Hòa thượng họ Khổng sau khi hoạt động Phật giáo Cứu quốc, do hoàn cảnh mới đổi thành họ Nguyễn húy Hồng Hạnh, hiệu Vĩnh Đạt, thuộc dòng Lâm Tế thứ 40, sinh năm Tân Hợi 1911 Niên hiệu Duy Tân năm thứ 11, tại xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tron
Tiểu sử Hòa thượng Thích Vĩnh Đạt

Hòa thượng họ Khổng (sau khi hoạt động Phật giáo Cứu quốc, do hoàn cảnh mới đổi thành họ Nguyễn) húy Hồng Hạnh, hiệu Vĩnh Đạt, thuộc dòng Lâm Tế thứ 40, sinh năm Tân Hợi (1911) Niên hiệu Duy Tân năm thứ 11, tại xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, trong một gia đình làm nghề nông sùng mộ đạo Phật.
Hạt giống bồ đề khơi mầm, vườn hoa Bát nhã nở hoa, ấu niên 9 tuổi, những sợi tóc não phiền rơi rụng theo từng nhát kéo đong đưa, Ngài trở thành chú tiểu đệ tử của đại lão Thiền sư Khánh Thông, Tổ đình Bửu Sơn, xã Tân Thủy, huyện Ba Tri. Hòa thượng Bổn sư cho Ngài thọ giới Sa Di vào ngày mồng một tháng 07 năm Tân Dậu (1921) tại Bổn tự Bửu Sơn do Bổn sư của Ngài đương vi Đàn đầu Hòa thượng. Bấy giờ trong chùa Tăng chúng tu học khá đông, nên Ngài được Hòa thượng Bổn sư cho làm thị giả hầu nhị vị tôn đức đại lão  Hòa thượng Khánh Hòa là đồng môn huynh đệ của Hòa thượng Bổn sư ở chùa Tiên Linh tỉnh Bến Tre và làm Thị giả đại lão Hòa thượng Từ Phong, xóm Chợ Gạo, làng Tân Hòa Đông, tổng Long Trung, tỉnh Chợ Lớn (nay ở số 345/45 đường Hùng Vương, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh).

Năm 20 tuổi (Tân Mùi - 1931) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 16, Đại giới đàn tổ chức tại Long Nhiễu Tự, nay thuộc xã Mỹ Thạnh, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, Ngài được thọ Cụ Túc giới, rồi đi tham học các nơi. Bấy giờ bắt đầu có phong trào chấn hưng Phật giáo ở Nam kỳ do đại lão Hòa thượng Khánh Hòa chủ xướng. Nhiều Phật học đường được tổ chức khắp nơi để đào tạo Tăng tài, quan trọng nhất là Phật học đường Lưỡng Xuyên. Đến đâu Ngài cũng một lòng khiêm cung học hỏi và gìn giữ tốt nếp sống thanh qui tự viện, nên được mọi người mến thương, nhắc nhở. 

Năm 24 tuổi (Ất Sửu - 1925) Niên hiệu Bảo Đại năm thứ 10, Ngài được Hòa thượng Bổn sư truyền pháp, ban cho bài kệ như sau: 

紅煇继正宗
幸和福慧通
永傳僧續道
薘悟了真空

Hồng huy kế chánh tông
Hạnh hòa phúc tuệ thông
Vĩnh truyền Tăng tục đạo
Đạt ngộ liễu chân không.
 Sau  đó được Hòa thượng Bổn Sư bổ nhiệm trụ trì các tự viện như: Tổ đình Long Khánh (Chùa Ông Đồ) Ấp An Hòa, Xã An Bình Tây, huyện Ba Tri. Chùa Mỹ Thành Ấp 2, xã Mỹ Nhơn, huyện Ba Tri. Chùa Bửu Linh Ấp 3, xã Thạnh Phú Đông, huyện Giồng Trôm. . . (tất cả những ngôi Tự viện này Ngài đều giao lại cho Pháp tôn Thích Hiển Pháp Trụ trì). 

Sau việc khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo cả nước, thành lập nhiều trường Phật học, đào tạo được một thế hệ tăng ni có phẩm hạnh, có trình độ Phật học, trình độ văn hóa xứng đáng là sứ giả Như Lai. Đặc biệt có nhiều tông môn còn bồi dưỡng cho thế hệ sau theo đường hướng “Dân tộc - Đạo pháp” nên sau Cách mạng tháng Tám 1945 có nhiều Tăng Ni “cởi áo cà sa khoác chiến bào” tham gia hai thời kỳ kháng chiến, góp phần giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Ngài cùng toàn dân chống giặc cứu nước. Trong thời gian này Ngài tham gia công tác cho Mặt trận Việt Minh và là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Bến Tre.

Trong quá trình hoằng dương chánh pháp, hóa độ chúng sinh, Ngài đã từng trụ trì nhiều ngôi tự viện Phật giáo các tỉnh như chùa Long Phước tại thị xã Vĩnh Long, chùa Vạn Đức nơi đặt Phật học đường Sóc Trăng. Trụ trì Sắc tứ Tam Bảo cổ tự, Hà Tiên, nơi đây Ngài khóa an cư kiết hạ và lớp giáo lý dạy Phật pháp căn bản cho Phật tử.

Năm Nhâm Dần (1962), sau khi dự khóa tu nghiệp trụ trì “Như Lai Sứ Giả” tổ chức tại chùa Pháp Hội (Sài Gòn), Ngài được chư Tôn đức Giáo Hội Tăng Già Nam Việt bổ nhiệm về trụ trì Phước Hưng cổ tự tại thị xã Sa Đéc. 

Trong chức vụ trụ trì, Ngài bắt tay vào việc chỉnh đốn lại quy luật thiền môn cho phù hợp với đường lối Giáo hội đương thời, kiến thiết và sửa sang lại chánh điện, cổng rào, Đông Tây lang, kiến tạo lại các tháp của chư vị trú trì tiền bối, xây thành tượng đài Quán Âm lộ thiên. Ngài còn cho xây Phật học đường chùa Bửu Quang và tháp thờ Xá lợi Phật trong khuôn viên chùa, xây Tăng xá, Pháp Bảo đường để tàng trữ kinh sách, làm cơ sở cho Phật học viện trong tương lai. Công trình này rất qui mô, nên thực hiện trong nhiều năm cho đến cuối đời Ngài vẫn chưa hoàn mãn. Mặc dù chưa hoàn chỉnh hết, nhưng trên đại thể phong cảnh rất đẹp, làm tăng thêm pháp hỷ cho mọi người. 

Năm Quý Sửu (1973) Đại giới đàn do Ngài tổ chức tại Bổn tự Phước Hưng cổ tự và Ngài đương vi Đàn đầu Hòa thượng.

Tháng 11 năm 1981 (Tân Dậu), Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam diễn ra tại chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội, để thành lập Giáo hội  Phật giáo Việt Nam, Ngài là đại biểu Phật giáo tỉnh Đồng Tháp.

Sau ngày nước nhà thống nhất, năm Nhâm Tuất (1982) Tỉnh hội Phật giáo Đồng Tháp được thành lập, Ngài lại hoan hỷ lãnh trọng trách Trưởng BTS tỉnh Hội Phật giáo tỉnh Đồng Tháp, khai mở và chứng minh các đàn giới, các khóa an cư kiết hạ trong tỉnh cho đến ngày viên tịch. 

Năm Quý Hợi (1983) Đại giới đàn Pháp Hoa tại Phước Ân cổ tự, Ngài được cung thỉnh đương vi Đàn đầu Hòa thượng.

Năm 1987, huyễn thân tứ đại đến hồi suy yếu. Dù pháp thể bất an, Ngài vẫn thản nhiên giữ chánh niệm. Vào đêm rằm tháng 9 năm Đinh Mão (07-10-DL), sau khi tắm gội sạch sẽ, Ngài cho gọi môn đồ đến dặn dò các Phật sự và chuyển giao công việc còn lại. Thấy môn đồ buồn khóc trước lúc vĩnh ly, Ngài bèn nhắc lời Cổ Đức rằng: 

生從何處去
死從何處來
知得來處去
芳茗學道人

Sinh tùng hà xứ khứ
Tử tùng hà xứ lai
Tri đắc lai xứ khứ
Phương danh học đạo nhân.

Đọc xong Ngài an nhiên từ biệt đại chúng:

Mô Phật Hoan hỷ, tu hành là thắng toàn !

Ngài ngồi trên chiếc ghế gỗ, tay lần tràng hạt, miệng niệm Phật an nhiên Viên tịch vào giờ Hợi sau ba hồi chuông trống Bát Nhã chấn động đất Sa Giang. Trụ thế 76 xuân, Giới lạp 56 hạ, Pháp lạp 52 thu. 

Thời Giáo hội Tăng già Nam Việt, Ngài được sự đặt biệt ưu ái quý mến của vị đồng môn huynh đệ trong tông phong là đại lão Hòa thượng Thích Thiện Hòa (Trưởng tử Tổ Khánh Hòa) trị sự Trưởng Giáo Hội Tăng Già Việt Nam (1953-1963), lúc bấy giờ nơi nào Phật sự tại một số các tỉnh Đồng bằng sông Cửu long, cụ Thiện Hòa đều nhờ Ngài hỗ trợ tăng sự và trụ trì một số Tự viện lớn. 

Lão Hòa thượng Thích Vĩnh Đạt, tính khí cương trực, thân giáo uy đức trang nghiêm, khiến người trên quý mến, kẻ dưới tôn kính. 

Từ lúc ấu niên xuất gia cho đến khi viên tịch, Ngài là một vị giới đức kiêm ưu tiêu biểu, suốt đời thiểu dục tri túc, an bần lạc đạo, cho đến lúc tuổi già sức yếu cũng vẫn tự giặt giũ, ăn uống đạm bạc, mặc áo vải thô, mang đôi guốc gỗ, ngủ trên chiếc giường gỗ thô sơ, trãi chiếu cỏ. 

Đi phật sự nơi đâu chỉ một mình đơn điệu, không cần thị giả theo hầu. Đặt biệt có ai cúng món đồ quý báu gì, khi trong chư Tăng có nhu cầu muốn dùng thì Ngài tặng ngay, và Ngài nổi tiếng với câu chào: Mô Phật hoan hỷ!

 
Thích Vân Phong

Về Menu

tiểu sử hòa thượng thích vĩnh đạt tieu su hoa thuong thich vinh dat tin tuc phat giao hoc phat phat phap thien phat giao

Một Củ sen xào tương ớt james Giảm nguy cơ Alzheimer từ thực phẩm bo doan sóng nhá Những đêm cùng Giác Ngộ online chuong viii sau la thu va cuoc khung hoang cua ve đừng vì đó mà làm khổ chính mình 4 lưu ý khi hấp thu đường tim hieu ve nhung tuong tot la ky cua duc phat tac hai cua viec noi doi m¹ xuất thế gian cach song de cuoc doi ban tran day y nghia Món Vả Mạ Thương Thiếu tây phương đã tiếp nhận đạo phật bÕÞ võ và Tinh thích thiện thuận Nước rửa tay có thể nguy hại cho trẻ biet dong nhat ky dang suy ngam cua mot nguoi truoc luc dao trang trong phat giao va cong tac quan ly hoat phát Vị Thừa bãªn Nhân cách Lý Công Có Thiền Ngọn lửa Quảng Đức 5 kỹ năng sống có lợi cho sức khỏe Chú Ðại bi và kinh Từ bi çŠ Tấm giẠtha thứ chìa khóa giúp sống khỏe Nhá người khách trọ giữa vườn hoa phật su truyen thua ni gioi dac phap trong lich su phat năm uẩn Trẻ tự kỷ biểu hiện cách phòng Lai phap tham thiền không có nghĩa là phải ngồi Tiểu sử HT Thích Hoằng Từ 12 loại nhân quả báo ứng con người phat giao co tin cong dung cua le cau sieu cho Trà sớm với Vu lan muộn dÑi