categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

Đức Phật được tôn vinh

 

Đức Phật, vị Thầy cao quư của mọi thời đại, không những được người thời nay tôn xưng mà ngay trong hiện đời, cách đây trên hai ngàn năm trước, Ngài đă được nhiều giai tầng ca ngợi, tán thán. Nhằm giúp quư độc giả có một khái niệm về Đức Thế Tôn qua sự đánh giá của những người đồng thời với Ngài, người viết xin tŕnh bày một số lời phát biểu tôn vinh Đức Phật mà các kinh điển c̣n lưu truyền cho đến ngày nay.

 

Chư Thiên ca ngợi

Bấy giờ, Thiên chủ Đế Thích (Sakka) ở Tam Thập Tam Thiên hoan hỷ khi thấy tám pháp như thật của Thế Tôn, liền nói với chư Thiên đang hiện diện như sau:

(1) Này chư Thiện hữu, các vị nghĩ thế nào? Phải chăng Đức Như Lai phát tâm tu hành v́ hạnh phúc, an lạc cho chúng sinh, v́ ḷng thương đời, v́ hạnh phúc và an lạc cho chư Thiên và nhân loại? Một vị đạo sư đầy đủ các đức tính như vậy, chúng ta thật khó t́m thấy trong quá khứ cũng như trong hiện tại, ngoại trừ Thế Tôn.

(2) Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng Chánh pháp, một thứ chánh pháp cho đời hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, luôn luôn hướng thượng, chỉ có người trí mới hiểu thấu.

(3) Đức Thế Tôn đă khéo giải thích các pháp thiện, bất thiện, có tội, không có tội, cần phải tuân theo, cần phải từ bỏ, hạ liệt và cao thượng.

(4) Đức Thế Tôn đă khéo giải thích con đường dẫn đến Niết bàn cho các đệ tử.

(5) Đức Thế Tôn đă khéo đào tạo được chúng thiện hữu, hiếu học, đang đi trên lộ tŕnh, các lậu hoặc đă đoạn tận, đạt được Thánh đạo.

(6) Đức Thế Tôn thọ nhận lợi dưỡng cúng dường một cách tri túc, danh tiếng Thế Tôn được vang xa.

(7) Đức Thế Tôn nói ǵ th́ làm vậy, làm ǵ th́ nói vậy.

(8) Đức Thế Tôn đă vượt khỏi nghi ngờ, diệt trừ do dự, mọi tư duy đều chân chính, hướng đến phạm hạnh.

Này chư Hiền, một vị đạo sư đầy đủ tám đức tính như vậy, thật khó t́m được trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, trừ Đức Thế Tôn(1).

Thiên tử Mànava Gàmiya cảm hứng đọc lên bài kệ tán thán Phật:
"Trong tất cả ngọn núi,
Ở tại thành Vương Xá
Ngọn núi Vipula
Được xem là tối thắng.
… Trong tất cả tinh tú
Mặt trăng là tối thắng.
Giữa Thiên giới, địa giới
Phật là bậc tối thắng”(2).

Vua chúa ca ngợi

Vua A Xà Thế (Ajatasattu) sau khi gây ra tội lỗi tày đ́nh, sát hại phụ vương để soán ngôi, trong ḷng đang bị những mặc cảm tội lỗi giày ṿ. Vua đă đích thân đi hỏi các vị giáo trưởng ngoại đạo về lẽ nhân quả tội phước; nhưng không một ai trả lời cho vua thỏa măn. Cuối cùng, vua đi đến yết kiến Thế Tôn, nêu lên những thắc mắc của ḿnh, và được Thế Tôn phân tích, giảng giải, khiến vua rất hài ḷng, phấn khởi, bèn thốt lời ca ngợi:
“Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những ǵ  bị đổ ngă, phơi bày những ǵ bị che khuất, chỉ đường cho những kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy các sự vật. Cũng vậy, Chánh pháp đă được Đức Thế Tôn dùng nhiều phương tiện tŕnh bày, giải thích. Nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử. Từ nay cho đến mệnh chung, con trọn đời quy ngưỡng”(3).

Đó là lời ca ngợi thống thiết của vua Ajatasattu, và sau đây là cử chỉ thành kính cũng như ḷng ngưỡng mộ khác thường của vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) đối với Đức Phật:
- Sau khi vua Pasenadi nước Kosala bước vào căn nhà, cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, lấy tay xoa chung quanh chân Thế Tôn, rồi tự xưng tên: “Bạch Thế Tôn! Con là vua Pasenadi nước Kosala”.

Thế Tôn hỏi: “Do thấy những ǵ mà đại vương lại hạ ḿnh tột bực đối với thân này, và biểu lộ t́nh thân ái quá đáng như vậy?”
- Bạch Thế Tôn! Con thấy nhiều vị Sa môn, Bà la môn hành tŕ phạm hạnh có giới hạn trong một thời gian, rồi trở về thế tục, thụ hưởng năm thứ dục lạc; trái lại, các Tỷ kheo đệ tử của Thế Tôn thực hành phạm hạnh viên măn cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng. Do đó, con có ấn tượng tốt đẹp đối với Thế Tôn: “Thế Tôn là Bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành tŕ”.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Ở ngoài đời, con thấy vua chúa căi lộn với vua chúa, Sát đế lợi căi lộn với Sát đế lợi, Bà la môn căi lộn với Bà la môn, gia chủ căi lộn với gia chủ, cha mẹ căi lộn với con cái, anh em ruột thịt, bạn bè căi lộn với nhau… C̣n ở đây, con thấy các Tỷ kheo sống với nhau ḥa thuận, thân mật, không tranh căi, như nước ḥa với sữa, nh́n nhau bằng cặp mắt ái kính. Bạch Thế Tôn! Ngoài đây ra, con không thấy một nơi nào khác có đời sống phạm hạnh thanh tịnh viên măn như vậy. Do đó, con kính ngưỡng Thế Tôn.

… Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con là vua Sát đế lợi, đă làm lễ quán đỉnh, có quyền sinh sát trong tay, thế mà khi con ngồi xử kiện, đôi lúc có người dám ngắt lời con, mặc dù con đă ra lệnh không được ngắt lời. C̣n nơi đây, con thấy trong khi Thế Tôn thuyết giảng cho hàng trăm đồ chúng mà không một ai gây ra tiếng động. Có lần, một đệ tử ho lên một tiếng, th́ liền có người bạn đồng phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: “Tôn giả hăy im lặng, chớ có làm ồn. Bậc Đạo sư của chúng ta đang thuyết pháp”. Do vậy, con khởi lên ư nghĩ: “Thật vi diệu thay, thật hy hữu thay, chúng Thích tử này thật khéo huấn luyện, không cần phải sử dụng đến gậy và kiếm”.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con thấy một số Sát đế lợi bác học, có tài hùng biện, muốn đến chất vấn Thế Tôn, chuẩn bị trước những câu hỏi và những câu đả kích, nhưng khi đến trước Thế Tôn, tất cả những vị bác học ấy đều im lặng; và sau khi nghe pháp thoại của Thế Tôn, họ đă sinh tâm hoan hỷ, xin làm đệ tử Thế Tôn.

Lại nữa, bạch Thế Tôn! Con có hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, cuộc sống do con chu cấp, và chính con đem lại danh vọng cho chúng. Thế mà chúng không hạ ḿnh đối với con như đă từng hạ ḿnh đối với Thế Tôn. Một hôm nọ, trong lúc hành quân, con và hai người ấy tạm dừng chân tại một căn nhà chật hẹp để nghỉ qua đêm. Hai người ấy luận bàn sôi nổi về chánh pháp đến quá nửa đêm, rồi cả hai nằm quay đầu về hướng mà chúng biết là Thế Tôn đang an trú và trở chân về phía con nằm. Khi ấy con nghĩ: “Chắc chắn những vị này đă nhận thức được sự thù thắng trong giáo pháp của Thế Tôn, nên mới tôn kính Thế Tôn tột bực như vậy”.

Bạch Thế Tôn! Đó là những lư do khiến con kính phục và tỏ ḷng ngưỡng mộ đối với Thế Tôn(4).

Bà la môn ca ngợi

Bà la môn Sonadanda thuộc ḍng dơi quư tộc, có huyết thống thanh tịnh từ bảy đời, nổi tiếng giàu có, đẹp đẽ và thông thái, được vua chúa và dân chúng ngưỡng mộ; v́ thế, các đệ tử của ông phát biểu rằng: “Thật xứng đáng cho Đức Gotama (Đức Phật) đến yết kiến Tôn giả Sonadanda. Thật không xứng đáng cho Tôn giả Sonadanda đến yết kiến Đức Gotama”. Nhưng Sonadanda th́ suy nghĩ ngược lại: “Thật xứng đáng cho Sonadanda này đến yết kiến Thế Tôn. Thật không xứng đáng cho Thế Tôn đến yết kiến Sonadanda”. Rồi ông nêu ra các lư do:
- Sa môn Gotama xuất gia, từ bỏ đại gia đ́nh quyến thuộc.
- Sa môn Gotama từ bỏ rất nhiều vàng bạc, châu báu đang chôn dưới đất lẫn các loại trên mặt đất.
- Dù song thân không bằng ḷng, khóc than nước mắt ràn rụa, vẫn cạo bỏ râu tóc, khoác áo cà sa xuất  gia.
- Sa môn rất đẹp trai, khả ái, trang nhă, tuấn tú, cao thượng, làm đẹp ḷng  người.
- … Là người giữ ǵn giới hạnh của bậc Thánh, có đầy đủ thiện đức.
- Là người nói lời chân thật, thuần thiện, giọng nói tao nhă, nghĩa lư minh bạch.
- Là bậc tôn sư của các hàng tôn sư.
- Là vị đă diệt tận tham dục và mọi xao động của nội tâm.
- Sa môn Gotama chủ trương về hành động, về nghiệp.
- Là bậc xuất thân từ chủng tộc cao quư: Sát đế lợi.
- Có rất đông dân chúng vượt biển, băng ngàn đến hỏi đạo Sa môn Gotama.
- Có hàng ngàn Thiên nhân đến quy y Sa môn Gotama.
- Tiếng đồn tốt đẹp sau đây được lan truyền: “Sa môn Gotama là Bậc Như Lai, A la hán, Chánh Đẳng Giác, trí đức đầy đủ, Thiện Thệ, hiểu biết thế gian, bậc Vô Thượng, bậc Trượng Phu điều ngự những người đáng được điều ngự, bậc thầy loài Trời và loài Người, Phật, Thế Tôn”.
- Là vị có đủ 32 tướng tốt của bậc đại nhân.
- Sa môn Gotama chào hỏi mọi người bằng lời thân thiện, tao nhă, trân trọng và thành thực.
- Được bốn chúng kính trọng, tôn sùng, quy ngưỡng và phục tùng.
- Tại địa phương nào Sa môn Gotama cư trú, th́ nơi đó các loài phi nhân không làm hại con người.
- Sa môn Gotama là vị Giáo chủ, được tôn xưng là tối thượng trong các bậc Giáo tổ.
- Danh tiếng của một số Sa môn, Bà la môn dựa trên những bằng chứng vu vơ, c̣n danh tiếng của Sa môn Gotama dựa trên trí đức vô thượng của Ngài.
- Vua Seniyo Bimbisàra nước Magadha cùng với các vương tử, cung phi, thị tùng, đại thần rất kính trọng, tôn sùng, ngưỡng mộ và quy y Sa môn Gotama.
- Vua Pasenadi nước Kosala cùng với các vương tử, cung phi, thị tùng, đại thần rất kính trọng, tôn sùng, ngưỡng mộ và quy y Sa môn Gotama.
- Bà la môn Pokkharasàdi cùng với vợ con, thị giả, tùy tùng đều kính trọng tôn sùng, ngưỡng mộ và quy y Sa môn Gotama.

… Này các Hiền giả, đó là những ưu điểm mà ta được biết về Tôn giả Gotama. Nhưng Tôn giả không phải chỉ có chừng đó ưu điểm mà c̣n có vô số ưu điểm khác.

Thế rồi, Bà la môn Sonadanda cùng đồ chúng đi đến tham kiến Thế Tôn, được Thế Tôn thuyết pháp khích lệ. Ông vô cùng hoan hỷ, thốt lời tán thán Phật, rồi xin làm đệ tử Phật và nguyện trung thành cho đến lúc mệnh chung(5).

Tương tự như Bà la môn Sonadanda trên đây là Bà la môn Kùtadanta, ông vốn là một vị giáo trưởng nổi tiếng đương thời, lại được vua B́nh Sa trọng vọng ban thưởng một phong ấp. Thế nên, khi ông muốn đến tham vấn Đức Phật, đồ chúng Bà la môn t́m cách ngăn cản, và ông đă giải thích:

“Này các Hiền giả, hăy nghe ta giải thích v́ sao thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa môn Gotama, trái lại, thật không xứng đáng cho Sa môn Gotama đến yết kiến chúng ta. V́ bảy đời tổ phụ của Sa môn Gotama cả mẫu hệ và phụ hệ đều có huyết thống thanh tịnh,  không bị một vết nhơ  nào về huyết thống thọ sinh. Do vậy, thật xứng đáng cho chúng ta đến yết kiến Sa môn Gotama”. Rồi ông liệt kê 23 ưu điểm khác của Đức Phật như Sonadanda đă ca ngợi. Cuối cùng, ông đến yết kiến Phật, được Phật cảm hóa và ông xin làm đệ tử Đức Phật(6).

Tiếp đến là ḷng ngưỡng mộ của Bà la môn Pingiyàni đối với Đức Phật. Một hôm, sau khi viếng thăm Đức Phật trở về, một người bạn là Bà la môn Karanapali hỏi ông nghĩ thế nào về trí tuệ sáng suốt của Sa môn Gotama. Ông đáp: “Thưa Tôn giả, tôi là ai mà có thể biết được trí tuệ sáng suốt của Sa môn Gotama? Chỉ có ai ngang tŕnh độ với Ngài mới có thể biết được trí tuệ sáng suốt của Ngài mà thôi”. Người bạn lại hỏi ông đă thấy được những đặc thù ǵ nơi Tôn giả Gotama mà tỏ ra tin tưởng tuyệt đối như thế. Ông tŕnh bày: “Thưa Tôn giả, ví như một người đă thỏa măn với vị ngọt tối thượng, sẽ không c̣n thèm khát những vị ngọt tầm thường. Cũng vậy, khi đă nghe pháp của Sa môn Gotama, như khế kinh, phúng tụng v.v…, th́ không c̣n thích nghe các lư thuyết của các Sa môn, Bà la môn thấp kém khác. Ví như một người bị đói lả và mệt mỏi, t́m được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy nếm, vị ấy thưởng thức vị ngọt thuần khiết của bánh. Hoặc một người t́m được một khúc gỗ chiên đàn, th́ tại nơi nào, người ấy cũng cảm nhận được hương thơm ngào ngạt của gỗ chiên đàn. Ví như một người đang mắc bệnh trầm trọng, đau khổ, mà được một lương y chữa cho lành bệnh. Ví như một hồ sen có nước trong mát, ngọt ngào, bờ hồ được xây đẹp đẽ, rồi một người bị sức nóng thiêu đốt, bị khát nước bức bách, t́m đến hồ ấy. Thế rồi, người ấy bước xuống hồ, uống nước, tắm rửa; do đó, tất cả nỗi khao khát, nóng bức, mệt mỏi đều tan biến. Cũng vậy, thưa Tôn giả, khi đă được nghe pháp của Tôn giả Gotama, như Khế kinh…, th́ tất cả những khao khát, nóng bức, mệt mỏi đều hoàn toàn tan biến”.

Sau khi nghe bạn tŕnh bày, Bà la môn Karanapali từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp thượng y, quỳ gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng về trú xứ của Thế Tôn, thốt lên lời cảm hứng sau đây 3 lần:
“Đảnh lễ Thế Tôn, Bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác”(7).
Không phải chỉ có chừng ấy Bà la môn tán dương Đức Phật mà c̣n nhiều vị khác như các Bà-la-môn Pikkharasadi(8), Brahmayu(9)     Todeyyaputta(10); ban đầu, những vị này tỏ ra ngờ vực Đức Thế Tôn, nhưng cuối cùng đều được Phật thuyết pháp, cảm hóa và họ đă tự nguyện quy hướng theo Phật.

Đệ tử ca ngợi

Một thuở nọ, Thế Tôn đang trú tại Nàlandà, Đại đức Xá Lợi Phất (Sàriputta) cao hứng đến đảnh lễ chân Thế Tôn, rồi bạch như sau:
“Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng trong quá khứ, vị lai cũng như hiện tại, không thể có một Sa môn, Bà la môn nào vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ”.

Sau khi được nghe tán thán, Đức Phật hỏi Xá Lợi Phất v́ sao dám bạo gan tuyên bố như vậy, th́ thầy tŕnh bày những điểm siêu việt của Đức Thế Tôn mà thầy đă chứng kiến:
- Bạch Thế Tôn! Thế Tôn thuyết pháp cho con, cứ mỗi pháp sau lại càng thâm thúy và cao thượng hơn pháp trước.
- Thế Tôn thuyết giảng rành mạch về các pháp thiện như 4 Niệm xứ, 4 Chánh cần…
- Thế Tôn thuyết giảng cặn kẽ lục nhập, tức sáu căn tiếp xúc với sáu trần. 
- Thế Tôn tŕnh bày về các Tha tâm thông: có thể biết được tâm của người khác bằng chính tâm của ḿnh.
- Thế Tôn phân tích cặn kẽ 32 vật bất tịnh nơi mỗi thân người.
- Thế Tôn tŕnh bày bảy hạng người đang đi trên đạo lộ hướng đến giải thoát: Câu giải thoát, Tuệ giải thoát, Thân chứng, Kiến chí, Tín thắng giải, Tùy Pháp hành, Tùy tín hành.
- Thế Tôn thuyết giảng tường tận về 7 Giác chi.
- Thế Tôn tŕnh bày sự tiến bộ trên đường tu hành: Hành tŕ khổ chứng ngộ chậm; hành tŕ khổ chứng ngộ nhanh; hành tŕ lạc chứng ngộ chậm; hành tŕ lạc chứng ngộ nhanh.
- Thế Tôn thuyết giảng về Chánh ngữ: nói đúng sự thật, đem lại lợi ích cho ḿnh và cho người.
- Thế Tôn thuyết giảng về giới hạnh của con người: hộ tŕ các căn, tinh cần tu học.
- Thế Tôn thiện xảo trong sự thuyết pháp: tùy theo căn cơ của từng đối tượng mà dạy cho họ những pháp môn thích hợp.
- Thế Tôn thuyết giảng về sự giải thoát của các hành giả: Ai tu pháp môn nào sẽ chứng đạt được quả vị nào.
- Thế Tôn thuyết giảng về Túc mạng trí: biết đời sống quá khứ của các loài chúng sinh.
- Thế Tôn thuyết giảng về Thiên nhăn trí: biết ai gieo nhân nào sẽ gặt kết quả này.
- Thế Tôn thuyết giảng về Thần túc thông: tŕnh bày rơ ràng về các loại thần thông.
- Thế Tôn tránh xa hai cực đoan: không đam mê các dục lạc và không chấp nhận tu hành khổ hạnh. V́ hai cực đoan ấy không xứng với bậc Thánh, không có lợi ích.

Bạch Thế Tôn! Con thiển nghĩ: “Trong thời quá khứ cũng như trong vị lai có thể có những Sa môn, Bà la môn đạt được giác ngộ bằng Thế Tôn; nhưng trong hiện tại, Thế Tôn là vị độc nhất vô nhị chứng đạt Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”.

Sau khi nghe Xá Lợi Phất tŕnh bày, Đức Thế Tôn đă xác nhận những lời tŕnh bày của thầy là đúng, chính xác, không sai lầm(11).

Không phải chỉ có người đệ tử trí tuệ đệ nhất ấy tán thán Phật mà c̣n nhiều Đại đệ tử khác cũng ca ngợi Ngài. Điển h́nh như Tôn giả A Nậu Lâu Đà. Sau khi di chúc với các đệ tử bằng những lời thống thiết nhất, Đức Đạo sư  hỏi lại 3 lần xem ai c̣n thắc mắc điều ǵ để Ngài giải đáp trước giờ phút Niết bàn, th́ Tôn giả A Nậu Lâu Đà nói một cách quả quyết: 
“Bạch Thế Tôn! Mặt trăng có thể làm cho nóng lên, mặt trời có thể làm cho lạnh đi, nhưng Bốn chân lư mà Thế Tôn đă dạy th́ không thể nào làm khác được. Thế Tôn dạy khổ th́ là thật khổ, không thể làm cho vui lên được. Tập là nguyên nhân của khổ, th́ không c̣n có nguyên nhân nào khác nữa. Diệt là khổ diệt, v́ nguyên nhân đă diệt, mà nguyên nhân diệt th́ kết quả cũng diệt. Đạo là phương pháp diệt khổ nên thật là đạo, không có đạo nào khác hơn. Bạch Thế Tôn! Đối với Bốn chân lư, các vị Tỷ kheo đây đă khẳng tín, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa”(12).

Đức Phật tự minh định

Để tránh t́nh trạng xuyên tạc hoặc ngộ nhận đối với Ngài, Đức Phật tự khẳng định: “Này các Tỷ kheo, một người khi xuất hiện ở đời, đem lại hạnh phúc, an lạc cho số đông, v́ ḷng thương đời, v́ lợi ích, v́ an vui cho chư Thiên và nhân loại, đó là Thế Tôn, Bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác. Người ấy là vô song, tuyệt đối, là Bậc Tối thượng giữa loài hai chân”(13).

Một hôm, Bà la môn Dona trông thấy bàn chân của Phật có h́nh bánh xe và nhiều tướng đặc thù khác của bậc đại nhân, bèn hỏi Ngài có phải là Thiên nhân, là Càn thát bà… không, th́ Thế Tôn đáp:
“Này Bà la môn, đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Thiên nhân, nhưng là một Thiên nhân mà các lậu hoặc đă được đoạn tận, giống như cây ta-la đă chặt đứt mọi gốc rễ, không thể hiện hữu, không thể nẩy mầm được nữa trong tương lai. Đối với những người chưa đoạn tận các lậu hoặc, Ta có thể là Càn thát bà, là Dạ xoa, là người, nhưng là một người đă đoạn tận các lậu hoặc, giống như cây ta-la đă chặt đứt mọi gốc rễ… Này Bà la môn, ví như bông sen xanh, bông sen hồng hay bông sen trắng, sinh ra trong nước, lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước và đang đứng thẳng không bị nước thấm ướt. Cũng vậy, này Bà la môn, sinh ra trong đời, lớn lên trong đời, nhưng Ta chinh phục đời, không bị đời thấm ướt. Này Ba la môn, Ta là Phật, hăy ghi nhớ như vậy”(14).

Đối với một đất nước có truyền thống tôn giáo lâu đời như Ấn Độ mà Đức Đạo sư lại đơn độc dấn thân t́m chân lư, cuối cùng, đạt được giác ngộ vô thượng, rồi lập ra một tôn giáo mới, làm khuynh đảo các tôn giáo cũ, quét tan mọi tà kiến, th́ được chư Thiên, vua chúa, Bà la môn và các đệ tử ca ngợi là lẽ đương nhiên. Thế nhưng, bằng tinh thần cầu thị, tiến bộ và yêu thương đồng loại, Đức Phật đă cực lực chỉ trích những quan điểm cổ hủ, lỗi thời, gây đau khổ cho con người và ḱm hăm sự tiến hóa của xă hội; v́ vậy, Ngài cũng gặp không ít những sự chống đối, đả kích từ phía những kẻ mù quáng, bảo thủ và cố chấp. Thiết tưởng, những ư kiến phản bác Đức Phật cũng nên công bố vào một dịp nào đó, để nói lên tinh thần khách quan, vô tư của đạo Giác ngộ. 

(1) Trường Bộ kinh tập III (kinh Đại Điển Tôn), tr. 222, xb 1972.
(2) Tương Ưng Bộ kinh tập I, tr.82, xb 1982.
(3), (8) Trường Bộ kinh tập I (kinh Sa-môn quả), tr.85; (kinh A Ma Trú), tr.88, xb 1973.
(4), (9) Trung Bộ kinh tập II (kinh Pháp Trang Nghiêm), tr.436; (kinh Brahmàyu), tr.456. xb 1982.
(5), (6) Trường bộ kinh tập II (kinh Sonadanda), tr.114; (kinh Kutadanta), tr.131, xb 1967.
(7) Tăng Chi Bộ kinh IIB (IV, 194), tr.280, xb 1981.
(10) Trung Bộ kinh III (kinh Tiểu nghiệp phân biệt), tr.405, xb 1975.
(11) Trường Bộ kinh tập IV (kinh Tự hoan hỷ), tr.101, xb 1972.
(12) Kinh Di Giáo trong luật Sa-di-ni quyển một, HT.Trí Quang dịch giải, tr.113, xb 1973.
(13) Tăng Chi Bộ kinh tập I (XIII, phẩm Một người), tr.28, xb 1980.
(14) Tăng Chi Bộ kinh tập II, q. A (VI, 36), tr. 52, xb 1981.
 
(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Đức Phật >>