categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

Pháp Tu Chứng Chánh Đẳng Giác Của Đức Phật

 Phổ Nguyệt

 

 

Con đường t́m đạo, tự tu tự chứng đến khi đắc đạo của đức Phật là hành tŕnh lắm chôn gai với ḷng kiên tŕ quyết thắng là một nổ lực phi thường. Ngài cũng đă trải qua những thử nghiệm trong sáu năm khổ hạnh khốc liệt để chiến đấu chống lại sự ham muốn của tự ngă bằng những giai đoạn hành đạo với những vị thầy Bà-La-Môn như nhịn ăn, thiền nín thở, các loại thiền yoga, v.v…, nhưng tất cả phương pháp đó dù đoạn trừ được những tham dục, những ác hạnh mà vẫn không đem lại giác ngộ, v́ từ cái bị sanh mà t́m đến cái bị sanh khác chỉ đem đến những thất vọng mà thôi. Từ đó Ngài tự t́m ra con đường vượt khỏi ḍng sanh diệt đến thế giới vô sanh niết bàn. Mục đích bài này Phổ Nguyệt chỉ tŕnh bày Pháp Tu Chứng Chánh Đẳng Giác mà Phật đă chứng đạo. Tham khảo nhiều kinh Phật dạy (dù không đầy đủ) có liên hệ đế việc tu chứng của Bồ Tát là một gắng sức của chúng tôi để vừa thâm cứu vừa tu học, âu cũng là sự cần thiết cho việc thực hành đến mức độ tối ưu.

 

I. Cái Bị Sanh.

 

Thái tử Siddhattha là người rất trầm lặng, thích sống một ḿnh giữa đời sống nhung lụa xa hoa đầy cám dỗ mà Ngài không động tâm bị các dục lạc làm say đắm. Nhận thức cuộc đời quá mong manh: sanh già bệnh chết, ngay cả những thứ như vợ con, đầy tớ, dê cừu, gà, heo, voi, ḅ ngựa vàng bạc là những thứ bị sanh sẽ bị bịnh bị già bị chết bị khổ bị ô nhiễm. Bồ Tát có ư nghĩ những thứ ǵ trong thế giới hiện tượng này khi có sanh th́ có diệt. “Những thứ bị sanh đó nếu ta nắm giữ, tham đắm, mê say chúng th́ chính ta là người bị sanh lại t́m cầu cái bị sanh.” (Kinh Thánh Cầu, 26, Kinh Trung Bộ)

 

Thật vậy, biết rằng “vạn pháp duy thức."  Thức tức là tâm thức là do tương quan lập của căn trần thức. Tất cả con người, sự vật và vũ trụ, nói chung là sự vật trong thế giới hiện tượng này đều do duyên khởi hay tùy thuộc lập nên chúng hay thay đổi và không thể thường tồn. Nên con người th́ sanh già bệnh chết, c̣n sự vật th́ sanh trụ hoại diệt, cái ṿng lẩn quẩn luôn bị sanh bị diệt măi lăn trôi.

Hiện tượng trong thế giới tương đối của sự vật hiện hữu do nhân duyên kết hợp, do đó chúng không có lúc nào tự ḿnh độc lập tồn tại. Rơ ràng chúng có sanh ra th́ có lúc phải hủy diệt v́ lẽ có sự trao đổi vật chất và năng lượng với môi trường chung quanh. Trong vật lư học, việc bảo tồn năng lượng cho biết năng lượng không sanh ra và không biến đi mà chỉ có thể thay đổi. Khi sự giao lưu năng lượng và vật chất của mỗi hữu thể với bên ngoài, hữu thể đó tạm thời ổn định cân bằng v́ phải tiêu tán năng lượng và vật chất, nên thay cũ đổi mới để tồn tại. Sự trao đổi vật chất và năng lượng của hữu thể trong không gian là lịch tŕnh sanh trụ hoại diệt. Sự giao lưu vật chất và năng lượng của xác thân con người với bên ngoài được tạm thời hiện hữu là lịch tŕnh sanh lăo bịnh tử. Sự vật hiện hữu do duyên họp, khi duyên tan th́ hoại không, theo lư Duyên Khởi sau này của Ngài Long thọ. C̣n sự vật tạm thời hiện hữu gọi là Thực Tại Tùy Thuộc theo Duy Thức Học của Ngài Vô Trước. (Xem Thực Tại và Chí Đạo, Phổ Nguyệt, 2002)

Lúc Phật chưa giác ngộ, Bồ Tát hành đạo với các thầy Bà La Môn như khổ hạnh, nhịn ăn, thiền nín thở tuy là những pháp diệt dục và loại trừ các pháp bất thiện rất tốt, cốt dùng cách hành hạ xác thân mong chế ngự được tâm, nhưng thật sự khi sức khỏe kiệt quệ, bụng đói, tinh thần tán loạn th́ không an tịnh th́ làm ǵ có trí sáng suốt để đi đến giác ngộ giải thoát. Sự giải thoát là sự hiểu biết mà đàng này họ chỉ dạy chế ngự thân và hành động của thân như ngũ dục và những ác pháp để mong t́m đến giải thoát, ngay các loại thiền yoga cũng c̣n trong thế giới hiện tượng (bị sanh) mà thôi. Riêng hành các pháp khổ hạnh nhịn ăn và thiền nín thở th́ rơ ràng không thể đem lại trí định được; có thể các loại thiền cao cấp của yoga, như thiền vô hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng làm cho tư tưởng phong phú hơn, nhưng không đem đến giác ngộ. Tại sao? V́ c̣n dùng tưởng tri là vẫn c̣n bị sanh.

Cái bị sanh cần được phân tích rơ ràng.

 

Với sự nhận thức thường t́nh mà xét th́ tâm được kết cấu như sau:

a). Nhận Diện (Cảm giác: Sensation).

Ngủ giác quan là phương tiện tiếp xúc với trần cảnh để nhận diện ảnh hay hay bóng dáng của trần cảnh. Đó là chúng ta cảm giác được h́nh ảnh của sự vật qua ngũ giác quan mà thôi. Thí dụ, khi ta thấy con ḅ là thấy h́nh ảnh con ḅ ở vơng mạc cuả mắt mà thôi. Đó là CẢM GIÁC. Nhắc lại, (Về thị giác) khi ta nh́n con ḅ, h́nh ảnh con ḅ hội tụ ở vơng mạc của mắt, truyền dẩn bởi thị giác thần kinh lên năo, lức đó ta mới nhận diện được h́nh ảnh con ḅ. Khi có thời gian th́ sự vật chạy dài trong không gian, với ảnh ta vừa thấy đó không c̣n là ảnh thật nữa (Sắc tức thị không: Sắc lập tức (Một sát na) biến thành không thật nữa. Hể có thời gian th́ có không gian. Sự vật huyễn hóa theo thời gian và ảnh không c̣n thật trong không gian. Vậy, khi nhận diện được h́nh ảnh (thấy), ấn tượng chấn động lực(nghe), không khí hay hơi (ngửi), ấn tượng kích thích (nếm), h́nh ảnh tiếp giáp của da hay cơ thể (xúc) là thể không của đối tượng qua tiền ngũ căn. Thí dụ, như thị giác, sự vật chiếm cứ trong không gian (hư không) một dung thể không: sự vật và dung thể không của nó khắng khít nhau như một, th́ thể không của nó là h́nh ảnh sự vật được hội tụ ở vơng mạc mắt khi mắt nh́n sự vật. Do đó khi thấy sự vật cụ thể ở trong không gian là thấy h́nh ảnh của nó ở vơng mạc của mắt mà thôi.

b). Nhận Thức (Tri giác: Perception).

Khi chúng ta cảm giác h́nh ảnh sự vật th́ lúc đó chúng ta mới nhận biết được (perceive) tên sự vật. Sự vật có tên mà ta nhận thức đó là GIÁC THƯC (hay Tâm Thức: Consciousness hay Perception) chạy dài theo thời gian. Khi nhận thức ngay niệm đầu một sát na và không có kéo dài thời gian nữa là ta có giác thức nguyên sơ (niệm đầu) hay là chơn thức (pure perception or true consciousness), đó cũng là định của thức. H́nh ảnh con ḅ là thể không được nhận thức bởi tâm trí (tâm trí cũng cùng thể không.) Tâm và vật đồng thể không, nên sự nhận thức mới thành h́nh. Lục căn phối hợp với lục trần (thể không) sanh ra lục thức. Lục thức không có thực thể, Phật gọi là lục tặc, v́ thức là nghiệp. Ḍng tâm thức luôn trôi chảy không ngừng nghỉ. Nó không có khởi điểm cũng như kết thúc và nó dính nhiều pháp trần làm cho ḍng tâm thức luôn ô nhiễm và vẩn đục.

c). Tri Thức (Cognition).

Trong đời sống hằng ngày, ta thường nhận thức sự vật bằng ngũ giác quan. Khi ta tri nhận (cognize) sự vật đă nhận thức, ta có tri thức (Cognition). Trong quá tŕnh tri nhận sự vật trong hiện tại (Với cảm giác), quá khứ hay tương lai (với ư thức), cả ba thời chúng ta tri nhận được sự vật mới có GIÁC TRÍ (hay Tâm Trí). Giác Trí nầy là Tư Tưởng, Suy Nghĩ, Lư Luận v.v. theo thời gian. Nó là sự lập lại của tâm thức hay tri nhận các thức và tạo ra nghiệp thức. Nên ta có thể gọi là tâm duyên ư mă v́ tư tưởng chúng ta lúc nào cũng ẩn hiện trong tâm trí từng giây từng phút liên tục, chỉ trừ có những động lực khác hay pháp môn có khả năng chận dừng được vọng tưởng đó. Đó là cái Bị Sanh.

c). Giác Trí Tuệ (Pure Cognition).

Khi Phật thành đạo là do đạt được Trí Tuệ hay Giác Trí Tuệ th́ các pháp giải thoát được thiết lập thực hành Giác Trí Tuệ trong các thời thiền tập. Thực ra Giác Trí Tuệ có thể thực hiện trong tứ oai nghi. Vậy Giác Trí Tuệ là tri nhận đầu nguồn của Giác Trí và xa ĺa nó ngay. Nói rơ hơn là khi chúng ta nhận thức niệm đầu của Cảm Giác (Sensation) để có Giác Thức nguyên sơ (Pure Perception hay first consciousness), lập tức tri nhận Giác Thức nguyên sơ ấy để được Giác Trí (Cognition là Giác Trí có thời gian) và xa ĺa giác trí ngay mới có Giác Trí Tuệ (Vô thời gian). V́ Giác Trí Tuệ là Tri Thức Nguyên Thủy (Pure Cognition) của Chân Trí (Vô thời không). Thí dụ, chúng ta thấy con voi là giác thức hay tâm thức, v́ thấy h́nh ảnh đối tượng hay con vật trước (Cảm Giác) rồi nhận thức (perceive) con vật đó là con voi (hay biết được là con voi, biết nầy thấy biết của căn, luôn luôn đi kèm theo cảm giác, nên thấy con voi, biết tên đối tượng là cái thức hay tâm thức hay giác thức. Nên thức là thực tại duyên khởi hay giả danh mà thôi). Rồi chúng ta tri nhận (dùng ư trí) giác thức ấy để có giác trí. Vậy khi chúng ta nhận thức niệm đầu của con voi (thấy biết con voi đầu tiên) là ta có giác thức nguyên sơ, lập tức ta tri nhận (Hay Biết: Cognize chớ không phải là perceive) giác thức nguyên sơ ấy để có giác trí tuệ và phải xa ĺa cái biết ấy nữa th́ mới có giác trí tuệ toàn diện. V́ giác thức vô thời không nên không có ái thủ hữu lôi kéo, tức giác trí tuệ, hay tuệ giác là cái biết vô trụ, cũng là cái định của trí. Đó là cái Vô Sanh.

Tóm:

* Khi nhận diện đối tượng (cảm giác: sensation) rồi nhận thức cảm giác ấy với tên gọi  (perceive its name) mới có tâm thức (consciousness or perception) hay giác thức.

* Tri nhận (cognize) giác thức mới có giác trí hay tri thức hay tâm trí (cognition).

* Giác trí tuệ (discernment) hay tri thức nguyên thủy (pure cognition) là khi giác thức không có thời không, là cái biết sat-na hiện tiền, tức là tuệ giác hay tánh giác phải dùng tuệ tri, tuệ quán, biết vô trụ, hay liểu tri đối tượng mới đạt được.

 

Do h́nh thành giác trí, tri kiến tư tưởng, tưởng tri, quán tưởng (không dùng chánh niệm), suy nghĩ là cái bị sanh v́ thế, thiền vô hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng của yoga chỉ ở giai tầng sanh khởi do tưởng tri hay sở tri, c̣n quán niệm thường, không có định trí được, chỉ là định của thức (si định) mà thôi, như sau nầy Phật dạy trong kinh Pháp Môn Căn Bản 01, (kinh Trung Bộ) trí của phàm phu:

Phàm Phu

Tưởng tri là sự suy nghĩ, tưởng nhớ, tưởng tượng, kư ức, thuộc loại Mạc- Na- thức hay trong A-Lại-Da-thức, là những h́nh ảnh được khôi phục lại, có cái trung thực, có cái sai lạc và ngay cả có cái tương tự lẫn lộn với h́nh ảnh đối tượng cũ, nhưng không phải đối tượng cũ. Đă là những h́nh ảnh cũ khôi phục lại là những ảo ảnh của những đối tượng khiếm diện (kể như không có đối tượng). Do đó tưởng tri là biết do tưởng thức hoặc suy nghĩ lại những ư tưởng so đo của tự ngă, tưởng tượng những đối tượng không thật có do tiền ngũ căn trực tiếp nhận thức, nên sự nhận thức chấp trước, lệch lạc và không chơn thật của tri kiến phàm phu, chúng sanh thường t́nh mà thôi. Như Phật thuyết giảng:

-- Này các Tỷ-kheo, ở đây, có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhân, không tu tập pháp các bậc Chơn nhân, tưởng tri địa đại là địa đại. V́ tưởng tri địa đại là địa đại, người ấy nghĩ đến địa đại, nghĩ đến (tự ngă) đối chiếu với địa đại, nghĩ đến (tự ngă) như là địa đại, người ấy nghĩ: "Địa đại là của ta" - dục hỷ địa đại. V́ sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri địa đại.

Người ấy tưởng tri thủy đại là thủy đại. V́ tưởng tri thủy đại là thủy đại, người ấy nghĩ đến thủy đại, nghĩ đến (tự ngă) đối chiếu với thủy đại, nghĩ đến (tự ngă) như là thủy đại, người ấy nghĩ: "Thủy đại là của ta" - dục hỷ thủy đại. V́ sao vậy? Ta nói người ấy không liễu tri thủy đại.

Người ấy tưởng tri. phong đại cũng như thế.

Người ấy tưởng tri Sanh vật,chư Thiên, Sanh chủ, Phạm thiên, Quang âm thiên,Biến tịnh thiên, Quảng quả thiên, Abhibhù (Thắng Giả)...

Người ấy tưởng tri Không vô biên xứ,Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ...

Người ấy tưởng tri sở kiến, sở văn, sở tư niệm, sở tri...

Người ấy tưởng tri đồng nhất, sai biệt, tất cả là tất cả...

Người ấy tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn. V́ tưởng tri Niết-bàn là Niết-bàn, người ấy nghĩ đến Niết-bàn, nghĩ đến (tự ngă) đối chiếu với Niết-bàn. Nghĩ đến (tự ngă) như là Niết-bàn, người ấy nghĩ: "Niết-bàn là của ta" - dục hỷ Niết-bàn. V́ sao vậy? Ta nói: Người ấy không liễu tri Niết-bàn.

 

II. Cái Vô Sanh.

 

Từ cái Sanh hay bị sanh của thế gian, Bồ Tát nhận rơ rằng con người với ḍng tâm trí mê muội măi ch́m đắm trong cuộc sống xa hoa dục lạc, và cứ lăn trôi trong ngũ dục th́ làm sao tránh khỏi thế giới sanh già bịnh chết, khổ, ô nhiễm. Sự vật trong thế giới hiện tượng là cái bi sanh, th́ phải t́m đến cái vô sanh hay bản chất cuả thế giới này, cái luôn thường tồn bất biến. Khi con người đạt đến thế giới vô sanh th́ không c̣n bị sanh nữa, tức là thoát khỏi cảnh sanh già bịnh chết, ưu khổ. Cũng là lúc Ngài phải từ bỏ tu lối thiền yoga để thực hành phương pháp do Ngài tự khám phá. Tâm trí mê muộI của con người trong thế giới hiện tượng biến dị trong ḍng bộc lưu sanh tử phải được vượt thoát ra khỏi nó để đến thế giới vô sanh, thường tồn, giải thoát khỏi nhân duyên sanh diệt, tức là t́m về chân trí mà soi sáng vạn pháp để làm chủ cái bị sanh trong thế gian. Chúng ta cần t́m hiểu sự h́nh thành của chân trí (cái Vô Sanh) như thế nào mới có thể mở ra con đường trí tuệ giải thoát. Như Phật đă thuật lại sự t́m cái Vô sanh và đă chứng được cái vô sanh trong kinh Thánh Cầu-26 (kinh Trung Bộ):

Rồi này các Tỷ-kheo, Ta tự ḿnh bị sanh, sau khi biết rơ sự nguy hại của cái bị sanh, t́m cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị già, sau khi biết rơ sự nguy hại củ ái bị già, t́m cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; và đă chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị bệnh, sau khi biết rơ sự nguy hại củ ái bị bệnh, t́m cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị chết, sau khi biết rơ sự nguy hại củ ái bị chết, t́m cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị sầu, sau khi biết rơ sự nguy hại củ ái bị sầu, t́m cầu cái không sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái vô sầu, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự ḿnh bị ô nhiễm, sau khi biết rơ sự nguy hại củ ái bị ô nhiễm, t́m cầu cái không bị ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn và đă chứng được cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Và trí và kiến khơi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị dao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không c̣n sự tái sanh nữa.

  Khảo Sát Cái Vô Sanh Hay Chánh Trí (Chân Trí.)

    Khi ta tri nhận ngay đầu nguồn của của giác thức hay tâm thức (Niệm đầu) và xa ĺa nó ngay là ta có tri thức nguyên thủy (cognize a pure perception to get a pure cognition or a discernment).

* Nhất Nguyên Tuyệt Đối

Khi đă đạt được nguyên lư Nhất Nguyên Tương Đối (Cái Bị Sanh), cái c̣n lại là phải tiến hành làm cho Giác Trí Đang Là đó không thể sanh Tư Tưởng vẩn vơ trong Tâm làm cho Tâm vẩn đục. Quá khứ, đă qua,bất khả đắc v́ tiền ngũ căn không thể nắm bắt; tương lai chưa đến nên tiền ngũ căn cũng không nắm bắt được; c̣n hiện tại là Cái Đang Là, nó nối tiếp bằng những sát na sanh diệt, cũng không nắm bắt được; chỉ có Cái Hiện Tiền hay Sát Na Hiện Tiền, là một Thực Tại Điểm có thể nắm bắt được. Làm sao nắm bắt ngay cái ĐiểmThực Tại đó?

         * Diễn tiến Nhận thức Giác Trí Tuệ hay Thể cách Tri nhận Tự Tính Tuyệt Đối

Nhất niệm hay cái Thức nguyên sơ là Thực Tại Điểm trong tiến tŕnh nhận thức khởi đầu của Giác Thức Đang Là, cũng là Nhị Nguyên tính của Năng Sở, Chủ Khách, Căn Trần;

Giác Trí là tiến tŕnh tri nhận đầu nguồn của Giác Thức Đang Là, cũng là Nhất Nguyên Tính Tương Đối của Trí Thức hay Tư Tưởng. Nhất Nguyên là v́ khi Ư Tác Động của Căn (Ư thức) tiếp xúc với đối tượng (thực tại giả lập), thành Giác Thức (hay Tâm Thức), lập tức được Ư Tác Năng (Ư Trí) ư niệm hóa Giác Thức thành Giác Trí (hay Tâm Trí). Tâm Thức và Tâm Trí cùng một Tâm. Thức chuyển thành Trí. Giác Trí Đang Là (hiện tại), dù nằm trong đạo lư nhất nguyên, nhưng nó cũng huyễn hóa theo thời gian. Cái Đang Là là sự nối tiếp những điểm sát na sanh diệt liên tục. Ḍng Giác Trí ấy trôi chảy làm cho Trí và Thức liên hợp sanh ra Tư Tưởng. C̣n tư tưởng là c̣n có sự thay đổi, nên chưa phải là chân lư. Chân lư th́ thường hằng bất biến. Do dó Giác Trí Đang Là thuộc diện tương đối;

Chân Trí hay Giác Trí Tuệ hay cái Trí Nguyên Sơ được nhận thức ngay nơi thực tại điểm khởi đầu tiến tŕnh của động tác Giác Trí Đang Là, cũng là Nhất Nguyên Tính Tuyệt Đối của Năng Sở song vong và vô Thời Không. Vậy Chân lư tối hậu hay Tự tính tuyệt đối, hay đạo lư Nhất nguyên tuyệt đối là Nhận thức vượt Thời Không, là Tánh Giác hay Tánh Không. Không dùng Tư Tưởng suy nghĩ bàn luận mà dùng pháp môn không hai, hay nói khác đi làThể hiện, là im lặng không dùng ngôn ngữ mà là Hành là Thiền, Cái Vô Sanh. Đó là pháp "Bất Khả Tư Nghị", là Trung Đạo.

 

 Thực Tại Tuyệt Đối hay Chân Lư Tối Hậu: Vô Thời Không

Đứng trên phương diện chân lư tối hậu , th́ tự tính tuyệt đối của sự vật đều có tánh không hay là không có tự tính , là tuệ giác, là cái biết sát-na hiện tiền, là tánh giác. Chân lư th́ nó không lệ thuộc, không bị áp đặt, độc lập, v́ tánh giác là ư trí tác năng, thường hằng trong tâm trí, có thức th́ biết, không có thức cũng biết. Biết lại cái thức hay không là do chủ ư tự do.  Nhắc lại, tánh Hư Không, đức Phật giải thích:’’ A Nan ! Ngươi phải biết trong Tạng Như Lai, ‘’Tánh giác’’ tức là thiệt hư không, ‘’Hư Không’’tức là ‘’Thiệt Tánh giác’’, thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp thế giới...

Thực tại tuyệt đối này là tuệ giác (tri giác)cái biết sat-na hiện tiền là cái định của trí; thường dùng biết vô thời không, tuệ tri, hay tuệ quán để đạt được trí này. (Xem Tuệ Giác  trong Cốt Tủy các Kinh Căn Bản Phật Giáo, Phổ Nguyệt, 2007)

Sau khi rời bỏ phương pháp tu thiền yoga, Bồ Tát nhớ lại pháp thở ở thời thơ ấu vừa thoải mái vừa làm cho trí năo sáng suốt hơn, nên Ngài dùng nó để đi vào thiền định. Ngài tự hành từ con đường giới định tuệ mới có thể giác ngộ giải thoát khỏi ḍng bộc lưu sanh tử. Ngài dùng thắng trí hay chánh trí để liểu tri đối tượng như kinh Giáo Giới Nandaka -146 (Kinh Trung Bộ) mà Phật dạy sau này.

* Chánh Trí Tuệ (Chánh Trí, Thắng Trí, Thượng Trí, dùng Tuệ Tri (Biết) hay Liểu Tri): Tri Kiến Hữu Học và Giác Ngộ

Bài học này tôn giả Nandaka (Kinh Giáo Giới Nankada) đă được Phật day nên giáo giới lại cho các vi Tỳ-kheo-ni về sự vô thường của nhản căn sắc trần và nhăn thức theo chơn trí. Chúng ta nh́n một vật th́ thấy và biết như chơn mắt, thấy  biết như chơn các sắc, thấy biết như chơn nhăn thức v́ chúng ta đă hiểu được chơn mắt, chơn các sắc, và chơn nhăn thức theo  thật tướng của chúng như đă tŕnh bày trên. Chơn mắt, chơn sắc, và chơn nhăn thức là một khi nh́n một vật ǵ th́ sử dụng một lần mà thôi (vô thời gian). Nếu không kéo dài thời gian th́ vật đó c̣n nguyên thủy: nó-là -nó tại đó và lúc đó, vô thời không hay mắt, sắc (vật), hay thấy (nhăn thức) vẫn c̣n chơn nguyên, thấy biết không bị xúc thọ ái lăn trôi theo thời gian mà có những khái niệm, nên mắt, sắc, thấy biết không thay đổi, cố định. Nói chung,  nhận thức trong Trí (hay Tâm) chúng ta đều có chứa sẵn biểu hiện  Trí Năng, T́nh Năng và Hoạt Năng, nên dây thần kinh dẩn truyền lên năo h́nh ảnh của chơn các căn, từ chơn các căn đồng thời đă xúc chạm dây thần kinh, có nhân căn xúc; do duyên căn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. V́ chúng ta thấy  biết (tuệ tri) chơn cảm thọ không có thời gian, nên không có ái trước (trong A Lại Da thức) đối với các căn   (không lập lại), không có ái trước đối với các căn (h́nh ảnh các căn có sẵn tích tụ) và ái trước đối với căn xúc (Xúc có sẵn trong A-Lai-Da Thức: kư ức). Từ đó do duyên căn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ , bất khổ bất lạc thọ mà không có ái trước đối với cảm thọ ấy.

Hành giả cần phải khéo thấy như thật như chơn, với chánh trí hay chơn trí, cái bất biến, thường c̣n hay pháp chánh tri kiến. Hành giả phải đoạn tận các lậu hoặc, để được tự ḿnh chứng tri trong hiện tại, đạt đươc chánh trí, và an trú vô lậu tâm giải thoát, huệ giải thoát, tức là an trú vào không tánh vậy.

Nói theo phương tiện cục bộ thời gian th́ bản chất địnhtuệ th́ b́nh đẳng và đồng thời v́ trong định có tuệ, trong tuệ có định. Định là cái tuệ giác, cái biết sat-na hiện tiền, cái an tịnh không động không rung chuyển (Tuệ quán trong Kinh Nhất Dạ Hiền Giả).

Nói theo cứu cánh tối hậu th́ định được thời gian tích lũy đến chí đạo mới đạt được tuệ giác toàn diện tức là tánh giác, như Phật chứng đắc Chánh Đẳng Giác.

Trước khi đắc pháp, Bồ Tát đă thực hành thuần thục giới luật qua khổ hạnh, nhịn ăn, thiền nín thở dù không làm phát triển trí tuệ, nhưng các pháp ấy được ly dục và xa ĺa các hành động bất thiện, tưởng cũng đă làm căn bản cho sự rèn luyện phạm hạnh rất tốt. Cho đến khi Ngài chứng đắc thiền yoga của phàm phu cũng làm nền cho tiến tŕnh thiền định thắng tri, với những vị Hữu Học th́ tri kiến được chính xác hơn, cái biết sáng suốt như suy nghĩ rơ ràng, không đối chiếu lệch lạc mà nh́n thẳng vào sự vật. Thắng tri hay liễu tri sự vật mà không so đo, không suy nghĩ vẩn vơ, tưởng tượng và không dục hỷ mà dùng chơn trí bằng pháp chánh tri kiến; bậc A-La-Hán là những vị dùng pháp thắng tri để liễu tri sự vật (pháp chánh tri kiến) không dục hỷ và đoạn trừ được tam độc. Bậc I biết pháp liễu tri sự vật mà không dục hỷ. Bậc ̀I biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ và đă đoạn trừ được tham dục. Bậc III biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ, đoạn trừ được sân hận.Bậc IV biết pháp liễu tri sự vật, không dục hỷ, đoạn trừ được si mê; c ̣n đấng Như Lai là bậc A-la-hán, chánh đẳng chánh giác, dùng pháp thắng tri hay pháp chánh tri kiến để liễu tri sự vật, không dục hỷ, hoàn toàn diệt trừ các ái, sự ly tham sân si, đă chơn chánh giác ngộ vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Biết được kinh nghiệm tu hành của Bồ Tát theo các kinh dạy của Phật sau này như Thiền định-20, (Kinh Tăng Chi Bộ):

10-13. Nếu vị ấy trú quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời ... quán thọ trên các cảm thọ ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời ...

14-17. ... Đối với các pháp ác, bất thiện chưa sanh, khởi lên ư muốn không cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Đối với các pháp ác, bất thiện đă sanh, khởi lên ư muốn đoạn tận, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Đối với các pháp thiện chưa sanh, khởi lên ư muốn làm cho sanh khởi, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ... Đối với pháp thiện đă sanh, khởi lên ư muốn làm an trú, không cho vong thất, làm cho tăng trưởng, làm cho quảng đại, tu tập, làm cho viên măn, tinh cần, tinh tấn, quyết tâm, cố gắng ...

……

Quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, h́nh sắc trắng, ánh sáng trắng. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy ..."

55-62. Tự ḿnh có sắc, thấy các sắc. Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các loại ngoại sắc ... quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy ... Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến các tưởng khác biệt, với suy tư: "Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư: "Thức là vô biên", chứng và trú Thức vô biên xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư: "Không có vật ǵ", chứng và trú Vô sở hữu xứ ... vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ....Vượt khỏi Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng ...

Trong lúc thiền định Bồ Tát luôn dùng kèm phương pháp thở, như kinh NhậpTức Xuất Tức Niệm-118 (Kinh Trung Bộ)

….Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống, và ngồi kiết-già, lưng thẳng và trú niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô; chánh niệm, vị ấy thở ra. Thở vô dài, vị ấy biết : "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài, vị ấy biết : "Tôi thở ra dài". Hay thở vô ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra, vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Nhập tức xuất tức niệm, này các Tỷ-kheo, tu tập như vậy, làm cho sung măn như vậy, được quả lớn, được công đức lớn…

Lúc đầu Bồ Tát dùng chánh niệm thở vô, chánh niệm thở ra như trong phẩm Tương Ưng Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra-54 (kinhTương Ưng Bộ):

……4) Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống, ngồi kiết-già, lưng thẳng, đặt niệm trước mặt; vị ấy chánh niệm thở vô, chánh niệm thở ra.

5) Thở vô dài, vị ấy rơ biết: "Tôi thở vô dài". Thở ra dài, vị ấy rơ biết: "Tôi thở ra dài". Thở vô ngắn, vị ấy rơ biết : "Tôi thở vô ngắn". Thở ra ngắn, vị ấy rơ biết: "Tôi thở ra ngắn".

6) "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

7) "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

8) "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "An tịnh tâm hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác về tâm, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

9) "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm hân hoan, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm định tĩnh, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Với tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

10) "Quán vô thường, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán vô thường, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán ly tham, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán đoạn diệt, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Quán từ bỏ, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập.

11) Tu tập như vậy, này các Tỷ-kheo, làm cho sung măn như vậy, niệm hơi thở vô, hơi thở ra thời có quả lớn, có lợi ích lớn.

Trong tứ oai nghi, đi đứng nằm ngồi, mọi cử động, mọi hoat động đều phải chánh niệm như trong Phẩm Thân Hành Niệm-119 (Kinh Trung Bộ), chỉ trích phần thân hành niệm ở đoạn ngồi thiền:

….. Và này các Tỷ-kheo, thân hành niệm tu tập như thế nào, làm cho sung măn như thế nào, có quả lớn, có công đức lớn ?

Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến ngôi nhà trống và ngồi kiết-già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước mặt. Chánh niệm, vị ấy thở vô. Chánh niệm, vị ấy thở ra. Hay thở vô dài, vị ấy biết : "Tôi thở vô dài". Hay thở ra dài vị ấy biết: " Tôi thở ra dài" . Hay thở vô ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở vô ngắn". Hay thở ra ngắn, vị ấy biết : "Tôi thở ra ngắn". "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở vô", vị ấy tập. "Cảm giác cả toàn thân, tôi sẽ thở ra". An tịnh thân hành, tôi sẽ thở vô", vi ấy tập. "An tịnh thân hành, tôi sẽ thở ra", vị ấy tập. Trong khi vị ấy sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, các niệm và tư duy thuộc về thế tục được đoạn trừ. Nhờ đoạn trừ các pháp ấy, nội tâm được an trú, an tọa, chuyên nhất, định tĩnh. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập thân hành niệm….

Tu thiền không có phóng dật là đệ nhất hành đạo như trong Phẩm Bất Động Lợi Ich-106 (Kinh Trung Bộ):

……Ở đây, các ác bất thiện ư này dẫn đến tham dục, sân hận, khích động, và chính những pháp ấy tác thành chướng ngại ở đây cho Thánh đệ tử học tập. Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Các dục hiện tại và các dục tương lai… cho Thánh đệ tử học tập. Vậy ta hăy an trú với tâm quảng đại, đại hành, sau khi chiến thắng thế giới, sau khi xác định vị trí của ư. Khi ta an trú với tâm quảng đại, đại hành chiến thắng thế giới, xác định vị trí của ư, các ác bất thiện ư : tham dục, sân hận, khích động sẽ không khởi lên; với các pháp ấy được đoạn trừ, tâm của ta không trở thành hạn hẹp, trái lại thành vô lượng, khéo tu tập". Trong khi ấy hành tŕ như vậy, an trú nhiều lần như vậy, tâm trở thành an tịnh trong giới xứ (của nó). Với tâm an tịnh, vị ấy thành tựu bất động ngay hiện tại hay thiên nặng về trí tuệ. Sau khi thân hoại mạng chung, sự t́nh này xảy ra, thức diễn tiến (samvattanikam vinnanam) có thể tùy theo đây đạt đến Bất động. Như vậy, này các Tỷ-kheo, được gọi là đệ nhất hành đạo về lợi ích Bất động……

…..Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Những dục hiện tại và những dục tương lai, những dục tưởng hiện tại và những dục tưởng tương lai, những sắc pháp hiện tại và những sắc pháp tương lai, những Bất động tưởng, những Vô sở hữu xứ tưởng, và những Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, cái ǵ thuộc tự thân, là tự thân. Đây là bất tử tức là tâm giải thoát không thủ trước". Này Ananda, đây là đạo lộ về lợi ích Bất động được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Vô sở hữu xứ được Ta thuyết giảng, đạo lộ về lợi ích Phi tưởng phi phi tưởng xứ được Ta thuyết giảng, là sự vượt qua ḍng nước mạnh do y cứ sự này sự kia được Ta thuyết giảng, Thánh giải thoát được Ta thuyết giảng. Những ǵ, Này Ananda, vị Đạo sư cần phải làm, v́ ḷng từ mẫn mưu t́m hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy đă được Ta làm, v́ ḷng từ mẫn của Ta đối với Ông. Này Ananda, đây là những gốc cây, đây là những khoảng trống. Hăy tu Thiền, này Ananda, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Đây là lời dạy của Ta cho Ông.

Bồ Tát phải sống một ḿnh lúc đó thân tâm mới được yên tịnh mà tu hành, như trong phẩm Sống Một Ḿnh-36.11 (kinh Tương Ưng Bộ):

 

 3……… Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một ḿnh, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: "Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ". Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: "Phàm cái ǵ được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". Do liên hệ đến cái ǵ, lời nói này được Thế Tôn nói lên: "Phàm cái ǵ được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ"?

  4. Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này Tỷ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái ǵ được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". Chính v́ liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái ǵ được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính v́ liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái ǵ được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Sống Một Ḿnh-36.11)…..

…..5) Nhưng này Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các hành là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời nói được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được đoạn diệt; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được đoạn diệt; khi chứng Thức vô biên xứ, không vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được đoạn diệt. Đối với Tỷ-kheo đă đoạn tận các lậu hoặc, tham được đoạn diệt, sân được đoạn diệt, si được đoạn diệt.

  6) Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tịnh chỉ các hành là tuần tự; khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được tịnh chỉ; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được tịnh chỉ.... .. khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được tịnh chỉ. Đối với Tỷ-kheo đă đoạn tận các lậu hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được tịnh chỉ.

  7) Này các Tỷ-kheo, có sáu khinh an này, khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được khinh an; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được khinh an; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh an; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được khinh an; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được khinh an; khi chứng Vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ tưởng được khinh an; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vô sở hữu xứ tưởng được khinh an; khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được khinh an. Đối với Tỷ-kheo đă đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh an.

Sau cùng Bồ Tát quyết định dùng Định Niệm Hơi Thở để đạt sự giác ngộ giải thoát như trong phẩm Tương Ưng Hơi Thở Vô Hơi Thở Ra-54 (kinh Tương Ưng Bộ):

…..14) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng các niệm, các tư duy của ta được đoạn tận", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này phải được khéo tác ư.

15) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ta sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ư.

16) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ta sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ư.

17) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ trú với tưởng nhàm chán đối với các pháp không nhàm chán và nhàm chán", thời định niệm...

18) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Tôi sẽ trú với tưởng không nhàm chán đối với các pháp nhàm chán và không nhàm chán", thời định niệm...

19) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng sau khi từ bỏ cả hai không nhàm chán và nhàm chán, tôi sẽ trú xả, chánh niệm, tỉnh giác", thời định niệm...

20) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ", thời định niệm...

21) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thời định niệm...

22) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ ba", thời định niệm...

23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đă cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh", thời định niệm...

24) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt đối ngại tưởng, không tác ư các tưởng sai biệt, nghĩ rằng: ‘Hư không là vô biên", chứng đạt và an trú Không vô biên xứ", thời định niệm...

25) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Không vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Thức là vô biên", tôi có thể chứng đạt và an trú Thức vô biên xứ", thời định niệm...

26) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, nghĩ rằng: ‘Không có vật ǵ’, tôi sẽ chứng đạt và an trú Vô sở hữu xứ", thời định niệm...

27) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ư.

28) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, tôi sẽ chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng định", thời định niệm hơi thở vô, hơi thở ra này cần phải được khéo tác ư.

29) Trong khi tu tập định niệm hơi thở vô, hơi thở ra như vậy, này các Tỷ-kheo, trong khi làm cho sung măn như vậy, vị ấy cảm giác lạc thọ. Vị ấy rơ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rơ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rơ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, vị ấy rơ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rơ biết: "Không chấp trước thọ ấy". Vị ấy rơ biết không hoan duyệt thọ ấy". Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy rơ biết: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy rơ biết: "Không có chấp trước thọ ấy". Vị ấy rơ biết: "Không có hoan duyệt thọ ấy".

30) Nếu vị ấy cảm giác lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác khổ thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm giác bất khổ bất lạc thọ, thọ ấy được cảm thọ không bị trói buộc. Khi vị ấy đang cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rơ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rơ biếy: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rơ biết: "Ở đây, tất cả mọi cảm thọ đều không có ǵ được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh".

31) Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu, duyên tim, một cây đèn dầu được cháy sáng. Nếu dầu và tim của ngọn đèn ấy đi đến tiêu diệt, nhiên liệu không được mang đến, thời ngọn đèn sẽ tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân, vị ấy rơ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của thân". Khi Tỷ-kheo cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy rơ biết: "Tôi cảm giác một cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng". Khi thân hoại mạng chung, vị ấy rơ biết: "Ở đây, tất cả những ǵ được cảm thọ đều không có ǵ được hân hoan, và sẽ trở thành mát lạnh".

III. Lược Thuật Pháp Hành

A.    Thực Hành.

Bồ Tát quyết định tự thực hành theo chín bước - như Phật dạy các vị Tỷ-kheo trong  X. Phẩm Tham (kinh Tăng Chi Bộ) - sau đây cho đến khi đắc đạo:

(I) (93) Thắng Tri Tham

1. - Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp cần phải tu tập. Thế nào là chín?

2. Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng yểm ly đối với các món ăn, tưởng không vui thích đối với tất cả thế giới, tưởng vô thường, tưởng khổ trên vô thường, tưởng vô ngă trên khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham.

Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp này cần phải tu tập.

(II) (94) Thắng Tri Tham

1. - Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp cần phải tu tập. Thế nào là chín?

2. Sơ Thiền, Thiền thứ hai, thiền thứ ba, Thiền thứ tư, Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Diệt thọ tưởng định.

Này các Tỷ-kheo, để thắng tri tham, chín pháp này cần phải tu tập.

(III) (95 - 100) Liễu Tri Tham

1. - Này các Tỷ-kheo, để liễu tri tham... để diệt tận... để đoạn tận... để trừ diệt... để ly tham... để đoạn diệt... để trừ khử... để từ bỏ, chín pháp này cần phải tu tập.

2. Để liễu tri sân... si, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, năo hại, tật đố, xan tham, man trá, phản bội, ngoan cố, bồng bột, mạn, tăng thượng mạn, kiêu, phóng dật... để thắng tri... để liễu tri... để diệt tận...để đoạn diệt... để trừ diệt... để ly tham... để đoạn diệt... để trừ khử... để từ bỏ, chín pháp này cần phải tu tập.

Thế Tôn thuyết như vậy, các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy

Chín pháp tu tập:

Bốn pháp Thiền đầu tiên đều dùng định niệm hơi thở nghĩa là Biết (Tuệ Tri)Chánh niệm như hơi thở, ly duc, ly pháp bất thiện, tịnh chỉ tầm tứ, hỷ lạc sanh, ly hỷ trú xả theo thứ tự các thời thiền từ định niệm tướng đối tượng (ngôn hành); định niệm Thức đối tương (ư hành hay tĩnh thức); định niệm Tánh (trí) đối tượng (trí hành, tĩnh giác); định niệm hơi thở bằng cách vô niệm, bất động (thân hành, thể nhập).

  1. Nhẩm biết niệm hay đọc hơi thở (ngôn hành): Định niệm bằng tướng hơi thở (có lời, có tiếng): Định niệm bằng thể tướng hơi thở.

Định Niệm Hơi Thở bằng lời. Biết Nhẫm Đọc hơi thở.

Khi thở vô, “Tôi biết tôi thở vô.”

Khi thở ra, “Tôi biết tôi thở ra”

* Tức là định niệm hay đọc nhẫm có phát ra lời, có chủ (chủ thể: tôi tức căn tai nhận thức), khách thể (đối tượng là tiếng thở vô và thở ra). Như vậy, sơ định có tầm tứ và hỷ lạc có lời là có tầm, có tướng là có tứ và hỷ lạc.

Có thể nói là Định Tướng hơi thở mỹ lệ (hỷ lạc).

Đồng thời cũng dùng thiền định để luôn trao dồi giới lẫn định.

Từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm.

 Lời Phật dạy (trong Đaị Kinh Phương Quảng 43, Trung Bộ Kinh)

“Này Hiền giả, Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần và thành tựu năm chi phần. Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo thành tựu Thiền thứ nhất từ bỏ tham dục, từ bỏ sân, từ bỏ hôn trầm thụy miên, từ bỏ trạo hối, từ bỏ nghi, thành tựu tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm. Này Hiền giả, như vậy Thiền thứ nhất từ bỏ năm chi phần, và thành tựu năm chi phần."

Cũng Phẩm 54, VIII Ngọn Đèn (kinh Trung Bộ) có viết:

20) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly dục, ly pháp bất thiện, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ", thời định niệm...

Khi ly dục, ly các pháp bất thiện chứng và  trúThiền thứ nhứt, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh có tầm có tứ, lời nói được đoạn diệt.

 

 

2.      Thầm hội biết Thức Hơi Thở (Thức Hành). Định niệm bằng nhận thức luồng hơi thở (ư thức thầm hội hơi thở)

“Biết tôi thở vô

Biết tôi thở ra”

Chỉ dùng căn ư là chủ  (lặng lẻ) để nhận thức (với ư tác động) hơi thở vô hơi thở ra là khách.

Đó là cách Tĩnh ThứcKhi có định và  chánh niệm th́  tầm và  tứ  được đoạn diệt chỉ được nội tĩnh nhất tâm. C̣n Thức là c̣n trạng thái hỷ lạc.

Diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm.

21) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng làm cho tịnh chỉ tầm và tứ, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm", thời định niệm...

3.      Ngộ nhập biết + ư trí Hơi Thở (Trí hay Tánh Hành). Định niệm bằng ư trí ngộ nhập hơi thở (tri nhận đối tượng trong trí: ngộ nhập luồng hơi thở

           vào cái biết). Biết tri nhận luống hơi thở. Định và chánh niệm hơi thở nên gọi là Trí Hành  hay Tĩnh Giác.

“Biết thở vô

Biết thở ra.”

Biết rơ hơi thở vô hơi thở ra. Định và chánh niệm bằng ư trí (ư tác năng)

Đó là Tĩnh Giác về hơi thở. Chỉ có thở vô thở ra được ư trí ư niệm hóa mà thôi.

Hành này dùng pháp tánh không (biết=định), dùng trí (tuệ tri) để tri nhận hơi thở. C̣n đối tượng th́ c̣n lạc thọ v́ có định của trí (tĩnh giác), nên lạc thọ này không ảnh hưởng đến tâm.

Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và an trú Thiền thứ ba.

22) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác,thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, tôi sẽ chứng đạt và an trú Thiền thứ ba", thời định niệm...

 

4. Thể Nhập Cảm giác Vô Ra (Thân Hành: Vô Niệm: không niệm tướng niệm thức cả niệm trí): Pháp bổn như vô pháp: Như là không thở: Thể Nhập chốn tịch tĩnh như nhiên, biết cảm nhận luồng hơi thầm lặng Vô Ra.

“Biết cảm giác vô,

Biết cảm giác ra.”

Biết cảm giác Vô Ra, v́ khi nhận dạng cảm giác (bóng dáng) của một đối tượng mà chưa được nhận thức (chưa được đặt tên hay đọc tên) tên đối tượng là chỉ thể nhập nơi tịch tĩnh y nhiên, tức là cảm giác chỗ đối tượng chưa thành h́nh, chưa có tên (giả danh), đó cũng gọi là tri thức nguyên thủy hay tuệ giác của chân trí. Biết cảm nhận luồng hơi vô luồng hơi ra mà thôi. Khi không có mặt đối tượng th́ làm ǵ có hỷ lạc trong tâm.

Khi xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, vị ấy chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

23) Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ước muốn rằng: "Mong rằng đoạn lạc, đoạn khổ, chấm dứt hỷ ưu đă cảm thọ trước, tôi chứng đạt và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh", thời định niệm...

 

Chánh Giác (Vô niệm: buông xả}

Buông xả và ngưng động: Từng hơi thở tự nhiên tự động hiện hữu rơ ràng: nó-là-nó tại-đó và lúc đó mà thôi, một trạng thái trống rỗng. Vô Niệm

Trạng thái thân chứng nhờ thể nhập chốn tịch tĩnh như nhiên

Tức là phải trải qua ba giai đoạn trên (huân tập kinh nghiệm thuần thục), để hành giai đoạn thứ tư nầy một cách rốt ráo, nghĩa là vô tướng vô thức và vô trí (hay vô tánh) tức là vô niệm, từng chập hơi thở tự nhiên và tự động vào, ra, hiện hữu rơ ràng rỗng không). Khi Phật đă trải qua ba lối thở trên (kinh nghiệm) là đă đạt được chánh trí rồi như các kinh Phật đă giáo hóa chúng sanh sau này. Đó là lúc Bồ Tát đă đoạn diệt cảm thọ vui buồn, vượt khỏi ái thủ hữu được minh tâm và giải thoát. Giai đoạn thứ tư này là Pháp mà Phật đă thể hiện được Tánh Giác c̣n gọi là Pháp Vô Niệm, Buông Xả là không Niệm Tướng , không Niệm Thức và cả không dùng Trí mà ngộ nhập vào từng ḍng hơi vô ra tự động hiện hữu tư nhiên rơ ràng  trong trống không. Đó là Thiền Thứ Tư.

 

Qua bốn giai đoạn định niệm hơi thở với bốn tầng thiền là đạt được định tĩnh;

 thân chứng,  tâm chứng là mở ra con đường giác ngộ thực tướng vạn hữu. Tánh Giác hay Tánh Không, giống như Chân Như, Niết Bàn là Tự Tính Tuyệt Đối vượt khỏi Thời Không, như vậy Tánh Không ở ngoài thế giới khái niệm của ngă tính (nhị nguyên). Tánh Không chỉ khéo có tác ư rằng Không không thể là đối tượng của tư duy ngă tính, mà chỉ có thể thể nhập thực tại tuyệt đối, một thứ thực tại như thật, thể nhập vào tánh không của cảm giác đối tượng trước khi biến thành thức.

 Tóm, bốn pháp định niệm hơi thở được Phật nhắc lại như trong Thánh Cầu -26 (kinh Trung Bộ):

……. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc, do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là: một vị đă làm Ác Ma mù mắt, đă diệt trừ mọi vết tích, đă vượt khỏi tầm mắt Ác ma. Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đă vượt khỏi tầm mắt của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các vị Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... đă vượt khỏi tầm mắt của Ác ma. Này các Tỷ-kheo, lại nữa Tỷ-kheo xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đă cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là... vượt khỏi tầm mắt của Ác ma.

Trong năm pháp thiền sau, Ngài đều dùng Tâm Định Tĩnh, một Tâm Định Niệm của Thiền thứ tư là Thân Hành bất động, chỉ định và tĩnh giác tức là Biết và Thể Nhập đối tượng cho nhuần nhuyễn đến Thuần Tịnh.

      5. Không Vô Biên Xứ.

Không Vô Biên Xứ là cơi vô sắc giới dùng Định Tĩnh đối tượng. Dùng Định Tĩnh Giác thực hành như sau: không tác ư những chi tiết (Cục Bộ), mà chỉ hân hoan thích thú và an trú hướng đến cái Hư Không Vô Biên (Toàn Thể).

Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ư lâm tưởng, không tác ư địa tưởng, tác ư sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Không vô biên xứ. Vị ấy tuệ tri như sau : "Các ưu phiền, do duyên lâm tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên địa tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri: "Loại tưởng này không có lâm tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có địa tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Không vô biên xứ tưởng". Và cái ǵ không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái c̣n lại, ở đây vị ấy biết : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh

     6. Thức Vô Biên Xứ

  Tâm Định Tĩnh thích thú, hân hoan, an trú, chỉ nhất trí hướng đến Thức Vô Biên Xứ.

      Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ư địa tưởng, không tác ư Không vô biên xứ tưởng, chỉ tác ư sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Thức vô biên xứ. Vị ấy tuệ tri như sau : "Các ưu phiền do duyên địa tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có địa tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Thức vô biên xứ tưởng". Và cái ǵ không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái c̣n lại, ở đây vị ấy tuệ tri : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.

     7. Vô Sở  Hữu Xứ

Thiền định đi vào cơi vô sở hữu xứ v́ vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật ǵ", chứng và trú Vô sở hữu xứ.

Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ư Không vô biên xứ tưởng, không tác ư Thức vô biên xứ tưởng, chỉ tác ư sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô sở hữu xứ. Vị ấy tuệ tri như sau : "Các ưu phiền do duyên Không vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Không vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri: "Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Vô sở hữu xứ tưởng". Và cái ǵ không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái c̣n lại, ở đây, vị ấy tuệ tri : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.

 

     8. Phi Tưởng Phi Phi Tưởng X ứ

Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ là Thức tính bất động, diệt hẳn sự suy nghĩ hay không suy nghĩ.

Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ư Thức vô biên xứ tưởng, không tác ư Vô sở hữu xứ tưởng, chỉ tác ư sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Vị ấy biết như sau : "Các ưu phiền do duyên Thức vô biên xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Thức vô biên xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng, và chỉ có một cái này không phải không, tức là sự nhất trí do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và cái ǵ không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái c̣n lại, ở đây, vị ấy tuệ tri : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.

     9. Diệt Thọ Tưởng Định.

 Diệt Tận Định—Định Tam muội, làm cho tâm và tâm sở của Lục Thức dập tắt hoàn toàn những cảm thọ và suy tưởng. Đây là một trong những phương thức thiền cao nhất dẫn tới định tâm (tâm ư không nhiễm không nương vào một cảnh nào, không tương ứng với một pháp nào.) Đây là phép định của bậc Thánh. Khi vào phép nầy th́ tâm trí vượt tới cơi vô sắc giới, truớc khi đi vào cơi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định, rồi đắc quả Phật và nhập Niết Bàn.

Lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo không tác ư Vô sở hữu xứ tưởng, không có tác ư Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tác ư sự nhất trí do duyên Vô tướng tâm định Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như sau : "Các ưu phiền do duyên Vô sở hữu xứ tưởng không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên Phi tưởng phi phi tưởng xứ không có mặt ở đây. Và chỉ có một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Vô sở hữu xứ tưởng". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Và cái ǵ không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái c̣n lại, ở đây vị ấy tuệ tri: "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, không tánh.

Lại nữa, này Ananda, vị Tỷ-kheo không tác ư Vô sở hữu xứ tưởng, không tác ư Phi tưởng phi phi tưởng xứ tưởng, tác ư sự nhứt trí do duyên Vô tướng tâm định. Tâm vị ấy được thích thú, hân hoan, an trú, hướng đến Vô tướng tâm định. Vị ấy tuệ tri như sau : "Vô tướng tâm định này thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên. Phàm cái ǵ thuộc hữu vi, do tâm tư tạo nên, cái ấy là vô thường, chịu sự đoạn diệt", vị ấy tuệ tri như vậy. Do vị ấy tuệ tri như vậy, thấy như vậy, tâm được giải thoát khỏi dục lậu, tâm được giải thoát khỏi hữu lậu, tâm được giải thoát khỏi vô minh lậu. Trong sự giải thoát, là sự hiểu biết (nana) rằng đă được giải thoát. Vị ấy tuệ tri : "Sanh đă tận, Phạm hạnh đă thành, những việc nên làm đă làm, không c̣n phải trở lại trạng thái này nữa". Vị ấy tuệ tri : "Các ưu phiền do duyên dục lậu không có mặt ở đây; các ưu phiền do duyên hữu lậu không có mặt có ở đây; các ưu phiền do duyên vô minh lậu không có mặt ở đây. Và chỉ ở một ưu phiền này, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có dục lậu". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có hữu lậu". Vị ấy tuệ tri : "Loại tưởng này không có vô minh lậu. Và chỉ có một cái này không phải không, tức là sáu nhập duyên mạng, duyên với thân này". Và cái ǵ không có mặt ở đây, vị ấy xem cái ấy là không có. Nhưng đối với cái c̣n lại, ở đây vị ấy biết : "Cái kia có, cái này có". Này Ananda, cái này đối với vị ấy là như vậy, thật có, không điên đảo, sự thực hiện hoàn toàn thanh tịnh, Không tánh. (Kinh Tiểu Không-121, Kinh Trung Bộ)

    B. Quả Đạt Được

Khi hoàn tất chín pháp thiền là lúc Bồ Tát đă đạt tâm định tĩnh, trong sáng, nhu nhuyễn dễ sử dụng.Trong Đại Kinh Saccaka-36, Phật thuật lại sự chứng ngộ của ḿnh như:

1). “Túc Mạng Minh” là nhớ lại tất cả kiếp quá khứ, từ một đến vô số kiếp của Ngài:

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Túc mạng minh. Ta nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, T ó tên như thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, T ó tên như thế này, ḍng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này". Như vậy Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết. Này Aggivessana, đó là minh thứ nhất Ta đă chứng được trong đêm canh một, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta

2). “Thiên Nhăn Minh” là thấy rơ sự sanh tử và tái sanh của đủ hạng chúng sanh:

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến trí tuệ về sanh tử của chúng sanh. Ta với thiên nhăn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Ta biết rơ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những chúng sanh làm những ác hạnh về thân, lời và ư, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến; những người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cơi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. C̣n những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ư, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến; những vị này sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cơi trời, trên đời này. Như vậy Ta với thiên nhăn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Ta biết rơ rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của họ. Này Aggivessana, đó là minh thứ hai Ta đă chứng được trong đêm canh giữa, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Như vậy, này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

3). “Lậu Tận Minh” là nhận biết rơ ràng như thật “khổ và lậu hoặc”, biết “nguyên nhân khổ và lậu hoặc”, “diệt khổ và lậu hoặc”, và “con đường đưa đến chấm dứt khổ và lậu hoặc”. Khi chứng được Lậu Tận Trí, Ngài không những thiết lập tứ đế mà c̣n cho biết Ngài đă hoàn toàn giải thoát khỏi ḍng bộc lưu sanh tử.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh tĩnh như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến Lậu tận trí. Ta biết như thật: "Đây là Khổ", biết như thật: "Đây là Nguyên nhân của khổ", biết như thật: "Đây là sự Diệt khổ", biết như thật: "Đây là Con đường đưa đến diệt khổ", biết như thật: "Đây là những lậu hoặc", biết như thật: "Đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật: "Đây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật: "Đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Đối với tự thân đă giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: "Ta đă giải thoát" Ta đă biết: "Sanh đă diệt, phạm hạnh đă thành, việc cần làm đă làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa". Này Aggivessana, đó là minh thứ ba mà Ta đă chứng được trong canh cuối, vô minh diệt, minh sanh, ám diệt, ánh sáng sanh, do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần. Như vậy này Aggivessana, lạc thọ sanh nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.

IV. Kết Luận

Xuyên qua chín pháp mà BồTát tự ḿnh khám phá và thực hành để đạt được Chánh Đẳng Giác. Chúng ta nhận thấy rằng sự diệt tham dục, và ác pháp của Bồ Tát trong giai đoạn đầu của sáu năm trong cuộc hành tŕnh tim và tu đạo thật gian nan, khốc liệt, một loại giới luật quá nghiêm khắc mà ít ai làm được. Dù giới luật ấy không đem đến giác ngộ, nhưng nó cũng giúp Ngài rèn luyện được phạm hạnh tối ưu. Riêng thực hiện con đường giác ngộ và giải thoát của Bồ Tát với chin bước theo đạo lộ “Giới Định Tuệ” đưa đến sự hoàn tất thực chứng của Ngài. Bốn pháp định niệm hơi thở đă mở ra bốn giai đoạn thực tập tuần tự chứng và an trú từ thiền thứ nhứt đến thiền thứ tư là lần lượt đoạn diệt lời nói (ngôn hành), ư thức (ư hành), ư trí (tánh hành), và vô niệm (thân hành) là thể nhập thể tánh của đối tượng, là lúc tâm được định tĩnh. Định tĩnh (Biết và Tĩnh Giác) sơ khởi và thực hành tiếp năm pháp thiền cao cấp sau cùng để tiến tới tâm định tĩnh, thuần tịnh trong sáng không cấu nhiễm, không phiền năo, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, b́nh tĩnh là đă đắc được tam minh hoàn toàn giác ngộ và giải thoát, chứng ngộ Niết Bàn trở thành một vị Phật tức đức Phật Thích Ca Mâu Ni, một đấng Như Lai Chánh Đẳng Giác. 

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT.

 

 

 

Tham khảo 

Kinh Tăng Chi Bộ (Phẩm 20, X(I)(93)).

KinhTrung Bộ (01, 26, 36, 43, 106, 118, 119).

Kinh Tương Ưng Bộ (36.11, 54)

Tất cả kinh trên do HT.Thích Minh Châu Việt dịch thuộc kinh Pali, trích trong website Quảng Đức:


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Đức Phật >>