categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.



Cảm niệm ngày Phật thành đạo
Thích Nguyên Tạng

--- o0o ---

Hằng năm cứ mỗi độ cuối đông, toàn thể Phật giáo đồ trên khắp năm châu bốn bể, đều long trọng tổ chức lễ kỷ niệm ngày Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo (vào ngày mùng tám tháng mười hai âm lịch). Thật vậy cách đây hơn hai ngàn năm trước, sau sáu năm khổ hạnh tu tập, Đức Bổn Sư của chúng ta đă chứng đạo dưới cội Bồ Đề, thuộc vùng Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) gần thị trấn Gaya (nay là Bodhgaya - Bồ Đề Đạo Tràng), tiểu bang Bihar, đông bắc Ấn Độ.

Sự giác ngộ, chứng đạt chân lư tối thượng của Ngài là một sự kiện vô cùng trọng đại, một chương mới mở ra cho lịch sử tư tưởng của nhân loại, một ánh sáng chân lư mới xuất hiện ở đời này. Nhân ngày kỷ niệm thành đạo của Ngài, chúng con cần ôn lại một vài điều quanh sự kiện giác ngộ của Ngài để nhắc nhở, củng cố thêm niềm tin Chánh Đạo của ḿnh trên bước đường tu tập.

 

Pháp tu khổ hạnh

Trải qua một thời gian dài lang thang khắp lưu vực sông hằng để cầu học những bậc Thầy danh tiếng, rồi cuối cùng khép ḿnh vào những kỷ luật khắc khe nhất trên thế gian. Đó là theo pháp tu khổ hạnh, chỉ ăn mỗi ngày một hạt kê, một hạt mè, và uống một ngụm nước, để sống cầm hơi trong suốt sáu năm dài, nhưng Ngài vẫn không thấy ánh sáng giác ngộ qua lư thuyết và cách thực hành ấy. Thân h́nh đẹp đẽ, tráng kiện xưa kia, nay trở thành suy nhược, da xanh nhợt nhạc, máu cạn, gân rút, thịt teo, mắt mờ, chỉ c̣n lại bộ da bộc xương, cái chết đang tiến đến gần, nên Ngài đă từ bỏ Khổ hạnh lâm (Dungsiri) và thay đổi pháp môn tu khác, Ngài chọn con đường Trung đạo để t́m đến áng sáng giác ngộ.

Tiếp đó Ngài đến sông Ni Liên Thiền (Neranjara), tắm rửa sạch sẽ để sửa soạn cho một cuộc hành tŕnh mới. Hành động tắm gội ở đây là một biểu tượng cho quyết tâm loại bỏ một pháp tu lệch lạc và bắt đầu một cuộc t́m kiếm chân lư khác. Để khởi đầu lộ tŕnh này, không ǵ hơn là phải tẩy sạch tất cả những bụi bặm trên thân xác và tinh thần của Ngài.

 Ngài khó khăn lắm mới bước được lên bờ và nhận được một bát sửa của nàng Sujata (Tu-sà-Đa) dâng cúng. Không ai rơ lư do nào mà nàng Sujata, một người con gái của vị Trưởng làng Tuna gần đó, dâng tặng bát sửa cho Ngài, tuy nhiên, chính nhờ bát sửa ấy mà Đức Phật đă nhanh chóng lấy lại sức khỏe và sinh lực, để tiếp tục con đường c̣n lại cho tiến tŕnh t́m kiếm chân lư của ḿnh. Tiếp đó, Ngài cũng nhận được một bó cỏ Cát tường của Svastika, một cậu bé chăn trâu trong làng, Ngài tự tay trải làm tọa cụ dưới cội Tất Bát La (ngày nay gọi là Bồ Đề) và ngồi kiết già, quay mặt về hướng Đông và phát một lời đại nguyện rằng: “Thân tứ đại này dù mai kia có biến thành cát bụi, nhưng Đạo quả chưa đạt thành, ṭa cỏ này quyết không đổi thay”.

Sau khi phát lời đại nguyện xong, Đức Phật bắt đầu thiền tọa dưới cội Bồ đề, với tư thế ngồi “liên hoa” hay “kiết già”, đây là cách ngồi tiêu chuẩn của pháp môn Thiền Định. Ở tư thế này, hai chân bắt chéo, bàn chân này nằm ngửa trên ḷng bàn chân kia, hai tay thu trước bụng, ḷng bàn tay ngửa, tay trái đặt trên tay phải. Đây là tư thế ngồi được xem là ổn định nhất, vững chắc nhất, giúp cho ta có cảm giác chắc chắn, đôi tay và đôi chân luôn được kiểm soát và tâm trí không bị buông thả.

Ngài đă trải qua bảy tuần lễ tu tập thiền định như thế, quán chiếu nội tâm, thấy rơ được thật tướng của vạn pháp là vô ngă giai không, và cuối cùng, đêm thứ bốn mươi chín, trong trạng thái đại định, với tâm thanh tịnh, Ngài đă chuẩn bị bước vào ngôi vị chứng đắc th́ Ma Vương (Màra) xuất hiện cản trở tiến tŕnh tu tập của Ngài.

 

Nhiếp phục Ma Vương

Trong giáo lư nhà Phật rất thường đề cập đến vấn đề Ma vương (Màra) (1)  và cho rằng đây là một loại thử thách khó khăn hàng đầu trước khi đạt được Chánh quả. Ở đây việc cám dỗ của Ma vương có tầm quan trọng lớn lao đối với việc hiểu được Phật, bởi v́ Đức Phật đă bước lên ngôi vị Chánh Đẳng Giác chỉ sau khi đánh bại được sức mạnh cám dỗ của Ma vương và đạo quân của chúng.

Trong Kinh mô tả rằng, lúc Đức Phật sắp bước vào ngôi vị Phật Vương, Ma Vương tỏ ra hăi hùng, v́ sợ mất tầm ảnh hưởng thống trị của chúng, nên đă t́m cách ngăn cản, không cho Ngài chứng đạo và chuyển pháp luân :

“Này đạo sỹ, thân thể của ông gầy c̣m, da dẻ xám xanh, gần kề với cái chết. Cơ may sống c̣n của ông là một phần ngàn, ông phải sống, v́ có sống mới có thể làm được việc có ích. Dù ǵ đi nữa, những nỗ lực của ông hôm nay cũng hoài công vô ích, v́ con đường đến với chân lư là gian khổ, đau đớn và không bao giờ đến được”. (Lược theo Sutta Nipata – Padhana Sutta)

Nói xong, Ma vương đă tiến hành biến hóa ra trăm ngàn ma quỷ để tấn công nhằm khuất phục được Phật, nhưng Phật không chút sợ hăi hay dao động. Đức Phật đă lên tiếng để nhiếp phục vị Ma Vương này như sau :

“Này Ma Vương, ngươi đến dây chỉ v́ mục đích  riêng của các ngươi. Ta không cần danh vọng, ngươi hăy nói những điều đó với những kẻ hám danh vọng. Ta có niềm tin, ḷng dũng cảm và trí tuệ. Tại sao ngươi lại đ̣i ta phải sống giống như mọi người ? (…). Khi xác thịt hao ṃn, tâm ta trở nên an tịnh. Khi ta sống như vậy, ta đạt được cảm thọ cuối cùng, tâm ta không c̣n tham dục. Hăy biết rằng sự thanh tịnh luôn ở nơi ta. Tham dục là ma quân thứ nhất của ngươi. Hai là đố kỵ. Ba là đói khát. Bốn là ái dục. Năm là hôn trầm, thùy miên (lười biếng, uể oải). Sáu là sợ hăi. Bảy là hoài nghi. Tám là phỉ báng và cố chấp. Chín là sự thành đạt, danh tiếng, và vinh quang. Mười là tự khen ḿnh và khinh chê kẻ khác. Này Ma Vương, đội quân của nhà ngươi là thế, chúng luôn trú ẩn trong những con người xấu xa đê tiện, kẻ hèn yếu sẽ không thể nhiếp phục được chúng, nhưng nếu hàng phục được chúng sẽ đạt được chân hạnh phúc. Ta thà chết vinh trong chiến trận c̣n hơn sống mà thất bại…”.   (Lược theo Sutta Nipata – Padhana Sutta)

Nhằm muốn đè bẹp Đức Phật, nên Ma Vương đă thay đổi chiến thuật dữ dội hơn, bằng cách cho các ái nữ xinh đẹp nhất để cám dỗ hầu lôi kéo Phật trở về với chúng, nhưng dưới con mắt thanh tịnh của Phật các nàng đều biến thành xấu xí và bất tịnh. Cuối cùng Ma vương đành thối lui và tuyên bố rằng: “Sau bảy năm đă theo đuổi bước chân chàng trai ḍng họ Thích, ta vẫn không sao t́m cách để vào phá được vị Đại giác siêu phàm này. Giống như chú quạ bay qua một mỏm đá lại mơ tưởng đó là miếng mồi béo bở, ngọt ngào. Làm sao thấy được vị ngọt ở nơi mỏm đá ấy, quạ phải bay đi…”. (Lược theo Sutta Nipata – Padhana Sutta). 

 

Ánh sáng Giác Ngộ

Sau khi chinh phục được ma quân, Đức Phật đă từng bước đi vào bốn tầng bậc thiền để tiến đến giác ngộ. Pháp thiền này giúp cho tâm trí hành giả có khả năng đạt được giác ngộ. Bốn giai đoạn thiền này được mô tả trong Kinh Trung Bộ như sau: Giai đoạn thứ nhất: (sơ thiền) là loại bỏ dục vọng và các bất thiện pháp và đạt được trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh. Giai đoạn thứ hai, (nhị thiền): diệt trừ tạp niệm, phát triển nội tỉnh và nhất tâm, đạt được trạng thái hỷ lạc do định sanh. Giai đoạn thứ ba, (tam thiền): vượt qua niềm hỷ lạc, đạt đến b́nh thản và an lạc. Giai đoạn thứ tư, (tứ thiền): diệt trừ các cảm thọ lạc và khổ, đạt tới cảnh giới thanh tịnh không c̣n vui buồn, âu lo và hoan hỷ.

Sau khi tinh thông qua bốn tầng thiền trên, tâm trí của Đức Phật trở nên sáng suốt, thanh tịnh và linh hoạt một cách lạ thường, hướng tâm đến Tam Minh (Te-vijja), Ngài  thấy rơ được chân tướng, gốc rễ của khổ đau, Ngài biết rơ rằng:

“do cái này có, nên cái kia có; do cái này sanh mà cái kia sanh; do vô minh có hành, do hành có thức, do thức có danh sắc, do danh sắc có lục nhập, do lục nhập có xúc, do xúc có thọ, do thọ có ái, do ái có thủ, do thủ có hữu, do hữu có sinh, do sinh có lăo tử và sầu bi khổ ưu năo“.

Do quán chiếu như vậy mà Ngài đă bước vào quả vị thứ nhất, Túc Mệnh Minh (Pubbe-nivàsànussati Nàna) vào canh đầu (khoảng chín giờ tối đến nửa đêm) Ngài nhớ lại tất cả những kiếp quá khứ mà Ngài đă trải qua.

Sau khi loại bỏ được màn vô minh dầy đặc của bóng đêm quá khứ khổ đau sinh tử, Ngài đạt đến Thiên Nhăn Minh (Cutùpapàta Nàna) ở canh thứ hai, thấy rơ những đời sống quá khứ của hết thảy chúng sanh với hành nghiệp thiện và ác của họ. Ngài biết rằng một người do hành động, lời nói và ư nghĩ hướng đến điều ác xấu, th́ kết quả khổ đau, cay đắng sẽ đeo đuổi họ như cổ xe luôn theo sau con vật kéo. Cũng một người với hành động, lời nói và ư tưởng hướng điều thiện lành, có đức tin chân chánh, có nếp sống lành mạnh, kết quả an lạc và hạnh phúc sẽ đến với người ấy như bóng theo h́nh. Với loại trí tuệ này, Ngài thấy rơ được t́nh trạng tan ră và nhóm hợp trở lại của chúng sanh.

Đến canh cuối, Đức Phật tác ư nghịch chiều duyên khởi như sau :

“Do cái này không có, nên cái kia không có, do cái này diệt, nên cái kia diệt, do vô minh diệt nên hành diệt, do hành diệt nên thức diệt, do thức diệt nên danh sắc diệt, do danh sắc diệt nên lục nhập diệt, do lục nhập diệt nên xúc diệt, do xúc diệt nên tho diệt, do thọ diệt nên ái diệt, do ái diệt nên thủ diệt, do thủ diệt nên hữu diệt, do hữu diệt nên sinh diệt, do sinh diệt nên lăo tử và sầu bi khổ ưu năo diệt”.

Lúc ấy ánh sao mai vừa ló dạng, Ngài ngộ được chân lư tối thượng, chứng đắc Lậu Tận Minh (Àsavakkhaya Nàna), đoạn tận gốc rễ của lậu hoặc (2). Và khi sao mai hửng sáng rơ ràng, Ngài cảm thấy sức sống của ḿnh như bừng nở và trong chớp nhoáng Ngài nhận ra cái hiện thực tối thượng của mọi sự vật, trong khoảng khắc ấy Ngài chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (3), trở thành Phật (4), một vị giác ngộ ngay giữa cơi đời khổ đau này, cánh cửa bất tử   (the door of deathlessness) đă mở cho tất cả chúng sanh từ thời điểm ấy, trang sử Phật cũng bắt đầu từ đấy, con đường giải thoát và giác ngộ mà trước đây chưa một ai t́m thấy, nay đă hiển lộ. Ngài liền nói cảm giác vui sướng của ḿnh rằng : “Giải thoát đă đạt trọn vẹn, đây là đời sống cuối cùng, sẽ không c̣n tái sanh nữa” (My emancipation is assured, this is my last birth, there will be no more re-becoming) (MN 26.21).

Ngài cũng đề cập đến cảm tưởng sau khi đạt giác ngộ như là ḿnh như vừa thoát khỏi ngục tù:

 “Lang thang bao kiếp sống

Trong sanh tử luân hồi

Ta t́m nhưng chẳng gặp

Người xây dựng nhà này

Tái sanh thật khổ thay.

Ôi người làm nhà kia

Nay ta đă thấy ngươi

Ngươi không làm nhà nữa,

Đ̣n tay ngươi găy rồi

Kèo cột người tan nát,

Tâm ta đạt an ổn

Tham ái thảy tiêu vong”
(Pháp Cú 153 & 154).


(Through many births I have wandered in the samsàra round
Seeking, but not finding the buider of the House,

Painful is birth again and again.
O House Builder, I have seen you. You shall build no house again,

All your rafters are broken and your ridge – pole is shattered.

The mind ar rest in Nibba2na, has attained the destruction of cravings)

(Dhammapada verse 153 – 154)

Lúc ấy trời đất hân hoan, chim chóc reo vui, chư thiên trong mười phương rải hoa cúng dường, chào đón Đức Thế Tôn, bậc Thầy của chư thiên và loài người vừa xuất hiện. Thật đúng là:

Đêm trăng tṛn ánh sao mai vừa điểm

Cây Bồ Đề rực rỡ ánh hào quang

Khắp nơi nơi ngào ngạt tỏa thiên hương

Nhạc thành đạo cả bầu trời vang động

Sáu ngă luân hồi vui không xiết kể

Mười phương hướng về chào đón Thế Tôn

Hoa Từ Bi ḷng người đều bừng nở.

(Thơ của Thích Quảng Thiệp)

Đêm ấy là ngày trăng tṛn tháng Tithakhu (theo lịch của Ấn Độ), tức nhằm ngày mùng tám tháng 12 theo lịch của Trung Hoa. Đó là năm Ngài 35 tuổi, đúng vào năm 590 trước Tây Lịch, tại tụ lạc Ưu Lâu Tần Loa (Uruvelà), cách thành phố Già Da (Gaya) về phía Đông Nam khoảng 7 dặm, thuộc nước Ma-kiệt-đà (Magadha). V́ lư do ấy, nơi đó về sau nơi này được gọi là Phật Già Da (Buddha-Gaya), ngày nay gọi Bồ Đề Đạo Tràng (Bodh-Gaya) thuộc tiểu bang Bihar, đông bắc Ấn Độ.

 

Kể từ thành đạo Bồ Đề

Sau khi Đức Phật thành đạo, ánh sáng giác ngộ của Ngài đă chiếu khắp mọi nơi, hàng vạn người dân Ấn, từ sỹ, nông, công, thương, mọi tầng lớp của xă hội Ấn đều thừa hưởng được kết quả giác ngộ của Ngài. Đến cuối đời của Ngài, Chánh Pháp đă có mặt ở khắp Ấn Độ và lan tỏa đến các quốc gia láng giềng. Từ hạ lưu của sông Hằng đi về phía đông, phía nam tới bờ sông Caodaveri, phía tây tới bờ biển Arập, phía bắc tới khu vực Thaiysiro, đâu đâu cũng có sự ảnh hưởng của giáo lư Phật Đà, và người dân nơi ấy sống trong sự ḥa b́nh và hạnh phúc. Trong triều đại của Hoàng Đế Asoka thuộc vương triều Maurya (thế kỷ thứ 3 trước TL), Phật giáo đă bắt đầu truyền bá sang các vùng biên giới của đại lục, đông tới Miến Điện, Nam tới Tích Lan, tây đến Xyri, Ai Cập…. Và cuối cùng Phật giáo đă nhanh chóng trở thành một tôn giáo thế giới.

Phật giáo Nam Truyền (Theravada) xuất phát từ miền nam Ấn độ, Phật giáo được truyền sang Tích Lan, rồi từ Tích Lan truyền qua Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào…. Đạo Phật Nam Truyền được lan tỏa đến các nước Miến Điện, Thái Lan, Lào… PG tại các quốc gia này tụng Kinh bằng ngôn ngữ Pali.

Phật Giáo Bắc Truyền (Mahayana), từ miền Bắc Ấn Độ vượt qua dăy núi Hindu và sông Amua ở miền Trung Afghanistan, rồi vượt qua cao nguyên Pamia, vào Tân Cương Trung quốc, từ đó đến Hà Tây, Trường An và Lạc Dương. Tiếp đó PG từ Trung Hoa truyền đến các nước lân cận như Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Và một con đường khác là từ Ấn Độ truyền sang Nepan, vượt qua dăy núi Hymalaya, vào Tây Tạng, rồi từ Tây Tạng truyền vào một số tiểu quốc của Trung Hoa và một số vùng thuộc bộ tộc Buryat của Mông Cổ và Xiberi. PG trong các quốc gia này tụng Kinh phần lớn bằng ngôn ngữ Sanskrit hoặc được dịch sang tiếng mẹ đẻ của ḿnh.

Và đến cuối thế kỷ thứ 18, Đạo Phật được chính thức truyền sang các nước Châu Âu  (1788) và Châu Mỹ (1875), và đến cuối thế kỷ thứ 20, PG lại được truyền qua Châu Phi. Như vậy Chánh Pháp đă có mặt ở khắp hoàn cầu tính cho tới thời điểm này.

 

Lời kết

Quả Vô Thượng Chánh Đẳng Giác của Đức Phật, cuộc đời của Đức Phật là một minh chứng hùng hồn, một cảm hứng tuyệt vời cho tất cả chúng ta. Ngài là một nhà triết học và một nhà tư tưởng vĩ đại nhất của nhân loại. Qua kho tàng kinh điển của PG, ta thấy rằng Đức Phật không đơn giản chỉ là một nhà lănh tụ tôn giáo kiệt xuất, một triết gia, một nhà xă hội, một nhà giáo dục, mà c̣n là thầy thuốc thiên tài trong trường đời, có khả năng chữa khỏi tất cả các loại bệnh trên thế gian này. Chúng ta cần phải khắc sâu h́nh ảnh của Ngài, nếu không chúng ta sẽ lúng túng trước một kho tàng giáo lư khổng lồ do chính Ngài diễn giảng về con đường tu tập và kết quả chứng đắc liên quan.

Quả thật vậy, ngày nay khi bàn về câu chuyện thành đạo của Ngài chúng ta vô cùng lúng túng, khó hiểu, khó thấu, khó đạt được trọn vẹn trên mặt văn tự, huống hồ việc áp dụng, chứng đạt như Ngài.

Biết rơ điều này, nên Đức Phật đă hơn một lần trấn an cho chúng ta rằng: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Ta là Phật đă thành và các con là Phật sẽ thành”. Trên tinh thần đó, không ǵ hơn là chúng ta phải bắt tay vào việc, tu học và thực hành theo giáo pháp mà Ngài đă để lại. Nếu học đúng và áp dụng đúng pháp, chúng ta sẽ chứng đạt như Ngài.

Tóm lại tu tập và đạt được giác ngộ, giải thoát là giấc mơ bất tận của mọi đệ tử Phật. Dù biết rằng con đường ấy quả thật đầy chông gai và thử thách, nhưng không phải chúng ta không có, không đủ khả năng để đạt được, vấn đề là mỗi người chúng ta có khởi sự ngay từ bây giờ hay là không. Nguyện cầu cho tất cả chúng ta có đủ sức khỏe, nghị lực và quyết tâm để tiếp tục theo đuổi con đường mà Đức Phật đă đi qua và thành đạt hơn hai ngàn năm trước.

Melbourne, Mùa Thành Đạo 2000

Thích Nguyên Tạng
quangduc@eisa.net.au


 

 Ghi chú : 

(1)   Màra (Ma Vương) nghĩa là kẻ giết chóc, kẻ hủy diệt. Màra là hiện thân của thần chết, tượng trưng cho thế lực ngăn cản con người muốn đạt được giác ngộ, muốn làm điều tốt (Kushala) hay muốn tiến bộ trên con đường giác ngộ. Ma Vương, tên là Ba Tuần, được xem là vua của tầng trời thứ sáu của Dục giới (Desire realm). H́nh tượng của Ma Vương được mô tả là có 100 cánh tay, cưỡi voi. (Lược theo The Encyclopedia of Eastern Philosophy and Religion, USA, 1989). C̣n theo quan điểm của Đại Thừa th́ Bồ Tát dùng thần lực phương tiện lớn, hiện ra làm ma vương để giáo hóa chúng sanh. Mặt khác, trong giáo lư Đạo Phật không xem ma quỷ là một thế lực ghê gớm ở bên ngoài mà chính là những thế lực xấu ác luôn trú ẩn đâu đó trong mỗi con người, đó chính là: Phiền năo ma, Ngũ ấm ma, Pháp hành ma, Tử diệt ma và Chư thiên ma.

(2)   Lậu Hoặc: Lậu (àsava) là chỉ cho phiền năo. Thân tâm thấm trược phiền năo tham sân si, sự tiết lộ làm cho thân tâm nhiễm ô v́ cảm xúc Lục căn với Lục Trần. Lậu có 3 thứ là Dục lậu (Kàmàsava - sự nhiễm ô qua dục), Hữu lậu (Bhavàsava - sự nhiễm ô qua sự tồn tại) và Vô minh lậu (Avijjàsava- nhiễm ô qua vô minh). Đoạn tận ba lậu trên sẽ đắc quả A-la-hán. Kinh Niết Bàn viết: "Phiền năo là các mối lậu. Đức Như Lai dứt hết tất cả các phiền năo". Hoặc là chỉ cho cái tâm mê vọng, chấp vào cảnh sở đối mà bị điên đảo, vọng. Hoặc cũng đồng nghĩa với phiền năo, lậu, cấu, kiết sử. Hoặc có 3: Kiến tư hoặc (chỉ chung cho phiền năo trong tam giới, là nguyên nhân khiến chúng sanh phải chịu sinh tử luân hồi); Trần sa hoặc (các mối kiến tư của chúng sanh nhiều như cát bụi) và Vô Minh hoặc (đối với tất cả các pháp không thông hiểu, v́ nặng nghiệp chướng, căn bản phiền năo ăn sâu).

(3)   Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác: viết theo tiếng Phạn là Anuttara Samyak Sambuddha (dịch âm: A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề), đây là quả vị cao nhất trong các quả chứng mà Đức Phật đạt được trong đêm thành đạo. Bậc Chánh Đẳng Giác là người giáo hóa chúng sanh về những ǵ tự ḿnh đă chứng ngộ.

(4)   Phật : dịch từ chữ Buddha (Pali và Sanskrit)  dịch ra Hán là Phật Đà, Việt Nam gọi là Bụt hay Bụt-đà, nghĩa là Bậc giác ngộ, người thoát khỏi sinh tử luân hồi. Một vị Phật sau khi tịch diệt không c̣n tái sinh nữa. Để đạt được quả vị Phật, một vị Bồ tát (Bodhisattva) phải phát nguyện trước một vị Phật, quyết tâm tu tập và đạt ngộ. Trải qua vô lượng kiếp các Ngài đă thực hành Bồ tát hạnh. Khi sinh ra lần cuối, vị ấy phải trải qua một thời gian giáo hóa ở cung trời Đâu Suất (Tusita), rồi khi sinh ra lần cuối cùng, vị Phật ấy luôn có đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp. Thông thường, các vị Phật sinh ra th́ mẹ của các Ngài sẽ qua đời sau đó bảy ngày. Lúc trưởng thành, khi nhân duyên khế hợp, các Ngài sẽ xuất gia, giác ngộ, và giáo hóa chúng sanh. 

   

--- o0o ---

| Thư Mục Tác Giả |

---o0o---

Tŕnh bày : Nguyên Hân


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Đức Phật >>