categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

ÁNH TRĂNG VỚI Ư NGHĨA CHÂN LƯ

TRONG ĐÊM THÀNH ĐẠO

Thích Tâm Tôn
 

Cùng với thời gian vô cùng tận, không gian vô biên tế, cái đẹp cũng tồn tại với một ư nghĩa rất bao la mà con người khó có thể khám phá cho thật tường tận bằng tri thức của ḿnh. Cuộc đời đức Phật là cả một lịch sử hùng tráng hướng đến t́m kiếm cái đẹp và xây dựng lư tưởng cái đẹp trong cuộc đời. Giáo lí được Ngài thiết lập là một hệ thống mỹ học thể nghiệm nội tại, có ư nghĩa vô cùng phong phú đối với đời sống nhân sinh. Cái sinh động trong hệ tư tưởng của Ngài là ở chỗ, từ những ǵ đạt được chính ḿnh, bằng mọi phương tiện Ngài hướng đến khai triển cho tất cả cùng được thể nhập. Đó là ư nghĩa kỳ diệu của ngón tay chí về cái đẹp - vầng trăng. Vầng trăng ấy chính là biểu tượng hàm chứa cái chân lư toàn vẹn ư nghĩa sống không chỉ cho phạm trù nhân sinh mà c̣n có ư nghĩa cho khắp tất cả vạn hữu trong vũ trụ này. V́ vậy, ư nghĩa hiện sinh của ánh trăng về chân lí trong đêm thành đạo của ẩn sĩ Siddhattha Gotama không chỉ có ư nghĩa biểu trưng ư thức về cái đẹp, mà c̣n hướng đến xây dựng hoàn măn cái đẹp đối với hoàn cảnh một nhân sinh và thiết lập biểu tượng chân lí về chánh pháp.Đó là ba ư nghĩa hàm chứa trong một sự thể “thành tựu giác ngộ” thông qua h́nh ảnh “vầng trăng” sẽ được khai triển nơi đây.

Ư NGHĨA VỀ Ư THỨC CÁI ĐẸP

Có một điểm đặc biệt mà truyền thống Phật giáo ghi nhận là hầu hết những sự kiện quan trọng trong cuộc đời đức Phật đều diễn ra vào những đêm trăng tṛn. Ngài đản sanh vào đêm trăng tṛn tháng tư, xuất gia và nhập diệt vào đêm trăng tṛn tháng hai, và đặc biệt điểm móc son sáng ngời nhất là sự kiện thành đạo vào đêm trăng tṛn tháng chạp. Đây phải chăng là điểm khơi nguồn cho một hệ tư tưởng mới về ư nghĩa chân lí vừa mang giá trị thẩm mỹ, vừa mang tính giá trị giải thoát thông qua ánh trăng mà ẩn sĩ Siddhattha muốn thiết lập.

   Xét về khía cạnh nghệ thuật, có thể nói ánh trăng là h́nh ảnh toàn vẹn nhất biểu tgrưng cho cái đẹp lẫn ư nghĩa hiện hữu.Bao giờ trăng cũng là nguồn cảm hứng vô tận đối với tâm hồn nghệ sĩ để hướng đến sự sinh động trong thế giới nghệ thuật. Ngay cả một dũng tướng chỉ quen với chuyện đao binh như Trần Hưng Đạo mà cũng không kềm nỗi cái thú trước một “bến trăng thanh” để rồi cảm khái:

“Đêm nghỉ bến trăng thanh

Bỗng hay đầy thú lạ

Thơ theo bút tuôn ḍng”.

Nhưng cũng có thể nh́n nhận, chính do sự toàn bích không bị chi phối bởi những giới hạn của nó mà khiến cho cái cảm thụ chịu sự chi phối bởi những giới hạn của con người h́nh thành nên những “khuyết tật” trong tâm thức. Có nghĩa là, cũng ánh trăng đó nhưng khi đi vào tâm hồn có khi nó làm cho người ta cảm thấy tịch liêu hiu quạnh đến ngút ngàn, có khi lại gợi buồn khúc chiết miên man, có khi lại tạo ra cái bâng khuâng cảm khái sâu xa, có khi lại là cái hồn nhiên nhàn nhă…Mà tất cả đó có thể đều là những tâm trạng cần đạt tới nơi tâm hồn nghệ sĩ thế gian. Bởi đỉnh cao của nghệ thuật trần gian được người ta đánh giá như là sự lạc mất trong tiếp xúc thẩm mỹ. Và sự lạc mất này chính là tiêu chí xác định mức độ say mê hay ngay ngất trong nghệ thuật. Giai thoại thi hào Tô Đông Pha hiểu nhầm chữ “minh nguyệt” trong câu thơ Vương An Thạch tặng là một trong những minh chứng cho cái “khuyết tật” thẩm mỹ ấy. Đó có lẽ là do ảnh hưởng cái  bệnh của hồn thi sĩ bị “nàng nguyệt” ám ảnh, mà rơ ràng ông cũng đă từng có lần nhầm trong tâm thức khi ngắm ánh trăng rằm trên sông Xích Bích: “vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương”- vời trông người đẹp ngập phương trời.

Và cũng có thể v́ cái khuyết tật bởi căn bệnh say t́nh với “nàng nguyệt” mà Lư Bạch đă nhào xuống sông để rồi phải ôm trăng mà chết, không kịp nh́n nhận sự lạc lầm.

Có lẽ cũng v́ lí do đó mà đức Phật có vẻ như phản đối tính cách hấp dẫn của mọi h́nh thái nghệ thuật. Theo Ngài, nghệ thuật có ảnh hưởng gây cảm xúc và đưa cảm xúc đi xa, gợi lên một cảm ứng hoà điệu, làm cho tâm trí khó hướng nội. Nó có khuynh hướng khơi dậy các mối dục vọng đam mê phấn khích, trong khi quan điểm của Ngài là cần làm lắng dịu dục vọng. v́ thế mà trong Giới học căn bản, đức Phật có dạy rằng: “Bất ca vũ, xướng, kỹ; bất văng quan, thính”-không được ca, múa, hát, đàn; và cũng không được đi xem, nghe. Tuy nhiên, chúng ta cũng thấy đức Phật không phủ nhận một cách tuyệt đối tính chất nghệ thuật có chiều hướng tích cực như trong kinh Trường Bộ. Sau khi nghe một khúc nhạc do nhạc thần Càn Thát Bà tên Ngũ Kế biểu diễn, Ngài khen ngợi chàng nhạc sĩ ấy về sự hoà điệu giữa giọng ca và âm ba tŕnh tấu qua dây đàn bằng gỗ vàng Beluva với bài hát xiển dương chánh pháp.

Điều đó có thể ví von rằng, bầu không khí luôn cần cho sự sống của con người, nhưng mỗi người có một hơi thở khác nhau tuỳ theo thể trạng và tâm trạng mỗi người. Cũng vậy, cái đẹp của ánh trăng nói riêng và cái đẹp trong nghệ thuật nói chung luôn là mọt phần tất yếu của cuộc sống. Song nó ảnh hưởng đến đời sống như thế nào đều là do thái độ và cách cảm thụ ở mỗi người. Cũng ánh trăng đó nhưng nó sáng sủa hay tịch liêu, lạc lơng hay nồng nàn, buồn hay vui, động hay tịnh…đều tuỳ thuộc tâm trạng của mỗi người. Nhưng dầu sao cũng đồng t́nh với quan điểm của Platon- một triết gia Hy Lạp cổ đại: “cái đẹp là hào quang của chân và thiện”. Đó chính là cái đẹp về phong thái nghệ thuật giải thoát ở thiền sư.Tức thiền sư bao giờ nh́n về, tâm cũng thoát khỏi sự say mê để thể nhập vào nguyên lí tịch tịnh sáng soi nội tại mà Phật giáo gọi là chơn tâm. Cái chơn tâm ấy chính là điểm mà  Nguyễn Du hướng đến và được thi vị hoá qua ánh trăng:

“Đạt chân tâm kính quang như nguyệt

Xử sĩ môn tiền thanh giả sơn”.

-Tâm người đặng sáng tỏ như trăng

Trước nhà ẩn sĩ non xanh biết.

Đó chính là phong thái ngắm trăng của người nghệ sĩ Phật giáo. Trước sự huyền ảo của trăng, người nghệ sĩ Phật giáo ngắm trăng không phải để đưa hồn ḿnh vào sự mê mẫn của những thứ sắc màu hấp dẫn đê mê, mà là liên tưởng đến cái b́nh diện của ư thức để nhận thấy những cái hăo huyền hư ảo, để t́m về với cái chân thật của thế giới tự tại ung dung giải thoát:

“A ha trăng nát nửa vừng

Trải vàng áo rồng bên đường người đi

Bụi mờ che khuất tà huy

Phất phơ ảnh mộng bước về ngă không”

Hồ Ngạn Ngữ

Khi thoát khỏi tầng độ cảm xúc th́ rơ ràng không c̣n đ̣i hỏi phải có một đối tượng về một cái đẹp mới cảm thụ được, mà có thể tất cả lúc này đều trở nên đẹp và đẹp tyuệt vời. Lúc này, chỉ có sự thể nhập hoà điệu trong các pháp để hoá thân vào cái vô cùng tận của thế giới nhiệm mầu đầy ư nghĩa theo cái nh́n của Phật giáo:

“Trong khoảnh khắc- t́m thấy cái vĩnh hằng,

Thấy thế giới bao la- trong từng hạt cát,

Trong ḷng bàn tay- thấy cái vô cùng tận,

Và thấy cả bầu trời- trong một đoá hoa.”

                                                          -W. Bleik-

Ư NGHĨA XÂY DỰNG HOÀN MĂN CÁI ĐẸP

Trong cuộc hành tŕnh đi t́m cái đẹp, nếu người nghệ sĩ nhân gian đi theo tiếng gọi xa xăm nào đó đồng cảm với những huyết mạch thổn thức nơi tâm hồn, th́ người nghệ sĩ Phật giáo lại hướng về cái thực tại nơi chính nó. Nguyên lí đích thực của thực tại này khởi nguồn từ một nhân cách mang tính hoàn thiện. Lư tưởng thẩm mỹ Phật giáo là ở chỗ “Thành tựu giác ngộ”, hay nói theo châm ngôn Hy Lạp là “Hăy thành tựu thể tánh của mi”. Trong tiến tŕnh xây dựng cái lí tưởng ấy luôn có một sự thử thách lớn lao, đó là sự đối đầu đầy cam go giữa ư chí, nghị lực, tinh thần đại dũng với những vọng t́nh mê muội. Tất cả đó đều được minh chứng bằng quá tŕnh chiến đấu nội tại để thành đạo của đức Phật. Minh chứng đó chúng ta cũng có thể liên tưởng thông qua sự hiện hữu của ánh trăng trong quá tŕnh hoàn thiện giá trị thẩm mỹ trong nó. Đây là ư nghĩa của năng lực vận hành đi lên của h́nh ảnh ánh trăng, hay chính là năng lực hoàn thiện Thánh quả từ mọt chúng sanh.

Nếu mặt trời luôn y nhiên tự tại, không có một loại sinh thành nào; th́ trái lại mặt trăng là một tinh tú có đầy có vơi, một tinh tú hiện hữu tuân theo định luật sinh thành chung của các pháp. Cũng như loài người, mặt trăng có một lịch sử cảm động v́ sự suy giảm của nó như một tất yếu của đặc tánh luân hồi. Sự biến lặng của trăng vào bóng tối không phải là vĩnh viễn. Tự bản chất nó phục sinh nhờ năng lực vận hành của riêng nó. Đó là biểu trưng cho năng lực giải thoát nhân sinh được phát huy trong ṿng luân chuyển bằng năng lực chính ḿnh. Sự phản hồi bất tuyệt về h́nh tướng nguyên thuỷ tṛn đầy của trăng chính là biểu tượng của quá tŕnh “Thành tựu thể tánh” một cách viên măn. Như vậy, th́ ra chính ṿng tuần  hoàn không dứt ấy làm cho mặt trăng trở thành tinh tú của nhịp điệu sống vô cùng sinh động. Những tuần trăng là biểu hiện cho những quá tŕnh sống tiến triển thăng hoa của nhân sinh vũ trụ mà đức Phật chính là điển h́nh tuyệt đối nhất.

Ánh sáng của trăng tṛn không rực rỡ chợt choé bừng lên như một tia chớp, và cũng không chói lọi gay gắt như ánh sáng mặt trời giữa trưa, nhưng nó có thể soi tỏ cả càn khôn vũ trụ.

“Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng;

Liễu mềm hoa tốt, ngất quần sanh tuệ nhật sâm lâm”. _Trần Nhân Tông_

Sự giác ngộ hay thành đạo của đức Phật không bộc phát một cách bất ngờ như tia chớp cắt ngang một vầng mây ám, mà là một quá tŕnh xua tan tất cả những ngăn ngại mê mờ, để cuối cùng là sự tự soi sáng và chiếu tỏ muôn phương; và thế là màn vô minh biến mất, tựa “khi ánh sáng xuất hiện th́ bóng tối tự tan dần”. Theo lời tường thuật của đức Phật trong Kinh Trung Bộ (MN-36), ta thấy rằng sự kiện giác ngộ của đức Phật kéo dài suốt ba canh. Điều này phù hợp với Ngài xác định “Giáo lí của Ngài theo tiến tŕnh tuần tự, không có sự thể nhập đột ngột tự phát của tri kiến; ví như bờ biển không đột ngột sâu xuống mà cứ tuần tự xuôi dần”.

Như vậy, ta có thể h́nh dung ra sự giác ngộ của đức Phật kéo dài trong nhiều giờ khắc. Với tâm trí cực ḱ minh mẫn, mọi khả năng trí tuệ của Ngài được điều động và tập trung lại vào cùng một thời điểm, để rồi toả sáng như ánh trăng. Không có ǵ gọi là “xuất thần” trong sự giác ngộ này cả, v́ đó không phải là một trạng thái ở ngoài tự thân hay mê mẫn tâm trí. Cách t́m cầu trạng thái này của đức Phật cũng không phải là sự ṃ mẫn mù quáng trong đêm tối. Ngài biết thật chính xác đối tượng nào cần hướng đến. Ngài nh́n thẳng vào thực trạng (Khổ đế) của cuộc đời, t́m nguyên nhân (Tập đế), rồi xác định con đường hướng đến (Đạo đế). Như vậy, đó phải là cả một quá tŕnh của sự vận hành năng lực trí tuệ để cho nguồn sáng chân lí toả chiếu diệu dụng như ánh trăng vào đêm thành đạo.

Sự giác ngộ ấy c̣n tiến xa hơn nữa để khai triển cái tri kiến ra nhiều lĩnh vực nhận thức mới. Cái tri kiến Ngài khám phá bên ngoài cùng với tuệ giác tinh hoa ở nội tâm chan hoà như những khối pha lê đúc kết thành một giáo pháp tinh anh như vầng mặt nguyệt. Trong ánh hoà quang sáng ngời của sự giác ngộ, một hệ tư tưởng mới được tạo nên từ những yếu tố mới và cũ hoà đồng một cách vi diệu, và cuối cùng vượt hẳn lên mọi tri kiến để trở thành chân lí phổ quát soi tỏ vạn hữu.

Truyền thống Phật giáo nguyên thuỷ cho rằng, sự đắc quả vô thượng giác ngộ của đức Phật đă biến Ngài từ một nghệ sĩ thành một nhà tư tưởng và cuối cùng vượt hơn tất cả để trở thành người chứng đạt chân lí. Điều hi hữu là ḍnặot tưởng sáng tạo của đức Phật chứng tỏ vẫn tiếp diễn ngay cả sau khi Ngài giác ngộ. Đó là ư nghĩa diễn tiến liên tục của nguồn sáng ánh trăng biểu trưng cho giá trị tồn tại vĩnh hằng của chân lí được đức Phật thể nghiệm. Chân lí ấy là nguyên lí vận hành vô hạn khắp không gian và không thay đổi cùng thời gian, được Nguyễn Du ta thán:

“Nguyên dạ không đ́nh nguyệt măn thiên,

Y y bất cải cựu thuyền quyên”.

_Sân vắng đầu năm trăng sáng khắp,

Vẫn y nhiên tại đẹp nguyên màu.

Và cái chân lí ấy cũng được nhà thơ thiền hiện đại tự hoá điên Bùi Giáng gợi hỏi gả “Cùng tử” đang lang thang trong cuộc đời này:

“Em về mấy thế kỷ sau,

Nh́n trăng có thấy nguyên màu ấy không.”    

Nếu ánh sáng của mặt trăng là sự hợp nhất của những ǵ huyền diệu tự nhiên, xua tan sự u tịch của đêm trường, lan rộng bao trùm khắp muôn loại; th́ ánh sáng hào quang dịu vợi của đức Phật lại toả soi khắp bản thể vô biên, làm tan biến mọi tối tăm của bao cực đoan quan kiến nơi tâm hồn nhân loại. Thật là toàn mỹ biết bao khi hai vầng sáng nội tại và ngoại tại cùng chan hoà nhịp nhàng trong nguồn sáng vô tận, khiến cho toàn thể sâu thẳm của cuộc đời đều được khai sáng một cách tuyệt vời nhất:

“Thử phong, thử nguyệt, dữ thử nhân;

Hợp thành thiên hạ tam ḱ tuyệt.”

                                              -Trần Anh Tông-

Ư NGHĨA THIẾT LẬP CHÂN LÍ  CHÁNH PHÁP

Tư tưởng không thể hoàn măn mà không có sự hỗ trợ tối thiểu của ngôn ngữ biểu tượng. Để đi vào thuyên giải biểu tượng, không chỉ có nương vào những phương tiện liên hệ trong vũ trụ, cũng như ư nghĩa cũa ngôn từ mà c̣n bằng cả thể nghiệm về nó. Ư nghĩa của biểu tượng là cái mà trong đó ta đối diện với sự thật một cách cần thiết để hướng tới nắm bắt thực tại tính được chỉ rơ trong chúng. Do đó, thể nghiệm biểu tượng là mọt tát yếu căn bản giúp chúng ta trưởng thành sự chân thật.

Nếu ngôn từ có thể chuyển tải toàn vẹn mọi sự thể ở thế gian này, th́ có lẽ sẽ không c̣n một h́nh tượng nào được xem là biểu tượng của những ǵ cao tột nữa. Phải chăng, chính sự giới hạn của ngôn ngữ ấy mà mọi pháp đều c̣n hiện hữu một cái ǵ đó huyền bí của riêng ḿnh. Để khám pha những miền huyền bí vi diệu, phần c̣n lại là đi t́m sự thật bằng nguồn tâm thức lắng đọng vượt ra ngoài ngôn ngữ. V́ vậy mà đức Phật tuyên bố: “Nhất thiết Tu-đa-la giáo như tiêu nguyệt chỉ”-tất cả Kinh Phật thuyết chỉ là ngón tay chỉ mặt trăng mà thôi. Đó chính là giá trị của sự tịch nhiên tĩnh lặng mà đức Phật thể nhập được ở bản thể tịnh minh dưới ánh trăng của đêm thành đạo để rồi tiến tới h́nh thành tư tưởng biểu tượng cho chân lí.

Tiêu chí của sự kết tinh những vầng trăng tri kiến giác ngộ trong thiền học chính là: “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”. Phương thức ấn chứng ấy điển h́nh ở sự bắt đầu từ cái mĩn cười của Ngài Ca Diếp khi đức Phật đưa cành hoa sen lên giữa hội chúng tại Linh Sơn. Và phải chăng cũng bởi cái “khuyết tật” của ngôn ngữ “hữu tự” chính thiền học tĩnh giác ấy mà tiểu thuyết gia Ngô Thừa Ân dựng lên cái nạn cuối cùng của thầy tṛ Đường Tăng trên sông Thông Thiên Hà trong Tây Du Kư. V́ cho ràng thầy tṛ Tam Tạng đă chứng quả nên A-Nan và Ca-Diếp truyền cho Vô Tự Chân Kinh (Bất thuyết nhất ngữ) mà Phật đă tuyên bố lúc cuối cuộc đời: “Suôt 49 năm, Như Lai không nói một lời”. Thấy Kinh “ vô tự” Tam Tạng đổi lại Kinh “hữu tự”. V́ không thực hiện lời hứa hỏi về nguyên thuỷ kiếp rùa cho rùa thần Thuỷ Nguyên, nên thầy tṛ Tam Tạng bị hất cả xuống sông, làm cho tất cả Kinh “hữu tự” bị ướt. Kinh ướt phải phơi, khi phơi Kinh th́ trang cuối bị dính vào đá bóc không ra, và bộ Kinh thiếu phần kết. Thiếu phần kết nên Kinh “hữu tự” trở thành Kinh “vô tự”. Thế là cái nghiệp chấp danh tự được giải quyết xong và thầy tṛ Tam Tạng không c̣n gặp tai nạn nữa.

Đó cũng là cái chết mà Trần Nhân Tông tỉnh giác trong bài Hữu Cú vô Cú:

“Hữu cú vô cú

Tự xưa tự nay

Quên trăng ngắm ngón

Chết đuối trên bờ”.

Ánh trăng được xem như là biểu tượng của sự tĩnh lặng (vô ngôn) hay là cái thể của chân lí. Đối với Bồ Tát, im lặng là đặc tính của sự tỉnh giác: “Im lặng là sanh địa quyền năng, im lặng đồng nghĩa với quyền năng tối thượng”. Khi đạt đến sự im lặng, tức là đạt đến đỉnh cao của sự hợp nhất giữa con người và thực tại tính xă ly:

“Ngồi trong vườn nguyệt lộ

Hôn một màu trăng non,

Nghe ḷng vui cười rộ

Chạy băng đồi vô ngôn”.

-         Quảng Hạnh-

Tất cả mọi sự chấp thủ dù là tích cực hay tiêu cực đều là mê lầm. Chính v́ chấp thủ mà phải bị giam hăm măi, giống như một con nhện tự giam ḿnh trong màng lưới do chính ḿnh kết nên. Vượt khỏi mọi sự bám víu chính là trạng thái siêu thoát của nguyên lí vô thức tịch tĩnh trong thiền học, hay c̣n gọi là trạng thái Ba-La-Mật mà Phật giáo hướng tới. đạt đến đó tức là đă thể nhập cùng ánh trăng chân lí giữa bến miền an nhiên tịch tịnh vô biên:

“Một thân nhàn nhă dứt muôn duyên

Hơn bốn mươi năm những hăo huyền,

Nhắc bảo các người đừng gạn hỏi

Bên kia trăng gió rộng vô biên”.

                                                            -Pháp Loa-

Và cái miền “Bên kia trăng gió rộng vô biên” ấy được phát hoạ qua bức tranh thiền sư Siddhattha đang ngồi an tịnh, hồn nhiên với đôi mắt lim dim thư thái hướng về ánh trăng chiếu sáng xa xa nơi phương trời, như gợi nơi tâm ta một niềm hân hoan thanh nhàn tự tại.

Cuối cùng, cũng vào đêm trăng tṛn tĩnh lặng giữa rừng Sala, đức Phật đă ân cần di giáo cho toàn thể đệ tử với những lời giáo huấn thiết tha như gởi lại tất cả tâm huyết của cuộc đời ḿnh: “Khi nói tới chân lí, Như Lai không hề có bàn tay nắm chặt của người Thầy c̣n muốn giữ lại điều ǵ.” Thế nên chân lí đă được Ngài thi thiết và khai triển sáng ngời ở thế gian như biểu tượng vầng mặt nguyệt tṛn đầy tỏ soi.

Thời gian cứ trôi qua, mọi thứ đều đă, đang và sẽ nhạt nhoà trong lớp bụi của nó, chỉ có viên ngọc bích toàn chân giải thoát là vẫn măi toả sáng rạng ngời với muôn thuở. Mặc dầu đức Phật đă tịch diệt từ lâu, song chúng ta vẫn c̣n thấy Ngài như vẫn gần gũi với chúng ta, tiếng nói của Ngài vẫn c̣n vang vọng bên tai ta, khẽ bảo ta đừng ĺa xa sự phấn đấu, hăy b́nh tĩnh mà đối phó với vọng t́nh, hăy nh́n thẳng vào cuộc đời để nhận ra những cơ hội lớn hơn, tự rèn luyện ḿnh trở thành một nhân cách trác tuyệt, một chân thiện mỹ trong cuộc đời. Thông qua ư nghĩa thành đạo, ướt mong sao tất cả đều biết phấn đấu để tự hoàn thiện ḿnh trở thành một hiện hữu mang đủ ư nghĩa của cái đẹp và xa hơn nữa là để làm biểu tượng cho cuộc đời này. Đó cũng là những ǵ mà người viết muốn thông quấnh trăng để làm tiêu đề dẫn đạt ư tưởng trong đêm thành đạo của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni chúng ta.

Nha Trang, Linh Sơn Pháp Bảo-PL 2551.

Thích Tâm Tôn


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Đức Phật >>