nhằn của tôi.

Nó phải bị ch́m nổi

Trong sinh tử luân hồi

V́ nó hàng trăm lần

Đă làm tôi thiệt hại.

 

155. Hởi này tâm ư ơi !

Trải qua vô số kiếp

Ngươi tầm cầu tư lợi

Chịu bao nhiêu nhọc nhằn

Chỉ để gặt đau khổ.

 

156. Hăy nhận lấy lời khuyên

Hoán vị với người khác

Làm đúng theo Phật pháp

Tất được lợi mai sau.

Lời Phật dạy không sai.

 

157. Nếu xưa tôi tu tập

Hoán đổi ḿnh với người

Tất thành bậc giác ngộ

Không khổ như ngày nay.

 

158. Ngươi bám chặt ư thức

Rằng cái Ta kết tụ

Từ tinh huyết mẹ cha

Vậy ngươi cũng nên tập

Xem kẻ khác là ta.

 

159. Hăy như điệp viên lạ

Quan sát kỹ thân này

Thấy có ǵ lợi ích

Hăy đem cho chúng sinh.

 

160. [Cái Ta luôn nghĩ rằng]

Ta tốt, họ xấu xa

Họ hèn, ta cao trọng

Ta làm, họ ở không

V́ vậy với cái ta

Hăy hoàn toàn ghét nó.

 

161. Cần phải đuổi cái  Ta

Ra khỏi niềm hạnh phúc

Và trói chặt nó vào

Đau khổ của người khác.

Hăy canh chừng cẩn mật

Việc mờ ám của nó.

 

162. Hăy đổ lên đầu nó

Mọi lỗi lầm kẻ khác

Và khai trước đức Phật

Mọi sai trái của nó

Dù nhỏ nhặt đến đâu.

 

163. Hăy d́m tiếng tốt nó

Bằng cách nâng cao lên

Tiếng tốt của người khác.

Hăy bắt nó hầu hạ

Làm tôi tớ chúng sinh

Đáp ứng mọi nhu cầu.

 

164.  Không v́ vài hạnh tốt

Của cái Ta lỗi lầm

Mà vội vàng khen ngợi.

Nếu nó có hạnh tốt

Cũng đừng cho ai hay.

 

165. Tóm lại, cần phải đổ

Lên đầu của cái Ta

Tất cả những phương hại

Mà nó mang đến người

 

166. Đừng cho nó quyền hành

Để thành kẻ lắm miệng

Hăy bắt nó e thẹn

Kín đáo và rụt rè

Như cô dâu mới cưới.

 

167. Phải làm như thế này

Phải đứng như thế kia

 Không được làm ǵ cả

Phải khống chế cái Ta

Bằng cách đối xử ấy

Và nếu nó vi phạm

Phải trừng phạt nó ngay.

 

168. Này tâm của tôi ơi!

Nếu ngươi không làm vậy

Như đă được ủy thác

Th́ sẽ bị trừng trị

V́ bao nhiêu lỗi lầm

Rốt cuộc nằm tại ngươi.

 

169. Ngươi muốn đi đâu đó?

Ngươi không thoát ta đâu!

Ta đập tan tành hết

Thói kiêu ngạo của ngươi

Thời ngươi hủy hoại ta

Nay đă qua lâu rồi.

 

170. Ngươi hăy bỏ hy vọng

T́m lợi riêng cho ḿnh

Ngươi đă bị bán rồi

Dù ngươi rất tuyệt vọng

Cũng chẳng ai quan tâm.

 

171. Nếu ta thiếu thận trọng

Không bán ngươi cho người

Chắc chắn ngươi trao ta

Cho quỷ sứ địa ngục.

Không nghi ngờ ǵ nữa !

 

172. Đă bao nhiêu lần rồi

Ngươi bán ta cho chúng

Ta đă bị hành hạ.

Nay nhớ lại thù xưa

Ta quyết tiêu diệt ngươi.

Hỡi cái tâm ích kỷ

Chỉ biết làm nô lệ

Cho lợi riêng của ḿnh!

 

173. Đừng chiều chuộng cái Ta

Nếu ngươi muốn yêu ngươi

Đừng che chở cái Ta

Nếu muốn bảo vệ ḿnh.

 

 

Tổng kết

 

174. Thân càng được che chở

Nó càng nhỏng nhẽo hơn

Nó càng bị sa đọa.

 

175. Và nó càng sa đọa

Ái dục nó càng tăng

Với tài sản quả đất

Cũng không làm thỏa măn.

 

176. Ai ham muốn g điều ǵ

Mà không thể có được

Th́ chuốc lấy thất vọng

Kẻ dứt hết mong cầu

Lại được phước vô biên.

 

177. Hăy ngăn sự tự do

Trong vấn đề hưởng lạc

Để phục vụ thân xác.

Hăy mong cầu những ǵ

Mà ta không muốn nhận.

 

178. Thân xác này không sạch

Trông đáng sợ làm sao !

Cuối cùng chết cứng đơ

Và trở thành tro bụi.

Tại sao ôm giữ nó

Và xem nó là “Ta” ?

 

179. Dù sống hay là chết

“Bộ máy” này ích ǵ?

Nó khác ǵ cục đất?

Ôi ư thức chấp “Ta” 

Hăy diệt đi cho rồi !

 

180. V́ phục dịch thân này,

Tôi chịu bao đau khổ.

Dù bị ghét, được thương

Nó cũng như khúc gỗ.

Tôi cũng không được ǵ !

 

181. Dù che chở thế nào

Hay vứt cho quạ ăn

Nó chẳng biết thương, ghét

Một tấm thân như thế

Thương măi để làm chi?

 

182.  Nó không hay, không biết

Khi nó bị lăng nhục

Song tôi sôi tiết lên.

Khi nó được tôn vinh

Th́ tôi rất hả dạ.

V́ ai tôi như thế?

 

183. Ai thương thân xác này

Kẻ ấy trở thành bạn

Ai cũng thương thân họ

Sao không là bạn tôi?

 

184. Bởi thế, tôi thản nhiên

Cống hiến thân xác này

V́ sự nghiệp  giải thoát

Cho tất cả chúng sinh.

Từ nay tôi mang nó

Như là một công cụ

Dù nó đầy lỗi lầm.

 

185.-186 Thôi đă đủ lắm rồi

Nếp sống kẻ phàm phu

Nay theo chân Hiền giả

Khắc ghi lời giáo huấn

Chánh niệm luôn giữ ǵn

Chống lại tính dă dượi

Và lừ đừ ngủ gật.

 

187. Để chướng ngại tiêu trừ

Tâm phải rời tà kiến

Tinh tấn luôn phát huy

Chuyên cần tu chánh định.

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG IX

 

TRÍ TUỆ

 

 

 

DẪN NHẬP

 

 

1. Đức Phật tuyên bố rằng

Các hạnh Ngài khuyên dạy

Đều đưa đến trí tuệ.

Bồ Tát mong trừ khổ

Phải phát huy trí tuệ.

 

 

HAI CHÂN LƯ

 

Định nghĩa

 

2. Có hai loại chân lư

Là chân lư thế gian (20)

Và chân lư tuyệt đối (21)

Đối tượng của trí tuệ

Không phải là chân lư.

Và chân lư thế gian

Được xem là trí tuệ..

 

 

Tŕnh độ nhận thức khác nhau

 

3.-4.Tương ứng hai chân lư

Cũng có hai hạng người

“Thiền gia” và “người thường”.

Thiền gia hay bác bỏ

Quan niệm của người thường.

Thiền gia có hai cấp

“Thấp”, “cao” tuỳ trí tuệ.

Thiền gia và người thường

Cả hai đều công nhận

Sự hiện hữu của pháp.

Nhưng người thường khẳng định

Các pháp là chân lư.

Song thiền gia quan niệm

Thế giới là mộng ảo.

Tất cả là hiện tượng.

Chúng không có tự tính.

Nhưng v́ muốn giác ngộ

Thiền gia phải tu học

Dùng chúng làm phương tiện

Để dần dần tiến lên.

 

5. Người thường nh́n sự vật

Xem chúng là có thật.

Ngược lại, các thiền gia

Xem chúng là ảo tưởng.

Đó là sự khác biệt

Giữa thiền gia người thường.

 

 

Phản bác chung các lập trường chấp vào thật hữu

 

6. Theo quy ước thế gian

Mọi đối tượng cảm nhận

Được xem như có thật

Song dưới mắt trí tuệ

Th́ quy ước ấy sai

Như xem bẩn là sạch.

 

7. Để người thường hiểu đạo

Phật giảng pháp vô thường.

Nhưng trong mỗi sát na

Pháp cũng không có thật.

 

(Hỏi) Phải ư ấy nói rằng

Pháp có trong thoảng chốc

Là chân lư thế gian?

Điều này thật mâu thuẫn

[Đối với sự cảm nhận

Về chân lư tuyệt đối].

 

8. (Đáp) Mâu thuẫn ấy không có

V́ thiền gia nhận thức

Rằng chân lư thế gian

Vốn không có tự tính.

Mọi pháp đều vô thường

Có đó liền tan biến.

Nhưng so với người thường

Duy chỉ có thiền gia

Nhận thức được sự thật

Nếu không anh mâu thuẫn

Với quan niệm thế gian

Khi anh đánh giá rằng

Người nữ không sạch sẽ

[Trong khi người thế gian

đánh giá họ là sạch]

 

9. (Hỏi) Làm sao đạt công đức

Khi thờ một vị Phật

Được xem như ảo tưởng?

Và sẽ như thế nào

Đối với vị Phật thật?

 

(Đáp) Cúng dường vị Phật thật

Sẽ có công đức thật

Cúng dường vị Phật ảo

Sẽ có công đức ảo.

 

(Hỏi) Nếu như một hữu t́nh

Được xem như ảo tưởng

Làm sao nó chết được?

Và có thể tái sinh?

 

10. (Đáp) Người ảo chỉ tồn tại

Cho đến khi nhân duyên

C̣n phối hợp đầy đủ.

Đâu v́ sự liên tục

Của nhân duyên kéo dài

Mà có thể khẳng định

Con người hiện hữu thật!

 

11. Khi giết hại người ảo

Không thể bị tội lỗi

V́ họ thiếu tâm ư.

Song với một hữu t́nh

Trang bị tâm ư ảo

Th́ tội phước phát sinh.

 

12.-13. (Hỏi)

Thần chú và ảo thuật

Không thể có công năng

Tạo tác ra tâm ảo.

 

(Đáp) Tâm ảo vốn đa dạng

Sinh từ nhiều loại duyên

Chỉ một duyên đơn độc

Không thể sinh tất cả.

 

14.-15. (Hỏi)

Theo chân lư tuyệt đối

Th́ tất cả chúng sinh

Đều ở trong Niết Bàn

Và chúng chỉ luân hồi

Theo chân lư thế gian.

Vậy Phật cũng luân hồi.

Như thế ích lợi chi

Khi tu hạnh Bồ Tát?

 

(Đáp) Chừng nào duyên chưa dứt

Ảo tưởng vẫn tồn tại.

Khi duyên bị gián đoạn

Th́ ảo tưởng không c̣n.

Nhưng Phật đă dứt sạch

Mọi nhân duyên ảo tưởng

Nên không c̣n luân hồi.

 

 

Phản bác lập trường lư tưởng

    

Duy Thức (viết tắt: DT)

Trung Quán (viết tắt :TQ)

 

16. (TQ) Nếu pháp không có thực (22)

Cả tâm ảo cũng không

Vậy ai biết được ảo?

 

(DT) Mặc dù pháp bên ngoài

Chỉ là hiện tượng ảo

Song là bóng dáng tâm

Nên vẫn tồn tại riêng.

 

17. (TQ) Nếu ngay cả tâm thức

Và ảo tưởng là một

Vậy cái ǵ bị biết?

Đức Thế Tôn từng dạy

Tâm không thấy được tâm.

 

18. Cũng như một lưỡi gươm

Không thể tự chém ḿnh.

Tâm không thể quán tâm.

 

(DT) Tâm tự chiếu rọi tâm

Như ánh đèn tự chiếu.

 

19. (TQ) Điều ví dụ này sai

Ánh đèn không tự sáng

V́ không bị tối che.

 

(DT) Màu xanh tự nó xanh

Như ngọc lưu ly xanh

Không lệ thuộc vật khác.

 

20. Cũng thế ta nhận thấy

Có cái tùy nhân duyên

Và có cái độc lập.

 

(TQ) Ví dụ này cũng sai.

Màu xanh không tự tánh

Xanh nhờ ngọc lưu ly (làm duyên)

Nếu nó thiếu nhân duyên

Không thể tự hóa xanh.

 

21. (DT) Nếu nói tâm tự biết

Th́ cũng có thể nói

Ánh đèn tự chiếu sáng.

 

(TQ) Ví như thừa nhận rằng

Ánh đèn tự chiếu sáng

Nhưng ai biết điều ấy?

Ai nói tâm tự chiếu?

 

22. Nếu không có thứ ǵ

Nhận biết tâm tự chiếu

Th́ tâm chiếu hay không

Đều chẳng thành vấn đề.

Giống như bàn chuyện phiếm

Về sắc đẹp bé gái

Của phụ nữ vô sinh (23) .

 

23.-24.(DT)

Nếu tâm không hiện hữu

Làm sao nhớ chuyện xưa?

 

(TQ) Kư ức được xuất hiện

V́ nhờ mối tương duyên

Với cảnh vật bên ngoài

Mà đă từng trải nghiệm

Như gấu nhiễm độc chuột (24) .

 

25. Người có tâm siêu nhiên (25)

Thấy được tâm người khác

Chẳng lẽ họ không thấy

Tâm của ḿnh hay sao?

 

(TQ) Mắt nhờ bôi nước phép

Thấy kho tàng dưới đất

Nhưng mắt không thể thấy

Nước phép bôi trên mắt.

 

26. Trong thế giới kinh nghiệm

Chúng tôi không phủ nhận

Những điều được nhận biết

Từ giác quan cảm thụ

Từ lưu truyền đáng tin.

Song chúng tôi bác bỏ

Giả định chúng là thật

V́ đó là nguyên nhân

Tạo nên sự khổ đau.

 

27. Nếu các anh nghĩ rằng

Ảo tưởng chẳng khác tâm

Song chúng tôi nhận xét

Chúng không thể giống nhau

Nếu ảo tưởng thật có

Th́ nó  phải khác tâm

Nếu ảo tưởng giống tâm

Nó đâu c̣n là nó.

 

28. (TQ) Dầu cảnh ảo không thật

Song nó vẫn bị thấy

Dầu tâm không thật có

[Theo chân lư thế gian]

Tâm vẫn thấy cảnh ảo.

 

(DT) Luân hồi của hiện hữu

Phải dựa vào hiện thực

[Tức là dựa vào tâm]

Nếu không th́ luân hồi

Chẳng khác nào hư không

[Tức là không thể có

Tác dụng của nghiệp quả].

 

29. (TQ) Làm sao cái không thực

[Như luân hồi chẳng hạn]

Phải dựa nền tảng thật

Để có được tác dụng

[Tạo ra vật có thật]?

Như vậy theo các anh

Tâm không cần đối tượng

Vậy là tâm độc lập.

 

30. Và nếu tâm độc lập

Với tất cả đối tượng

Th́ tất cả chúng sinh

Đều đă thành Phật rồi.

Và nếu thật như vậy

Th́ được công đức ǵ

Khi chỉ có tâm thôi?

 

 

Phương pháp của Trung Quán

 

31. (Hỏi) Làm sao dứt phiền năo

Một khi biết được rằng

Thế gian là ảo tưởng

Giống như người phù thủy

Say mê một ảo nữ

Do ḿnh tạo tác ra?

 

32. (Đáp)

Trong trường hợp như vậy

Người phù thủy chưa dứt

Sự luyến ái đối tượng

Gán người ḿnh tạo ra

Là hữu thể thật sự.

Hơn nữa có nhận thức

Yếu ớt về Tánh Không

Nên khi thấy ảo nữ

Liền khởi lên say mê.

 

33. Khi tu tập Tánh Không

Đến tŕnh độ kiên định

Sẽ trừ được cái thấy

Sự vật vốn thực có.

Tu tập càng nhuần nhuyễn

Sẽ nhận thức rơ rằng

Không pháp nào thực có

Th́ cuối cùng ư niệm

Về Tánh Không cũng tan.

 

34. Đến khi hết vấp phải

Bất cứ hiện hữu nào

Mà có thể phủ nhận

Th́ cái không-hiện-hữu

Cũng tan biến trong tâm.

 

35. Khi cái có, cái không

Không c̣n khởi trong tâm

Th́ đâu c̣n cái ǵ

Có thể khởi lên nữa

Và tâm thật thanh tịnh.

 

36. Cũng như cây như ư (26)

Làm thoả măn ước vọng

Của bao nhiêu chúng sinh.

V́ lời nguyện của Phật

[Thuở tu hạnh Bồ Tát]

Và ḷng thành chúng sinh

Mà thân Phật ảnh hiện

[Để giải thoát chúng sinh]

 

37. Có người Bà La Môn

Xây tháp chim đại bàng

[Để giải trừ chất độc]

Dù ông chết đă lâu

Xá lợi Garuda

Do ông đă tŕ chú

Vẫn tác dụng trị độc.

 

38. Lúc c̣n là Bồ Tát

Đức Phật đă thành tựu

Bao hạnh nguyện bồ đề

Dù Ngài đă nhập diệt

Nhưng xá lợi của Ngài

Vẫn luôn luôn tiếp tục

Đem lợi đến chúng sinh.

 

39.- 40. (Hỏi)

Thờ lạy tượng vô tri

Sao lại được công đức?

 

(Đáp) Theo kinh điển đă dạy

Trên chân lư thế gian

Hay chân lư tương đối

Công đức của thờ lạy

Hoàn toàn giống như nhau

Dù với Phật tại thế

Hay sau khi nhập diệt.

 

 

MỤC ĐÍCH GIẢI THOÁT CỦA TIỂU THỪA CŨNG CẦN PHẢI

CÓ NHẬN THỨC VỀ TÁNH KHÔNG

 

41. (Thắng Luận)

Nhờ tu Tứ Diệu Đế

Cũng đủ đạt giải thoát

Cần chi đến trí tuệ

Thấy rơ được Tánh Không?

 

(TQ) Kinh Bát Nhă dạy rằng

Thiếu tuệ giác Bát Nhă

Th́ không thể giác ngộ

 

 

Tính chân chánh của Đại thừa

 

42. (Thắng Luận)

Song giáo lư Đại Thừa

Không do Phật thuyết giảng

Nên không đáng tin cậy.

 

(TQ) Vậy v́ lư do nào

Khiến Tiểu Thừa đáng tin?

 

(Thắng Luận)

V́ tất cả hai phái

[Tiểu Thừa và Đại Thừa]

Đều xác nhận như vậy.

 

(TQ) Vậy th́ lúc trước đây

Các anh chưa chấp nhận

Không lẽ kinh điển ấy

Không phải lời Phật dạy?

 

43. (Thắng Luận)

Chúng vẫn đáng tin cậy

V́ chúng được truyền thừa

Liên tục không gián đoạn.

 

(TQ) Lư do các anh tin

Kinh điển của Tiểu Thừa

Chẳng khác chúng tôi tin

Kinh điển của Đại Thừa.

Chúng cũng được các Tổ

Nối tiếp nhau truyền thừa

Không bao giờ gián đoạn.

Lại nữa theo các anh

Tất cả kinh điển nào

Được hai phái chấp nhận

Cũng đều là chân lư.

Vậy th́ phải chấp nhận

Cả kinh điển Vệ Đà

Và kinh điển ngoại đạo.

 

44. (Thắng Luận)

Kinh điển của Đại Thừa

Thường hay bị tranh căi

V́ vậy không đáng tin

 

(TQ) Vậy kinh của các anh

Cũng nên từ bỏ luôn

V́ chúng bị ngoại đạo

Và nội phái tranh căi.

 

 

Sự chưa trọn của Tiểu Thừa

 

45. Gốc rễ của giáo lư

Mà đức Phật giảng dạy

Bắt nguồn từ Niết Bàn

Và đời sống tu hành

Của các vị xuất gia

[Đă sạch mọi phiền năo].

Điều này hiếm người đạt

Bởi v́ tâm của họ

C̣n bám víu đối tượng (27)

 

46.- 47. (Thắng Luận)

Các bậc A La Hán

Dù không hiểu Tánh Không

Cũng vẫn được giải thoát

V́ đă diệt phiền năo

Nhờ tu Tứ Diệu Đế

 

(TQ) Dù phiền năo chấm dứt

Song chắc ǵ hết khổ?

Nhiều vị vẫn thọ khổ

Do nghiệp lực quả báo

Từ quá khứ vẫn c̣n

[Thông qua sự lưu truyền

Mà chúng tôi được biết

Chính ngài Mục Kiền Liên

Tuy thành A La Hán

Song vẫn c̣n thọ khổ].

 

48. (Thắng Luận)

Ái sinh từ cảm thọ

Những A La Hán ấy

Vẫn c̣n có cảm thọ

Tâm c̣n bám đối tượng

[Nên không đạt Niết Bàn]

 

48. Không hiểu biết tánh không

Th́ tâm bám sự vật

Tâm chỉ tạm lắng yên

Trong những khi nhập định

Rồi trở lại như trước.

Vậy muốn chấm dứt khổ

Phải tu quán Tánh Không.

 

 

Chớ sợ Tánh Không

 

Câu 49-52.: Bỏ (28)

 

53. (Hỏi)

Vừa chấp vào hiện hữu

Vừa sợ hăi Tánh Không

Nên không thể giác ngộ

Vẫn nhận lấy đau khổ

Ch́m đắm trong luân hồi.

 

54. (Đáp)

Sự phản bác như vậy

Thực không có căn cứ

Vậy không nên ngại ngần

Thiền quán về Tánh Không.

 

55. Tánh Không là liều thuốc

Dùng đối trị Vô minh

Của chướng ngại phiền năo

Và chướng ngại hiểu biết (29)

Muốn đạt “Nhất Thiết Trí”

Phải thiền quán Tánh Không.

 

56. (Phản bác)

Tánh Không gây đau khổ

Nó khiến tôi lo sợ.

 

(Đáp) Tánh Không làm lắng dịu

Tất cả mọi khổ đau

Tại sao lại sợ nó?

 

57. Chừng nào c̣n tin rằng

“Cái Ta” là có thật

Chừng ấy c̣n sợ hăi

Về cái này cái kia.

Nếu nhận thức rơ rằng

"Cái Ta" không có thật

Vậy ai gánh nỗi sợ?

 

 

 

CHỨNG MINH VỀ TÁNH KHÔNG

 

Chứng minh về  sự Vô ngă của một "Cái Ta" có thật

 

"Cái Ta" không phải vật chất – Phản bác lại chủ nghĩa vật chất

 

58-60. Răng, tóc, móng, máu xương

Đều không phải là "Ta"

Mủ, đờm, nước miếng, mỡ

Nước tiểu, phân, thịt, gân

Hơi nóng, chín lỗ hổng …

Và tất cả sáu thức

Cũng không phải là “Ta”

 

 

Ngă cũng không phải là tinh thần –

Phản bác phái Số Luận (30)

 

61. (TQ) Nếu nhĩ thức là “Ta”

Th́ luôn nghe âm thanh (31)

Cả lúc nó vắng mặt

[V́ các anh cho rằng

"Cái Ta" là vĩnh cửu]

Nếu đối tượng cái biết (32)  

Không c̣n có mặt nữa

Làm sao có cái biết?

Vậy v́ lư do nào

Gọi đó là nhĩ thức?

 

62. Nếu xem rằng cái biết

Là những ǵ không biết

Th́ gỗ cũng phải biết

Vậy có thể khẳng định

Nếu không có quan hệ

Với đối tượng nào đó

Th́ không có cái biết.

 

63. (Số Luận) V́ lẽ nào "Cái Ta"

Khi thấy biết màu sắc

Lại không nghe âm thanh?

 

(TQ) Tại sao cùng một lúc

Thấy được mà không nghe?

 

(Số Luận) V́ âm thanh lúc ấy

Không có mối quan hệ.

 

(TQ) Như vậy th́ "Cái Ta"

Không phải là nhỉ thức.

 

64. Cái mà bản tánh nó

Vốn thâu nhận âm thanh

Sao lại thấy h́nh sắc?

 

(Số Luận)

Cùng một người đàn ông

Có thể xem là cha

Vừa cũng xem là con.

 

(TQ) Như thế là giả danh

Theo chân lư tuyệt đối

Không thể nào như vậy.

 

65. Bởi v́ theo các anh

Thực tại là ba đức (33)

Từ bi, mê, bóng tối

Đă tạo ra vật thể

Chẳng là cha hay con

Cả ba không sẵn có

Tính chất nghe âm thanh.

 

66. (Số Luận)

Cũng như một diễn viên

Đóng nhiều vai thay đổi

Tánh thâu nhận âm thanh

Có thể chuyển thành ra

Tánh nhận thấy h́nh sắc.

 

(TQ)

Thường thay đổi tính chất

Th́ không thể vĩnh hằng.

Vậy điều anh nói rằng

Trong cùng một cái ta

[Hay trong một diễn viên]

Chứa đựng nhiều tính chất

Là điều chưa từng có.

 

67. Nếu tánh chất đổi khác

Th́ không thực có được.

Vây xin anh chỉ giúp

Thực tánh nó là ǵ?

Bản chất nó là ǵ?

 

(Thường Luận)

Đó chính là tánh biết (32)

 

(TQ) Nếu thức là bản chất

Th́ chúng sinh như nhau

Cùng một thứ độc nhất!

 

68. Vă lại mọi chúng sinh

Hữu tâm hay vô tâm

Đều như nhau là “Một” (34)

V́ bản chất hiện hữu

Của chúng đều giống nhau.

Nếu h́nh thái khác biệt

[Các tánh nghe, thấy, ngửi…]

Được xem là không thực

Th́ nền tảng của nó ["cái Ta"]

Làm sao có thực được.

 

 

Phản bác phái Thường Luận

 

69. Hơn nữa cái vô tâm

Cũng không phải là “Ta”

V́ nó không hay biết

Như khúc gỗ vô tri.

 

(Thường Luận)

Dầu bản chất vô tri

Song khi kết với tâm

Liền có ngay nhận thức.

 

(TQ) Điều này thật vô lư

V́ khi không có tâm

Nhận thức cũng bị diệt.

 

70. Nếu "Cái Ta" không đổi

Th́ tâm giúp được ǵ

Cho "Cái Ta" như thế?

Nếu xem cái bất động,

Không nhận thức là “Ta”

Vậy th́ hư không kia

Cũng phải xem là “Ta”!

 

 

Không cần có "Cái Ta" cũng có được nhân quả của công đức

 

71. (Thường Luận)

Nhưng không có "cái Ta"

Th́ không có liên hệ

Giữa nhân và quả được.

V́ khi làm xong việc

Kẻ tạo nghiệp ("cái Ta") không c̣n

Vậy ai nhận quả đây?

 

72. (TQ) Tạo nghiệp và nhận quả

Thuộc hiện hữu khác nhau

[Năm Uẩn (35) của đời này

Là kẻ đă tạo nghiệp

Và năm Uẩn đời sau

Là người nhận quả báo]

Anh bảo có "cái Ta" (có Ngă)

Song không ai nhận quả

Tôi bảo không có “Ta” (Vô Ngă)

Và không ai tạo nghiệp

Cũng không ai nhận quả

Vậy tranh luận "cái Ta"

Chỉ là một việc thừa.

 

73. (Thường Luận)

[Như trong kinh có nói]

Ai đă tạo ra nghiệp

Th́ phải nhận quả báo.

 

(TQ) Theo lời Phật đă dạy

Trong một ḍng tương tục

[Của đời sống một người]

Th́ ai làm nấy chịu

[V́ muốn ngăn người ấy

Chối bỏ luật nhân quả]

Chứ Phật không phải dạy

"Cái Ta" là vĩnh hằng.

 

74. Ư niệm của quá khứ

Cũng như của tương lai

Đều không phải là “Ta”

V́ chúng không có thực

Nhưng ư niệm hiện tại

Cũng không phải là “Ta”.

Ví dù nó là “Ta”

Nghĩ xong nó biến mất

Và “Ta” cũng mất luôn.

 

75. Ví như thân cây chuối

Khi bẹ bị lột hết

Nó không hiện hữu nữa.

"Cái Ta" chẳng khác hơn

Khi bị phân tích kỹ

Th́ không thấy nó đâu

Vậy nó không thật có.

[Không thể nào t́m thấy

"Cái Ta" trong năm Uẩn]

 

 

Không có “Cái Ta” cũng  có thể phát trin được tâm từ bi

 

76. (Hỏi)

Nếu chúng sinh không thực

Vậy xót thương ai đây?

 

(TQ) Đó là những chúng sinh

Được nêu từ mê lầm

Của chân lư thế gian.

Tuy chúng không có thật

Song là đối tượng tốt

Của mục đích tu tập

[Để đạt quả Bồ Tát].

 

77. (Hỏi)

Nếu chúng sinh không thật

Vậy th́ ai là người

Theo đuổi mục đích ấy?

 

(Đáp)

[Theo chân lư tuyệt đối]

Thực không có chúng sinh.

Tất cả mọi nỗ lực

Đều dựa trên si mê.

[Theo chân lư tương đối]

Ta không nên khước từ

Sự mê mục đích ấy

[Tức tu hạnh Bồ Tát]

V́ muốn dứt khổ đau.

 

78. Phát sinh từ si mê

Nên bám víu "cái Ta". (27)

Ư thức chấp “Ta” tăng

Là nguyên nhân khổ đau

Vậy phải trừ diệt nó.

Do đó cách tốt nhất

Là tu quán Vô ngă.

 

 

 

Chứng minh về tính Vô ngă của vạn pháp thông qua Bốn Niệm Xứ: thân, thọ, tâm, pháp

 

Về thân

 

Tranh luận với trường phái Thường Luận

 

79.-80. Thân không phải là chân

Đùi, vế, eo, lưng, bụng

Thân không  phải là tay

Ngực, nách, vai, cổ, đầu…

Vậy thứ nào là thân?

 

81. Nói thân là tất cả

[Th́ không thể đúng được]

V́ mỗi một bộ phận

Đều ở vị trí riêng.

C̣n cái thân độc lập

Th́ nằm ở chỗ nào?

 

82. (Với Tiểu Thừa)

Nếu thân xem là “Một”

Nằm riêng trong mỗi phần

Vậy có bao nhiêu phần

Phải có bấy nhiêu thân.

 

83. Vậy th́ thân không nằm

Bên ngoài hay bên trong

[Của tất cả bộ phận]

Song ĺa các bộ phận

Tâm cũng không hiện hữu.

[Vậy các anh hăy chỉ]

Thân hiện hữu cách nào?

 

84. Thân thể không thực có

V́ cấu tạo đặc biệt

Nên lầm nhận có thân

[Ví như đầu, ḿnh, chân …]

Như trong tối lầm nhận

Cây cột là h́nh người.

 

85. Chừng nào duyên c̣n hợp

Cột vẫn trông như người.

Bao lâu mà tay chân

Đầu ḿnh… c̣n tập hợp

Chừng ấy c̣n nhận lầm

Đó chính là thân người.

 

86. Và bàn chân là ǵ?

Là tập hợp các ngón

Mỗi một ngón là ǵ

Nếu không là các lóng?

 

87. Chẻ lóng chân thành bụi

Rồi chẻ măi không ngừng

Nhỏ tựa như hư không

Vậy t́m đâu lóng chân?

 

88. Bởi vậy muôn h́nh sắc

Khác nào bóng chiêm bao!

Ai là bậc có trí

Không thể bám víu chúng

Thân c̣n không có thật

Huống chi sự phân biệt

Giữa đàn ông, đàn bà.

 

 

Về cảm nhận (cảm thọ)

 

89. (TQ) Nếu đau đớn có thật

Sao nó không hành hạ

Một kẻ đang sướng vui?

Nếu thú vui có thật

[Như các món ăn ngon]

Sao không gây thích thú

Cho kẻ đang u sầu?

 

90. Nếu bảo rằng cảm giác

Khổ vui vẫn tồn tại

Song không thể nhận ra

Khi chúng bị lấn áp

Bởi cảm giác mạnh hơn.

Nhưng đâu là cảm giác

Khi không cảm nhận được?

 

91. (Đáp)

Vẫn cảm nhận được chứ!

V́ trong khi đang vui

Khổ vẫn c̣n tồn tại

Trong trạng thái cực yếu

[V́ khổ bị lấn áp

Bởi cái vui mạnh hơn].

 

(TQ) Vậy cái khổ cực yếu

Không thể gọi là khổ

Bởi v́ một cảm giác

Không thể cùng một lúc

Vừa khổ cũng vừa vui.

 

92. [Theo một quan niệm khác]

Khổ không thể xuất hiện

Khi cảm giác đối lập (vui)

Đang xuất hiện trong tâm.

Điều này cũng sai lầm

V́ đó là ảo tưởng (36)

[Xem khổ chưa hiện hữu

Cũng là một cảm giác]

 

93. Để trừ khử ảo tưởng

Cần trao dồi trí tuệ

Để thấy “tánh không thực”

Của tất cả sự vật.

V́ vậy các Thiền gia

Luôn tự nuôi dưỡng ḿnh

Bằng nhập định quán xét

Về ảo tưởng cảm nhận.

 

94. Giác quan và đối tượng (37)

Khi chúng xúc chạm nhau

Sẽ sinh ra cảm nhận (cảm thọ)

Nếu chúng có khoảng cách

Làm sao chúng chạm nhau?

Nếu không có khoảng cách

Ắt chúng phải là một.

Như vậy th́ cái nào

Gặp gỡ với cái nào?

 

95. Các hạt bụi cực nhỏ (38)

Không thể chia nhỏ nữa,

Khép kín và đồng dạng

Không thể xuyên nhập nhau.

V́ không xuyên nhập nhau

Nên không thể hoà hợp

Nếu không có ḥa hợp

Th́ không có cảm nhận.

 

96. Nếu vị nào thấy có

Hai vật hết chia được

Mà xuyên nhập với nhau

Làm ơn chỉ cho xem!

 

97. Nhận thức vốn vô h́nh

Không thể nào kết nối

Với đối tượng vật chất.

Càng không thể nối kết

Với tất cả giác quan

Như phân tích bên trên (39)

Vậy những ǵ thành tựu

Thông qua sự tập hợp

Đều không thể có thật.

Cũng không có sự vật

Của tổ hợp vi trần

V́ chúng không thực có. (40)

 

98. Xúc chạm không có thật

Th́ cảm giác t́m đâu?

Cảm giác không thật có

Th́ tội ǵ hành thân

Để t́m cầu khoái lạc?

Vậy ai chịu đau khổ?

Cái ǵ gây khổ đau?

 

99. Không có người cảm nhận

Cảm giác cũng không nốt

Đứng trước cảnh ngộ này

Ôi hỡi ḷng tham ái

Sao không tan biến đi?

 

100. Ta thấy và cảm được

V́ tất cả đối tượng

Và tâm giao tiếp nhau

[Trong tổng hợp nhân duyên]

Mà biến thành cảm giác

Chúng đều không thật có

Như ảo ảnh cơn mơ.

 

101. Cảm giác trong quá khứ

[Mà ta hồi tưởng lại]

Và cảm giác tương lai

[Mà ta đang mong cầu]

Đều là sự nhớ tưởng

Chúng không phải cảm giác

Có được nhờ trải nghiệm

Hơn nữa chính cảm giác

Không thể tự trải nghiệm

Cũng như mọi đối tượng

Cũng không thể nào có

Kinh nghiệm của cảm giác.

 

102. Thế nên không có người

Trải nghiệm những cảm giác

Và không cảm giác nào

Có thể xem thật có.

Vậy cái nhóm năm Uẩn

Không thể là "Cái Ta".

Vậy sao có cảm giác

Khoái lạc hay đau khổ?

 

 

Về tâm

 

103. Tâm không nằm trong mắt

Không nằm trong đối tượng

Hay giữa hai thứ ấy

Tâm không thể t́m thấy

Trong thân hay ngoài thân

Hay bất cứ nơi nào.

 

104. Tâm không phải là thân

Cũng không phải khác thân

Nó cũng không giống thân

Hoặc khác biệt với thân

Tâm không là ǵ hết,

Hoàn toàn không thực có.

Vậy tất cả chúng sinh

Trong bản chất của chúng

Vốn đă là Niết Bàn.

 

105. Nếu nhận thức đă có

Trước đối tượng của nó

Vậy nó dựa vào đâu

Để có thể phát sinh?

Nếu nhận thức phát sinh

Cùng lúc với đối tượng

Như vậy th́ cả hai

Dựa vào đâu để sinh?

 

106. Nếu sinh sau đối tượng

Nhận thức dựa vào đâu

Để có thể khởi sinh?

[V́ đối tượng không c̣n].

 

 

Về pháp (đối tượng)

 

107. Qua sự phân tích trên

Th́ tất cả sự vật

Không có khởi sinh thật.

 

(Hỏi) Nếu sự vật không sinh

Th́ chân lư thế gian

Cũng không thể có được.

Song tại sao lại có

Cả hai loại chân lư

[Là chân lư thế gian

Và chân lư tuyệt đối

Theo truyền thống Trung Quán?]

Vậy chân lư thế gian

Có phải được sinh từ

Chân lư thế gian khác?

[Tức là được nhận thức

Đă có sẵn tạo ra?]

Vậy làm sao chúng sinh

Có thể đạt Niết Bàn?.

 

108. (Đáp) Sự nhận xét như vậy

Phát xuất từ suy nghĩ

Của người chưa giác ngộ.

Một chân lư thế gian

Không thể độc lập có.

Một sự vật nào đó

Nếu nó là hệ quả

Của một chuỗi nhân duyên

Th́ chân lư thế gian

Có mặt ngay tức khắc.

Không có nhân quả ấy

Th́ chân lư thế gian

Cũng không thể hiện hữu.

 

109. (Phản bác)

Bởi v́ tâm nhận xét

Và vật bị nhận xét

Đều lệ thuộc lẫn nhau.

 

(TQ) Quả thực đúng như vậy

Đó là nhận xét chung

Thế gian ai cũng biết

 

110. Nếu dùng một nhận xét

Để tiếp tục nhận xét

Cái đă được nhận xét

Th́ quá tŕnh nhận xét

Không bao giờ chấm dứt.

 

111. Nếu đối tượng nhận xét

Không c̣n cơ sở nào

Cho nhận xét tiếp theo

[V́ nó thật trống rỗng]

Th́ cái tâm nhận xét

Không c̣n nương vào đâu

Để có thể tồn tại

[V́ hết sạch đối tượng]

Tâm cũng không sinh nữa

Đây chính là Niết Bàn.

 

112. Nếu ai chủ trương rằng (41)

Vật và tâm có thật

Sẽ gặp t́nh trạng rối:

Nếu đối tượng thật có

Nhờ nương vào nhận thức

Vậy th́ bằng cách nào

Để nhận thức có thật?

 

113. Hoặc nhận thức có thật

Nhờ nương cái nó biết

Vậy th́ bằng cách nào

Cái được biết có thật?
Và nếu như cả hai

Nương nhau để mà có

Th́ chúng không thật có.

 

114. (Phản bác)

Ví như người không con

Không được gọi là cha

Và con từ đâu sinh

Nếu không có người cha?

Cũng vậy, tâm và vật

Không hiện hữu độc lập.

 

115. (DT)

Mầm phát sinh từ hạt.

Nhờ mầm mà thấy hạt

Tại sao không chấp nhận

Nhận thức là có thực

V́ nó được phát sinh

Từ sự vật được biết.

 

116. (TQ) Có thể chấp nhận rằng

Sự hiện hữu của hạt

Được biết nhờ thấy mầm.

Nhưng mà nhờ cái ǵ

Để có thể biết rằng

Nhận thức là thực có

Thông qua sự hay biết

Từ cái bị nhận thức?

 

 

 

 

 

 

 

Chứng minh bằng biện luận Với 4 vị thế

 

Sự vật không thể tự sinh nếu không có nguyên nhân

 

117. (TQ)

Thuyết Vô nhân chủ trương (42

Tất cả mọi sự vật

Tự sinh không cần nhân.

Qua tri giác ta biết

Thế giới được h́nh thành

Từ nhiều nhân khác nhau

Như sen từ hoa, cọng ...

 

118. (Hỏi) Cái ǵ đă tạo ra

Sự khác biệt của nhân?

 

(TQ) Đó là sự khác biệt

Của các nhân trước nữa.

 

(Hỏi) Tại sao nhân sinh quả?

 

(TQ) Qua năng lực nhân trước.

 

 

Sự vật không được sinh ra từ một nguyên nhân vĩnh cửu - không từ Trời - phản bác

phái Thường Luận

 

119. (Thường Luận) (43)

[Tất cả mọi sự vật

Đều do Trời sinh ra].

 

(TQ) Nếu Trời là nguyên nhân

Sáng tạo ra sự vật

Vậy vị ấy là ai?

 

120. (Thường Luận)

Chính là năm Đại chủng (44)

 

(TQ) Vậy đâu cần chứng minh

Sự hiện hữu của Trời

Và đâu cần mệt nhọc

Để t́m cách đặt tên

Năm Đại chủng là Trời!

 

121. Hơn nữa năm Đại chủng

Vô thường và bất động,

Không cần được quan tâm,

Không linh thiêng, không sạch

Trời đâu phải như thế?

 

122. Hư không cũng bất động

Nên không phải là Trời

Cũng không phải Tự ngă.

Nếu như bảo rằng Trời

Không thể nghĩ bàn được

Vậy nói đến làm chi

[Sự sáng tạo của Trời]?

 

 

- Không từ Trời hay từ những nguyên nhân phụ

 

(Hỏi) 123. Trời sáng tạo những ǵ?

 

(Đáp) Ngài tạo ra Tự ngă

[Tức "Cái Ta" vĩnh hằng],

Tạo quả đất, Đại chủng

 

(TQ) Sáng tạo Tự ngă ư?

- Theo như các anh nói

Đại chủng là vĩnh hằng

Vậy đâu cần tạo ra!

Sáng tạo Đại chủng ư?

- Chúng đều vĩnh cửu mà!

Sáng tạo nhận thức ư?

- Nhận thức được phát sinh

Thông qua các đối tượng!

Sáng tạo vui, khổ ư?

- Chúng đều là kết quả

Của nghiệp lành, nghiệp dữ!

Vậy Trời tạo ǵ nữa?

 

124. Nếu tất cả nguyên nhân

Không có sự bắt đầu

Th́ làm sao kết quả

Có sự bắt đầu được?

 

125. Nếu sinh nhờ duyên hợp

Th́ duyên là nguyên nhân

Chứ không phải là Trời.

Nhân duyên phối hợp đủ

Th́ sự vật sinh ra.

Không có phối hợp ấy

Sự vật sẽ không thành

Dù có Trời hay không.

 

126. Nếu sự vật sinh ra 

Không do ư của Trời

Th́ Trời đâu có quyền!

Nếu do ư của Trời

Th́ Trời lệ thuộc ư!

Vậy không có vị Trời

Độc lập và sáng tạo.

 

 

- Không từ vi trần (nguyên tử) 

 

127. Những ai chủ trương rằng

Vi trần là nguyên nhân

Măi măi tạo muôn vật.

Vi trần không thực có

Nên đă bị bác bỏ (39)

 

 

- Không  từ vật chất tối sơ vĩnh cửu - Phản bác phái Số Luận

 

128. Số luận chủ trương rằng

Chủ thể của vạn vật

Chính là sự quân b́nh

Của ba đức nguyên thỉ.

Đó là ḷng từ bi,

Say mê và bóng tối

Khi chúng mất cân bằng

Th́ thế giới được sinh (33)

 

129. Một vật nếu thực có

Th́ không thể cùng lúc

Có cả ba bản tính.

Ba đức không thực có

Bằng không th́ mỗi đức

Phải gồm đủ cả ba.

 

130. Ba đức đă không thực

Th́ cái ǵ được tạo

[Như âm thanh, h́nh sắc]

Sẽ không được nghe thấy.

Hơn nữa vật vô tri

Như quần áo chẳng hạn

Không thể có vui, khổ.

 

131.(Số Luận)

Phải các anh nói rằng

Bản chất vật vô tri

[Ví dụ như quần áo]

Là nguyên nhân vui, khổ?

 

(Đáp)

Chúng tôi đă dẫn chứng

Là chúng không có thực.

Nên đă chỉ trích rồi.

Hơn nữa theo các anh

Khoái lạc là nguyên nhân

Của áo quần vô tri

Chứ đâu phải áo quần

Là nguyên nhân khoái lạc?

 

132. Thực ra th́ khoái lạc

Cũng sinh từ áo quần

V́ nếu không có chúng

Cũng chẳng có khoái lạc.

Vả lại nào ai thấy

Khoái lạc là trường tồn.

 

133. Nếu khoái lạc trường tồn

Sao không cảm nhận măi?

Nếu bảo nó lúc ấy

Ở trạng thái cực yếu

Vậy v́ lư do nào

Có lúc mạnh lúc yếu?

 

134. Nếu trạng thái khoái lạc

Chuyển mạnh sang thành yếu

Vậy hai trạng thái ấy

Đương nhiên là vô thường.

Sao không thừa nhận đi

Vạn vật là vô thường?

 

135. (Số Luận)

Mặc dù các trạng thái

Yếu mạnh đều vô thường

Song bản chất khoái lạc

Vốn thật là vĩnh hằng.

 

(TQ) Dù ở trạng thái nào

Chúng vẫn là khoái lạc

Trạng thái đă vô thường

Nên khoái lạc vô thường.

 

136. Theo như các anh nói

Từ cái toàn rỗng không

Chẳng thể sinh ǵ cả

Thế mà lại chấp nhận

Các trạng thái mạnh yếu

Tiềm ẩn trong khoái lạc

Nếu quả có trong nhân

Th́ hoá ra ăn cơm

Có khác ǵ ăn phân.

 

137. Và các anh nên mua

Hạt bông vải mà mặc

Thay v́ mua vải vóc.

 

(Số luận) V́ thế gian si mê

Nên không thể nhận thấy

Y phục trong bông vải

[Tức quả nằm trong nhân].

 

(TQ) Và ngay cả những kẻ

Nhận ḿnh thấy chân lư

Cũng có thái độ ấy.

 

138. Ngay cả người thế gian

Cũng có nhận thức này

Qua nhận thức như vậy

Nên thấy quả trong nhân

Nếu cái thấy họ sai

Th́ những ǵ thấy biết

Đều là không thực có.

 

139. (Số Luận)

Vậy theo thuyết Trung Quán

Th́ tất cả nhận thức

Dắt dẫn đến trí tuệ

Đều vô giá trị sao?

Như vậy th́ Tánh Không

Của tất cả sự vật

Đương nhiên cũng là sai.

 

140. (TQ)

Nếu như không hiểu được

Một sự vật là sai

Th́ không thể suy ra

Cái sai ở chỗ nào.

V́ vậy khi biết được

Cái sai nằm ở đâu

Th́ cái sai rành rành.

 

141. Ví như người nằm mộng

Thấy đứa con ḿnh chết

[Mà y vốn không con]

Th́ ư nghĩ con chết

Ngăn chận được ư nghĩ

Rằng con ḿnh c̣n sống

Dù là điều ấy sai.

 

142. [Tóm lại] phân tích trên

Đă tŕnh bày rơ rằng

Mọi sự vật hiện hữu

Đều phải có nhân duyên

Và bên trong mỗi duyên

Hay tập hợp của duyên

Đều hoàn toàn trống rỗng.

[Những ǵ] ngoài nhân duyên

Không đến từ đâu cả

Không ở cũng không đi.

 

 

Biện luận về sự phát sinh qua “duyên”

 

143. Vật sinh từ ảo tưởng

hoặc sinh từ nhân duyên

[Lúc sinh] từ đâu đến?

[Lúc diệt] đi về đâu?

Đó là điều phải xét.

 

144. Đủ duyên chúng xuất hiện

Hết duyên chúng ră tan

Thực tại là giả tạo

Như bóng hiện trong gương.

Vậy thứ ǵ chân thật?

 

 

Bác thuyết Hữu Nhân và Vô Nhân - Biện luận về sự phát sinh của

Hữu và Vô-

 

145. Một vật nếu thực có

Th́ cần ǵ đến nhân

Nếu nó không thực có

Cần nhân để làm ǵ?

 

146. Dù với muôn triệu nhân

Cũng không thể biến đổi

Cái không thành cái có.

 

147. Nếu một vật hiện hữu

Đang ở trạng thái không (Vô)

Vậy lúc nào thành có (Hữu)?

Cái không chẳng thể mất

Nếu cái có không sinh.

 

148. Cái có không xuất hiện

V́ cái không chẳng mất.

Mọi chúng sinh cũng vậy

Không thể có hai tính

Vừa có lại vừa không.

 

149. Bởi vậy diệt hay sinh

Không hề có thực chất

Cũng vậy, toàn thế giới

Rốt ráo không sinh diệt.

 

150. Với sự quán sát kỹ

Th́ bao nhiêu số phận

Chỉ là những ảo ảnh

Chẳng khác bóng chiêm bao

Tương tự như cây chuối

Không hề có cốt lơi.

Bởi vậy trong Tánh Không

Không có sự khác biệt

Giữa những kẻ đă vào

Hay chưa vào Niết Bàn.

 

 

 

 

TỔNG KẾT VÀ

LỜI KHUYÊN CUỐI CÙNG

 

151. Vậy th́ trong Tánh Không

Sự vật không thực có

Có ǵ để được mất?

Ai được khen, bị chê?

Người nào kính lễ ta?

Kẻ nào khinh miệt ta?

 

152. Ai vui và ai khổ?

Ai kẻ trọng, người khinh?

Khi phân tích thực tính

C̣n ai là kẻ tham

Và c̣n ǵ để tham?

 

153. Quán sát kỹ nhân gian

Th́ ai là hữu t́nh?

Ai chết và ai sinh?

Ai là người đă sống?

Ai là mẹ, là cha

Và ai là bè bạn?

 

154. [Hỡi người t́m sự thật]

Hăy cùng tôi nhận chân

Sự vật như hư không

Tất cả đều trống rỗng.

V́ mưu cầu hạnh phúc

Nên lâm cảnh tranh giành

Chuốc buồn vui tán loạn.

 

155. Do khoái lạc đ̣i hỏi

Nên tạo ra nghiệp ác

Phải trải qua tháng ngày

Đầy lo âu, thất vọng

Hành hạ, giết hại nhau!

 

157. Đôi khi sinh cơi lành (45)

Hưởng thụ nhiều lạc thú

Rồi đến khi nhắm mất

Nhận số phận hẩm hiu

Tràn đầy bao thống khổ.

 

157-158. Hố thẳm của đoạ đày

Nhan nhản trong cuộc sống

Rơi vào khó thoát ra.

Nhưng đang trong luân hồi

Làm sao tránh khỏi nó?

 

159. Hơn nữa sự mê chấp

Về sự vật thực có

Lại luôn luôn trái ngược

Với sự hiểu Tánh Không.

Nếu trong cuộc đời này

Ta không thể thấu đạt

Về chân lư tuyệt đối

Th́ ta phải tiếp tục

Ch́m đắm biển luân hồi.

 

161. Cuộc sinh tồn đời này

Dẫy đầy bao khủng khiếp

Như biển khổ mênh mông.

Sức lực lại quá yếu,

Mạng sống ngắn, mong manh.

Con người sống vội vă

Lo chăm sóc thân thể

Mệt nhọc v́ mưu sinh

Chịu đói khát, suy yếu

Quan tâm đến ngủ, ăn

Hứng lấy bao bất hạnh

Giao du với kẻ ngu.

Vô nghĩa ngày tháng trôi

Rất khó t́m giờ giấc

Để suy nghĩ thực tại

Vậy t́m đâu phương pháp

Ngăn chận tâm tán loạn?

 

162. Đây Ma vương ŕnh rập

Xô ta vào bất hạnh

Kia nẻo tà dọc ngang

Thật khó ḥng thắng vượt.

 

163. Không dễ sinh cơi phước (45)

Gặp Phật càng hiếm hoi

Sóng thần của phiền năo

Làm sao cản ngăn đây?

Ôi triền miên đau khổ!

 

164.-165.

Đáng thương thay chúng sinh

Lăn lộn trong sóng khổ

Mà không hề biết hay

Như người tu khổ hạnh

Nhúng người vào nước lạnh

Hoặc lao vào lửa nóng

Dù vô cùng khổ đau

Song nghĩ là an vui!

 

166. Có kẻ nghĩ rằng ḿnh

Không bao giờ già chết

Song họ sẽ chóng gặp

Những bất hạnh khôn lường

Và Thần Chết lấy mạng.

 

166. Chừng nào tôi dập tắt

Lửa khổ đốt chúng sinh

Bằng trận mưa công đức

Trút xuống từ tầng mây

Phước lành tôi tích lũy?

 

167. Chừng nào tôi có thể

Tŕnh bày về Tánh Không

Về tích lũy công đức

Cho tất cả chúng sinh

Bám quan niệm sai lầm

Là vạn vật thực có.

 

 

 

 

CHƯƠNG X

 

HỒI HƯỚNG

 

1. Công đức do viết luận

„Nhập Bồ Tát Hạnh“ này

Xin hồi hướng chúng sinh.

Mong tất cả bước vào

Đường đi của Bồ Tát.

 

2. Nguyện nhờ công đức này

Mà tất cả chúng sinh

Đang chịu bao đau bệnh

Hành hạ thân và tâm

Được an vui vô tận.

 

3. Nguyện họ luôn hạnh phúc

Suốt sinh tử luân hồi.

Nguyện họ luôn an lạc

Như chư vị Bồ Tát.

 

4. Nguyện chúng sinh khắp nơi

Đang ở trong địa ngục

Được niềm vui cực lạc

Cơi Sukhavati.

 

5. Nguyện kẻ bị run rét

Trong địa ngục giá băng

Đều được hơi sưởi ấm.

Nguyện chúng sinh nóng nực

Trong địa ngục đốt nung

Được  mây lành Bồ Tát

Giáng mưa làm dịu mát

 

6. Nguyện rừng lá gươm đao

Thành vườn hoa tráng lệ.

Nguyện cây cành giáo mác

Biến thành cây như ư

[Làm thoả măn ước mơ].

 

7. Nguyện địa ngục thành vườn

Với hồ sen tỏa hương

Với  thiên nga, nhạn, hạc

Hát ca vui rộn ràng.

 

8. Nguyện địa ngục đốt nung

Biến thành kho châu ngọc.

Nguyện cho nền sắt nóng

Thành thủy tinh lung linh.

Nguyện địa ngục xay nghiền

Thành điện đền thờ Phật.

 

9. Nguyện mưa đá núi lửa

Biến thành trận mưa hoa.

Nguyện chiến trường gươm giáo

Thành lễ hội tung hoa.

 

10. Nguyện chúng sinh ch́m nổi

Trong ḍng sông địa ngục

Nước nóng bỏng sục sôi

Nấu tiêu tan thịt da

Xương ḷi ra trắng hếu

Nhờ công đức của tôi

Được sinh lên cơi trời

Sông Madukini.

 

11. Nguyện ngục tốt Diêm Vương

Và kên kên, chim quạ

H́nh dáng thật dữ dằn

Trong bóng đen thâm u

Bỗng nhiên tan biến hết.

Chúng ngẩng lên hỏi nhau

“Ánh sáng kỳ diệu này

Từ đâu chiếu rọi đến?”

Và tất cả bỗng thấy

Bồ Tát Kim Cương Thủ

Uy nghiêm đứng trên không.

Nhờ năng lực hoan hỷ

Rửa sạch hết lỗi lầm.

Chúng cùng bay theo Ngài.

 

12. Nguyện tội nhân địa ngục

Gặp được mưa hoa sen

Chan hoà với nước thơm

Rơi xuống rưới tắt lửa

Liền hân hoan, khoan khoái.

Các tội nhân tự hỏi

“Ai đă làm thế này?”.

Chúng ngẩng nh́n hư không

Thấy Bồ Tát Quan Âm

Tay cầm hoa sen vẫy.

Chúng vô cùng cảm phục

Nhận hạnh phúc bất ngờ.

 

13. Nguyện hữu t́nh địa ngục

Vui thấy Đức Văn Thù.

Chúng lớn tiếng gọi nhau:

Bạn ơi! Mau lại đây

Chiêm ngưỡng Đức Văn Thù

Ngài đến cứu chúng ta !

Ngài Văn Thù  Đồng Tử

Trong hào quang tỏa rạng

Đă phát tâm Bồ  Đề

Có năng lực diệt khổ

Và đưa đến an vui.

Ngài với tâm từ bi

Triệt để cứu muôn loài“.

14. "Bạn ơi! Hăy nh́n kia

Dưới gót sen của Ngài

Vương miện trăm vị Trời

Đang cúi xuống đảnh lễ

Tiếng Thiên nữ ca ngợi

Mê ly khắp điện đền

Mưa hoa rắc đầu Ngài

Mắt Ngài óng từ bi”.

Bao tội nhân địa ngục

Đều đứng dậy reo ḥ.

 

15. Nguyện chúng sinh địa ngục

Nhờ công đức của tôi

Thấy Phổ Hiền Bồ Tát

Hoá hiện vầng mây lành

Trút mưa thơm dịu mát

Khiến chúng đều hân hoan.

 

16. Nguyện tất cả chúng sinh

Lià sợ hăi, đau đớn

Như tại châu Kuru.

 

17. Nguyện loài vật hết sợ

Cảnh ăn thịt lẫn  nhau.

Nguyện cho loài ngạ quỷ

An vui như những người

Ở Bắc Câu Lưu Châu.

 

18. Nguyện Đức Quán Thế Âm

Rưới măi nước cam lồ

Khiến ngạ quỷ ấm no

Được tắm ḍng sữa mát.

 

19. Nguyện kẻ mù được thấy.

Nguyện người điếc được nghe.

Nguyện các bà mang thai

Sinh nở không đau đớn

Như Hoàng Hậu Ma-gia.

 

20. Nguyện người trần thân trụi

Có đầy đủ áo cơm

Có ṿng hoa hương liệu

Được những ǵ cần thiết

Giúp cuộc sống ổn yên.

 

21. Nguyện người đau thoát bệnh

Tù nhân được tự do

Kẻ yếu được mạnh mẽ

Mọi người thương mến nhau.

 

22. Nguyện người sợ hết sợ.

Người trói được tháo dây

Người yếu được mạnh mẽ.

Nguyện người người nhớ nghĩ

Làm việc lợi cho nhau.

 

23. Nguyện cho khách lữ hành

Đến đâu cũng an lành

Nguyện những người buôn bán

Thu lợi nhuận dễ dàng.

 

24. Nguyện những kẻ đi thuyền

Đạt được nhiều mục tiêu

Thuyền b́nh an cập bến

Đoàn tụ với gia đ́nh.

 

25. Nguyện hành khách lạc đường

May gặp đoàn đi buôn

Thoát lo sợ bị cướp

Và thú dữ cọp beo

Hành tŕnh được xuôi thuận.

 

26. Nguyện chư Thiên, Thiên Thần

Hộ tŕ kẻ bệnh hoạn

Kẻ say sưa, cùng đường

Người già yếu, trẻ con

Kẻ ngu si, lẫn trí.

 

27. Nguyện chúng sinh thoát khỏi

Tám hoàn cảnh hiện hữu

Không thuận cho việc tu (46) .

Nguyện họ đủ đức tin

Đủ từ bi, trí tuệ.

Hoàn hảo trong h́nh tướng

Thuần thục cách hành xử

Nhớ lại được đời trước.

 

28. Nguyện chúng sinh có được

Những  kho tàng vô tận

Là hư không, tự do.

Nguyện họ sống hoà hợp

Không tuyệt vọng, lệ thuộc.

 

29. Nguyện chúng sinh yếu đuối

Được trở thành mạnh mẽ.

Nguyện khất sĩ tiều tụy

Được đẹp tươi vô cùng.

 

30. Nguyện tất cả thiếu nữ

Được trở thành nam nhi.

Nguyện kẻ địa vị thấp

Đạt được địa vị cao

Không thành kẻ kiêu mạn.

 

31. Nguyện tất cả chúng sinh

Nhờ phước đức của tôi

Mà dứt sạch điều ác

Luôn thích làm điều lành.

 

32. Nguyện tất cả chúng sinh

Không ĺa tâm Bồ Tát

Hiến thân cho giải thoát

Thường được Phật gia hộ

Không vướng bẫy ma vương.

 

33. Nguyện tất cả hữu t́nh

Được sống lâu vô lường

Luôn luôn được hạnh phúc

Không hề nghe chữ “chết”.

 

34. Nguyện mười phương thế giới

Đầy rừng cây như ư

Vang diệu âm thuyết pháp

Của chư Phật, Bồ Tát.

 

35. Nguyện toàn cơi địa cầu

Không gồ ghề sỏi đá

Bằng phẳng như ḷng tay

Dịu êm đầy ngọc báu.

 

36. Nguyện pháp hội Bồ Tát

Mở ra  khắp nơi nơi.

Nguyện hào quang các ngài

Điểm trang cho mặt đất.

 

37. Nguyện tất cả chúng sinh

Nghe pháp âm vi diệu

Vang bất tận từ rừng

Từ chim muông, ánh sáng

Từ trời rộng mênh mông.

 

38. Nguyện tất cả chúng sinh

Luôn luôn được kề cận

Chư Phật và Bồ Tát

Với lễ vật cúng dường

Nhiều như mây khắp trời

Dâng lên đấng đạo sư.

 

39. Nguyện chúng sinh được mưa

Rơi xuống đúng thời vụ

Mùa màng được sung túc.

Nguyện thế giới giàu sang

Vua quan đều chính trực.

 

40. Nguyện thuốc thang công hiệu

Nguyện thần chú ứng linh

Nguyện quỷ ma, phù thủy

Đều phát tâm từ bi.

 

41. Nguyện tất cả chúng sinh

Không gặp điều bất hạnh

Bị tội lỗi, đau bệnh

Bị đàn áp khinh khi

Không mang tâm độc ác.

 

42. Nguyện tu viện, chùa chiền

Tu học được hưng thịnh

Tăng chúng  sống vững bền

Mọi việc đều thành tựu.

 

43. Nguyện tăng sĩ siêng tu

Đạt trí tuệ càng nhiều

Thích yêu giữ giới luật

Diệt trừ sạch tán loạn

Tâm trí được khinh an.

 

44. Nguyện cho các ni cô

Không tranh chấp lẫn nhau

Thu lợi từ giáo pháp.

Nguyện những vị khất sĩ

Luôn đầy đủ giới hạnh.

 

45. Nguyện người bị phạm giới

Biết sám hối ăn năn.

Nguyện họ sinh cơi lành

Không phạm giới trở lại.

 

46. Nguyện những vị xuất gia

Học rộng và uyên thâm

Được tặng phẩm, bố thí

Được tâm ư trong sạch

Tiếng tốt vang mười phương.

 

47. Nguyện chúng sinh không khổ

Và không gặp gian nan

V́ số kiếp tồi tàn

Với thân người duy nhất

Trở thành bậc Chánh giác.

 

48. Nguyện tất cả chúng sinh

Luôn cúng dường chư Phật

Được hạnh phúc khôn lường

Nhờ phước Phật vô biên.

 

49. Nguyện Bồ Tát thành tựu

Ước nguyện cứu thế gian.

Nguyện tất cả chúng sinh

Được chư Phật, Bồ Tát

Xót thương và cứu độ.

 

50. Nguyện cho hàng Độc Giác,

Và Thanh Văn an lạc

Luôn luôn được Trời, người,

A Tu La cúng dường.

 

51. [Cuối cùng]  Nguyện cho tôi

Nhận được sự gia hộ

của Văn Thù Bồ Tát

Để nhớ lại đời trước.

Nguyện đời nào cũng tu

Để chứng Cực Hỷ Địa (47)

 

52. Nguyện suốt ḍng thời gian

Đều duy tŕ định lực.

Nguyện đời đời kiếp kiếp

Có được chốn tịnh thanh

Để thuận lợi tu hành.

 

53. Nguyện khi muốn t́m hiểu

Hay hỏi han Phật Pháp

Đều không gặp chướng ngại

Thấy Văn Thù Bồ Tát

Và được ngài hộ tŕ.

 

54. Nguyện như Đức Văn Thù

Đi khắp mọi chân trời

Để hoàn thành lợi ích

Cho tất cả chúng sinh.

Mong số kiếp của tôi

Cũng được như của ngài.

 

55. Ngày nào hư không c̣n

Ngày nào quả đất c̣n

Ngày đó tôi tiếp tục

Diệt khổ của trần gian.

 

56. Nguyện đau khổ chúng sinh

Chín muồi nơi thân tôi.

Nguyện phước đức Bồ Tát

Măi măi đem hạnh phúc

Đến tất cả chúng sinh.

 

57. Nguyện giáo pháp Như Lai

- Là linh dược duy nhất -

Trừ đau khổ thế gian

Được trường tồn, ca ngợi

Được xuyển dương, hộ tŕ.

 

58. Nay tôi xin kính lễ

Đức Văn Thù Sư Lợi

Nhờ ân đức của ngài

Mà tâm tôi hướng thiện.

Kính lễ thiện tri thức

Nhờ ân đức các vị

Mà tâm tôi lớn lên.

 

 

 

 

 ------------------------

CHÚ THÍCH : 

(01Phật: Trong Luận „ Nhập Hạnh Bồ Tát“, ngài Santideva đă dùng nhiều danh hiệu khác nhau để thay cho danh hiệu „Phật“, ví dụ như: đức Thế Tôn, bậc Chiến Thắng, đức Như Lai, bậc Đạo Sư, Hiền Giả v..v..

(02)  Những vị Thừa Kế đức Phật bao gồm những vị thừa kế lời Phật dạy như hàng Thanh Văn, Độc Giác Phật và những vị thừa kế tâm của Phật như hàng Bồ tát.

(03)  Các nơi Bồ tát ở: Là những nơi chốn và địa điểm sống và tu tập của Bồ tát Tất-Đạt-Đa Cồ-Đàm (Siddhàrtha Gautama) trước khi giác ngộ thành vị Phật lịch sử Thích Ca Mâu Ni.

(04)  Tam Bảo: gồm có Phật, Pháp và Tăng

(05)  Phạm Thiên: Là một h́nh thái hiện hữu của thế giới các vị Trời tối thượng

(06)  Ba ruộng phước (Phước điền): Là những vị mà Phật tử nên cúng dường để được phước đức lớn cho đời này và đời sau. Thứ nhất là cúng dường Phật, Pháp Tăng (Kỉnh điền). Thứ hai là cúng dường cha mẹ (Ân điền). Thứ ba là cúng dường những kẻ nghèo khó (Bi điền)

(07)  Pháp cạn, sâu: Chỉ cho Tiểu Thừa và Đại Thừa

(08)      Chú thuật Mật giáo: Dó là những câu tụng niệm có âm thanh chứa đựng một sức mạnh huyền bí của vũ trụ hay của Phật tính với công năng ủng hộ kẻ tu niệm

(09)  Kinh Ba Phần: Là kinh gồm có ba phần: sám hối, phát nguyện và hồi hướng

(10)  Truyện Cát Trường Sinh: Trong Kinh Hoa Nghiêm

(11)  Nữ thần Durga: Là Nữ thần của Đạo Karnapa, Nam Ấn Độ

(12)  Đổi vị trí cho nhau: Là một trong những phương tiện giúp đỡ tu tập, được miêu tả rơ trong Chương 8, từ câu 90-100 và từ câu 101-139

(13)  Hoá sinh trong ḷng sen: Đây là cảnh hóa sinh tại cơi Cực Lạc của đức Phật A Di Đà

(14)  Chiến công trọn thành: Tức là đạt được sự giác ngộ, thành Phật và truyền dạy giáo lư (Chuyển Pháp Luân)

(15)   Xem chương VII, câu 16

(16)  Xem chương IX, câu 73

(17)  Bồ tát Diệu Hoa Nguyệt (Supuspacandra): Mặc dầu biết vua Curadatta rất ác độc, song vẫn cương quyết thuyết pháp v́ lợi ích cho chúng sinh và đă bị vua hành hạ.

(18)  Tinh huyết của cha mẹ

(19)  Từ câu 141 đến câu 154 (trong ngoặt kép): Nơi đây ngài Santideva đă tự đặt ḿnh vào địa vị của một người khác rồi hướng về „cái Ta“ (ngă) mà nói

(20)  Chân lư thế gian: C̣n gọi là tục đế, chân lư tương đối, chân lư bao phủ

(21)  Chân lư tuyệt đối: C̣n gọi là chân đế, thắng nghĩa đế

(22)  Đây là cuộc tranh luận giữa Tôn giả Santideva (Trung Quán) và phái Duy Thức. Duy thức chủ trương rằng mỗi sự vật và hiện tượng bên ngoài đều là ảo tưởng. Chúng không có thật mà chỉ là bóng dáng của tâm. Chỉ có tâm mới hiện hữu thật sự

(23)  Phụ nữ vô sinh: Là phụ nữ không thể nào sinh con được. V́ vậy sự bàn luận về sắc đẹp của đứa con gái của một phụ nữ vô sinh chỉ là chuyện vui đùa

(24)  Đây là ví dụ về một con gấu bị chuột cắn làm độc. Gấu ngủ suốt mùa đông. Đến mùa xuân, khi nghe tiếng sấm nó tỉnh dậy và cảm thấy đau đớn mới nhớ lại đă bị chuột cắn. Kư ức của con người cũng tương tự như vậy

(25)  Tâm siêu nhiên = Tha tâm thông

(26)  Nơi đây Tôn giả Santideva phản bác lại phái Tiểu thừa đă quan niệm rằng sau khi đức Phật nhập Niết Bàn th́ Ngài không c̣n làm lợi ích cho chúng sanh được nữa.

(27)  Bám víu đối tượng hay sự vật = chấp pháp. Bám víu cái Ta = Chấp ngă

(28)    Theo Prajanàkarumati th́ các câu 50, 51 và 52 là những câu đă được tác giả khác từ ngoài đưa vào

(29)  Chướng ngại hiểu biết = Sở tri chướng

(30)  Số luận (Samkhya) là một học thuyết phi Phật giáo do Rishi Kapila thành lập vào thời cổ Ấn Độ, tin rằng mọi hiện tượng - trừ cái ngă trường cửu bất biến - được tạo thành từ một thần ngă Prakrti hay là thực chất tối sơ thấm khắp mọi sự. Khi tiếp xúc với thực chất này th́ một loạt những biểu hiện như tri thức, cảm quan và đối tượng cảm giác phát xuất từ đấy và được cái ngă cảm thọ. Thực chất tối sơ là một chất liệu trường cửu, phổ biến tạo nên mọi sự và là bản chất của các pháp trong thế giới kinh nghiệm. Ngă là nguyên lư tâm bất biến trở nên liên kết với ngoại giới do sự đồng nhất sai lầm của nó với biểu hiện của thực chất tối sơ. (Theo: Thích Nữ Trí Hải: Nhập Bồ Tát Hạnh, Trang nhà Quảng Đức,  Chương 9: Trí Tuệ, câu 60). Xem thêm T́m hiểu sáu phái Triết học Ấn Độ, Thích Măn Giác, 2002, Trang nhà Quảng Đức.

(31)  Âm thanh: Là đối tượng của sự nghe = Trần cảnh

(32)  Cái biết, Tánh biết= nhận thức

(33)  Ba đức (nguyên lư) tối sơ của Số luận là: rajah, sattwa và tamah. Tùy theo dịch gỉa mà có nhiều cách dịch khác nhau. Cách dịch ở đây dựa theo E. Steinkellner với ba thuật ngữ: Güte, Leidenschaft và  Finsternis (Santideva: Eintritt in das Leben zur Erleuchtung - Bodhicarỳavatàra. Eugen Diederichs Verlag, 1981, trang 125.)

    Thích Nữ Trí Hải dịch là: ưu, hỷ, ám. Sách đă dẫn, câu 64

    Thích Trí Siêu dịch là thanh tịnh, tạo tác u mê (Thích Trí Siêu: Bồ Tát Hạnh, Trang Nhà Quảng Đức, chương 9: Trí huệ, câu 64)

(34)  “Một”: Theo Trung Quán, một sự vật có thật (có tự tính) c̣n được gọi là “Một”. Tự nó là nó, không do nhiều điều kiện khác (nhân duyên khác) phối hợp mà thành

(35)  Năm Uẩn: Ngũ Uẩn: Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức

(36)  Ảo tưởng: Được sinh ra từ tưởng tượng, từ tà kiến hoặc do chấp trước

(37)  Giác quan = Căn: tai mắt, mũi, lưỡi thân

    Đối tượng: ví dụ như sự vật = Trần: như âm thanh, màu sắc, mùi vị, va chạm

(38)  Hạt bụi cực nhỏ = vi trần hoặc cực vi trần và lân hư trần, nhỏ đến mức dường như không có ǵ cả

(39)  Xem lại các câu 86 – 88 của chương chín

(40)  Xem lại các câu 58 – 88 của chương chín

(41)  Phản bác phái Hữu Bộ. Phái này quan niệm rằng tâm và vật là hai thực thể khác biệt

(42)  Phái Vô Nhân: Phái này chủ trương rằng tất cả các pháp không do nhân ǵ sinh ra, họ bảo: “Mọi sự vật như mặt trời mọc, nước chảy xuống núi, hạt đậu tṛn, gai nhọn và lông đuôi con công … không do ai làm ra cả, chúng tự nhiên sinh (Thích Nữ Trí Hải, sđd, chương 9, câu 116)

(43)  Thường Luận: Phái này tin rằng mọi sự do thần Tự Tại Thiên sinh ra. Vị này có năm đức là thiêng liêng, trong sạch, đáng kính, trường cửu, độc nhất và là sáng tạo chủ của mọi sự (Thích Nữ Trí Hải, sđd, chương 9, câu 118)

(44)  Bốn Đại chủng: gồm có đất, nước, lửa, không khí và không gian

(45)  Cơi lành, Cơi phước = Bát phước sanh xứ: Tám cơi nhờ có phước đức mà được sinh đến đó, gồm có cơi người giàu sang, cơi trời bốn vị Thiên Vương, cơi trời Đao-lỵ, cơi trời Dạ-Ma, cơi trời Đâu-Suất, cơi trời Hoá-Lạc, cơi trời Tha-Hoá và cơi trời Phạm Thiên (Theo Đoàn Trung C̣n: Phật học Từ điển, Saigon 1966, tập I, trang 243)

(46)  Tám hoàn cảnh xấu (Bát nạn): Tám cảnh ngộ ngăn chận sự tu học để được giác ngộ, gồm có Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh, Châu Uất đan việt (Châu Bắc-cu-lư) người ở châu này sung sướng măi nên tu học không được, cảnh trời Trường thọ (Vô tưởng thiên), nơi đây không có tâm tưởng nên không tu học được, đui, điếc, câm, Thế trí biện thông (ỷ ḿnh thông minh biện bác theo thế sự mà không lo tu học, trước Phật và sau Phật, hai thời này không có sự bành trướng của đạo Phật nên không thể tu học (Đoàn Trung C̣n, sđd, tr. 235)

(47)  Cực Hỷ Địa: Sơ Địa của Bồ Tát 

 

Hết

  


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Bồ Tát >>