Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát
Phổ Môn Giảng Lục

Pháp sư Bảo Tịnh giảng thuật
Thôi Chú bình & Tôn Tử Á
kính lục
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm dịch

Sàigòn - 1972 - PL 2516

--- o0o ---

Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát
Để Được Cứu Nạn Lao Ngục

 

Dầu lại có người hoặc có tội, hoặc không tội, gông cùm xiềng xích trói buộc nơi thân, xưng danh hiệu Quán Thế A⭍ Bồ Tát, thảy đều đứt rã, liền đặng thoát khỏi.

Đoạn văn này là nói khỏi nạn gông cùm xiềng xích và tai nạn lao ngục. Nếu có phạm quốc pháp nên mới có tội lỗi, hoặc không tội mà bị người khác vu khống oan uổng. Khi trót gặp bị gông cùm xiềng xích là hình phạt trói buộc thân thể. Nếu năng trì niệm danh Quán Âm cũng có thể khỏi tai nạn này được. Có tội là do ác nghiệp đời trước hoặc đời này mà cảm đến. Mà bị oan ức, tuy hiện nay chẳng có ác nghiệp nhưng cũng bởi ác nhân đời trước mà ra, thế cũng chẳng nên oán trời trách người. Phàm bị xiềng tay, gông cổ, dây sắt dắt đi, đến lao ngục cùm chân, đều là do ác nghiệp chiêu cảm, tức là ác cơ. Năng xưng thánh hiệu là thiện cơ. Hai động cơ thiện ác là năng cảm. Thảy đều đứt gãy liền được giải thoát là sở cảm.

Thuở trước có đôi vợ chồng đã có quy y tam bảo, nhà có thờ phụng Đức Quán A⭮ Chồng bị người ta vu khống là ăn trộm. Khi nghe có tiếng động, anh chồng lanh chơn tránh thoát. Chị vợ bị lính nhà quan bắt hạ ngục, gông cùm đủ thứ vào thân và bị đánh đập tra tấn tàn nhẫn. Một hôm nhà ngục bị phát hỏa, họ di chuyển phạm nhân ra đường lộ để tránh hỏa hoạn. Vừa may gặp một vị tăng đi ngang qua, bà ta nhìn thấy van lạy cầu cứu. Vị tăng nhìn thấy người đàn bà ấy chính là đệ tử đã quy y với mình ngày trước. Ngài nói: Không có phương pháp nào khác cứu cho nhau được, nay con nên thâm tín Đức Quán A⭬ chỉ cần nhất tâm trì niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ chắc có cảm ứng bất khả tư nghì. Bà ta tuân lời dạy của Thầy, niệm suốt đến ba ngày đêm, xiềng cùm bỗng nhiên đứt rời. Nhưng người canh giữ còn tại đấy nên bà ta không dám tẩu thoát. Bỗng nhiên trên không trung có tiếng người kêu: Ngươi mau chạy thoát đi! Bà nghe và mở mạnh đôi mắt, dòm ngay ra thấy cửa mở trống. Bà tức tốc nhanh chân từ trong ngục phóng ra và chạy bán sống bán chết. Chạy đến hai ba mươi dặm đường mới gặp được một người chính là người chồng. Hú vía hoàn hồn. Hai người gặp nhau mừng rỡ khôn xiết. Thế là họ đã được đoàn tụ. Đấy là nhờ xưng niệm Quán A⭍ mới được sự thật linh ứng giải thoát nạn gông cùm lao ngục vậy.

Lại ngày xưa, khi Hoàng Sào gây phản loạn, đời gọi là giạc chít khăn vàng. Tại Hàng Châu có hơn mười người bị bắt, gán là Hoàng Sào dư đảng. Khi bắt xong, nhân vì trời vừa tối, nên chưa kịp giải về Nha, bèn cho tạm trú tại một ngôi chùa. Họ đem phạm nhân nhốt tù trong một cái lồng rất chặt kín. Trong bọn có một người bị oan uổng. Trong chùa ấy có một vị Hòa Thượng, đêm trăng mát mẻ, Ngài rảo bước tản bộ dưới bóng nguyệt tà, khẩu niệm Quán A⭮ Người bị oan uổng ấy, tuy ở trong lồng kín, nhưng thoáng thấy Hòa Thượng liền chìa mồng ra cầu cứu với Ngài, Hòa Thượng dạy: Các ngươi nên nhất tâm xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, tức có thể giải thoát được. Khi nghe, bọn chúng đa số là ác tâm nên họ bảo: Anh em ta hè nhau phá quách cái lồng gỗ này đi, có hơn không ? Chứ niệm Quán Âm là thứ gì mà được khỏi ? Chỉ có người bị oan tin theo lời Hòa Thượng. Nhân đấy chăm lòng thành kính mà xưng niệm. Sáng ngày trao xiềng gông cho mọi người thì thiếu mất một bộ, vô hình chung người niệm Quán Âm được khỏi khổ xiềng gông ở tay và cổ. Khi dẫn về Nha thẩm vấn xong, Pháp quan biết người ấy bị oan uổng bèn phóng thích cho về nhà.

Lại xiềng cùm, bởi bị oan, hoặc phạm pháp nên bị trói buộc nơi thân thể lại là thứ hữu hình. Còn có thứ xiềng cùm vô hình nữa là khác. Quý vị hiện nay tuy đều là những người lương thiện, nhưng lại phải phiền lụy về gia thất, về tình con cái gái trai ràng buộc chẳng rời, giống như chim ở tại lồng, chẳng hay bay nhảy tự do xa rộng được. Muốn làm sao thoát khỏi gia đình là lao ngục vô hình; muốn giải thoát xiềng cùm thê tử lợi danh, thì cũng chỉ có nhất tâm xưng niệm hồng danh Đức Quán Thế A⭬ may ra được mãn nguyện phần nào. Nhưng cũng chẳng cần phải xuất gia, hoặc phải ly khai gia đình mới là thoát tục. Mà chỉ nên tâm thường nêu duyên nơi Phật đạo vẫn quý lắm rồi. Cho nên có câu: Chẳng lìa trần lao mà làm Phật sự. Hay Hoa sen trong lửa. Đấy mới thật là xuất gia chơn chính. Nếu hiện nay tuy là tướng Tỳ kheo mà trong tâm phiền não, hoặc nghiệp y nhiên chẳng mòn bớt chút nào, trần lao lệ chướng buộc ràng chặt chẽ, thời với thứ xiềng cùm vô hình này vẫn chưa thoát được, đâu có lợi ích gì cho lắm ru ! Quý vị đến đây nghe giảng kinh. Từ đây trở đi nhất tâm biện đạo, thân tuy còn tại tục, nhưng đã sùng tín Phật pháp, quy y tam bảo, đạm bạc với cuộc sống hàng ngày, bèn là tâm đã xuất gia rồi vậy. Đấy là thuộc về những việc phi thường chừ chẳng phải dễ được đâu ! Cứ một mức thẳng mà thi hành đi. Cực lạc thế giới vốn là gia hương của ta đấy, một phen cất bước tức thì tới ngay. Chính là:

 

Thân tuy chưa đến ao Liên Hoa

Tâm này đã về quê Cực Lạc,

Nguyên văn: Thân tuy vị đáo Liên Hoa trì

Thử tâm dĩ tống Cực lạc hương.

 

Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát Để Được Cứu Nạn Oán Tặc

 

Nếu kẻ oán tặc đầy trong cõi tam thiên đại thiên, có một vị thương chủ dắt các người buôn đem theo nhiều của báu trải qua nơi đường hiểm trở, trong đó có một người xướng rằng: "Các thiện nam tử! Chớ nên sợ sệt, các ông nên phải một lòng xưng danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, vị Bồ Tát đó hay đem pháp vô úy thí cho chúng sanh, các ông nếu xưng danh hiệu thời sẽ đặng thoát khỏi oán tặc này". Các người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xưng rằng: "Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát!", vì xưng danh hiệu Bồ Tát nên liền đặng thoát khỏi.

Đấy là nạn thứ bảy gọi là nạn oán tặc. Những nạn ở cõi chúng sanh nhiều kể không xiết, đâu những là bảy nạn. Mà phẩm kinh này ước chia có bảy nạn là chẳng qua bởi bảy nạn này nó hay xảy ra. Chúng ta thường thấy nghe. Cho nên nó có thể bao quát hết tất cả mọi tai nạn khác vậy. Tam thiên đại thiên quốc độ, văn trước đã giải xong: Trăm ức núi Tu Di, trăm ức tứ đại bộ châu, làm một tam thiên đại thiên quốc độ, quanh tròn rộng lớn. Trong đó đấy nhẫy hàng bao nhiêu oán tặc chứ chẳng phải là một số ít. Hại mạng là oán, đoạt của là tặc. Đã giết nhân mạng mà lại đoạt của người, gọi là oán tặc; hoặc đoạt của mà chẳng hại mạng là tặc chẳng phải oán. Thứ oán tặc này ở đầy nhẫy trọn trong tam thiên đại thiên thế giới làm thành đầy nhẫy một thế giới oán tặc.

Có một thương chủ tức là người lãnh tụ của các bạn thương nhân, của cải phong phú, lão luyện nghề buôn, tục xưng Lão cầm, lãnh đem hướng dẫn số đông các bạn thương nhân. Trong đãy hành lý chứa đựng bao nhiêu của cải báu quý, đem đi và giữ gìn. Những của cải quí báu ấy giá trị đáng ngàn vạn bạc vàng là những loại thất bảo. Đi vượt qua bao dặm lộ trình là đã gặp phải bao nhiêu oán tặc rất đỗi nguy hiểm. Cả bọn thương nhân ai ai cũng đều sanh lòng kinh sợ cho sanh mạng khó bề bảo đảm. Trong đó có chừng một người, bình nhật có lòng thâm tín Tam Bảo, cung kính Phật pháp. Ở vào lúc nguy hiểm ấy, y đối trước mặt đồng bọn mà cao giọng xướng lên rằng: "Bà con ơi! Bà con chúng ta đều là những người đem của vốn cho phóng ra để mà cầu thu lấy của lãi lợi tức vào, chính là khuôn thước công minh của nghề thương mãi doanh nghiệp. Vậy chúng ta đều là Thiện nam tử. Trên con đường này, tuy nhiều nguy hiểm thật đấy, nhưng có thể là chúng ta không nên kinh hãi, bất cần run sợ, chẳng hề e ngại gì cả. Mà các bạn cần nên, này nhất tâm xưng niệm danh hiệu của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, nhân vì Bồ Tát năng làm chỗ cho chúng ta nương tựa. Cho nên Quán Thế Âm Bồ Tát tự nhiên ban cấp cho chúng ta một sự an úy và một sự bảo hựu rất cực trọng vĩ đại vững vàng. Và Ngài đã năng đem oai đức vô úy mà bố thí cho chúng ta vậy". Quán Thế Âm Bồ Tát, năng dùng oai đức vô úy thí cho chúng sanh. Cho nên lại có hiệu là Thí Vô U?ả nữa. Bố thí có ba thứ: Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí.

 

1)Tài thí: Tài có nội tài và ngoại tài. Tiền vật, áo mặc, cơm ăn, khí cụ cần dùng, cho đến vợ con, thành nước là những tài vật ngoài thân, đem bố thí cho người, gọi là ngoại tài bố thí. Nếu bố thí cái đầu, tròng mắt, tay chân như những việc đốt ngón tay, cánh tay để làm hương cúng, khoét thân thể, múc tròng con mắt, thời gọi là nội tài bố thí. Các đệ tử Phật bất cứ tại gia hay xuất gia đều có thể tu hành bố thí như thế được cả. Lục độ Vạn hạnh của Bồ Tát tu, đứng đầu là bố thí. Không luận bố thí nội tài hay ngoại tài đều là đối trị được lòng xan tham. Bố thí nội tài cố nhiên là cao siêu hơn ngoại tài. Nhưng bố thí ngoại tài vẫn cũng chẳng phải là việc dễ đâu. Cái thói quen keo rít của người đời nó sâu sắc bền chắc lắm, một sợi lông chân vẫn chẳng chịu nhổ, lòng tham như biển cả. Chấp đắm rất bền chắc, xả nó chẳng rời, phóng nó chẳng xuống. Sở dĩ đấy chúng sanh từ vô lượng kiếp đến nay bị sanh tử luân hồi không ngày mãn nhiệm. Bố thí ngoại tài đã chẳng dễ dàng tu được, cho nên bố thí nội tài lại là khó khăn biết bao! Bởi vậy cho nên trước hết dẫn dụ phải đạm bạc với tình đời, dần dần coi nhẹ của cải, để phá dần chấp tâm tham đắm, mới phát đại nguyện khẳng khái mà tu bố thí ngoại tài trước đã. Tiến lên một bước nữa, chẳng những bố thí của cải ngoài thân mà nếu cần, tứ chi ngũ quan chính tại thân thể cũng bố thí luôn. Bố thí như thế cho lâu, tức những vọng tưởng phiền não nơi nội tâm cũng cần bố thí bỏ luôn đi. Như thế mới dần dần uốn dẹp và cắt đứt nó đi được. Kinh nói: Nhất xả nhất thiết xả. Nhất bố thí nhất thiết bố thí. Bố thí cho đến được một sợi tơ chẳng vướng; luôn cả một sợi tơ chẳng vướng đó cũng thí xả cho sạch hết, mới đòi lại được cái bộ mặt thật của chúng ta bị mai một từ hồi nào tới giờ.

1. Pháp thí: Bố thí của cải chỉ cứu thân xác thịt. Mà bố thì đạo Pháp mới có thể dứt phiền não. Tất cả bố thí cúng dường lấy Pháp cúng dường rất là đệ nhất. Như hiện nay tuyên giảng phẩm Phổ Môn; Cư sĩ lâm tỉnh tạng kinh, ấn tống những sách lành mạnh. Và quý vị đến đây nghe giảng, khi về cũng chuyển bảo lại cho kẻ khác, không điều nào chẳng phải là Pháp thí vậy. Bố thí đạo Pháp có thể dứt được phiền não của chúng sanh: Phá ngu si, khai trí huệ và minh tâm địa cho nó. Cho nên công đức Pháp bố thí rất là vĩ đại.

2. Vô úy thí: Tức lực bố thí. Đại phàm những vị quan trưởng, thân hào nhân sĩ là những người giàu có, có thế lực. Với tất cả các công việc công ích của địa phương mình, quí vị ấy đều nhiệt tâm tán trợ, để khiến cho bao nhiêu người trực tiếp đứng ra phụ trách công việc họ sanh lòng hào hứng thú vị mạnh dạn làm lên không chút e dèlui trụt gì cả. Đấy tức là vô úy bố thí vậy. Lại như sáng lập các Pháp hội, ai năn xuất lực bảo hộ, khiến cho quần chúng an tâm biện Đạo. Nếu chẳng may gặp phải các tai nạn thủy họa, chịu xuất lực tài ra cứu giúp. Hoặc gặp giặc cướp chịu xuất lực ra cán ngự khiến cho mọi người không còn lo sợ, đều là vô úy bố thí vậy. Có của cải đem của bố thí, biết Phật pháp đem Pháp bố thí. Nếu cả hai đều không có, thời có thể đem sức mạnh bố thí. Công đức này thật bất khả tư nghì. Vì đem sức mà bố thí thì rất giản tiện. Như tự mình có thân thể khỏe, thấy người qua sông, qua cầu mà qua chẳng nổi được, ta liền thay thế họ dắt đỡ hoặc cõng vác thay họ mà chẳng lấy món thù lao, tức là lực bố thí. Lại nữa, như dọn bỏ những hòn gạch đá giữa đường, chẳng làm trở ngại và khổ chân những hành nhân. Hoặc đem bát nước giải khát cho người. Và nhỏ mọn như cái nhọc của dơ tay lên cũng đều là lực bố thí đấy vậy.

Thuở quá khứ xa xưa có Ngài Trì Địa Bồ Tát thường ở bên đường gánh gánh thay người. Tức là chứng minh lực bố thí. Phạm vi bố thí rất rộng rãi, đều tùy theo sức lực mình có thể làm được t hì làm, chẳng luận nhiều ít. Chỉ nên đem thành thật tâm, chơn thật tâm làm chủ là được. Ngày xưa có đứa gái nghèo, đi ăn xin mà sống qua ngày. Dành dụm được ít tiền, mua một bình dầu mè, đem cúng dường chùa thầy. Thầy tăng ta khai đại môn trung ương để nghinh rước, vì cô ta đem tâm chân thật. So sánh với người giàu, tùy lực mà cúng thí thời vượt cao hơn vạn vạn bội lần. Lại như Đức Phật khi còn tại thế, có một người nghèo cùng làm nghề gánh nước, người đem một chén nước cúng dường vị La Hán. La Hán nói: Đời sau ngươi sẽ được phước báo rất lớn, hẳn không còn nghèo cùng nữa. Bố thí khả dĩ cầu phước, được quả báo giàu sang. Thử xem những người giàu sang hiện nay đâu chẳng phải đời trước không bố thí mà có. Ngược lại, đời trước bủn xiểm tức là đời nay bị quả báo nghèo khổ.

Nhân sanh vốn là không, tiền của là vật ngoài thân, lại thuộc về huyễn hóa: Khi đến với tay không, khi lui hai tay buông thả, chẳng đem gì theo được! Cho nên những ai có tiền của nên vui tu bố thí để rộng kết đại duyên với mọi người. Người nào hiểu được Phật pháp nên tận tâm giảng giải cho mọi người nghe. Người nghe tuy lãnh hội được một câu hay nửa bài kệ, vẫn có thể khiến họ được tâm khai ý giải, dần đến đoạn phiền não, chứng chơn thường. Cho nên những vị đem đạo Pháp bố thí, tương lai chắc có đầy đủ trí huệ học vấn, giáo hóa cho quần chúng, khắp làm lợi ích cho người trời. Còn những người đem vô úy bố thí cho kẻ khác, đời sau chắc được là người oai mãnh hơn mọi người, buông ra một lời nói, được cả thiên hạ phục tùng theo răm rắp. Sở dĩ chúng ta là người học Phật, nên cần tu bố thí. Như Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát trong Phẩm này, đem chuỗi Anh lạc cúng dường qua Đức Quán A⭻ Ngài Quán Thế Âm lại đem cúng dường lên Phật THÍCH CA và Phật ĐA BẢO, tức là Tài thí. Như Thuyết pháp để trừ dứt ba món độc cho người, tức là Pháp thí. Cứu khổ bảy nạn, khiến người chẳng sanh lòng sợ hãi, tức là Vô úy thí. Quán Thế Âm Bồ Tát đầy đủ ba món thứ này, cho nên Ngài năng cứu khổ cứu nạn cho mọi loài chúng sanh. Mà với sức Vô úy thí lại càng vĩ đại năng khiến chúng sanh xa lìa sợ hãi. Sở dĩ chúng ta khi phải trải qua những dặm đường dù cho có bao nhiêu oán tặc nguy hiểm khó khăn, nên nhất tâm xưng niệm Thánh hiệu thời chắc chắn là không xảy ra việc gì đáng tiếc.

Lúc bấy giờ ông chủ buôn và bao nhiêu các bạn đồng nghiệp chính đang lâm vào cảnh cực kỳ nguy hiểm lo âu tài bảo và tánh mạng chẳng có chút gì bảo đảm cả, nên lòng dạ kinh hãi lo sợ hoảng hốt đến mức. Khi chợt nghe một lời đề xướng của bạn, thời cả bọn nhất tề đồng thanh xưng niệm: Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát. Tức thì Quán Âm đem sức oai thần, khiến chiếc thương thuyền này giải thoát được cơn nguy khốn hiểm nạn trên đường hải lộ, và giải trừ luôn nỗi lo sợ trong tâm của bọn chúng nữa. Nam mô tức Na mô là tiếng Phạn. Tàu dịch là quy y hay quy mạng nghĩa là đem thân thể và tánh mạng nương gởi đầu quy về nơi Bồ Tát nên gọi là Na mô.

Năm Dân quốc thứ mười bảy, nơi đại lộ Thiên đồng ở Thượng Hải có tiệm chuyên bán gương, chủ tiệm tên Thái Nhân Sơ nhà rất giàu có, nên bọn lưu manh đạo phỉ chúng dòm ngó thèm nhểu nước mồm đã từ lâu rồi. Một hôm nọ, Thái Nhân Sơ tự lái chiếc xe hơi vừa ra khỏi cổng cũng vừa gặp tụi chúng bốn thằng, chận xe trèo lên và bắt buộc uy hiếp ông ta phải lái chạy theo hướng mà chúng muốn dẫn đến. Chính lúc nguy hiểm kinh hoảng, ông Thái liền nhất tâm xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Chiếc xe hơi do ông lái vừa chạy đến chỗ có đông đảo thời bánh xe trước sau đều nổ vỡ, xe hết chạy được. Nhưng bọn chúng buộc ông đi bộ. O⮧ trù trừ bước chậm rãi. Chúng nó e rằng ông ta sẽ hô hoán lên là nguy cho chúng, nên chúng bắt đầu hành hung với ba phát súng lục bắn vào ông liên tiếp. Ba phát súng chúng bắn ra liền khi thì chân ông nhảy vọt lên khỏi mặt đất cũng liền lúc, nên chẳng trúng ông phát nào. Nhưng ông Thái tự mình hoàn toàn chẳng biết vì sao mà nhảy vọt bổng lên ba vọt như thế? Phải chăng vì nhờ sức oai thần Quán Thế Âm Bồ Tát khiến như vậy ư? O⮧ Thái Nhân Sơ hiện nay vẫn còn khỏe mạnh, ai muốn tìm hiểu, khi nào đi đến đấy mà hỏi biết. Vụ này cũng đã chép vào trong tập Quán Âm linh cảm lục.

Hiện nay quý vị được nghe giảng kinh, chắc có trực tiếp hoặc gián tiếp thọ ơn cảm ứng của Đức Quán A⭮ Sở dĩ ngày nào cũng như ngày nấy hơn vài trăm người đến nghe. Nên phải biết, chúng ta chẳng may gặp các thứ tai nạn đều bởi quả báo ác nghiệp đời trước cảm đến, mảy may chẳng sai mất: Ai đã gây oán thù giết hại mắc nợ mạng đền mạng, ai đã vay mượn tiền của mắc nợ của phải hoàn trả. Nay gặp nạn oán tặc cũng là quả báo tiền khiên oan trái. Vậy nên phải bình tâm suy xét cho rõ ràng những thứ nhân quả ấy, mới có thể chẳng oán trời, chẳng trách người được. Tuy nhiên, nếu năng nhất tâm niệm Phật, niệm Quán Âm thời ác nghiệp này tức nhờ công đức niệm Phật, niệm Quán Âm cũng vẫn có thể vãn hồi ngay. Nếu được nhất tâm bất loạn, tâm thủy lóng trong, tai nạn tự nhiên tiêu diệt. Thuật vụ đã xảy ra cơ tương quan với Đạo lý vừa kể trên, nên lưu ý.

Thuở trước có một Cư sĩ ở Dương Châu, gia nhân có mười bảy người tất cả. Đương khi tặc phỉ làm loạn, cả gia đình đều nhất tâm xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, Cư sĩ đêm mộng thấy Đức Quán Âm đứng trước mặt nói rằng: " Các ngươi nên thành tâm trì niệm. Mười sáu người kia khá khỏi nạn giặc này. Chỉ một mình ngươi vì định nghiệp đời trước nay đã đến thời, ác báo khó tránh khỏi, chẳng phải dễ dàng gì mà cứu vãn. Sáng ngày mai giặc sẽ đến, trong bọn chúng có một người tên Vương Ma Tử, đời trước nó đã từng bị ngươi giết mười sáu lát dao. Hiện nay nhân duyên đã hội hợp, ngày mai sẽ gặp nhau, ngươi chắc phải bị Vương Ma Tử giết mươi?225;u dao lại mà chết. Nhưng may chăng là do ngươi chân thành cảm cách, hoặc có thể cứu nhau được". Sáng ngày lại, Cư sĩ liền khiến cả gia nhân đi tránh ở các gian nhà chung quanh, chỉ một mình Cư sĩ ngồi chính giữa nhà chính để chờ, và ông có chuẩn bị sẵn một bàn cơm chay rất tử tế. Quả nhiên đúng giờ ngọ bè lũ của Vương Ma Tử kéo đến. Tức thì Cư sĩ hỏi Vương Ma Tử trước rằng: Anh có phải là Vương Ma Tử không? Đời trước tôi có mắc nợ anh 16 lát dao, ngày nay tôi chắc phải chết vì bàn tay anh! Tử ngạc nhiên hỏi: Tại sao anh lại biết tên họ tôi? Cư sĩ liền đem việc Quán A⭍ trong mộng mà thuật lại tường tận. Ma Tử nghe xong và nói: Đời trước đã có quả báo với nhau như thế thì đời sau, oan oan tương báo trọn không khi nào rồi xong được. Mà oan nghiệt thời nghi giải bất nghi kiết. Nghĩa là nên cởi mở rời nhau, chẳng nên buộc gút dính đùm lại nhau. Ma Tử bèn lấy con dao trở sống dao bằm vào thân Cư sĩ 16 dao để làm phép gọi là đòi lại 16 dao nợ mà y đã mắc của mình đời trước mà thôi, chứ chẳng giết chết y làm chi! Sau khi việc giải oan xong mới đến bàn cơm chay, vui vẻ mát mẻ và giải thoát.

Thế nên biết rằng oán tặc là bởi ác nghiệt từ đời trước theo dõi đòi hỏi đến đời này. Lại nhờ nhất tâm xưng niệm nên định nghiệp ấy mới có thể cứu vãn được giải thoát. Chúng ta từ vô thủy đến nay oan gia đối đầu nhiều lắm lắm nhiều, cần phổ biến phương pháp siêu độ cho họ. Làm được thế thời tất cả oan gia từ vô thủy đến nay đều có thể chuyển kẻ thù thành là ân nhân. Oan nghiệt đã được mở gút buông thả thời tự có thể chẳng còn gặp chịu tai nạn theo đòi món nợ hoàn báo nữa.

Đoạn kinh này, nếu ước về tâm pháp từng cá nhân mà nói mỗi một người có tám Thức. Trong thế giới tam thiên đại thiên, trên trời dưới đất, ngang khắp mười phương, dụ cho Thức thứ tám. Đứng cùng ngang khắp, kẻ oán tặc đầy nhẫy trong toàn thế giới, dụ cho trong Thức thứ tám bao chứa tất cả những hạt giống thiện ác. Oán tặc cướp của cải, hại sanh mạng rất là nguy hiểm, dụ như chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay, làm người sống một đời tức có một đời phiền não. Bởi đó mà gây ra bao nhiêu ác nghiệp, trồng xuống biết bao nhiêu hạt giống ác. Một ngày mai nào đó khi mà nhân duyên hội ngộ gặp gỡ nhau, bị sức mạnh của ác nghiệp dắt dẫn, sa vào trong tam đồ. Thế là tan mất pháp thân, dứt xong huệ mạng. Mãi chịu sanh tử luân hồi không ngày giải thoát. Rất đáng ghê sợ hơn hết.

Trong tám Thức chúng ta, Thức A lại Da thứ tám dụ như một vị Lão ông đông gia đại thương chủ trong một hiệu buôn, tức là người quản lý bao quát toàn sở hiệu. Nếu không có Lão ông đại thương chủ thời không do đâu mà thành lập và khai trương cửa hiệu buôn được. Nếu không có thức thứ tám, trọn không có gì tất cả; cũng như không có tam thiên đại thiên thế giới và gọi là thương chủ cùng là oán tặc nữa. Có vị thương chủ tức là người lãnh tụ của các bạn thương nhân, dụ cho đệ lục ý thức như người làm chủ tể trong một gia đình, cũng như kinh lý trong một hiệu buôn tổng lý tất cả sự vu. Nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, năm thức này dụ như năm vị điếm viên, gọi là ngũ cá môn tiền tác mãi mại, nghĩa là năm cái cửa trước làm việc mua vào bán ra. Mà Thức thứ bảy là truyền tống thức tức là truyền rước vào, hay dọn tống ra, thời giống như trong một hiệu buôn có một nhân viên xuất nộp, hay một người quản hóa xuất nhập vậy. Trong văn kinh nói các người buôn dụ như các thiện tâm sở dưới quyền sáu Thức Tâm Vương. Đem của báu, dụ cho nghe kinh, tu quán, lạy Phật, niệm Phật, trì chú cho đến tu trì các pháp môn tam thừa. Đường hiểm, dụ cho nhà lửa ba cõi và hiểm đạo sanh tử phiền não. Một người bảo nhiều người niệm Quán A⭬ dụ cho huệ tâm sở trong ngôi thiện tâm sở biết bảo niệm Phật, niệm danh hiệu Quán Âm có thể liễu được sanh tử. Các người buôn nghe rồi, đều lên tiếng xướng rằng: Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát tức là dụ cho tâm vương tâm sở cả đại gia đình hợp tác, nhất tâm nhất đức niệm danh hiệu Quán A⭮ Do đấy mới phá được phiền não oán tặc là hột giống ác nghiệp tức có thể ra khỏi đường hiểm sanh tử luân hồi trong ba cõi mà đoạn được hoặc, chứng chơn vậy.

Kết Luận: Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát Để Được Cứu Khổ Bảy Nạn

 

Vô Tận Ý! Quán Thế Âm Bồ Tát sức oai thần cao lớn như thế.

Đoạn này là tổng kết văn bảy nạn trước. Bảy nạn chính có thể phối với lục đại: Thủy nạn phối với thủy đại, hỏa nạn phối với hỏa đại, hắc phong nạn phối với phong đại, đao trượng già tỏa nạn phối với địa đại, La Sát oán tặc nạn phối với thức đại, tam thiên đại thiên thế giới phối với không đại. Nay đã tổng kết để khiến Ngài Vô Tận Ý lưu ý. Cho nên Đức Phật lại gọi Vô Tận Ý Bồ Tát nói một lần nữa. Chúng sanh bị chịu khổ bảy nạn, nhất tâm xưng danh liền được giải thoát, là nhờ Quán Âm có sức oai thần bất khả tư nghì vậy.

Đại tức đại tâm. Quán Thế Âm Bồ Tát đã xả kỷ lợi tha, đủ đại đạo tâm, đại hành môn, 32 ứng hóa thân, 14 vô úy thí. Cho nên: Nghìn xứ khẩn cầu nghìn xứ ứng. Rộng lớn vô ngại, chẳng đồng với bình thường phàm phu, cho nên gọi là Đại Tâm Bồ Tát. Quán Âm Bồ Tát cứu bảy nạn là đem cho cảm ứng tự nhiên như trăng trời ánh nước mà thành trăng dưới nước. Nước chưa hề bay lên, trăng chưa hề giáng xuống, thế mà có cảm ứng tự nhiên. Trăm ngàn vạn ức chúng sanh niệm Quán A⭍ Bồ Tát tức được trăm ngàn vạn ức cảm ứng. Quán Âm chưa đến chúng sanh, mà chúng sanh cũng chưa đến Quán A⭮ Có cầu tất ứng là duyên cơ oai lực bất khả tư nghì vậy. Như vô tuyến điện, đây phát kia nghe, mà máy điện chưa từng đi đâu hết, nó vẫn nằm yên xuỗi chân trong một sở nhà. Cao lớn, là sức công đức Quán Âm vượt khỏi sáu phàm, tam thừa, chín giới gọi là Cao. Danh rạng ba cõi là đồng cư, phương tiện, và thiệt báo gọi là Lớn. Từ trước đến đây đã giải thích xong bảy nạn.

--- o0o ---

Mục Lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05

06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13

--- o0o ---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-4-2005

 

 

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

dâng Khánh Hòa Lễ húy kỵ cố Đại lão Xem tivi nhiều gây hại cho não bộ Cao khổ qua đậu bắp trị tiểu Mối quan hệ giữa tu sĩ huyen đừng Nhç tìm thấy cuộc đời mới nhờ một cuốn Tà o Thần mat roi dung tiec nuoi Từ Rạch Cát tới Tòa Đại sứ bình minh quê mình dẠo học cách của người xưa dạy trong việc mối lo của con người 17 tia sang noi tai lẽ phat giao thua thien hue Ni giới Khất sĩ tưởng niệm cố Tình Tác dụng của chất xơ trong điều trị 9 dieu nhat dinh phai khac cot ghi tam de chua vu lan sức mạnh của thái độ lạc quan den cuối năm hanh học hạnh bồ tát phát nguyện đốt Phòng và trị Alzheimer Thay đổi lối ngôn Tại sao nên giặt khăn tắm thường cũng Thanh Hóa Tưởng niệm Phật hoàng và Hà n Hà nh Ích kỷ niem phat de lam gi hoàn tục Hoa mướp trước sân tại sao giới trẻ nên làm lễ hằng NgÃƒÆ nguoi thương cho người ăn món chay giả Mỳ thất Ngày sắp Tết in bánh phục linh bí quyết hạnh phúc của người con phật học buông xả những quá khứ đau thương