THE TIBETAN BOOK OF LIVING AND DYING Sogyal Rinpoche Ni sư Thích Nữ Trí Hải dịch
Tạng thư sống chết - 08. Phần 1: Sống - 06. Tiến hóa, Nghiệp và tái sinh phần 1

THE TIBETAN BOOK OF LIVING AND DYING - Sogyal Rinpoche - Ni sư Thích Nữ Trí Hải dịch
Vào cái đêm lớn lao ấy, khi đức Phật giác ngộ, tương truyền rằng ngài đã kinh quá nhiều giai đoạn của sự tỉnh thực. Đầu tiên, "với tam định tĩnh, thuần tịnh, không lỗi lầm, không cấu nhiễm, được làm cho mềm mại, dễ sử dụng, an trú bất động," ngài xoay chú ý về sự nhớ lại những đời quá khứ. Ngài kể lại cho ta kinh nghiệm ấy như sau:

- Ta nhớ lại nhiều đời trước: một đời, hai, ba, bốn, năm đời,.. năm mươi, một trăm đời... trăm ngàn đời, trong các thời kiếp khác nhau. Ta biết mọi sự về những thời ấy: chỗ ở, tên họ, gia đình, và ta đã làm gì. Ta kinh quá trở lại những may mắn bất hạnh của mỗi đời, cái chết của ta trong mỗi đời, rồi lại tái sinh trở lại nhiều lần. Như thế ta nhớ lại vô số đời trước với những nét đặc biệt chính xác, và những hoàn cảnh. Minh này ta đã chứng vào canh đầu của đêm.

Từ thuở bình minh của lịch sử, sự tái sinh và niềm tin có đời sau đã chiếm một chỗ quan trọng trong hầu hết các tôn giáo lớn của nhân loại. Sự tin có tái sinh vẫn hiện hữu trong những người Ki tô vào thuở sơ khai của lịch sử Ki tô giáo, và tồn tại dưới nhiều hình thức cho đến thời Trung cổ. Origen, một trong những người có ảnh hưởng nhất trong những nhà thờ, đã tin tưởng "sự có-trước của linh hồn" và đã viết vào thế kỉ thứ ba:

- "Mỗi linh hồn đến thế giới này được tăng cường bởi vinh quang hay bị yếu kém bởi những thất bại trong những đời trước của nó."

Mặc dù Ki tô giáo cuối cùng đã chối bỏ niềm tin tái sinh, ta vẫn có thể tìm dấu vết niềm tin ấy qua tư tưởng thời Phục sinh, trong những trước tác của những thi sĩ lãng mạn chính như Blake và Shelley, và cả đến trong một con người như tiểu thuyết gia Honoré de Balzac. Từ khi có sự nổi lên ưa chuộng các tôn giáo đông phương vào cuối thế kỉ trước, một số khá lớn những người Tây phương đã bắt đầu chấp nhận tri kiến của Ấn giáo và Phật giáo về tái sinh. Một trong những người này là Henry Ford, kỹ nghệ gia nổi tiếng thương người, đã viết:

- Tôi theo lý thuyết tái sinh vào năm tôi hăm sáu tuổi. Tôn giáo không cho biết tí gì về vấn đề này. Ngay cả sự nghiệp cũng không đem lại cho tôi niềm thỏa mãn. Sự nghiệp thật vô bổ nếu ta không thể đem theo cái kinh nghiệm ta thu nhập để sử dụng trong đời kế tiếp. Nhưng khi tôi khám phá thuyết tái sinh, thì thời gian không còn bị hạn chế nữa. Tôi không còn là một tên nô lệ cho cái kim đồng hồ... Tôi muốn san sẻ với người khác sự an tịnh mà cái thấy ấy đã đem lại cho chúng ta.

Một cuộc trưng cầu ý kiến của viện Gallup vào năm 1982 chứng tỏ cứ bốn người Mỹ thì có một người tin có luân hồi. Đây là một thống kê làm ta giật mình, khi xét đến một nơi mà triết lý khoa học duy vật hầu như tiềm tàng trong mọi phương diện của đời sống hàng ngày.

Tuy nhiên, phần đông người ta chỉ có khái niệm lờ mờ về đời sống sau khi chết, và hoàn toàn không biết nó ra như thế nào. Luôn luôn người ta bảo tôi rằng họ không thể nào tin nổi một chuyện không có bằng cứ hiển nhiên. Nhưng sự "không tin" của họ đâu phải là bằng chứng để nói không có đời sau chứ? Voltaire nói:

- Chung quy, sinh ra lần nữa cũng không là chuyện lạ lùng gì hơn chuyện sinh ra lần này.

Tôi thường hỏi: "Nếu ta đã từng sống trước đây, thì tại sao ta không nhớ?" Nhưng tại sao "ta không nhớ" lại có nghĩa rằng trước kia ta chưa từng sống? Chung quy, những kinh nghiệm tuổi thơ, hay của hôm qua, hay cả đến những điều ta vừa nghĩ một giờ trước, rất sống động khi chúng xảy ra, nhưng kí ức về chúng hầu như hoàn toàn phai mờ, như thể chưa từng xảy đến. Nếu những gì chúng ta làm hay nghĩ vào thứ hai tuần trước mà ta còn không nhớ được, thì làm sao ta nghĩ là có thể dễ dàng hay bình thường, để nhớ những gì ta làm trong đời trước?

Đôi khi tôi đùa người ta và hỏi:

- Cái gì làm bạn cương quyết cho rằng không có đời sau như vậy? Bạn có bằng chứng gì? Nếu bạn chết mà thấy quả thực có đời sau thì bạn tính sao? Có phải là bạn phải tự giới hạn mình, khi bạn tin rằng không có đời sau nào cả? Có phải là có lý hơn nếu bạn cứ đặt một nghi vấn về đời sau, hay ít nhất có thái độ cởi mở về điều ấy, mặc dù không có cái mà bạn gọi là "bằng chứng cụ thể"? Cái gì sẽ làm bằng chứng cụ thể là có đời sau?

Tôi lại muốn người ta hãy tự hỏi mình:

- Tại sao bạn thấy tất cả tôn giáo lớn đều tin có đời sau, tại sao hàng trăm triệu người suốt lịch sử, kể cả những triết gia lỗi lạc nhất, thánh hiền và những thiên tài của Á châu, đều sống niềm tin này như một phần cốt yếu của đời họ? Phải chăng họ đều ngu cả?

Ta hãy trở lại vấn đề bằng chứng cụ thể. Không phải chỉ vì ta chưa bao giờ nghe về Tây Tạng, hay chưa từng đến đấy, mà ta nói rằng không có xứ Tây Tạng. Trước khi lục địa khổng lồ Mỹ châu được "tìm ra," có ai ở châu Âu ngờ rằng nó có đấy? Ngay cả sau khi tìm ra châu Mỹ, người ta còn tranh cãi về sự có mặt của nó. Tôi nghĩ chính cái tri kiến hạn hẹp của ta về cuộc đời đã ngăn cản ta chấp nhận hay khởi sự tư duy nghiêm chỉnh về khả tính của tái sinh.

May thay, chuyện chưa hết. Những người nào trong chúng ta có tu tập tâm linh, như tu thiền chẳng hạn, sẽ khám phá nhiều chuyện về tâm thức chúng ta, mà từ trước ta chưa biết đến. Vì khi tâm ta càng mở ra cho kinh nghiệm kỳ lạ, bao la về hiện hữu của tự tính tâm, thì ta bắt đầu thấy một chiều không gian khác hẳn, trong đó mọi quyết đoán của chúng ta về lai lịch mình và về thực tại, mà ta tưởng mình biết thật rõ, bây giờ khởi sự tan rã, và trong đó ta thấy đời sau ít nhất cũng là một chuyện có thể xảy đến. Ta khởi sự hiểu rằng mọi sự mà các bậc thầy nói về sống chết và đời sau, quả là thực có.

VÀI "BẰNG CHỨNG" VỀ TÁI SINH

Hiện nay đã có rất nhiều sách nói về những chứng cứ của những người tuyên bố họ có thể nhớ lại đời trước. Tôi đề nghị nếu bạn thực tình muốn hiểu về tái sinh, thì hãy điều nghiên việc này với tâm trạng cởi mở, và càng nhiều tinh thần phân tích càng tốt.

Trong số hàng trăm câu chuyện về tái sinh có thể kể ra đây, có một chuyện làm tôi thích thú đặc biệt. Đó là câu chuyện của một người đàn ông trung niên ở Norfolk, Anh quốc, tên Arthur Flowerdew. Năm mười hai tuổi ông ta có kinh nghiệm về những tâm ảnh sống động của một đô thị lớn nào đó ở giữa một sa mạc. Một trong những hình ảnh xuất hiện nhiều lần trong trí ông là một ngôi đền chạm trổ từ một mỏm đá. Những hình ảnh lạ lùng này cứ trở lại trong trí ông, nhất là khi ông nhặt những hòn sỏi màu hồng và màu cam trên bờ biển cạnh nhà. Khi lớn lên, những chi tiết về đô thị trong tâm trí càng rõ hơn, ông thấy thêm nhiều tòa nhà, đường sá, lính, và đường đến đô thị xuyên qua một con kênh hẹp.

Mãi lâu về sau, hoàn toàn tình cờ, ông xem một phim tài liệu về đô thị Petra cổ của Jordan. Ông rất ngạc nhiên khi trông thấy lần đầu tiên, hình ảnh mà ông đã thấy nhiều lần trong trí qua nhiều năm. Ông cho biết ông chưa hề đọc sách vở gì về Petra. Những linh kiến của ông trở thành nổi tiếng, và sự xuất hiện của ông trên truyền hình của đài BBC làm chính phủ Jordan lư ý, đề nghị đưa ông bằng phi cơ đến Jordan cùng với một phóng viên quay phim của BBC.

Trước khi phái đoàn xuất hành, Arthur Flowerdew được giới thiệu với một nhà khảo cổ chuyên về Petra, đã viết một quyển sách về thành phố này. Nhà khảo cổ lấy làm lạ lùng trước sự hiểu biết rành mạch của ông ta, một vài điều ông nói ra chỉ có một chuyên gia khảo cổ về vùng ấy mới biết được. Đài BBC ghi lại sự mô tả của Arthur Flowerdew về Petra trước khi đi, để so sánh. Flowerdew nêu lên ba địa điểm trong linh kiến của mình về Petra: Một mỏm đá hình núi lửa ở ngoài đô thị, một ngôi đền nhỏ ở đấy ông tin rằng ông đã bị giết vào thế kỷ thứ nhất trước Thiên chúa, và một xây cất bất thường trong thành phố, mà các nhà khảo cổ rất quen thuộc, nhưng họ không biết để làm gì.

Chuyên gia khảo cổ không nhớ có mỏm đá nào như vậy, và tỏ vẻ hoài nghi. Khi ông ta đưa cho Flowerdew xem một bức ảnh chụp đô thị Petra, ông lấy làm kinh ngạc vì Flowerdew chỉ đúng cái nơi có di tích ngôi đền. Rồi người đàn ông trung niên này thản nhiên giải thích, mục đích của cái cấu trúc kỳ lạ kia là cái vọng gác trong đó ông ta đã làm lính canh, cách hai ngàn năm về trước.

Một số lớn những tiên đoán của ông chứng tỏ rất chính xác. Khi đoàn đến gần thành Petra, Arthur Flowerdew chỉ chỗ mỏm đá kỳ bí, và khi vào thành, ông đến ngay vọng gác, không cần nhìn bản đồ, và chứng minh cái cách lạ lùng mà thời xưa đã sử dụng để điểm danh lính gác. Cuối cùng ông đi đến nơi mà ông bảo ông đã bị một mủi kiếm của kẻ thù đâm chết vào thế kỉ thứ nhất trước Tây lịch, và lại chỉ ra những địa điểm, mục đích của những cấu trúc chưa khai quật được tại đô thị này.

Làm sao giải thích được sự hiểu biết lạ lùng của Arthur Flowerdew ngoại trừ sự tái sinh luân hồi?

Rồi lại có trường hợp những trẻ em nhớ lại một cách tự nhiên những chi tiết về đời trước. Nhiều trường hợp như vậy đã được tiến sĩ Ian Stevenson thuộc đại học Virginia sưu tập. Một tường thuật về những kí ức của một trẻ em về đời quá khứ đã gây sự chú ý của đức Dalai Lama. Ngài đã gửi một đại diện đến phỏng vấn và xác chứng những kí ức của em.

Tên em bé là Kamaljit Kor, con một thầy giáo sống trong một gia đình theo đạo Sikh ở tỉnh Punjab ở Ấn. Một ngày kia, khi đi coi hội chợ với cha tại một khu làng, tình cờ cô bé bảo cha đưa đến một làng khác cách đó không xa. Cha cô rất ngạc nhiên, hỏi tại sao. Cô bảo:

- Con không có gì ở đây. Đây không phải nhà của con. Cha hãy đưa con đến làng ấy. Một đứa bạn học và con đang cỡi xe đạp thì chúng con bị xe buýt đụng. Bạn con chết ngay, con bị thương ở đầu, tai, mũi. Con được đưa đi khỏi chỗ xảy ra tai nạn và đến nằm trên một ghế dài trước một tòa án nhỏ gần đấy. Rồi người ta đưa con đến bệnh viện làng. Những vết thương của con chảy máu thật nhiều, cha mẹ bà con đều theo con đến đấy. Vì bệnh viện làng không đủ phương tiện, họ tính đưa con đi Ambala. Khi các bác sĩ nói không cứu con được nữa, con đã yêu cầu đưa con về nhà.

Cha cô bé lấy làm kinh ngạc, nhưng vì cô bé năn nỉ, ông phải đưa cô đến khu làng cô muốn. Khi đến gần, cô bé nhận ra ngay, chỉ chỗ đụng xe, và gọi một chiếc xích lô.

Cô bảo xe ngừng khi họ đến một cụm nhà mà cô bảo đã từng ở đó. Người cha vẫn không tin cô, nên hỏi những người ở đấy xem họ có biết gia đình mà cô Kamaljit Kour đã mô tả. Họ xác nhận quả có việc như thế, và bảo người cha cô bé rằng Rishma, tên cô gái trước kia, khi chết đã được mười sáu tuổi, chết trong xe trên đường từ bệnh viện về nhà. Người cha hết sức bực bội, bảo cô bé họ nên trở về, song cô đi ngay tới nhà cũ, đòi bức ảnh cô chụp ở trường, và ngắm nhìn thích thú.

Khi ông nội và chú của cô Rishma đến, thì cô bé nhận ra ngay, nói đúng tên họ. Cô chỉ cái phòng riêng của cô, và đưa cha cô đi xem những phòng khác trong nhà. Rồi cô đòi những quyển sách học cũ, đôi vòng bạc và những cái nơ cùng với bộ áo quần mới màu marông. Cô của Rishma giải thích, đấy là những vật sở hữu cũ Rishma ngày xưa. Hôm sau cô gặp tất cả những bà con cũ, và khi tới giờ lên xe buýt trở về, cô bé không chịu, bảo cha rằng cô sẽ ở lại. Nhưng cuối cùng ông đã năn nỉ cô bé cùng về.

Gia đình khởi sự ráp câu chuyện lại. Kamalljit Kour đã ra đời mười tháng sau khi Rishma chết. Mặc dù chưa đi học, em bé vẫn thường làm bộ đọc sách, và nhớ được tất cả tên bạn trong tấm ảnh trường học. Kamaljit cũng thường đòi mặc áo marông. Cha mẹ cô bé khám phá ra rằng Rishma đã được tặng một bộ quần áo màu ấy mà em rất thích, nhưng chưa được mặc. Điều cuối cùng mà em bé nhớ về đời trước của mình là những ánh sáng trên chiếc xe hơi bỗng vụt tắt trên đường từ bệnh viện về nhà; có lẽ đấy là lúc em chết.

Ai muốn khảo sát nghiêm túc khả tính về đời sau, tôi đề nghị họ xem những chứng cứ cảm động về kinh nghiệm cận-tử. Rất nhiều người sống lại đã phát sinh một niềm xác tín rằng cuộc đời vẫn tiếp tục sau khi chết; nhiều người trong đó không có tín ngưỡng cũng chưa từng có kinh nghiệm tâm linh nào:

Bây giờ, suốt đời tôi hoàn toàn tin chắc có đời sau, không một chút nghi ngờ gì. Và tôi không sợ chết nữa, không. Nhiều người tôi biết rất sợ chết, sợ quá. Tôi luôn luôn cười thầm khi nghe người ta hoài nghi về đời sau, hay bảo, "Chết là hết." Tôi tự nhủ: "Họ thực sự không biết gì cả."

"Cái điều xảy đến cho tôi lúc đó là kinh nghiệm lạ lùng nhất tôi chưa từng thấy. Nó làm cho tôi nhận ra rằng có đời sau."

"Tôi biết là có đời sau. Không ai có thể lay chuyển lòng tin của tôi. Tôi không hoài nghi gì nữa. Chết thật an ổn, không có gì phải sợ. Tôi không biết còn gì ngoài ra cái mà tôi đã kinh nghiệm, nhưng với tôi, đã là tràn trề hạnh phúc...".

"Nó cho tôi một giải đáp cho cái điều mà tôi nghĩ sẽ làm mọi người ngạc nhiên vào lúc này hay khác trong đời. Vâng, có đời sau! Đẹp hơn bất cứ gì ta có thể tưởng tượng! Khi bạn đã biết, thì không có một cái gì có thể sánh bằng nó. Bạn chỉ biết thế!"

Những khảo cứu về đ? tài ấy cũng chứng tỏ những người đã chết hụt sau đó thường cởi mở hơn và có khuynh hướng chấp nhận tái sinh luân hồi.

Và phải chăng những thiên tài đặc biệt về âm nhạc hoặc toán nơi một số trẻ em có thể suy từ sự phát triển của chúng trong những đời trước? Như Mozart năm tuổi đã soạn những đoản khúc, và xuất bản những khúc sonatas vào năm tám tuổi.

Bạn có thể đặt câu hỏi:

- Nếu có đời sau, thì tại sao quá khó để nhớ lại đời trước của mình như vậy?

Trong tác phẩm "Myth of Er" (Huyền thoại về Er) Platon gợi ý một giải thích cho sự thiếu trí nhớ này.

Er là một quân nhân được xem đã chết trận, và dường như đã trải qua một kinh nghiệm cận tử rồi sống lại. Y thấy nhiều chuyện trong khi "chết," và được bảo phải trở về lại cuộc đời để kể cho người khác nghe trạng thái sau khi chết ra thế nào. Ngay trước khi trở về, y thấy những người đang được chuẩn bị để tái sinh phải di chuyển trong hơi nóng ngột ngạt ghê gớm qua "Cánh đồng quên lãng", một sa mạc không có cây cối. Khi chiều đến, họ cắm trại gần Con Sông Thất Niệm, mà nước của nó không thể múc được. Tất cả đều được bảo uống một ít nước này, và một số người không có được cái trí tuệ để ngăn họ uống nhiều. Mỗi người khi uống thì quên hết mọi sự.

Er không được phép uống nước, và khi thức dậy y thấy mình đang nằm trên giàn hỏa, và có thể nhớ lại tất cả những gì y đã thấy nghe.

Có chăng một định luật chung để làm cho ta hầu như quên hết mọi sự về thời gian và nơi chốn ta đã sống trước kia? Hay chỉ vì quá nhiều kinh nghiệm, phạm vi và cường độ của chúng quá lớn, đã xóa hết những kí ức chúng ta về những đời quá khứ?

Đôi khi tôi tự hỏi, chúng sẽ giúp ta được bao nhiêu nếu ta nhớ được? Hay lại còn làm cho chúng ta rối ren thêm?

TÍNH TƯƠNG TỤC CỦA TÂM THỨC

Theo quan điểm Phật giáo, luận cứ chính xác nhận có tái sinh là dựa trên một hiểu biết sâu xa về tâm tương tục. Tâm thức từ đâu đến? Nó không thể không từ đâu mà khởi lên. Mỗi sát na tâm không thể khởi nếu không có sát na tâm đi trước nó. Đứa Dalai Lama giải thích tiến trình phức tạp này như sau.

- Căn bản trên đó Phật giáo chấp nhận có tái sinh, chính yếu là sự tương tục của tâm thức. Hãy lấy thế giới vật chất làm ví dụ: tất cả yếu tố trong vũ trụ hiện tại của chúng ta, cho đến mức vi tế nhất, có thể tìm về một nguồn gốc, một khởi điểm ở đấy mọi vật thể của thế giới vật chất được cô đọng lại thành cái mà khoa học gọi là "lượng tử". Những phân tử này lại là kết quả sự phân hóa của một vũ trụ có trước nó. Bởi thế có một chu kỳ miên viễn trong đó vũ trụ thành và hoại, rồi lại tái sinh.

Tâm cũng tương tự như thế. Sự kiện ta có một cái gọi là "tâm hay thức" thật rõ ràng, vì kinh nghiệm chúng ta chứng tỏ sự hiện hữu của nó. Rồi kinh nghiệm cũng cho thấy rõ rằng cái mà ta gọi là "tâm hay thức" luôn luôn thay đổi theo hoàn cảnh, điều kiện. Điều này cho ta thấy bản chất liên tục và thay đổi của tâm thức.

Một sự kiện khác nữa cũng rõ ràng, là những tầng lớp thô của tâm thức liên lạc mật thiết với những trạng thái vật lý của cơ thể, và kỳ thực tùy thuộc vào chúng. Nhưng phải có một căn bản nào đó, một năng lực, nguồn gốc, khiến cho tâm thức, khi tác động hỗ tương với những phân tử vật chất, có thể sản xuất những hữu tình chúng sinh.

Cũng như bình diện vật chất, tâm cũng phải có sự tương tục từ quá khứ. Bởi thế nếu bạn theo dấu tâm trở về quá khứ, thì bạn sẽ thấy bạn đang tìm về nguồn gốc của tâm tương tục - hệt như của thế giới vật chất – là một chiều không gian vô biên; bạn sẽ thấy nó không có khởi thủy.

Bởi thế, phải có những đời tái sinh tương tục thì dòng tâm thức tương tục mới có ở đấy.

ởi thế, phải có những đời tái sinh tương tục thì dòng tâm thức tương tục mới có ở đấy.

Phật giáo tin ở lý duyên sinh theo đó mọi sự đều biến đổi, và đều có nguyên nhân và điều kiện. Bởi thế không có chỗ cho một thần sáng tạo, hay những thực thể tự-sinh. Đúng hơn, mọi sự phát sinh do kết quả của những nhân và duyên hay điều kiện. Bởi vậy tâm hay thức cũng xuất hiện kể như hậu quả của những tâm đi trước nó.

Khi nói về nhân và duyên, có hai loại: những nguyên nhân thực thụ, chất liệu từ đó một vật được sinh ra; và những yếu tố hợp tác góp phần vào sự tạo nên vật ấy, hay pháp duyên sinh ấy. Trong trường hợp tâm và thân, mặc dù cái này có thể ảnh hưởng cái kia, songc ái này không thể là chất liệu của cái kia... Tâm và vật, mặc dù lệ thuộc lẫn nhau, song không phải là những nguyên nhân thực thụ thuộc loại "chất liệu" cho nhau.

Đây là cơ sở trên đó Phật giáo chấp nhận có tái sinh. (*)

Phần đông người hiểu từ ngữ "tái sinh" như một "vật" sinh trở lại, du hành từ đời này sang đời khác. Nhưng trong Phật giáo, chúng tôi không tin có một thực thể độc lập bất biến như một linh hồn hay cái ngã tồn tại sau khi thân xác chết đi. Cái yếu tố đem lại sự tiếp nối những đời sống, theo Phật giáo, không phải là một thực thể, mà là tầng lớp vi tế sâu xa tối hậu của tâm thức. Đức Dalai Lama giải thích:

- Theo lối giải thích Phật giáo, nguyên lý sáng tạo tối hậu là tâm. Có nhiều tầng lớp của tâm. Cái mà ta gọi là bản tâm sâu xa nhất vẫn luôn luôn hiện diện ở đấy. Sự tương tục của bản tâm ấy hầu như là một cái gì trường cửu, như những lượng tử không gian. Trong địa hạt vật chất, đấy là lượng tử (phân tử không gian); trong địa hạt tâm thức, đấy là Ánh sáng Căn bản, điểm Linh Quang... Điểm Linh Quang, với năng lực đặc biệt của nó, tạo nên sự móc nối với tâm.

Cách tái sinh xảy ra đã được minh họa rõ ràng trong ví dụ sau.

- Những hiện hữu liên tiếp trong một chuỗi tái sinh không giống như những hạt ngọc trong một chuỗi ngọc, được xâu lại với nhau bằng một sợi dây gọi là "linh hồn," xuyên qua tất cả hột châu; đúng hơn chúng như những con xúc xắc chồng lên nhau, mỗi con xúc xắc là riêng biệt, nhưng nó chống đỡ con ở trên nó, tự căn để có liên hệ với nhau. Giữa những con xúc xắc không có sự giống nhau nhưng có điều kiện tính.

Kinh điển Phật giáo nói rất rõ về tiến trình duyên sinh hay điều kiện tính này. Bậc thánh tăng Nagasena giải thích cho vua Milinda trong một loạt những giải đáp nghi vấn mà nhà vua đã hỏi ngài.

Vua hỏi:

- Khi một người nào tái sinh, thì y là một với người vừa chết, hay là khác?

Nagasena trả lời:

- Không phải một cũng không phải khác... Nếu một người đốt một ngọn đèn, có thể nó cho ánh sáng suốt đêm không?

- Có thể.


- Ngọn đèn cháy trong canh một có phải là một với ngọn đèn cháy trong canh hai... hay canh cuối?

- Không.

- Như vậy có phải nghĩa là ngọn đèn canh một khác, ngọn đèn canh hai khác, ngọn đèn canh ba khác?

- Không, vì cũng chính ngọn đèn ấy cháy suốt cả đêm.

- Tái sinh cũng giống như vậy: Một hiện tượng này khởi lên và hiện tượng kia chấm dứt, hai cái đồng thời. Bởi thế tâm đầu tiên khởi lên trong đời sống mới không phải một cũng không phải khác với tâm cuối cùng trong đời trước.


Nhà vua xin một ví dụ khác để giải thích rõ bản chất của tương quan này, và Nagasena đã so sánh với sữa:

- Ván sữa, bơ, hay gia ua làm ra từ sữa không phải là một với sữa, nhưng cũng không phải khác, vì hoàn toàn tùy thuộc vào sữa.

Khi ấy vua hỏi:

- Nếu không có thực thể nào di chuyển từ thân xác này qua thân xác khác, thì có phải là ta sẽ thoát khỏi những nghiệp xấu mà ta đã làm trong các đời trước?

Nagasena cho tỉ dụ sau đây:


- Một người ăn trộm xoài người khác. Xoài y lấy không phải xoài người chủ đã trồng, làm sao lại phạt y được? Lí do y bị phạt là, những trái xoài y ăn trộm chỉ có được nhờ trước tiên người chủ có trồng ra. Cũng thế, chính vì những nghiệp của ta trong quá khứ, thanh tịnh hay không thanh tịnh, mà ta được nối liền với một đ?i khác, và không thể thoát khỏi hậu quả.

NGHIỆP

Vào canh hai, khi Phật đạt giác ngộ, ngài chứng một loại hiểu biết hay minh thứ hai, bổ túc cho trí biết về tái sinh hay túc mạng trí, đó là trí biết về nghiệp, định luật tự nhiên của nhân và quả.

"Với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân, Ta thấy hữu tình chết và tái sinh, người hạ liệt kẻ cao sang, người may mắn kẻ bất hạnh tùy theo hạnh nghiệp của chúng."

(Tùy nghiệp thú trí, liên hệ đến thiên nhãn. Dịch giả)

Sự thật và năng lực điều động tái sinh là cái mà ta gọi nghiệp. Người ta thường hiểu lầm nghiệp với định mệnh hay tiền định. Tốt nhất nên hiểu nghiệp là luật nhân quả tất yếu điều khiển vũ trụ. Danh từ karma, nghiệp, có nghĩa là "hành động," và karma vừa là năng lực tiềm tàng trong hành động vừa là hậu quả mà hành động đem lại.

Có nhiều loại nghiệp: Nghiệp quốc tế, nghiệp quốc gia, nghiệp đô thị, và nghiệp cá nhân. Tất cả đều tương quan mật thiết với nhau, và chỉ có một người đã giác ngộ mới hiểu được sự phức tạp của chúng.

Nói giản dị thì nghiệp là gì? Nó có nghĩa là bất cứ gì ta làm, qua thân, lời hay ý, đều sẽ có một hậu quả tương ứng. Mỗi hành vi, dù nhỏ nhất, đều mang nặng những kết quả của nó. Những bậc thầy nói rằng chỉ một chút độc dược cũng có thể gây ra cái chết, một hột nhỏ có thể trở thành một cây khổng lồ. Và đức Phật cũng dạy:

- Đừng khinh việc ác nhỏ chỉ vì nó nhỏ; một đóm lửa nhỏ cũng có thể đốt cháy một đống cỏ khô lớn như ngọn núi.

Ngài còn dạy:

- Đừng xem thường việc lành nhỏ, nghĩ rằng không lợi lạc; những giọt nước tuy nhỏ cũng có thể làm đầy hồ.

Nghiệp không hư hoại như những vật thể ở ngòai hay trở thành vô hiệu lực. Nó không thể bị thời gian, lửa hay nước phá hoại. Năng lực của nghiệp sẽ không bao giờ biến mất cho đến khi nó chín mùi. Mặc dù những hậu quả của nghiệp chúng ta có thể chưa chín, nhưng chúng chắc chắn sẽ chín, khi gặp điều kiện thích hợp.

Thường chúng ta quên những gì mình làm, và thực lâu về sau những hậu quả mới đến đuổi kịp chúng ta. Khi ấy ta không thể nào liên hệ chúng với những nhân, sinh ra chúng. Jigmé Lingpa nói:

- Hãy tưởng tượng, một con đại bàng đang bay cao trên bầu trời, không có bóng, không có gì chứng tỏ nó có ở đấy. Rồi thình lình nó rình mồi, lặn xuống, và sà xuống đất. Và khi nó rớt xuống, thì cái bóng đe dọa của nó xuất hiện.

Những hậu quả hành động chúng ta thường bị triển hạn, ngay cả vào những đời sau; chúng ta không thế gán một nguyên nhân duy nhất, vì bất cứ biến cố nào cũng có thể là một pha trộn vô cùng phức tạp của nhiều nghiệp chín cùng một lúc. Bởi thế chúng ta có khuynh hướng cho rằng mọi sự "tình cờ" xảy đến cho chúng ta, và khi mọi sự tiến hành tốt đẹp, ta chỉ gọi đấy là "may mắn." Tuy nhiên, cái gì khác ngoài nghiệp, có thể thực sự giải thích thỏa đáng những sai khác kỳ lạ giữa chúng ta? Dù chúng ta có thể sinh ra trong cùng một gia đình hay xứ sở, hay trong những hoàn cảnh giống nhau, chúng ta đều có tính tình khác nhau, gặp những sự việc hoàn toàn khác nhau, có tài năng khác nhau, khuynh hướng và số phận khác nhau.

Như lời Phật dạy:

- Hiện tại ta là những gì trong quá khứ ta đã từng là, và tương lai ta sẽ là gì tùy thuộc vào hiện tại ta làm gì.

Padmasambhava cũng nói:

- Muốn biết đời quá khứ, hãy nhìn tình trạng hiện tại của bạn; muốn biết đời vị lai, hãy nhìn những hành động hiện tại.
 

Về Menu

tạng thư sống chết 08. phần 1: sống 06. tiến hóa nghiệp và tái sinh phần 1 tang thu song chet 08 phan 1 song

pháp van ung dung ngoi nhà nghe giáo tin chua long hue lẠQuan điểm của Ðức Phật về thực Trường trung học chuyên khoa Bưởi 1908 thuc hien tinh than tu bi thá thu Phố Phụ nữ ngồi nhiều dễ bị ung thư vú Lại nói với con bí quyết để bạn đọc sách nhanh hơn chua hoang phap tp ho chi minh tại sao tâm chẳng được quy nhất khi Ta ở nơi nào royal grand hall Phát hiện sớm Alzheimer bằng thiết bị lễ vu lan nên cúng vào ban ngày tưởng v穫 quan niệm về đạo đức nghề nghiệp lẠc phuoc tu tam cac nha su chau a tren dat my cay tan van moi cua tac gia cai san vuong va noi tho quan diem phat giao ve tu vi oan han se dan den sai lam binh an giua cuoc doi Mẹ mua lu lai tran ve giáo lý vô ngã của phật giáo và vấn Bình Định Sẽ có hội thảo về Tổ bồ cần Thực hành tụng niệmtrong Phật giáo la Lần năm đối Đạo Về với mẹ biển xanh Ăn chay họa phước đến từ đâu cua Gởi lại đóa Xuân Thương món khóm mít trộn chay của vợ mấy