categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đình, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, vãng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cõi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cõi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử Hình ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
 

 

 

ĐẠT MA HUYỀN TRANG

 

Điều Ngự Tử TÍN NGHĨA

---o0o---

 

PHẦN 1

 

Dẫn Nhập

 

Khi trình bày tiểu sử, tư tưởng hoạt động cho sự phát triển Phật Giáo của hai ngài Đạt Ma Huyền Trang, sự thống nhất trong liên hệ đó, cho ta thấy những điểm then chốt như sau: 

1.- Về Phương Diện Truyền Giáo: Hai ngài Đạt Ma Huyền Trang chính là những nhăn vật tiên phong trong việc phát triển, chuyển hóa Phật Giáo từ Ấn Độ sang Trung Hoa. 

*.- Một Vị, từ Trung Hoa theo con đường lụa, sang Ấn Độ để nghiên cứu về Duy Thức Học. 

*.- Một Vị, đưa Thiền tông từ Ấn Độ sang phát triển ở Trung Hoa. 

Và từ đó, đã bành trướng qua những vùng Châu Á Gió Mùa (Asie des Moussons). 

2.- Về Hạnh Nguyện: Hai nhân vật chính yếu nầy là những vị Tổ Sư của các môn phái về Thiền tông và Duy thức tông, khi đã du nhập vào Trung Hoa, tức là đã bước sang một chuyển hóa mới. Nguyên tắc của việc du nhập nầy là: Tùy Cơ Bất Biến, ứng dụng và từng khung cảnh xã hội khác nhau, để truyền bá. 

3.- Điều Thống Nhất giữa Hai Vị Truyền Giáo Nầy Là: Cuộc đời cống hiến đạo pháp của họ đã được mọi tầng lớp trong quãng đại quần chúng ngưỡng mộ, đến độ, đã biến những giai thoại trong những cuộc truyền giaó thành những thiên ký sự thật ly kỳ. Nếu không phải là những nhân vật có đầy đủ uy tín và trọng vọng như thế thì đã không có những tác phẩm như: Tây Du Ký, Tây Du Ngoại Truyện, ... 

4.- Đối Với Việt Nam: Tư tưởng của hai ngài Đạt Ma Huyền Trang đã chiếm một địa vị rất sâu đậm. Khoa luận lý học, lối tọa thiền mà ngày nay đã trở thành một nếp sống phổ cập trong dân chúng, dù là Phật tử hay chưa tin Phật, cũng lấy đó làm cơ sở an tâm,, dưỡng tánh cho mình. 

Với những lý do trên, tác phẩm nầy có tính chất tổng hợp và so sánh. Với những nét đại cương, khaí quát, ở đây chúng tôi chỉ nêu những vấn đề có tính điển hình, tính phổ biến. 

 -- Những câu chuyện gần như giai thoại được giải thích lại.

 -- Những yếu tính cơ bản đưọc khai thác sâu thêm. 

Đó, là những ước mong của người viết, với khả năng hạn hữu của mình, để nói lên hai vấn đề: Lý Luận Nhân Sinh của người Phật tử. 

 

Lời Giới Thiệu

Trong tinh thần đóng góp Văn Hóa Phật Giáo, làm phong phú thêm tài liệu học Phật là những công tác tinh thần cao quý, cần phải được tán thán, lưu ý, giúp đỡ. Nay, Đại Đức Tín Nghĩa đưa cho tôi bản thảo tựa đề: Đạt Ma Huyền Trang để có ý kiến cụ thể. 

Sau khi đọc qua bản thảo về Hai Vị Tổ, tôi nhận thấy hai tài liệu nầy khúc chiếc, dễ hiểu, không dùng những hình thức văn chương, những chi tiết rườm rà, cốt cho người nghiên cứu nắm vững sự kiện chính yếu, tài liệu nầy căn cứ vào những tài liệu trong và ngoài nước đáng tin tưởng. 

Với sự cố gắng đúng mức, Đại Đức đã sưu tầm một sử liệu Phật Giáo mất nhiều công phu như vậy, thiết tưởng nó sẽ giúp cho những vị nào muốn nghiên cứu về hai vị tổ lớn trong nền Văn học Tư tưởng Phật Giáo, và cho những ai muốn có một vài khái niệm xác thực về nhân vật Bồ Đề Đạt Ma Huyền Trang. Ngoài tính cách huyền thoại, tiếp đến cách bố cục của tác phẩm. Đại Đức đã sắp đặt Tổ Đạt Ma, một con người với bộ óc lớn, bất cần không gian, thời gian và những liên hệ với nhân thế, cuộc đời đối với Tổ Bồ Đề Đạt Ma như sợi lông hồng đầu gậy. Bên cạnh Tổ Huyền Trang ngoài ý nghĩa Cao Tăng, là một Học Giả uyên thâm của Phật Giáo, tìm đến với đạo Phật trước phải tìm đến cội nguồn của nó. Cả hai Tổ đều làm cho đạo Phật nói chung, cho đạo Phật Trung Hoa nói riêng thâm trầm, phong phú về mặt tư tưởng và học thuật. Phải chăng dụng ý của Đại Đức đưa vào tác phẩm mình hình ảnh của hai vị tổ có hai lãnh vực tuy dị biệt mà bổ sung cho nhau làm thành một nền tư tưởng vừa cao thâm và thực dụng, để tránh cho người học Phật khỏi mắc bệnh chỉ chú trọng tư tưởng mà xem nhẹ phần nghiên cứu đích thực để rơi vào những hiểu biết không căn cứ và trái lại, cho những ai chỉ biết lần mò với sự tra cứu mà thiếu phần tư tưởng, thì sự tra cứu ấy không biết đến bao giờ mới thấu đạt? 

Xuyên qua hình thức, nội dung tài liệu có giá trị của Đại Đức, tôi khuyến khích Đại Đức nên in thành sách và cho phổ biến. Đương nhiên tài liệu vẫn còn thiếu sót không sao tránh khỏi, nhưng, những thành công nào mà chẳng trải qua thất bại, những đầy đủ nào mà chẳng đi qua thiếu sót. Chỉ có điều là dám làm và có những sự cảm thông mang một ý nghĩa xây dựng không? 

Với những lý do đó, tôi được hân hạnh giới thiệu tập sách ĐẠT MA HUYỀN TRANG đến với người đọc để chia xẻ những lý do thầm kín và đóng góp tinh thần sơ khởi của Đại Đức cho ngôi nhà Văn Hóa Phật Giáo hôm nay và mai sau. 

Hoa Kỳ, Xuân Quý Hợi – 1984

Đại Đức THÍCH NGUYÊN ĐẠT 

 

 

Lời Nói Đầu  

Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28 của Thiền Tông tại Tây Trúc, nhưng, Ngài là vị Tổ thứ nhất tại Đông Độ (Trung Hoa) về môn phái Thiền. Cuộc đời ghi chép với nhiều kỳ bí, huyền thoại. Những tư tưởng về An Tâm, Pháp Thân, Phật Thân, lối chỉ thẳng là những thay đổi lớn, về mặt tìm về Giác Ngộ và Giải Thoát. Ngôn ngữ thiền vô cùng súc tích, uyên bác. 

 

Cuộc Đời Và Huyền Thoại Bồ Đề Đạt Ma 

Những tài liệu biên chép cuộc đời của Bồ Đề Đạt Ma như Cao Tăng truyện của Nam Sơn Đạo Tuyên, Truyên Đăng Lục của Thiền sư Đạo Nguyên, Bích Nham Lục của Phật Quả Viên Ngộ, ... thường chen vào những huyền thoại. Thoại về Tổ Đạt Ma cỡi sóng qua Đông Độ. Thoại về Tổ Đạt Ma cỡi bè lau về Tây Trúc, xách dép phi hành trên ngọn Thông Lãnh. Thoại về Tổ Đạt Ma ngủ gục cắt mí mắt, mí mắt rơi xuống thành cây trà đầu tiên, ... (để trở thành nghệ thuật trà đạo). Những thoại ấy, cốt để thi vị hóa một cuộc đời ngang dọc xông pha, phi thường, ngang dọc vượt biển, ngang dọc chống lại triết thuyết theo danh số, theo giáo điều, ... Chín năm nhin vách đá chùa Thiếu Lâm không nói một lời (Thiếu thất cửu niên vô nhất ngữ). Thoại là lối thi vị hóa cuốc đời. Một cuộc đời quá sôi động, quá cao cả. Sơ Tổ xách dép, đi trên cọng cỏ, ...là nói lên một tâm hồn phơi phới, siêu thoát nghịch đời. Chỉ ngủ quên một chút mà cắt đứt mí mắt, cho thấy sự cuồng nhiệt lúc đi tìm ánh sáng đạo lý. Đó là tất cả những nét độc đáo của tâm hồn Đạt Ma Tổ Sư. Chín năm bích quán, đã phản ảnh một tâm hồn bi đát trên đường tìm đạo. Lương Võ Đế đã không hiểu nổi những ý tưởng mạnh mẽ, những ý nói thẳng. Các danh sĩ, các Cao Tăng đương thời xa lánh và khinh thường Ngài. Họ không thể hiều được ý nghĩ huyền diệu ấy. Họ tôn thờ luân lý. Họ còn mang danh tướng. Họ đam mê phương pháp quy nạp để tìm đạo. 

Câu chuyện chiếc dép trong quan tài được vua Hiếu Trang sắc chỉ đưa về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Hai trăm năm sau, thiện tín đưa về thờ ở chùa Hoa Nghiêm. Thì ra, năm vị Tổ kế thừa đã xiển dương thiền học thành một tông phái chính thống. Cuộc đời của Bồ Đề Đạt Ma Tổ Sư thường gặp nhiều trở ngại. Lương Võ Đế dù là người ngoan đạo, thuần thành, vẫn chưa thoát khỏi trí óc tầm thường của kẻ tục. Các danh sĩ xa lánh Ngài đã đành, mà môn đệ cũng ít nữa. Năm lần Ngài bị đầu độc.

Khi Ngài đến Vô Môn, quan Thái thú là Huyện Chi, sau một thời hỏi pháp, có nêu vấn đề: 

 -- Từ lúc vào Trung Hoa đến nay, ai thường hại thầy, xin thầy chỉ họ, con sắp xếp?

Bồ Đề Đạt Ma: 

 -- Nói ra, ắt có tổn hại. Ta nên đi vậy. Sao can tâm hại người, cho mình vui? Có những tình cảm cô độc thê lương đến thế? 

 

Tài Liệu Về Bồ Đề Đạt Ma 

a.- Về Thân Thế: Ghi chép và lưu hành trong Cao Tăng truyện và Truyền Đăng Lục. Tài liệu Tây phương và Ấn Độ thường nêu lên hai nghi vấn: 

*.- Phải chăng Bồ Đề Đạt Ma là Sơ tổ Thiền tông ở Trung Hoa?

*.- Có thật một nhân vật tên Bồ Đề Đạt Ma hay không? Nếu không, lý giải ra sao? 

Tài liệu nầy sẽ nêu ra giải đáp tổng hợp. 

b.- Kinh Sách: Hiện nay các kinh sách được xem là của Bồ Đề Đạt Ma tổ sư là: “Thiếu Thất Lục Môn”. Ngoài ra, còn có một số bài thuyết pháp mà các học giả Tây phương (Wilger, Hébert) đã tìm ra một vài dịch thuật. Cuốn trên còn nhiều nghi vấn, nhưng, có nhiều phần đã phản ảnh tư tưởng Bồ Đề Đạt Ma, nên càng dễ soi sáng thêm các yếu lý thiền. Còn các bài thuyết pháp (vấn đáp) đã đặt các vấn đề cơ bản thiền tông: Như pháp an tâm, vấn đề pháp thân, Phật tâm. Bài kệ phú pháp nêu rõ yếu chỉ thiền. Tất cả đã tạo được một cơ cấu tư tưởng triết học thiền, từ Bồ Đề Đạt Ma về sau; tức là từ lúc bành trướng sang Trung Hoa, thoát ảnh hưởng huyền bí của Ấn Độ. 

 

Yếu Tố Xã Hội 

Nghiên cứu hệ tư tưởng thiền của Bồ Đề Đạt Ma, phải nhìn vào một thực trạng xã hội lúc bấy giờ. Và cũng từ đó, Ngài xiển dương chủ trương: “Chỉ Thẳng Vào Tâm Tánh”. Trong cuốn: Thiền Nguyên Chư Thiền Tập, tác giả là Thiền sư Khuê Phong có dẫn:

 -- “Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma đến Trung Hoa vào đời Lương đã nhận thấy rằng: Ở xứ nầy, hầu hết các người học Phật đều chưa đắc Pháp. Họ chỉ hiểu theo danh số, hành theo sự tướng (Dĩ danh số vi giải, sự tướng vi hành)”. 

Vì vậy, để đáp ứng lại, Bồ Đề Đạt Ma chủ trương: Lấy tâm truyền tâm, chẳng lập văn tự.

Sự nghiệp lớn lao nhất của Ngài trong bước đường qua Đông Độ vào đầu thế kỷ thứ sáu vào trung nguyên chính là đã đặt lại vấn đề “NGỘ” cho phương pháp tu trì. Trên bình diện phá chấp, Ngài cố thuyết minh cho những người học Phật chỉ chuyên tinh luyện tập triết lý, nặng về nghi thức, nặng về giáo điều. 

Lề lối trực tiếp “Truyền Tâm Ấn” do Bồ Đề Đạt ma chủ xướng là: Khi ngộ, phóng ra một nhãn quang mới, một nhận thức mới, quán chiếu vào kim ngôn của đức Phật. Cũng từ đó, thiền trở thành tối thượng thừa, con đường đi thẳng vào nước Phật. 

 

Ngôn Ngữ Thiền 

Thiền là con đường đi thẳng vào chân lý giải thoát. Thiền thoát ly lý luận. Bồ Đề Đạt Ma nêu chuyện A Nan Đà. Ngài là Một trong Mười vị Đại đệ tử của Phật. Ngài nổi tiếng là một nhân vật uyên bác, học rộng. Vì mãi mê nghiên cứu, ngài xa rời Phật tánh. Thiền không nghiên cứu về mặt lý luận, mà là con đường đi thẳng. Ngài Đạt Ma tổ sư không phải là một nhà triết học, chuyên về phân tách, lý luận. Tất cả hệ tư tưởng của ngài chỉ bằng vào một kinh nghiệm, trực tiếp với đời sống tâm linh. Nó kết tinh và nói lên những điều do chiêm nghiệm tinh túy thiền. Cũng vì vậy, nhiều người đương thời đã bài xích, xa lánh. Thái độ nghiên cứu tư tưởng (nhất là các bài thuyết pháp), Ngài không thể phân tách suông theo lý luận học, mà phải sống, phải thiền, mới lãnh hội được. Vì vậy, khi đọc qua bài thuyết pháp cho Lương Võ Đế, những người chuyên phân tích cho đó là lối nhận định táo bạo, “Cách mạng”, kỳ lạ, thẳng thắn. Nếu cứ mãi mê phân tích, thì càng xa dần tư tưởng của Bồ Đề Đạt Ma. Tư tưởng nầy chi đi vào bằng trực giác, bằng “NGỘ”. Từ đó, nảy sinh ra một hệ luận mới: Cần sống một đời sống thiền đến độ đam mê như ngài Bồ Đề Đạt Ma cắt mí mắt, nếu không xao lãng thì Mới Quán Triệt Nổi. Đừng ngạc nhiên khi thấy nhiều danh sĩ xa lánh ngài. Cũng đừng e ngại, khi thoáng thấy những điều mâu thuẩn trong những bài thuyết pháp của ngài. 

Ngôn ngữ thiền có khi chỉ một câu thoại đầu, có khi chỉ là: La, hét, im lặng, ... Vô tự là chơn kinh. 

Nghệ thuật thiền, đến nay thì rất phổ cập. Uống trà là thiền. Múa kiếm, gánh nước, hái củi, ... là thiền. Vậy, thiền chỉ là đạo sống. Sống vô tâm. Bất cấu, Bất tịnh, Bất tăng, Bất giảm. 

Ngài Bồ Đề Đạt Ma đã lưu lại cho đời những gì? Nếu bằng vào sử liệu, thì một số tiểu sử, giai thoại và câu thoại đầu, vài bài thuyết pháp. Nhưng, ảnh hưởng thì sâu rộng vô kể. Cứ nhìn hai trăm năm thiền tông hưng thịnh. Cứ nhìn ảnh hưởng sâu thăm thẳm vào Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và nhất là Tây phương ngày nay. Cứ nhìn vào con đường “Đi thẳng” vào giải thoát và giác ngộ. 

Giác ngộ là Giải thoát. Lý tưởng người tu Phật chỉ có thế. 

Lời Tổ Đạt Ma dạy: 

“Đạo Bổn Vô Ngôn,

Ngôn Sinh Ly Tán”.

 

Viết tại Hoa Kỳ, Phật Đản 2536 – ngày 04-04-1982

Điều Ngự Tử TÍN NGHĨA

 

Tài Liệu Bồ Đề Đạt Ma 

* .- Cao Tăng Truyện: Cao Tăng Truyện là tác phẩm của Nam Sơn Đạo Tuyên. Sách biên soạn vào năm 645, đầu đời Đường. 

Tài liệu được xem là tư liệu cổ nhất, hiện đang còn thích dụng. Nam Sơn Đạo Tuyên là vị tổ sư khai sáng ra Luật Tông ở Trung Hoa, cũng là một học giả uyên bác. 

Tuy nhiên, Ngài biên soạn vào lúc thiền tông chưa lập hệ thống ở Trung Hoa (Lục tổ Huệ Năng mới lên được chín tuổi). Chính vì vậy, Cao Tăng Truyện ghi chép không đầy đủ tư tưởng, khuynh hướng của Bồ Đề Đạt Ma.  

*.- Truyền Đăng Lục: Tài liệu nầy do Đạo Nguyên biên soạn vào năm 1101, vào đầu đời Tống. Sách do một thiền sư viết, khi thiền tông được xác nhận là một đắc thù. Truyền Đăng Lục ghi chép những danh ngôn, những hành động của các thiền sư. Vi là “LỤC”, tác giả dẫn giải những bộ sách thiền thời trước, nay đã thất lạc, chỉ còn lại tên sách. 

*.- Tánh Chất: Vì những đặc tính như vậy, hai bộ sách biên soạn sai khác nhau về tiểu sử của Bồ Đề Đạt Ma. 

1.- Cao Tăng Truyện: Được biên soạn trong khi thiền tông chưa được định xong cơ bản lập tông. Vì vậy, trong bộ truyện, Bồ Đề Đạt Ma, vị Tổ khai sáng Thiền được coi như những vị tu sĩ Phật giáo khá lỗi lạc nhiều mặt (Phiên dịch luận, luật có nhiều phép thần thông, ...).

Trên cơ sở ấy, tổ Bồ Đề Đạt Ma không chiếm được một vai trò lãnh đạo tông phái nào, khác hẳn các Cao Tăng khác. Theo Nam Sơn Đạo Tuyên, thì tổ Đạt Ma chỉ là: “Một Pháp sư chuyên về thiền định”. Danh từ thiền định ở đây, chỉ là: Phép hành thiền cổ truyền của môn đồ Tiểu Thừa trong cuốn Manual of Zen Buddhism (Rider, London – 1950) D.T. Suzuki nhận định: 

 -- Đạo Tuyên (trong Cao Tăng Truyện) không nắm được Yếu Chỉ của Thông Điệp Bồ Đề Đạt Ma. Dù rằng, ông có thể nhận định được: Trong tư tưởng thiền ấy, có cái gì khác hơn thường gọi là: Bốn thiền, Tám định. Cũng vì vậy, khi vin vào đó, nhiều nhà chú giải quan niệm rằng: 

 -- Trong sự tích Bồ Đề Đạt Ma của Đạo Tuyên, ít có gì được gọi là thiền đúng nghĩa, xứng đáng là vị tổ khai sáng ra thiền tông ở Đông Độ. 

2.- Truyền Đăng Lục: Tài liệu The Way of Zen cua Alan W. Watts có viết: 

- “Nếu Truyền Đăng Lục của Đạo Nguyên có nhiều chi tiết thật khó tin (Nhất là đoạn đời của tổ Đạt Ma trước thời kỳ Đông Độ) ta có lý do tin được rằng: Hầu hết, tiểu sử Đạt Ma qua Đông Độ có giá trị lịch sử. Như vậy, có thể đem sử liệu của Đạo Tuyên để bổ khuyết cho Đạo Nguyên. Nếu không, quả thiếu hẳn tinh thần vô tư trong phương pháp luận, không phân tích đúng dữ kiện lịch sử.”. 

 

Các Truyền Thuyết Về Bồ Đề Đạt Ma 

Hai Vấn Đề Tổ Đạt Ma: Các nhà nghiên cứu lịch sử triết học tư tưởng Ấn Độ và Trung Hoa, khi bàn đến nhân vật Bồ Đề Đạt Ma, thường đưa ra hai vấn đề mang tính chất sử liệu và huyền thoại. 

1.- Có phải Bồ Đề Đạt Ma là Sơ tổ thiền tông của Trung Hoa (Cũng như Nhật Bản và Việt Nam) không? 

2.- Có thật có một nhân vật lịch sử tôn giáo, mang tên Bồ Đề Đạt Ma không? 

Hai nghi vấn nầy đặt trên nền tảng lý luận như sau: 

a.- Tài liệu về Bồ Đề Đạt Ma hầu hết dựa vào hai tài liệu căn bản: 

*.- Cao Tăng Truyện của Nam Sơn Đạo Tuyên,

*.- Truyền Đăng Lục của Đạo Nguyên. 

Cuốn trên ra đời khi thiền tông chưa hệ thống hóa thành một tông phái (trước khi ngài Lục Tổ Huệ Năng được truyền tâm ấn). Tài liệu mang tính chất truyện ký, nội dung nhắm vào hai yếu tố cơ bản: Những lời kinh vàng và các lối hành đạo. Cuốn dưới sao lục. Mục đích của Đạo Nguyên thiền sư là ghi chép lại các tài liệu Phật giáo (Thiền tông) đã bị thất lạc. 

b.- Nghi vấn về nhân vật Bồ Đề Đạt Ma: Xuất phát từ một số sử liệu Ấn Độ vào thế kỷ thứ sáu không ghi chép đến tiểu sử, tác phẩm, lối hành đạo, truyền đạo của tổ Bồ Đề Đạt Ma. 

c.- Phương pháp lý giải: Có hay không, các nhà nghiên cứu ngày xưa xác định một vấn đề cốt lõi: Thiền tông từ thời đại tổ Đạt Ma sang Trung Hoa đã đặt lại cho sở tu chứng. Gạt bỏ các hình thức, hình tướng, đi thẳng về nguồn, nhìn thẳng vào Tinh túy của kinh nghiệm giác ngộ của đức Phật Thích Ca. Kinh sách chỉ là như ngón tay, phản ứng của thiền tông là: Chặt đứt ngón tay, đi thẳng vào tinh túy giác ngộ. 

Nói một cách khác, sự hiện hữu của tổ Đạt Ma chỉ nên xem là tượng trưng cho tinh thần và thái độ của một tông phái đối với các tông phái Phật giáo ở Trung Hoa thời bấy giờ. Ngoài ra, Hiện tượng Bồ Đề Đạt Ma là nhịp cầu nối liền Phật Giáo Trung Hoa và Phật Giáo Ấn Độ. 

Nghi Vấn: Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28 về thiền tông ở Thiên Trúc, nhưng, Ngài lại là vị Sơ tổ Thiền tông ở Đông Độ (Trung Hoa). Điều nầy theo đúng tinh thần truyền thống thiền tông. Tuy nhiên, một vài nhà khảo cổ học và sử học vẫn nêu nghi vấn.  

a.- Nghi Vấn Về Câu Na Bạt Đà La (Guanabhadra): 

*.- Tác giả Tịnh Giác: Trong cuốn Lăng Già Sự Tư Ký, tác giả là Tịnh Giác (Vào thế kỷ thứ tám) cho rằng: 

 --  Chính Câu Na Bạt Đà La là tổ sư thứ nhất của thiền tong Trung Hoa (Chứ không phải là Bồ Đề Đạt Ma). 

*.- Tác già Paul Demiéville (Pháp): Trong cuốn Le Concile de l’hasa của Paul Demiéville cho rằng: 

 -- Nguyên trước, thiền tông có tên là Lăng Già Tông. Tác giả Lăng Già Sự Tư Ký đã có lý khi nhận định rằng: Câu Bạt Đà La là tổ sư đầu tiên của thiền tông (tức Lăng Già Tông), Câu Bạt Đà La là người dịch Lăng Già ra Hán văn. 

*.- Theo tác giả cuốn Lịch Đại Pháp Bảo Ký (The Lankavatara Sutra):  

 -- Tổ sư thứ nhất chính là Bồ Đề Đạt Ma. Ngài là tác giả bộ Lăng Già bốn cuốn trao lại cho ngài Huệ Khả (Thần Quang). Ngài Câu Bạt Đà La (Guanabhadra) chỉ là dịch giả (Tài liệu của Suzuki). 

 

Nghi Vấn Về Nhóm Nghiên Cứu: 

Trong cuốn: Phật giáo, bản chất và sự phát triển (Le Boud dhisme, dans son essence et son developpement), tác giả Edmont Conzé, cho rằng: 

1.- Kinh Lăng Già có từ trước, tổ Đạt Ma không phải là tác giả của bộ nầy. 

2.- Năm 440, đã có một nhóm người nghiên cứu bản phiên dịch kinh Lăng Già do Câu Na Bạt Đà La chuyển sang Hán văn. Mãi đến 80 năm sau (520), Bồ Đề Đạt Ma mới đến Quảng Châu. Và, cũng chỉ là nhân vật hoang đường. Quan điểm của Giáo sư Edmont Conzé không xác quyết ai là tổ sư thiền tông thứ nhất ở Trung Hoa; nhưng, đã gián tiếp công nhận lập luận của Tịnh Giác trong Lăng Già Sự Tư Ký.  

Nhận Định: 

1.- Cho đến nay, công cuộc nghiên cứu vẫn còn tiếp tục. Tinh thần nghiên cứu ấy nhắm vào việc khai quật các tư liệu lịch sử và khảo cổ học. 

2.- Một số học giả cho rằng: Bồ Đề Đạt Ma là tinh túy thiền tông trở về chân lý giác ngộ. Căn bản là tinh thần giáo lý (Theo A. David Neel - Cuốn Initiations – Trang 32 & 33). Đây là ý niệm sáng tạo của một tín đồ nhiệt thành, vào thế kỷ thứ chín hay thứ mười ở Trung Hoa. 

3.- Thực chất của vấn đề nghiên cứu không phải là vin vào nhân vật nào, nhưng vấn đề là truyền đạt giáo lý chính thông của đức Phật lần đầu tiên vào Trung Hoa. Tất cả sự nhận định về tổ Bồ Đề Đạt Ma chỉ là nhận thức của truyền thống thiền tông.  

Nghi Vấn Về Nhân Vật: 

Có thật có một nhân vật đưa thiền học từ Ấn Độ sang Trung Hoa vào thế kỷ thứ sáu không? Và, nhân vật ấy đã hợp sáng (Tổng hợp và sáng tạo) thiền học Trung Hoa phải chăng chỉ là biểu tượng mà thôi? 

Có hai lập luận: 

 -- Không có Bồ Đề Đạt Ma. Đó chỉ là huyền thoại. 

 -- Đức Bồ Đề Đạt Ma là một hiện hữu. 

 -- Lập luận trên căn cứ vào các luận cứ của Phùng Hữu Lan, P. Pelliot, Conzé, ... 

 -- Lập luận dưới căn cứ vào tài liệu dẫn giải của Hồ Thích, Prabodh Chandra Bagchi, ... 

Cuốn lịch sử Phật giáo Ấn Độ của Taranatha (1680) ấn hành tại Petropolis, không thấy nói đến nhân vật nầy. P. Pelliot viện dẫn nhiều chứng liệu, rồi đến kết luận. Lịch sử đức Bồ Đề Đạt Ma là nhân vật đáng nghi ngờ. 

Phùng Hữu Lan không chấp nhận và tin rằng Bồ Đề Đạt Ma đã đưa thiền tông vào Trung Hoa.

Tuy nhiên, tất cả những lập luận trên cũng chỉ là những nghi vấn, giả thuyết, kiểm chứng...

Lập luận dưới mở đầu bằng thiên khảo luận của một học già Ấn là Prabodh Chandra Bagchi (Trong cuốn Indian Influence on Chinese thought) đoan chắc: 

 -- Bồ Đề Đạt Ma là một nhân vật thật, một mẫu người lịch sử. Ngài đến Trung Hoa vào tiền bán thế kỷ thứ sáu. 

Một sử liệu lưu hành từ năm 534 chứng giải: 

 -- Đức Bồ Đề Đạt Ma có mặt tại chùa Loyang. 

Sau nầy Watts, Suzuki, Hebert, Sasaki, Watanab, Dumouline ... đều xác nhận: 

 -- Đức Bồ Đề Đạt Ma đã khai sáng thiền tông Trung Hoa. 

Có hay không có, điều căn bản là tinh thần thiền tông trong suốt 200 năm đã tạo một sắc thái đặc thù và bao quát tại Trung Hoa. Thiền tông đã phá tan những ảnh hưởng của các học thuyết cố chấp hình tướng, lý luận, danh số. Đó là yếu tính để nhập môn. Đó là cơ sở nhận thức quan. 

Ngoài ra, nếu chìm đắm trong tư liệu phụ thuộc, thứ yếu, không thuộc bản chất của thiền.

 

Tổ Bồ Đề Đạt Ma Đến Việt Nam (Bắc Việt) 

Bản Chữ Hán được trích từ cuốn Trung Hoa Thiền Tông Sử, của ngài Ấn Thuận, đệ tử lớn của ngài Thái Hư Đại Sư, trang 04.

 

Tiểu Sử Tổ Bồ Đề Đạt Ma  

1.- Xuất gia: Bồ Đề Đạt Ma thuộc giòng Sát Đế Lợi, ở nước Quảng Hương, thuộc Nam Thiên Trúc (Vùng cao nguyên Dekkan) phía Nam Ấn Độ. Con thứ ba của vua Chí Vương. Tên tục là Bồ Đề Đa La (Bodhi Tara). 

2.- Cao Tăng Truyện: Nhân ngày Quốc Hương thọ lễ cúng dường của nhà vua, tổ thứ 27 là Bát Nhã Đa La (Prajnatra) gặp Bồ Đề Đa La. Tổ nhận thấy vị hoàng tử nầy có nhiều nét đặc biệt (Phong thái, ngôn ngữ) mới cùng bàn luận về chữ Tâm. 

Khi thấy Bồ Đề Đa La nhận định đúng yếu lý về chữ Tâm, Tổ Bát Nhã Đa La gọi đến và bảo rằng:

 -- Hoàng tử đối với chư pháp đã được thông lượng, mà Đạt Ma có nghĩa là: Thông Đạt rộng lớn. Vậy, Hoàng tử lấy tên là Bồ Đề Đạt Ma. 

Bồ Đề Đạt Ma nhận và bái tổ thứ 27 làm thầy. Liền làm lễ thế phát và thọ cụ túc giới. 

3.- Đông Độ: Một hôm, tổ gọi Ngài đến truyền pháp: “Sau nầy, sang Trung Hoa mới là nhơn duyên lớn. Song, hãy đợi ta diệt độ khoảng 60 năm, rồi hãy đi. Nếu ngươi đi sớm, sau e sự kiện không tốt.”. 

Triết gia Elliot giải thích như sau: 

Nhận định của tổ sư Bát Nhã Đa La có hai dụng ý: 

1.- Thực trạng tín ngưỡng ở Ấn Độ khó phát triển con đường quy nguyên trực chỉ. Ảnh hưởng của Bà La Môn giáo là một trong các sự kiện phân hóa. 

2.-  Trung Hoa và các nước miền đông là vùng phát triển thuận lợi. Tuy nhiên, các tông phái Phật giáo bấy giờ ở đây coi nặng hình tướng chủ nghĩa. 

Sau khi tổ thứ 27 viên tịch, Ngài vẫn lưu lại Ấn Độ để thuyết pháp và giaó hóa. Cùng chung công cuộc hoằng dương có vị huynh đệ đồng sư là Phật Đà Tiên. Quần chúng Phật tử ở Ấn Độ lúc bấy giờ thường gọi hai vị là: Mở hai cửa cam lồ. 

Giáo Hóa: Trong thời kỳ truyền giáo ở Ấn Độ, có hai sự kiện nổi bật:

a.- Cảm hóa môn đồ: Trong thời kỳ đó, sáu môn đồ của ngài Phật Đà Tiên lại phân hóa thành Sáu tông phái: 

a.1.- Hữu tướng tông,

a.2.- Vô tướng tông,

a.3.- Định huệ tông,

a.4.- Giới hạnh tông,

a.5.- Vô đắc tông,

a.6.- Tịch tịch tông. 

Sự kiện nầy chẳng những gây ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt giữa các nhân vật chủ trương, xa lần yếu lý của đức Phật, mà còn làm xáo trộn niềm tin của hàng Phật tử. Các giáo phái khác cũng kích bác. 

Bồ Đề Đạt Ma nhận định: Sự phân hóa đó là nguồn gốc của thoái trào, chánh pháp suy vi. 

Vì vậy, Ngài dùng nhiều phương cách khác để cảm hóa họ quay về chánh pháp. 

b.- Vua Dị Kiến: Khi vua Nguyệt Tịnh băng hà, con vua là thái tử Dị Kiến lên kế vị. Lên ngôi chưa được bao lâu, vì tân vương lại tin theo các tà thuyết, đã lên tiếng công kích Phật giáo. Điều nầy đã ngăn cản Phật Giáo Ấn Độ đang bành trướng. Bồ Đề Đạt Ma thấy được nguy cơ ấy, liền sai một đệ tử tên là Ba La Đề, vào cung để nhiếp hóa. 

Nhà vua mới tỉnh ngộ. Vua Dị Kiến nói ra, mới biết Ba La Đề là đệ tử của chú mình (Bồ Đề Đạt Ma). Nhà vua liền phái người đến cung thỉnh Ngài về cung để giáo hóa. 

4.- Đến Quảng Châu (520): Sau một thời gian giáo hóa ở cung vua, Ngài nhận thấy Cơ duyên sang Trung Hoa đã đến. Ngài đem lời huyền ký của tổ Bát Nhã Đa La (thứ 27) thuật lại cho vua rõ. Nhà vua không dám ngăn cản, liền sai đóng một chiếc thuyền lớn, phái thủy thủ đưa Ngài sang Trung Hoa (517). Vua và quần thần ra tận bờ biển để tiển đưa. Ngài ở trên thuyền suốt ba năm (517 – 520). Thuyền cập bến Quảng Châu, bấy giờ vào đời vua nhà Lương, niên hiệu Phổ Thông nguyên niên (520), vào ngày 21 tháng 09 năm Canh tý. 

Thiên sứ ở tỉnh nầy ra tận thuyền đón Ngài. Sau đó, dâng sớ về triều, tâu lên cho vua Lương Võ Đế biết. 

5.- Từ Ấn Độ sang Trung Hoa: Khi tổ thứ 27 là Bát Nha Đa La chỉ dẫn cho Bồ Đề Đạt Ma: Phải du hành sang Trung Hoa, dụng ý sâu sắc nhất là tìm một môi trường thích hợp cho thiền tông. 

Thiền tông ở Ấn Độ thường mang nặng về tinh thần huyền bí, khó hiểu, xa với uyên nguyên của thiền học. Vì vậy, cần phải được phát triển theo một chiều hướng khác; đúng hơn, một môi trường khác. Đó là Trung Hoa.

 D. T. Suzuki (Manual of Zen Buddhism) đã làm một bản so sánh sâu sắc như sau: 

Đất Ấn Độ quá siêu hình, dễ buông xuôi theo trí tưởng tượng thần bí.

Ấn Độ là đất dụng võ của Duy thức tông, Chân như tông, Hoa nghiêm tông, Không luận tông, ... 

Còn Thiền tông, phải cần đến một tâm hồn, đã từng thấm nhuần trong tư tưởng Lão Trang, mà vẫn không thể tách ra ngoài những tình tiết của cuộc sống thường ngày.

Điềm đạm, hào sảng, chơn chất phần nào và còn bình thản, mẫn tiệp và còn quân bình đúng mức nữa. Đó là những Đức tánh cần phải có để đưa thiền tông đến hiện trạng. Nghĩa là: Nếu Phật giáo Đại thừa theo kiểu Long Thọ và Mã Minh, và các bộ kinh Duy Ma Cật, Bát nhã, ... nhất là kinh Lăng Già, nếu không được các thiên tài Trung Hoa luyện chế lại, chắc chắn Thiền tông không bao giờ xuất hiện. 

Truyền Đăng Thập Lục có chép: 

Sau ba năm vượt biển, Ngài đến Nam Hải (Trung Hoa) vào triều nhà Lương . Lương Võ Đế hay tin, liền sai sứ phụng chiếu, triệu ngài về Kim Lăng, để nhà vua đón tiếp. Sau vài ba câu chuyện qua lại, Bồ Đề Đạt Ma đã để lộ cá tính ngang nhiên của một con người siêu thoát. 

6.- Tiếp xúc Lương Võ Đế: Vua Lương Võ Đế là người ngoan đạo thuần thành, nhưng, vẫn chưa thoát ra được những trí óc tầm thường của kẻ tục. Truyền Đăng Lục có chép như sau: 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Từ ngày tức vị đến nay, Trẫm đã từng xây cất 300 ngôi chùa, biên chép kinh điển không biết bao nhiêu mà kể; vậy, có công đức gì không? 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Tất cả đều không có công đức. 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Tại sao lại không có công đức? 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Đó chỉ là: “Nhơn hữu lậu”. Chỉ được những quả vị nhỏ trong cõi trời người, như bóng với hình. Tuy có, nhưng không được. 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Vậy công đức chơn thực là gì? 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Trí, phải thanh tịnh. Thể, phải lắng không. Đó là chơn thực công đức. Công đức ấy không thể lấy việc thế gian mà cầu được. 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Chơn lý cùng tột của đạo Thánh là gì?

(Như hà thị Thánh đế đệ nhất nghĩa?) 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Trống rỗng, hồn nhiên, không gì là Thánh

(Quách nhiên vô Thánh). 

Lương Võ Đế hỏi: 

 -- Trước mặt Trẫm là ai? 

Sơ Tổ đáp: 

 -- Không biết. 

7.- Quách nhiên vô Thánh: Bích Nham Lục quyển Một có giải thích như sau: 

Ngũ tổ Hoằng Nhẫn có chỉ rõ rằng: Chỉ trong mấy chữ Quách Nhiên Vô Thánh ấy, thì ai cũng thấu suốt được. Ngồi nhà ngủ yên. Đó là chỗ kỳ đặc của tổ sư Bồ Đề Đạt Ma. Một mặt đánh vào khối Cát đằng (Văn tự, Ngôn ngữ, Kiến thức) chẳng ngại về người đập nát thùng sơn. 

Vì vậy, phải nhận thấy rằng: Khi đã tham suốt một câu, thì ngàn vạn câu đều thông suốt. Ngồi đâu yên đó. Nắm gì vững nấy. 

Cổ thi có câu: 

“Thịt nát, xương tan chữa đèn xong,

Một câu siêu thoát ngàn ức kiếp”.

 

Lời Tụng Của Tổ Bồ Đề Đạt Ma  

Sau cuộc tiếp xúc và thuyết pháp cho Lương Võ Đế nghe về các vấn đề: Phật tánh, Pháp thân, Đạt Ma tổ sư có lời kệ: 

Nhất tiễn tầm thường, lạc nhất tiêu,

Cánh gia nhất tiễn, dĩ tương thiêu,

Trực quy thiếu thất, phong tiền tọa,

Lương chúa, hưu ngôn, cánh khứ chiêu. 

dịch nghĩa: 

Mỗi mũi tầm thường, lạc chim điêu,

Mũi tiếp dồn thêm, đốt cháy tiêu,

Trực chỉ Thiếu thất, ngồi vách đá,

Vua Lương thôi chớ: thỉnh cùng kêu.

 

Bia Văn Tưởng Niệm Bồ Đề Đạt Ma 

Bích Nham Lục chép rằng: 

Đế chẳng khế hợp, sư thầm lặng qua sông, sang nước Ngụy, chẳng lộ mặt, đi thẳng lên thiếu Lâm. Chín năm diện bích. Tiếp độ đưọc Huệ Khả (tức Thần Quang), sau đó độ đến người thứ sáu.

Hóa độ xong. Truyền pháp đã có người. Sư không tự cứu nữa. Ngồi mà hóa êm. Nhục thân tán tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ.  

Bia Văn Của Lương Võ Đế: 

“Thấy như chẳng thấy,

Gặp như chẳng gặp,

Đối mặt như chẳng đối mặt,

Xưa đâu? Nay đâu?

Oán bấy! Hận bấy!  

Bài Tán Của Lương Võ Đế: 

“Tâm có chăng?

Khoáng kiếp uổng trệ phàm phu,

Tâm không chăng?

Sát na sớm lên diệu giác”. 

Ghi chú: Bích Nham Lục: Tác giả là Phật Quả Viên Ngộ (1063 – 1135). Nội dung gồm có: 100 bài thơ thiền. Sau mỗi bài thơ, có lời bình (bằng thơ) của ngài Tuyết Đậu và lời giảng của ngài Viên Ngộ. Tác phẩm nầy du nhập vào Nhật Bản ở thời kỳ Kamakura (Khiêm Thương). Từ đó, Bích Nham Lục được xem là một trong những bộ sách quan trọng nhất, nhất là người thuộc giòng thiền Lâm Tế (tài liệu của D. T. Suzuki).

 

* * *

 

Lý Giải Của Bồ Đề Đạt Ma

 

Trong cuốn Thiền học Giảng thoại (Đài Bắc Kiến Khang Thư Cuộc ấn hành 1960) có nêu lý giải về Quách Nhiên Vô Thánh như sau: 

“Sở dĩ Bồ Đề Đạt Ma đáp lại bốn chữ Quách Nhiên Vô Thánh để chỉ vào cảnh giới tự chứng ngộ”, là vì: 

 -- Lương Võ Đế hỏi:

Đệ nhất nghĩa đế. 

 -- Tổ Đạt Ma đáp:

Đệ nhất nghĩa. 

Người hỏi, là hỏi đệ nhất nghĩa của Chơn đế hay Tục đế. 

Còn người đáp (Tổ Đạt Ma) là đáp đệ nhất nghĩa của Thánh Trí Tự Giác của Phật Đà.

Cảnh giới tự giác vốn đã siêu thoát cả Chơn đế lẫn Tục đế. Tức là cảnh giới Niết bàn vi diệu tuyệt đối.

Vì vậy, Lương Võ Đế ngẫn ngơ, không tài nào có thể lãnh hội nổi cái thậm thâm vi diệu ấy được. Quách nhiên vô thánh thán có thể xem như minh thị xác đáng nhất về căn bản pháp của thiền tông (Tài liệu của Léon Wieger). 

 

* * *

 

Phép Bích Quán Của Bồ Đề Đạt Ma 

 

Cao Tăng truyện có chép: 

Sau 19 ngày, Bồ Đề Đạt Ma bỏ Lương Võ Đế lén qua sông, đến vùng Giang Bắc. Ngài nhập cảnh nước Ngụy, đi lần về Lạc Dương, nhằm vào đời Hậu Ngụy. Vua Hiếu Minh Đế, niên hiệu Chánh Quang nguyên niên (520), ngày 23 tháng 11 năm Canh tý. Ngài dừng chân và trú tại chùa Thiếu Lâm ở Trung Sơn. Trọn ngày ngồi xiay mặt vào vách đá, im lặng. Người đời gọi là Bích Quán Bà La Môn (Thầy Bà La Môn ngồi nhìn vách). 

Phép Bích Quán: 

Truyền Đăng Lục chép: 

Thời ấy (tại Đông Độ) có hai nhân vật Đạo Dục và Huệ Khả; tuy thuộc về hàng hậu sanh, tuổi nhỏ, song tuấn tú, chí khí cao, duyên may gặp được Tổ sư (tức Bồ Đề Đạt Ma).

Họ bèn ở đó, phụng sự nhiều năm, hết lòng tu học. Họ chỉ mong pháp sư chỉ bảo. Pháp sư cũng thương họ cho là chí thành, liền chỉ dạy cho chơn đạo. 

 -- Đây là Tâm,

 -- Đây là phép phát hạnh,

 -- Đây là phép thuận vật,

 -- Đây là phép phương tiện. 

Đó là phép An tâm của Đại thừa giáo, cẩn thận. Chớ hiểu lầm. 

 -- An tâm, đó là Bích Quán,

 -- Phát hạnh, đó là Tứ Hạnh,

 -- Thuận vật, đó là phòng ngừa sự chê hiềm,

 -- Phương tiện, đó là khiến mình đừng chấp trước.

 

* * *

Tĩnh Quán và Bích Quán 

Tĩnh Quán: Phương pháp tĩnh quán được chép trong kinh Kim Cang Định. Sách nầy được dịch ra chữ Hán vào đời Bắc Lương (397 – 439). Thành quả như sau: 

“Hành giả, trong một ý niệm ngưng trụ Tĩnh Quán, sẽ kiến chiếu vào tánh Phật. Chẳng phải có, chẳng phải không. Chẳng phải ta, chảng phải người. Chung cùng với sự vật tri giác, cũng giống như hàm linh. Tất cả cùng một thể. Chính lúc đó, hành giả sẽ kiên trì Tâm Địa Kinh Cang.

Kết quả chẳng xa lìa, sẽ được tịnh nhiên vô vi. Tâm tưởng không còn phân biệt nữa. Đó là nguyên tắc Lý Nhập”. 

Đoạn kinh nầy mang ý nghĩa như Bốn Quán Hạnh của tổ Bồ Đề Đạt Ma. Chỉ có khác: Tĩnh Quán đổi thành Bích Quán. 

Bích có nghĩa là tường, vách. Thành ngữ có câu: 

- Bích lũy nan xuyên (tường thành khó qua) 

Theo Phật giáo là hình dung. Thái độ đứng thẳng. Theo D. T. Suzuki, sự thay đổi danh từ ý nghĩa thật vô cùng quan hệ. Bởi lẻ, nó thay đổi toàn bộ tinh thần bản văn.

Nam Sơn Đạo Tuyên khi lý giải về thiền, có phân tích: 

“Phương pháp Đại thừa Bích quán là sự nghiệp tuyệt diệu của Bồ Đề Đạt Ma ở Trung Hoa. Cũng vì vậy, pháp sư nầy thường được danh hiệu là Bích quán Bà la môn.” (Có nghĩa là ông sư ngồi nhìn vách). 

Ở Nhật Bản, các môn đồ của thiền Tào Động (Do ngài Thạch Đầu Hy Thiên chủ xướng) noi gương của tổ Đạt Ma, khi ngồi thiền thường xoay mặt nhìn vào vách. 

* * *

 

Ý Nghĩa Bích Quán Của Tổ Bồ Đề Đạt Ma 

Bích Quán, nếu chỉ có nghĩa quay mặt vào vách suông, thì quả là quá phiến diện. Theo các học giả Charles Elliot (Hinduism and Buddhism), David Neel (initiations Lamaique), Phùng Hữu Lan (Précis d’histoire de la philosophie) thì pháp môn nầy quả là: Một phong trào cách mạng trong đường lãnh đạo. 

Suzuki viết: Bích Quán mang một ý nghĩa cao diệu vô cùng. Muốn như vậy, phải hiểu theo tinh thần đoạn văn sau đây, do Truyền Đăng Lục trích diễn, bộ sách mang tên Biệt Lý. 

Ban đầu, Bồ Đề Đạt Ma ở chùa Thiếu Lâm chín năm. Vị nhị tổ Huệ Khả nói pháp rằng:

 Ngoại tức chư duyên,

Nội tâm vô suyễn,

Tâm như tường bích,

Khả dĩ nhập đạo. 

Nghĩa là: 

Ngoài dứt các duyên,

Trong không toan tính,

Tâm như tường vách,

Mới là nhập đạo. 

Ngài Huệ Khả trình bày hết tất cả những nhận định về bản thể của tâm (Tánh Lý). Lần nào tổ Đạt Ma một mục cũng bảo là Không Đúng, mà cũng không bảo nói gì về tâm thể vô niệm. 

Một ngày kia, Huệ Khả nói: 

 -- Tôi đã dứt hết chư duyên rồi. 

Sư hỏi: 

 -- Người không biến thành đoạn diệt (hư vô) đấy chứ? 

Huệ Khả đáp: 

 -- Chẳng thành đoạn diệt. 

Sư hỏi: 

 -- Lấy gì mà tin là chẳng thành đoạn diệt? 

Huệ Khả đáp: 

 -- Do “Cái tự nhiên” vậy. Còn nói ra thì thật rất khó. 

Sư giải thích: 

 -- Đó, chính là bí quyết tâm truyền tâm của chư Phật. Ngươi chẳng nghi ngờ gì hết.

 

Huệ Khả Được Tổ Bồ Đề Đạt Ma Truyền Tâm Ấn

 

Huệ Khả (Thần Quang) họ Cơ, ở Võ Lao. Giòng giống Tôn Thất nhà Chu. Cha mẹ ông đã lớn tuổi mà chưa có con. Lắm phen đến chùa cầu tự.

Sau bà có thai. Sinh ra đặt cho tên là Quang (Vì khi lọt lòng mẹ có hào quang chiếu sáng ngời). Thuở nhỏ, Cơ Quang học tập nghiên cứu rất rộng sâu và tinh thông Lão Trang.

Đến năm 30 tuổi (525), ông ta nhận định rằng Lão Dịch chỉ là sách của thế gian. Chẳng đạt được Đạo lý. Vì vậy, ông quay sang nghiên cứu Phật giáo.

Ông ta đi tìm thầy học đạo. Khi đi đến Lạc Dương, lên núi Hương Sơn, chùa Long Môn gặp thiền sư Bảo Tịnh, bèn xin xuất gia.

Sau đó, lại đến chùa Vĩnh Mục, thọ giới với Phù Dung Giảng Tử. Ông chuyên học về kinh luận. Chẳng bao lâu, ông rất tinh thông kinh điển. 

Năm 32 tuổi (526), ông trở lại với bổn sư, tại chùa Hương Sơn. Trọn ngày, ông ngồi thiền trên núi. Suốt tám năm (526 – 534) như thế, thì một hôm, khi ông đang thiền định, bỗng có vị thần (?) hiện ra, chỉ dẫn: 

 -- Ngài không nên ở đây lâu. Muốn đạt được đạo quả, hãy đi về phương nam. 

Hôm sau, trên đầu của ông chợt đau như kim châm, không chịu nổi. Ông định đi tìm thuốc chữa trị, chợt nghe trên không có tiếng nói vọng xuống: 

 -- “Đây là đổi xương, không phải bệnh thường”.

(Nhơn vì có thần đến mách bảo, sư Bảo Tịnh cho đổi tên hiệu là Thần Quang). 

Thần Quang đem chuyện nầy thuật lại cho bổn sư nghe, sư Bảo Tịnh ngăn cản, không cho uống thuốc.

Sáng hôm sau, Bảo Tịnh xem trên đầu Thần Quang, quả thấy đầu xương nổi cao như hình năm trái núi, liền bảo:

 

 -- Ngươi có tướng tốt như thế nầy, chắc là đắc đạo. Thần lại dạy ngươi sang miền Nam. Ta có nghe đạo sĩ Bồ Đề Đạt Ma đến chùa Thiếu Lâm. Chắc là đó vậy. 

* * *

 

Huệ Khả Cầu Đạo

Khi đến chùa Thiếu Lâm (Trung Sơn), Thần Quang dâng trọn đời mình cho chơn lý. Sau khi chịu khó mệt nhọc lặn lội tìm đến tổ Đạt Ma, Thần Quang thiết tha vang xin thầy giải thích nỗi quằn quại khổ đau ray rứt của lòng mình. Nhưng Đạt Ma tổ sư vẫn ngồi điềm nhiên, im lặng nhin mặt vào tường; nét mặt lầm lỳ lạ lùng, không nói một lời, cũng không cảm động. Tư thế vẫn trơ trơ, thản nhiên một cách tàn nhẫn. 

Tuy vậy, Thần Quang vẫn không nản lòng. Nhà sư nghĩ rằng: 

“Người xưa tầm đạo chẳng thiết tha đến thân mạng. Nay ta chưa được một trong muôn phần của các ngài”. 

Lúc ấy, trời về mùa đông. Tuyết rơi không ngừng, phủ trắng xóa cả núi đồi. Thần Quang vẫn đứng thẳng trơ trơ trước sân, chấp tay hướng về Ngài. 

Đến sáng, tuyết rơi ngập cả đầu gối. Nhưng, gương mặt của Thần Quang vẫn sáng ngời, vẫn thản nhiên. 

Bồ Đề Đạt Ma quay lại hỏi: 

 -- Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết lạnh, ý định để cầu gì? 

Thần Quang thưa: 

 -- Con đến đây đề cầu đạo. Xin Ngài thương xót, xin cứu vớt một tâm hồn đau khổ. 

Bồ Đề Đạt Ma dạy: 

 -- Đạo lý vô thượng của Phật chỉ có thể cầu được là sau khi đã trải qua sức tinh cần của nhiều kiếp. Phải chịu đựng những gi khó chịu đựng nhất. Phải làm những việc khó làm nhất. Nếu cứ đem những đức nhỏ nhen, cái trí nông cạn, cái tên khinh mạn mà muốn cầu đạo vô thượng, quả là nhọc công vô ích, chẳng thu được gì. 

Khi nghe Đạt Ma dạy như thế, sư Thần Quang liền lấy cây thanh đao tự chặt cánh tay trái, rồi đem ra trình trước mặt thầy để tỏ lòng thiết tha vô hạn của mình. 

Tổ biết đây là pháp khí, liền dạy: 

 -- Chư Phật lúc bắt đầu cầu đạo, cũng vì pháp nên quên thân. Nay ngươi chặt cánh tay, đem để trước mặt ta, tâm cầu đạo như vậy, cũng khá.. 

Thần Quang thưa: 

 -- Bạch thầy, pháp ấn của chư Phật con có thể nghe được chăng? 

Bồ Đề Đạt Ma: 

 -- Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được. 

Thần Quang thưa: 

 -- Bạch thầy, tâm con chưa an, xin Thầy day phép an tâm cho. 

Đạt Ma tổ sư: 

 -- Ngươi đem tâm ra đây, ta sẽ an cho. 

Thần Quang sững sốt một hồi lâu rồi thưa: 

 --  Bạch Thầy, con tìm kiếm tâm, mà chẳng thấy đâu cả. 

Tổ sư: 

 -- Đó, ta đã an tâm cho ngươi rồi. 

(Vô Môn Quan – Taisho Daizasho – No: 2005)  

Phần đối đáp giữa tổ Đạt Ma và ngài Huện Khá (tức Thần Quang) bằng Hán văn như sau: 

Nhị tổ vân: 

 -- Đệ tử tâm vị an, khất sư an tâm. 

Ma vân: 

 -- Tương tâm lai vị nhữ an. 

Tổ vân: 

 -- Mích tâm liễu bất khả đắc. 

Ma vân: 

 -- Vị nhữ an tâm cánh. 

Sau khi được tổ Bồ Đề Đạt Ma nói: “Vị nhữ an tâm cánh” Thần Quang liền bỗng nhiên khế ngộ. Sơ tổ bèn đổi Thần Quang thành Huệ Khả. 

Sau nầy, Huệ Khả được truyền y bát và trở thành vị tổ thứ hai của Thiền tông Trung Hoa.

 

Kệ Phú Pháp Của Bồ Đề Đạt Ma  

Kệ phú pháp là những bài thơ ngắn, súc tích nói lên tính chất uyên áo của đạo thiền. Thông thường, mỗi vị tổ sư đều có lưu lại một bài kệ phú pháp. Lời mở đầu của bài kệ phú pháp thường nhắc câu: Nay ta trao lại cho ngươi kho tàng con mắt của Chánh pháp. Ngươi giữ gìn lấy. Phải ghi nhớ luôn. 

Bài Kệ của Tổ Đạt Ma như sau:

Ngô bổn lai tư sở,

Thọ pháp, cứu mê tình,

Nhất hoa khai ngũ diệp,

Kết quả tự nhiên thành.

 

Dịch:

 

Ta vốn qua Đông Độ,

Trao pháp, cứu mê tình,

Một hoa năm cánh trổ,

Trái kết tự nhiên thành. 

Giải thích: Kệ Phú pháp của 28 vị Tổ sư Thiền tông được ghi chép ở trong năm tác phẩm sau đây: 

1.- Truyền Pháp Chánh Tông Ký,

2.- Tục Pháp Ký (của Chí Cương Lương và Câu Na liên Xứ),

3.- Bửu Lâm Truyện,

4.- Thánh Trụ Chi,

5.- Truyền Đăng Lục (Đạo Nguyên). 

Các tác phẩm bị thất truyền. Chỉ có Truyền Đăng ục ghi chép lại đầy đủ; ngoài ra, còn có phần chú giải. Trong kệ phú pháp của tổ Đạt Ma, có ba sự kiện nổi bật và mỗi sự kiện lại biểu trưng cho một tình trạng đạo pháp: 

a.- Mê tinh: Ám chỉ cuộc tranh chấp tư tưởng của các Tăng đồ môn phái Phật giáo coi trọng hình thức, kinh điển, tôn sùng hình tướng. 

b.- Năm cánh trổ: Có thể ngụ ý tiên đoán Năm vị tổ sư thiền Trung Hoa thừa kế tổ Bồ Đề Đạt Ma là: Huệ Khả, Tăng Xán, Đạo Tín, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng. 

c.- Kết trái: Hậu vận cực thịnh của thiền tông Trung Hoa. D. T. Suzuki dẫn như sau:

- Có điều chăc chắn được xác nhận trong lịch sử là: Tôn chỉ của ngài Bồ Đề Đạt Ma từ khi du nhập vào Trung Hoa và gần 200 trăm năm sau khi Tổ viên tịch, đã được dân tộc nầy đồng hóa một cách tốt đẹp nhất, theo tinh thần đặc thù của họ. Thiền dưới hình thức hiện có, không thể chín muồi ở đâu khác, ngoài đất Trung Hoa. 

(Trích trong Manual of Zen Buddhism – Rider – London xuất bản 1950) 

 

Kệ Phú Pháp Số 2

 

Giang tra phân ngọc lãng,

Quảng cự khai kim tỏa,

Ngũ khẩu tương cộng thành,

Cửu, thập vô bỉ, ngã.

Dịch: 

Bè lau rẽ sóng ngọc,

Đuốc sáp mở khóa vàng,

Năm miệng cùng nhau bước,

Chín, mười không ta, người.  

Chú thích: Theo cổ truyện, bài kệ phú pháp nầy, báo trước ngày Tổ Đạt Ma viên tịch. Câu thứ ba, theo lối chiết tự như sau: 

Chữ Ngũ (năm) nằm trên chữ Khẩu (miệng) thành chữ Ngô (ta). Ý nói: Ta sẽ thâu thần vào cõi niết bàn tịch diệt (Vô bỉ, vô ngã) vào ngày Chín (cửu), tháng Mười (thập), nhằm năm Bính thìn (536), triều nhà Lương, tức Đại Thông thứ hai. Đó là ngày vía của tổ Đạt Lai La Ma. 

* * *

 

Các Môn Đồ Của Bồ Đề Đạt Ma

 

 

Sau chín năm Bích Quán (520 – 528), Sơ tổ muốn trở về Thiên Trúc, bèn gọi các Môn đồ đến bảo rằng: 

 -- Ngày ta lên đường cũng sắp đến, các ngươi thử trình xem Vốn Sở Đắc của từng người về phép tu thiền. 

Lúc đó, Đạo Phó bạch rằng: 

 -- Theo chỗ nhận định của đệ tử, chẳng chấp văn tự, chẳng lìa văn tự. Đó là chỗ sở dụng của Đạo. 

Sơ tổ bảo: Ngươi được phần Da của ta. 

Ni Tổng Trì bạch: 

 -- Chỗ hiểu biết của đệ tử ngay như A Nan (Khánh Hỷ) nhìn vào Phật A Súc (Bất Động) thấy một lần, rồi không thấy nữa. 

Sơ tổ bảo: 

 -- Bà được phần Thịt của ta. 

Đạo Dục bạch: 

 -- Bốn đại vốn không, Năm uẩn chẳng thật, chỗ thấy của đệ tử là không có gì sở đắc. 

Sơ tổ bảo: 

 -- Ông được phần Xương của ta. 

Sau cùng là Huệ Khả. Huệ Khả đảnh lễ Sơ tổ, như thế rồi đứng thẳng. Không nói lên thêm một điều gì nữa cả. 

Sơ tổ bảo: 

 -- Ông được phần Tủy của ta. 

 

Chú thích: Theo nhận định của Hsien Sung, trong bộ Chan1h Pháp Tương Truyền, thì ở đây tổ Bồ Đè Đạt Ma phỏng theo ngài Long Thọ, giải thích trình độ hiểu biết về thiền. Trong bộ luận nổi tiếng về kinh Bát Nhã, ngài Long Thọ có viết: 

Giới hạnh là Da,

Thiền định là Thịt,

Trí tuệ là Xương,

Diệu tâm là Tủy. 

Theo ngài Long Thọ, Diệu Tâm là cái mà đức Phật mật phú cho hàng đệ tử. Hsien Sung dẫn lời của ngài Trí Khải đại sư đời Tùy: 

 -- Tâm là chỗ của chư Phật, như Trung đạo, không phân biệt, chẳng phải tất cả, mà cũng không hề có ngôn từ nào mà phô diễn cho thích đáng. 

 

* * *

 

Giai Thoại Đạt Ma Xách Dép: 

Truyền Đăng Lục có chép: 

 -- Ngày mồng Chín tháng Chín năm Bính thìn, nhằm niên hiệu Đại Thông, năm thứ hai, nhà Lương (529 TL.), Ngài ngồi an nhiên thị tịch. 

Đến ngày 18 tháng 12 năm ấy, làm lễ đưa nhục thân của ngài nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ. 

Về sau, vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ sang Ấn Độ. Khi Tống Vân trở về, gặp Ngài tại núi Thông Lãnh, thấy Ngài trên tay có xách dép, một mình đi như bay. 

Tống vân hỏi: 

 -- Thầy đi đâu? 

Ngài đáp: 

 -- Ta về Tây phương. 

Ngài còn nói thêm: 

 -- Chủ ông đã chán đời rồi. 

Tống Vân lấy làm nghi hoặc, từ giả Ngài, trở lại triều đình. Đến triều, thì vua Minh Đế đã băng hà. Hiển Trung Đế lên kế vị. Ông đem việc ấy tâu lại cho tân vương nghe, nhà vua ra lệnh mở tháp và mở nắp quan tài. Quả nhiên, quan tài trống không, chỉ cnò một chiêc dép. Vua sắc chỉ, cho đưa chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm. Đến nay đã thất lạc. Vua phong Thụy hiệu Ngài là Viên Giác thiền sư, pháp hiệu là Không Quán. 

 

Đạt Ma Cắt Mí Mắt: 

Theo tài liệu của Alan W. Watts (The Way of Zen) kể lại thì: Có một lần nọ, trong khi đang thiền, Bồ Đề Đạt Ma bỗng ngủ gục. Ngài nổi giận liền cắt mí mắt. Những mí mát ấy rơi xuống đất và mọc thành những cây trà đầu tiên. Cũng dựa vào chuyện đó, ta thấy: 

 -- Những vị thiền sư thường dùng trà để uống cho khỏi buồn ngủ, trí óc được sáng suốt, tỉnh táo. 

 -- Người Nhật thường quan niệm: Trà và Thiền đều giống nhau. 

 -- Trà đạo đã trở thành một nghệ thuật.  

Tán Thán Bồ Đề Đạt Ma: 

“Chư Phật đã từng xuất thế,

Cũng không một pháp trao cho người,

Tổ sư Đạt Ma chẳng từng qua đây,

Cũng chưa hề lấy tâm truyền thọ,

Bởi người đời nay không rõ, nên mãng lo cầu ngoài.

Sao không tự biết dưới gót chân mình, chẳng dứt hết đại sự nhơn duyên, liền thành đừng dính líu?

Chỉ nên như ta nay: Thấy mà chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, nói mà chẳng nói, biết mà chẳng biết.

Cầu gì mới được chứ?”. 

 

Hòa thượng Phật Quả Viên Ngộ.

 

 

* * *

 

Kế Thừa Tổ Bồ Đề Đạt Ma

 

Trước thế kỷ thứ sáu, sau tây lịch, khi thiền tông chưa bành trướng sang Trung Hoa. Thiền tông thường bị chỉ trích là: 

“Đi quá xa với chơn truyền của đức Thế Tôn. Bằng chứng vào các bộ kinh A Hàm và Nikayas”. 

Trên thực tế lịch sử, thiền tông là sản phẩm của Trung Hoa (sau thế kỷ thứ sáu). Đây là vùng khai triển thiền, theo đúng nghĩa thâm chứng của vị nhị tổ Ấn Độ. Trong cuốn Manual of Zen Buddhism có đoạn: 

“Trừ phi thiền được nhận định, theo thế thường quan niệm với đạc tính tâm lý của dân tộc Trung Hoa; bằng không, không sao hiểu nổi được về thiền trong hàng Phật tử Trung Hoa” (Suzuki). 

Tóm lại, thiền là một ngành của Phật giáo Đại thừa, sau khi đã tước bỏ đi lớp áo của Ấn Độ. 

Thiền tông Trung Hoa bắt đầu từ cuộc du hóa Đông Độ của tổ Bồ Đề Dạt Ma, người đã sáng lập pháp môn thiền ở đây. Tại vùng nầy, vì có nhiều yếu tố khách quan thích hợp, thiền đã được chín muồi. 

Lần lượt, thiền được trao truyền qua Năm vị tổ, sau ngày viên tịch của người truyền pháp du nhập từ Ấn. 

Mãi cho đến Lục tổ Huệ Năng (638 – 713) bắt đầu truyền thánh giả thiền tông không còn mang bản sắc của Ấn Độ nữa, mà hoàn là tinh thần và đặc chất Trung Hoa (Nhất hoa khai ngũ diệp, kết quả tự nhiên thành – Bài kệ Phú pháp của Tổ Đạt Ma). Dòng thiền Trung Hoa được thừa kế qua chư tổ sau đây: 

Giáo ngoại biệt truyền,

Bất lập văn tự,

Trực chỉ chơn tâm,

Kiến tánh thành Phật.

Dịch: 

Truyền riêng ngoài giáo,

Chẳng lập văn tự,

Chỉ thẳng tâm người,

Thấy tánh thành Phật. 

Bốn truyền ngữ nầy tương tự như bốn quy tắc của Nhật Liên Tông, một tông phái của Nhật Bản, do ngài Nhật Liên (1222 – 1282) khởi xướng. Đây là tóm lượt tất cả yếu chỉ của thiền tông. 

Khi phân tích yếu chỉ nầy, điều cần nhất là căn cứ vào một bối cảnh lịch sử và xã hội để biét cách phản ứng theo chủ trương mạnh bạo, cách mạng như thế. Bối cảnh đặc thù ấy như sau: 

Khi thiền tông mới du nhập vào Trung Hoa (528), đa số các tông phái Phật giáo tại đây đều bị lối cuốn vào những cuộc tranh luận siêu hình về giaó pháp vô thượng. Có môn phái chủ trương phụng trì giới hạnh. Có môn phái mãi mê quán theo pháp vô thượng; hiểu theo danh số, hành theo sự tướng. thực chất thì, đó chỉ là cái vỏ bên ngoài, chì là phương tiện để diễn tả chơn lý (Ngón tay chỉ mặt trăng). 

Các dòng suy luận đó đi vào huyền học, chỉ là một phép luyện trí suông, một pháp môn luyện huyền ảo. 

Chính tổ Bồ Đề Đạt Ma và các tổ kế thừa nhận định sự bi đát của Phật giáo đến độ băng hoại. Vậy, chỉ thẳng là phương cách về nguồn. Bốn danh ngôn trên đây sáng tạo trong hoàn cảnh ấy. 

Trên một bình diện khác, còn mang ý nghĩa: Thiền là chỉ thẳng vào thể tánh. Thấy tánh là thành Phật, là chứng nhập trong trạng thái siêu tuyệt, thuần nhất. Thiền dung thông tất cả mâu thuẩn, tất cả hỗn loạn, do trí thức gây nên. 

Một thiền sư nói: 

 -- “Gậy mình gánh vác, đường mình mình đi, giữa đồi núi chập chùng”, cũng không ngoài nhận thức ấy. 

Thiền nhằm chỉ thẳng. Thiền không giải thích. Thiền không dùng pháp quy nạp. Thiền không viện dẫn lối lập luận quanh co. 

Xét về mặt luân lý, dường như thiền chứa nhiều mâu thuẩn, đối với nhãn quan thuần lý. Thực ra, vì siêu việt trên tất cả, thiền cứ thẳng mà đi, thật thanh thản, thật nhẹ nhàng. 

Bài tụng của tổ Đạt Ma trước khi viên tịch mang ý nghĩa đó. 

Giang tra phân ngọc lãng,

Quảng cự khai kim tỏa,

Ngũ khẩu tương cộng thành,

Cửu, thập vô bỉ, ngã.

Dịch: 

Bè lau rẽ sóng ngọc,

Đuốc sáp mở khóa vàng,

Năm miệng cùng nhau bước,

Chín, mười không ta, người.

 

* * * 

Đạt Ma Tổ Sư Thiền 

Định danh: Đạt Ma tổ sư thiền là phương pháp tọa thiền của Bồ Đề Đạt Ma suốt chín năm Bích Quán ở chùa Thiếu Lâm, Tung Sơn. 

Cách truyền day: Khác với loại Thiền Tam Muội, căn cứ theo kinh sách của Phật Tổ. Loại thiền nầy không căn cứ vào kinh giáo, không có văn tự. 

Đây là loại thiền “Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự” tỉ như trực chỉ của: Như Lai thanh tịnh thiền, tư tánh thanh tịnh thiền, Như Lai tối thượng thừa thiền ... 

Nhìn chung có hai lối: 

1.- Tham cứu một câu thoại đầu: Thoại đầu là một câu nói thiền. Thoại đầu là một công án, nghĩa là một đề án, gồm một câu rất ngắn, thật súc tích; bao hàm ý nghĩa rất sâu xa, uyên áo. Thành thử, đối với một nhận thức nông cạn, không thực hành, khó mà lãnh hội được thoại đầu. 

Thoại đầu và ấn chứng: Trong thiền tông, khi vị tổ sư nhận thấy trong hàng đệ tử của mình, có một vị xuất chúng, có thể bảo vệ được giềng mối, tiếp nối được sự nghiệp, tỏ ngộ đạo mầu, thì vị tổ trao cho người đệ tử ấy một câu thoại đầu. Người học trò được tổ trao câu thoại đầu ấy thì phải tham cứu tường tận, phải hiểu rõ cái nghĩa uyên áo, sâu sắc của nó. Thời gian có thể dài ngắn không chừng, là vì tùy theo trình độ và công phu luyện tập, có khi từ mười đến hai mươi năm mới tỏ ngộ được. Khi vị đệ tử đã tỏ ngộ (Qua hành đạo và nhận thức) thì vị tổ sư mới ấn chứng cho. 

2.- Các hình thức khác: Thông thường, các vị thiền sư chính thống (sau tổ Bồ Đề Đạt Ma) thường dùng những lối: 

Nói ngược, nói vượt qua, nói chối bỏ, hét, im lặng, hỏi ngược, lý luận vòng tròn, phép chỉ thẳng, ... 

* * *


 

Phần dịch âm và ghi chú:

 

Dịch âm Nguyên văn: 

- “Đạt Ma tùng hải đạo lai Trung Quốc, do nam nhi bắc, giá thị nhứt trí đích truyền thuyết.

Đàm Lâm tự phiếm thuyết: “Viễn thiệp sơn hải du hóa Hán Ngụy ...”. Hán dữ Ngụy, tựu thi đương thời đích Nam Phương dữ Bắc Ngụy.  

Tục Tăng Truyện: Khước thuyết đắc cánh cụ thể: Sơ đạt tống cánh Nam Việt, mạc hựu bắc độ chí Ngụy. Tùy kỳ sở chỉ, hối dĩ thiền giáo. Tối sơ đáo đạt Trung Quốc, thời đại Hoàng thị Lưu Tống (420 – 478). (*) 

Đăng Lục đích địa phương Nam Việt, vi kim Hải Nam đảo đích đối ngạn địa phương. Đạt Ma tại tứ thất bát niên dĩ tiền, tảo tựu đáo liễu Trung Quốc, mạc liễu tài quá giang đáo Bắc Ngụy. Na tại Giang Nam chi nhứt đới, Đạt Ma ứng hữu nhứt trường kỳ đích đậu lưu ...”. 

(*) Chỗ nầy chỉ rõ cho chúng ta biết: Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã đến Bắc Việt của nước ta, trước khi qua đảo Hải Nam và vào Trung Quốc.  

Tạm dịch: 

 -- “Đạt Ma Tổ Sư đến Trung Quốc bằng đường biển. Ngài đi từ Nam xuống Bắc. Đây là truyền thuyết xưa nay.

Theo lời tựa của sách Đàm Lâm nói:

 -- “Ngài du hóa Hán Ngụy, từ các vùng xa như núi và biển”. Hán Ngụy đương thời là chỉ cho Nam Phương và Bắc Ngụy.  

Sách Tục Tăng Truyện lại nói rõ ràng và cụ thể hơn:

 -- “Ban đầu, Đạt Ma đến nước Tống và Nam Việt. Rồi sau đó, Ngài mới đến Bắc Ngụy. Nơi đây, Ngài đã dừng chân giáo hóa đạo thiền. Lúc ban đầu, Đạt Ma đến Trunbg Quốc chính là thời đại Lưu Tống (420 – 478); nơi tổ Đạt Ma đạt chân lên bờ Nam Việt. Chính là giải đất đối diện với Hải Nam ngày nay (Điều nầy chứng tỏ xác ngàn Ấn Thuận khi viết Trung Quốc Thiền Tông Sử đã nhận rằng: Ngài (Bồ Đề Đạt Ma) đã tới Bắc Việt), đối diện với đảo Hải Nam). 

Trước năm 478, Đạt Ma sớm đã đến Trung Quốc. Rồi sau đó, ngài mới vượt sông để đến Bắc Ngụy. Sông nầy là sông Giang Nam, nơi đây Đạt Ma đã dừng chân một thời gian lâu để truyèn đạo ...”. 

Ghi chú: Xin quý vị lưu ý cho: Chúng tôi chỉ âm phần chữ Hán có liên quan đến vấn đề ngài Bồ Đè Dạt Ma đến Việt Nam (Bắc Việt- đối diện với đảo Hải Nam), mà thôi. Chúng tôi không âm hết toàn trang chữ Hán.

---o0o---

 

Phần 1 > Xem phần 2

 

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-1-2006


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Danh Nhân Thế Giới >>