Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát
Phổ Môn Giảng Lục

Pháp sư Bảo Tịnh giảng thuật
Thôi Chú bình & Tôn Tử Á
kính lục
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm dịch

Sàigòn - 1972 - PL 2516

--- o0o ---

Vô Tận Ý Bồ Tát Tát Nói Kệ Hỏi Đức Phật

 

Lúc đó Ngài Vô Tận Ý Bồ Tát nói kệ hỏi Phật rằng:

Thể của kệ và thi giống nhau. Hoặc kép thời thuật lại những ý tứ sâu sắc nơi văn trường hàng trước, hoặc bổ thêm những nghĩa và văn trường hàng chẳng đề cập đến. Bản dịch của Ngài La Thập vốn chẳng có văn kệ này. Về sau có Ngài Xà Na Cấp Đa mới dịch có kệ. Các Ngài hậu tiến sau này mới đem kệ đây bổ thêm vào văn sau ở trường hàng Phẩm Phổ Môn do Ngài La Thập dịch hợp thành một Phẩm. 

Thế Tôn đủ tướng tốt !

Con nay lại hỏi kia

Phật tử nhân duyên gì

Tên là Quán Thế Âm ?

Bốn câu này là lời hỏi của Vô Tận Ý. Đức Phật có 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, đầy đủ tướng hảo nên gọi là Diệu tướng Cụ. Trước lời hỏi, Vô Tận Ý trước phải ngợi khen Diệu tướng của Đức Phật. Sở dĩ sơ khởi nói: "Thế Tôn đủ tướng tốt "Kia" là chỉ Đức Quán A⭮ Tôi xin thưa hỏi lại lần nữa, Phật tử Quán Thế A⭍ này bởi nhân duyên gì mà gọi là Quán Thế Âm ? Phật tử, là Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di thảy bốn chúng đều là Phật môn đệ tử. Đức Phật xem bốn loại chúng sanh như xem con đỏ, tất cả chúng sanh đều là Phật tử, sở dĩ đều được xưng là Phật tử. Nhưng Đức Phật lấy hoằng pháp làm sự nghiệp, lấy độ sanh làm công việc thường trực gọi là gia vụ. Vậy mà đời nay có lắm đông nhiều Tăng, Ni xem những chùa chiền, điền sản, vàng của, tài vật làm gia vụ, và lo việc ứng đáp thù tạc Phật sự cho là sự nghiệp, thật chẳng phải chơn Phật tử chút nào cả.

Đức Phật Thích Ca thuyết pháp 49 năm với lòng Đại từ Đại bi, khai thị cho chúng sanh, hoàn toàn lấy hoằng pháp độ sanh làm gia vụ sự nghiệp. Bọn chúng ta đã là Phật tử, có trách nhiệm đảm đương sự nghiệp của Đức Phật, cần phải một mẫu như Phật là giáo hóa chúng sanh giống như đạo làm con, có trách nhiệm thừa kế bảo trì gia nghiệp của cha mẹ lưu truyền lại vậy. Nếu chẳng phải như vậy, thời đấy là những đồ bất trung bất hiếu chẳng có chút gì là trường cửu và tiến viễn cả, đâu phải đấy là chân Phật tử ư ?.

Nhị Thừa La Hán chỉ biết tư lợi chẳng chịu làm lợi tha, cũng chẳng phải chân Phật tử. Cứ thẳng thắn mà nói: Duy có Bồ Tát năng tự lợi tự tha: Đến đâu là hoằng dương Phật pháp, cứu độ chúng sanh đến đấy, gánh vác gia nghiệp Như Lai, nối thịnh lòng Phật hóa, mới gọi là Chân nhi tử của Đức Phật vậy thôi ! Đấy cũng thường gọi là Phát Vương Tử. Có người muốn hoằng phát độ sanh để làm chân Phật tử nhưng ngặt nỗi tự mình, chẳng thông hiểu Phật pháp thời làm thế nào đây ! Này đây, chỉ nên cứ một lòng trì niệm A Di Đà Phật, rồi cũng khuyên mọi người xưng niệm – A Di Đà Phật và bảo họ tu thêm giới sát, phóng sanh, bố thí v.v… Đấy là tâm địa Bồ Tát rồi, mà cũng là hoằng pháp độ sanh và chân Phật tử nữa vậy. Cho nên kinh nói: Nhất xưng Nam Mô Phật, giai cộng thành Phật Đạo.

* 

Đấng đầy đủ tướng tốt

Kệ đáp vô tận ý:

Câu "Đấng đầy đủ tướng tốt" là chỉ về Đức Phật. Lời hỏi của Vô Tận Ý bằng kệ, Đức Phật cũng dùng kệ mà đáp nên gọi là "Kệ đáp Vô Tận Ý".

*

O⮧ nghe hạnh Quán Âm

Khéo ứng các nơi chỗ

Thệ rộng sâu như biển

Nhiều kiếp chẳng nghĩ bàn

Hầu nhiều nghìn Đức Phật

Phát nguyện thanh tịnh lớn.

Ta vì ông lược nói

Nghe tên cùng thấy thân

Tâm niệm chẳng luống qua

Hay diệt khổ các cõi.

Ngươi cần phải nhất tâm nghe hạnh môn của Quán Thế Âm Bồ Tát, là bất khả tư nghì. Bởi vì Quán Thế Âm dùng trí nhất tâm tam quán soi thấu cả tiếng tăm mười pháp thế giới gian là cảnh sở quán nhất cảnh tam đế. Năng quán, Sở quán chẳng hai. Chứng trung đạo Diệu thể, khởi trung đạo Diệu dụng, khéo khắp ứng thị hiện. Cho nên mười phương thế giới không một nơi chỗ nào mà chẳng thị hiện được cả. Dùng 32 ứng thân để ứng hiện, giống như bức gương soi vật đồng thời hiện xuất chẳng trước, chẳng sau: Ngang khắp mười phương thế giới, chẳng một thế giới nào mà không hiện; đứng tột ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai, không một thời gian nào chẳng hiện. Do đó nên gọi là Phổ Môn Đại Sĩ.

Hoằng thệ là lời thệ nguyện rộng lớn và thiết yếu. Quán Thế Âm Bồ Tát, khi xưa làm kẻ phàm phu, đã từng phát 12 đại hoằng thệ nguyện rộng rãi vô biên, sâu thẳm vô cùng như đại dương biển cả vậy. Vã lạ từ vô lượng kiếp đến nay, cũng đã từng tu đạo Bồ Tát đều là bất khả tư nghì: Như đã hầu hạ, phụng sự, gần gũi cúng dường các Đức Phật quá khứ nhiều ngàn ngàn vạn vạn, để vun trồng cọi phước huệ, thường phát thanh tịnh, đạ nguyện chẳng chấp đắm "không và hữu". Nguyện đại, hạnh đại, cúng Phật đa: Nguồn dài giòng xa, rễ sâu cội vững, cho nên mới có đủ ứng thân Phổ Môn thị hiện như thế ấy.

Ban thí đại vô úy là Diệu lực bất khả tư nghì. Dường như nước nhẩy thuyền nổi lên cao, nguyên liệu nhiều đắp tượng Phật lớn. Đấy là lời Phật Thích Ca khen ngợi Quán Thế Âm Bồ Tát Diệu lực bất khả tư nghì, chẳng phải một thời có thể nói hết được. Nay chỉ nói ước lược mà thôi, cho nên gọi là "Ta vì ông lược nói". Chúng sanh, nếu nghe danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát, hoặc xem Thánh tượng Quán Thế Âm Bồ Tát: Cung kính, lễ bái, nhất tâm xưng niệm, quyết định chẳng luống công. Nghe danh: là thân – nghiệp; xưng niệm: là khẩu – nghiệp; lễ bái: là thân – nghiệp. Ba nghiệp cung kính, nhất tâm bất loạn, năng diệt được tất cả khổ nạn.

Các cõi: Chỉ có ba cõi, chín cõi, 25 cõi. Ba cõi: Cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô sắc. Chín cõi: Dục có một, Sắc có một, Vô sắc cũng có bốn, cộng lại là chín cõi. 25 cõi: Tức bốn châu, bốn ác thú, sáu cõi trời Dục và một Phạm Thiên, bốn thiền, bốn Vô sắc, hai cõi Vô tưởng và Ngũ na hàm, cộng là 25 cõi. Bởi vỉ nhân quả chẳng sai mất, có nhân tất có quả, cho nên nguyên văn dùng chữ hữu là "có" cũng là cõi. Chúng sanh có 25 cõi đồng đang ở trong sanh tử phiền não khổ hải, nếu có thể thu nhiếp tam nghiệp, nhất tâm thân lễ, khẩu xưng, tâm niệm thời tiêu trừ tất cả các khổ và những ách nạn trong 25 cõi vậy. Nhưng, chẳng những tiêu trừ bảy nạn ba độc trong cõi Đồng cư mà chúng sanh trong hai cõi Phương tiện và Thật báo cũng đều được như thế cả. 

Giả sử sanh lòng hại

Xô rớt hầm lửa lớn

Do sức niệm Quán Âm

Hầm lửa biến thành ao.

Hoặc trôi giạt biển lớn

Các nạn Quỷ, Cá, Rồng

Do đức niệm Quán Âm

Sóng mòi chẳng chìm đặng.

Giả sử gặp kẻ ác, khởi ý muốn sát hại đem người xô cho rơi trong hầm lửa lớn, tánh mạng chẳng còn bảo đảm nưã. Hoặc giả có người vượt qua sông biển, thuyền bè bị nghiêng úp, lại có các tai nạn Rồng, Cá, các quỷ La sát. Người đang lúc gặp phải tai nạn nước lửa, năng đem lòng chân thành xưng danh, nhờ sức oai thần Đức Quán A⭬ thời hầm lửa biến thành ao nước mát mẻ, ngàn vạn sóng mòi trong biển cả kia cũng chẳng làm chìm người được.

* 

Hoặc ở chót Tu Di

Bị người xô rớt xuống

Do sức niệm Quán Âm

Như mặt nhựt treo không.

Hoặc bị người dữ rượt

Rớt xuống núi Kim Cang

Do sức niệm Quán Âm

Chẳng tốn đến mảy lông.

Hoặc gặp oán tặc vây

Đều cầm dao làm hại

Do sức niệm Quán Âm

Đều liền sanh lòng lành.

Các kệ tụng này đều là tụng lại văn trường hàng trên. Nên chỉ có nói được bất tất giải thích tường tận. Hoặc giả có người ở trên chót núi Tu Di, bị kẻ oán gia xô rơi trên tầm mủi nhọn sa xuống gọp đá, quyết bị thân tan xương nát. Nhờ sức niệm Quán Âm gia hộ, thời như mặt nhựt đứng giữa hư không, chẳng đến nỗi sa rơi xuống. Hoặc giả bị kẻ ác đuổi theo sa rơi dưới núi Kim Cương. Nhờ sức niệm Quán Âm gia bị, thời chẳng tổn hại một mảy sợi lông. Hoặc giả bị kẻ oán tặc giặc cướp sắp bao vây người, mỗi đứa nó cầm dao bén gươm nhọn, đến ngay trước ngươi quyết làm hại. Ngươi năng niệm Quán Âm thì nhờ sức oai thần Bồ Tát gia bị, bọn giặc cướp kia tự nhiên đều khởi lòng từ, bao tâm ác độc kia lắng dịu xuống hết.

Trước đây ba năm khi tôi (Bảo Tịnh) giảng kinh Địa Tạng tại Tô Châu, có Bào Thánh Vân Cư sĩ, ông rất nhiệt tâm hộ giúp cho Pháp hội giảng kinh. Ngày giảng toàn mãn, Bào Cư sĩ cùng tôi lên ghe máy trở về lại Thanh Đảo. Sau khi ghe vừa ra khỏi cửa biển Ngô Công bị bọn cao bồi lưu manh nó uy hiếp ghe phải đổi hướng đi về phương Nam. Tôi xem thấy tình hình hơi khốn nạn, lòng chẳng yên, liền vì cả ghe, khởi niệm Quán A⭬ tiếp theo mọi người trong ghe đều gia trì niệm tụng Thánh hiệu Đức Quán Thế A⭮ Nhờ đó mà được trọn thoát hiểm nạn. Sau khi hành trình một ngày đêm mới về đến chùa Quán Tôn, tôi có soạn một bài ký, nhan đề là "Bào Cư sĩ thoát hiểm" ghi rõ đủ sự việc vừa đã xảy ra từ đầu chí cuối.

* 

Hoặc bị khổ nạn vua

Khi hành hình sắp chết

Do sức niệm Quán Âm

Dao liền gãy từng đoạn.

Hoặc tù cấm xiềng xích

Tay chân bị gông cùm

Do sức niệm Quán Âm

Tháo rã đặng giải thoát.

Hoặc gặp Quốc pháp vương nạn, đến nỗi phải bị chém đầu. Khi mà thọ mạng sắp cuối cùng, năng niệm Quán Âm Thánh hiệu, thời cái dao hành quyết kia, tự nhiên gãy khúc rời từng đoạn một. Hoặc bị phạm Quốc pháp, hoặc bị bọn giặc cướp bắt nhốt tù, tay chân đều bị trói còng. Năng trì niệm Quán A⭬ tức nhờ sức oai thần Bồ Tát có thể trong vô hình được giải thoát. Xưa có một vị Tăng đi vào trong núi sâu để tìm cây thuốc, bị giống người mọi Mán bắt trói nhốt tù. Khi chúng trói buộc cả hai tay chân sắp đem làm thịt ăn, vị Tăng nhất tâm kiền thành niệm Quán Thế Âm Bồ Tát. Bỗng nhiên có con cọp chạy đến phá tan rọ chúng nhốt Ngài, Ngài được cứu thoát. 

*

Nguyền rủa cán thuốc độc

Muốn hại đến thân đó

Do sức niệm Quán Âm

Trở hại nơi bổn nhơn.

Hoặc giả gặp kẻ ác nhân dùng ác chú nguyền rủa người, hoặc nó dùng độc dược hại người cho chết. Ở địa phương biên giới các tỉnh: Quảng Đông, Phước Kiến, Vân Nam, Tứ Xuyên thường có chỗ gọi là Hắc Điếm. Nếu ai bất phước lầm vào trúng đích của họ tức bị độc chết ngay. Hoặc bị rủa chết đoạt lấy tiền của. Năng niệm Quán Âm tức có thể khỏi ách nạn ấy. Ngược lại, kẻ cố ý làm hại người ta bị cái hại ấy nó hại trở lại nơi bản thân mình. O⮧ Tô Đông Pha cho là (trở hại nơi bản nhân) chẳng bằng cái là "hai bên đều vô sự" thời có lẽ từ bi hơn, vì như thế này khả dĩ chẳng gây hại cho người mà cũng chẳng gây hại cho mình vậy.

Đây vì ông Tô Đông Pha chẳng hiểu hai Pháp môn chiếc nhục và thu nhiếp trong Phật pháp. Phật pháp nên từ bi thì từ bi, nên chiếc phục tức chiếc phục. Tức đè bẻ như hành phục vậy. Nếu chỉ một mặt từ bi, mà chẳng chiếc phục thời những kẻ ác không do đâu họ cải đổi tội lỗi được. Ví như sát sanh, với trong Phật pháp cố nhiên nên răng, nhưng mà với trường hợp cần khai phóng thời khai phóng. Nhưng cần phải xuất phát nơi thiện tâm, từ bi tâm và vô ký tâm (vô ký là chẳng thiện chẳng ác). Rất sanh lòng hổ trẽn. Tuyệt đối chẳng nên có chút lòng giận hờn tức ghét.

Như người Phật tử, thấy giữa đường có con rắn độc, đã cắn chết nhiều người, nhân đấy liền giết chết rắn, khỏi cắn người khác nữa. Thứ sát sanh này có hai phương diện: Một vì cứu người, một vì khiến rắn: với hiện tại giảm bớt ác nghiệp, với tương lai chịu ít ác báo. Giết mà như thế hai phương diện đều có lợi ích. Bởi vì thứ sát sanh này gồm có lòng thương xót và vì bảo hộ bao chúng sanh khác nữa. Thà tự mình nên phạm giới, đọa địa ngục, trọn chẳng để kẻ khác phải chịu khổ trong vô gián địa ngục vậy. Do nhân duyên ấy, đối với giới pháp không phạm, gọi là vong phạm cứu vật.

Sở dĩ giới pháp trong Phật pháp, tuy làm quan tòa, quan quân ngũ đều có thể thọ trì giới pháp được cả. Đối với những kẻ gây họa cho quốc gia, làm tai hại dân chúng, giết người, đốt xóm làng, gian tặc, giặc giả v.v… chiếu theo Quốc pháp mà xử chúng nó đến tội tử hình, mới có thể khiến dân chúng an cư lạc nghiệp ăn ngon ngủ yên gọi là cao gối không lo. Đấy là Bồ Tát giới đó, cũng không có phạm chi hết. Nếu chẳng phải như vậy, mà xuất phát nơi tâm giữ, thời bị tội ác rất lớn là quyết sẽ bị đọa vào tam đồ địa ngục chịu khổ báo. Về sau người ta cho sự cải đổi của Tô Tiên Sanh là chẳng nhằm, sở dĩ vẫn dùng nguyên câu.

Từ thuở trước đã có một ông thầy bói tên là Lại Tỉnh Cán, lối dụng tâm của ông bất chính: Trong nhà có thờ một yêu quái vật để khiến nghề thầy bói được Thần linh ứng quẻ, cứ mỗi năm ông đến tỉnh Triết Giang, đánh cắp một đứa đồng nam, hay đồng nữ cũng được, về cúng tế cho yêu quái. Một lần, có một em nữ hài bị ông dụ dẫn về nhốt kín trong một nhà riêng. Sau mấy hôm ông khiến em tắm rửa sạch sẽ, thay áo quần để đợi yêu quái đến ăn. Nguyên em bé này, ngày bình thường, biết niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, lúc ấy em nhất tâm xưng niệm danh hiệu Bồ Tát. Đến nửa đêm cánh cửa song bỗng trống, đôi mắt của yêu quái từ ngoài cửa song chiếu vào sáng như đèn điện soi. Em bé tuy sợ hãi, nhưng vẫn nhất tâm xưng danh, thời trong miệng em bỗng nhiên bay ra một tia sáng bắn đến trên thân con yêu vật. Thình lình ở trên cửa song rơi xuống một vật, em bé cấp hô: Cứu tôi chết. Vừa chính lúc đó bên ngoài vách nhà có mấy viên lính tuần đang đi qua, họ vừa nghe tiếng, tức thì vào nhà, đèn soi thấy bên em bé là một con rắn độc rất lớn, đã chết rồi nằm đó. Sau mấy lời gạn hỏi em bé thời lính tuần liền bắt thầy bói Lại Tỉnh Cán đem nạp về quan Nha, để biện phán về tội trạng của y. Đấy tức cố hại người mà phản lại hại mình, trở hại nơi bản nhơn vậy.

* 

Hoặc gặp La sát dữ

Rồng độ các loài quỷ

Do sức niệm Quán Âm

Liền đều không dám hại.

Nếu ngươi gặp quỷ La sát hung ác và Rồng độc long cùng tất cả các thứ quỷ làm làm tai hại muốn đến làm hại ngươi. Nếu ngươi nhất tâm niệm Quán Âm Bố Tát, tức bọn La sát, Rồng, Quỷ thảy, chính lúc đó đều chẳng dám đến làm hại ngươi. Cho nên gọi là liền đều không dám hại. Quỷ sợ ánh sáng, mà thích mừng bóng tối. Nếu người năng nhất tâm bấn loạn xưng niệm Thánh hiệu, thời thiên tánh sáng láng, tức hiển hiện Đại Quang Minh, sở dĩ La sát, ác quỷ chẳng dám đến hại.

Thuở xưa có một người ưa thích hay hỏi gặp ai cũng hỏi. Một hôm đi đường gặp một quỷ La sát, anh ta tự biết nguy hiểm cho tính mạng mình lắm rồi. Nhưng với tánh háo kỳ sẵn có, anh liền hỏi La sát: Này, tại sao bụng nhà ngươi trắng mà lưng lại đen ? Quỷ đáp: Tính tôi sợ ánh sáng mặt trời, nên khi đi chạy quay lưng về trước bị nắng dọi cho nên lưng đen mà bụng trắng. Lúc đó anh liền kéo quỷ La sát đến chỗ ánh sáng mặt trời, quỷ tức thì tiêu tan. Trong tự tâm chúnh ta vọng tưởng bất tuyệt, tức là nhiều lớp màng đen sở dĩ quỷ thường đến làm họa hại. Nếu được chánh đại quang minh nhất niệm bất tà, thời những La sát quỷ quái, làm gì hại ta được.

Hoặc thú dữ vây quanh

Nanh vuốt nhọn đáng sợ

Do sức niệm Quán Âm

Vôi vàng bỏ chạy thẳng

Rắn độc cùng bò cạp

Hơi độc khói lửa đốt

Do sức niệm Quán Âm

Theo tiếng tự bỏ đi.

Trên rừng núi, ngoài đồng nội có những ác thú như chó sói, cọp, beo, nó nha nanh múa vuốt, hùng mạnh đáng sợ cực kỳ. Ở trung châu bình địa chẳng dễ gì thấy nó. Trong núi sâu rừng rậm, thường có những ác thú xuất hiện, nếu khi người gặp phải, năng nhất tâm xưng niệm Đức Quán Thế A⭬ dù cho bốn bề đều có ác thú bao vây đi nữa, tức liền vội vàng tuôn chạy trốn vô phương hướng.

Tại tỉnh Phước Kiến có người tên Lôi Pháp Chấn, sanh sống bằng nghề đốt than. Một hôm ông đi vào trong núi sâu để là nghề. Vừa chẳng may gặp một con hổ già, nhe năng ló móng dựng gáy nghinh mặt chạy sấn tới ông, hình thù rất dễ sợ kinh. Chính đang lúc nguy cấp này, bỗng nhiên có một nàng mỹ nữ hiện đến và hét "cọp" một tiếng, hổ liền quỳ xuống cúi đầu mà bỏ đi. O⮧ Chấn may mắn được cứu sống. Và ông mừng quá vòng tay xin hỏi danh tánh nàng. Nàng nói: Ta là khúc gỗ áp lan ở trong nhà ngươi. Nói xong ẩn mất, chẳng thấy nàng đâu nữa. O⮧ Chấn nhân đấy mới nhớ lại trong nhà mình có cây áp lan mộc, thớ thịt nó rắn chắc và mịn láng, ông đã có ý định trạm tượng Đức Quán Thế Âm để thờ, nhưng ngặt vì công việc làm ăn bận rộn, nên chưa trạm xong được.

Mới chỉ sanh một niệm nghĩ đến, mà đã được nhờ cảm ứng như thế. Cho nên chúng ta sanh một thiên nhiệm, thời hoa quý ở cung điện trên trời đã thành. Sanh manh một niệm ác là chảo nước sôi ở địa ngục dưới đất cũng đã bày ra. Cho nên tâm móng khởi, niệm máy động, rất cần loại trừ điều ác mà tòng theo điều thiện vậy. O⮧ Lôi Pháp Chấn, sau khi thoát nạn trở về nhà liền đem khúc gỗ áp lan ra trạm thành Thánh tượng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, trọn năm suốt tháng phụng thờ hương khói rất trang nghiêm. Đấy, tức là dẫn chứng "ác thú bỏ chạy" vậy. Loại rắn đen độc lắm, cắn người chết đứng không kịp ngã. Bò cạp là loại trùng có bốn chân, phun hơi độc như khói lửa đốt. Cũng nhờ sức niệm Quán Âm theo tiếng bỏ chạy.

*

Mây sấm sét nổ đánh

Tuôn giá xối, mưa rơi

Do sức niệm Quán Âm

Liền đặng tiêu tan cả.

Khi trời nổi mây đặc, gió mưa cùng lúc, lửa điện chớp nhoáng bốn phương, tiếng sấm sét đùng đùng chấn động và băng khối rơi xuống, hoặc lớn nhỏ ít nhiều bất nhất định, có thể làm hư hao mùa màng hay thương hại người vật. Những trận mưa lớn như thùng nước từ trên đổ xuống. Hễ gặp những điều chẳng lành như thế, đều là hiện tượng tai hoang hung hiểm. Nếu người đang đi dưới những: Gió, mưa, sấm, điển, băng thời thế nào cũng bị nguy hiểm cho sanh mạng. Nếu gấp gấp hồi đầu, xưng niệm danh hiệu Đức Quán A⭬ thì tức khắc có thể mây tiêu, mưa tán, gió ngưng, sấm ngừng và băng tuyết cũng hết, bầu trời quang đãng.

* 

Chúng sanh bị khổ ách

Vô lượng khổ bức thân

Quán Âm sức trí diệu

Hay cứu khổ thế gian.

Trong tâm chúng sanh bị: Tham, sân, si, mạn các phiền não đó bức ép; ngoài thân bị: Nước lửa, đao binh, đói khát, tam tai, bát nạn các khổ ấy thay phiên nhau thường trực hoành hành dữ dội. Khốn ngặt ở trong thống khổ vô lượng vô biên. Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại từ Đại bi, có đủ thần lực trí huệ Diệu quan sát, không nạn nào chẳng cứu, không khổ nào chẳng vớt. Thậm chí chúng sanh ở ba cõi: Đồng cư, Phương thiện, Thật báo, tất cả sanh tử phiền não khổ ách thảy đều năng cứu tế, khiến được giải thoát.

* 

Đầy đủ sức thần thông

Rộng tu trí phương tiện

Các cõi nào chẳng hiện.

Các loài trong đường dữ:

Địa ngục, quỷ, súc sanh

Sanh, già, bệnh, chết, khổ

Lần đều khiến dứt hết.

Quán Thế Âm Bồ Tát đầy đủ Thần thông diệu lực. Thần là thiên tánh chẳng đo lường được; Thông tức là huệ tâm. Dùng tánh thiên nhiên thấu soi vô ngại gọi là Thần thông. Chúng sanh vốn sẵn đủ thần thông diệu dụng, ngặt vì bị phiền não vọng tưởng che lấp chẳng hay hiển hiện được. Nếu có thể buông thả muôn duyên, thần thông tức hiện liền ngay.

Bồ Tát, La Hán, Thiên, Tiên, Quỷ, Thần đều có thần thông. Thần thông của quỷ, Thần gọi là quỷ thông. Nhỏ bé lắm, chỉ thấy được phần ít hai đạo. Người và Quỷ mà thôi. Thiên Tiên tuy có thiên nhãn, thiên nhĩ, nha tâm, túc mạng và thần túc năm thông. Nhưng cũng đều là nhỏ hẹp, vã lại thiếu vô lậu thông, cho nên gọi là hữu lậu thần thông, vì phiền não vẫn hoàn toàn tồn tại vậy. Sở dĩ có khi động đến sát cơ, tức là giết hại.

La Hán, thêm đủ vô lậu thông. Nhờ có đủ sức thần thông, sở dĩ mới vượt khỏi ba cõi. Tuy vượt khỏi hơn vạn vạn lần hữu lậu thần thông của Thiên, Tiên nhưng hãy chưa hoàn toàn rốt ráo. Cho nên thiên nhãn thiên nhĩ của La Hán chỉ thấy nghe trong phạm vi tam thiên đại thiên thế giới mà thôi. Thần túc, chỉ năng du hành tự tại trong tam giới. Túc mạng, chỉ biết sự tình tám vạn kiếp dĩ nội. Tha tâm, chỉ biết tám niệm của sáu loại phàm phu mà thôi.

Bồ Tát phá được một phẩm vô minh. Thiên nhãn, thiên nhĩ tức có thể thấy nghe đến một trăm cái tam thiên đại thiên thế giới. Phạm vi ấy so sánh với La Hán cả một trăm lần hơn. Nhưng mà cũng chưa hoàn toàn là đầy đủ vậy. Duy Phật năng kiến văn đến vô số lượng, vô cùng tận tam thiên đại thiên thế giới. Xem lâu xa về kiếp trước như một ngày nay, suốt nguồn tận đáy, rốt ráo đầy đủ.

Quán Thế Âm Bồ Tát sớm đã thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai. Đã chứng được thế tự tâm Thật tướng, đầy đủ sức đại Thần thông bất khả tư nghì. Sở dĩ cùng với các vị mới thành Bồ Tát chẳng đồng. Bởi thế nên gọi là "Đầy đủ sức thần thông". Lại nữa, rộng tu đại trí huệ, đại phương tiện. Trí, tức thật trí, soi lý. Phương tiện là quyền trí, hiểu sự, ứng căn cơ thuyết pháp. Hai trí Quyền và Thật đều đầy đủ gọi là rộng tu. Có Thật trí mới ngang các Đức Phật, có Quyền trí là không sanh nào chẳng độ được. Cho nên mười phương thế giới, tất cả cõi nước, không một sứ nào chẳng thị hiện các loại ứng hóa thân mà rộng độ chúng sanh tức các loại ác thú như: Tu la, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và nhận đạo chúng ta sanh, già đau, chết, những bao thứ khổ nhiều vô lượng vô biên, chỉ cần xưng niệm danh hiệu Đức Quán Thế A⭬ tức nhờ ánh từ quang gia bị, năng khiến những khổ thống dần dần đều tiêu diệt.

Địa ngục có tám sở lạnh, tám sở nóng là Đại ngục. Chúng sanh gây tội ngũ nghịch, thập ác tức bị đọa vào trong ngục này chịu khổ báo. Quán Thế Âm Bồ Tát thấy chúng sanh chịu khổ nơi địa ngục, thường đi đến giáo hóa độ giải thoát. Kinh nói: Ta chẳng vào địa ngục còn ai vào đấy ? Ngạ quỷ đạo là trăm ngàn vạn năm vẫn chẳng nghe danh tự của nước uống huống là các thức uống ăn. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát biến làm vị Quỷ chúa Diện Nhiên Đại Sĩ. Nhân đấy mới dẫn khởi cho Đức Phật nói Chú Pháp Diệm Khẩu để đem phổ cứu tế độ cho tất cả Nha quỷ. Súc sanh đạo là chim bay thú chạy, vảy lông cánh sừng đều bởi mắc quả báo nghiệp chướng đời trước đã gây nên. Hễ người mà dối gạt gian trá tức đọa vào loài này. Hoặc trả nợ, hoặc đền mạng mà sanh ra để chịu khổ báo chẳng thể kể xiết. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát hay hiện thân súc sanh để giáo hóa chúng. Còn về khổ, sanh, lão, bệnh tử tại nơi nhân đạo thời bất luận nghèo giàu sang hèn đều chẳng tránh khỏi được, Tức như Thiên đường, Tiên đạo, vẫn chẳng tránh khỏi được. Kinh nói: Nhân gian khó tránh khổ bốn tướng, Thiên tượng tài gì khỏi năm suy. Quán Thế Âm Bồ Tát vì thương xót chúng sanh chịu khổ. Chúng chỉ cần năng xưng danh, tức dần dần khiến chúng tiêu diệt nỗi thống khổ, thường được an vui.

Chơn quán, thanh tịnh quán

Trí huệ quán rộng lớn

Bi quán và tứ quán

Thường nguyện thường chiêm ngưỡng

Chơn quán tức chơn không quán. Xét soi tất cả các khổ thảy đều chơn không. Chúng ta trong thâm tâm, ngoài có thế giới, đều bởi vọng niệm vọng kiến phân biệt mà có, kỳ thật đều là hư vọng chẳng thật. Cái có của vọng kiến, giống như trong mộng thấy có cái gì, nhưng vốn chẳng phải chân thật. Lại đồng như mắt bị lòa thấy đèn sáng có bóng tròn năm sắc, thấy giữa không trung có những cuồng hoa múa lăng xăng. Kỳ thật là đèn sáng vốn không có bóng tròn, không trung đâu có cuồng hoa. Bất quá vì mắt có bịnh lòa, nhân đấy mà thấy có vậy thôi. Giống như thế giới quốc độ, người ta, chàng trai nàng gái, kẻ lớn người nhỏ, bên nội bên ngoại, giàu sang nghèo hèn, đều là vọng kiến mà có. Khi chứng đến địa vị Phật mới thấy rõ ràng không có một vật gì cả. Như khi mắt lành bệnh, trên đèn không có bóng tròn, cuồng hoa giữa không trung cũng biến đâu mất. Duy là thanh tịnh, một mảy bụi vẫn chẳng dính nhớp. Cho nên biết tất cả cảnh giới đều bởi vọng kiến mà có. Bởi chấp cho là có, mới khởi ra phân biệt. Đã sanh khởi phân biệt thời: Có yêu mến, có giận hờn, có khổ vui, có tốt xấu đủ thứ đủ điều nói chi cho hết. Ngược lại, nhất niệm bất sanh, thân tâm trở về "không" muôn vật đâu có nữa. Mới soi thấy năm "uẩn" đều không, tất cả cũng đều không, chứ chẳng phải làm tiêu diệt cái "có" mới là không. Đấy gọi là Chơn không quán.

Giữa đời không có người ngàn tuổi, ngôi nhà muôn năm, đều là sanh diệt đổi đời đâu có thật tại. Kinh dạy: Không những gì đã có. Nhưng Không là bất Không là Diệu hữu. Trong Không ấy vốn sẵn đủ tất cả Pháp chứ chẳng phải là cái đoạn diệt Không. Sở dĩ phải gấp tu thiện tích đức, tổn mình lợi người, rộng đủ chúng sanh. Đấy tức là Diệu hữu quán.

Nói sao, gọi là Thanh tịnh quán ? Nguyên là người đời làm sự nghiệp từ thiện công đức, hợp ý ta thời làm, mà trái lại là bỏ, thuận đưa đến vui thích, nghịch xảy ra giận dữ. Sẵn có tâm lý tốt, xấu, ưa, ghét, hoài tồn tri kiến nên, hư, đặng, mất. Chỉ biết thật có, mà chẳng biết bản thể nó vốn là không. Rồi đụng đâu cũng vẫn dính chấp đắm, nhiễm ô như mủ mít, chẳng thể thanh toán cho trong sạch được. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát chọn ngày ở trong trần lao độ sanh, mà thật không có tướng trần lao. Tâm lợi sanh chẳng phải có mà có, có mà chẳng phải có. Như trăng dưới nước, hoa giữa hư không. Không chấp đắm gì, không an trụ vào đâu. Sở dĩ tuy tích cực cứu đời vào cõi độ sanh, mà vẫn thanh tịnh không nhơ bẩn, như Hoa sen vượt trên bùn trên nước vậy. Lại như câu: Dạo vườn hoa trăm thứ, thân chẳng động một cành. (Bá hoa tòng ly quá, nhất diệp bất triêm thân). Nhưng là vô tâm với vạn vật, ngại vì vạn vật thường đanh vây. Sở dĩ mới gọi là Thanh tịnh quán.

Chơn không quán là ra khỏi đời, Thanh tịnh quán là vào trong đời. Do ra đời mà vào đời là Chơn lợi nhân. Do vào đời mà ra khỏi đời là Chơn tự lợi. Chơn và Tịnh đều viên thông. Tức Không tức Có. Không và Có chẳng hai vào nơi Trung đạo. Mà Trung đạo quán trí chẳng đình trệ nơi hai bên Không và Có. Sở dĩ mới dạo khắp cả pháp giới, rộng lớn không vì chướng ngại. Cho nên mới gọi Trí huệ quán rộng lớn.

Tu chơn không quán, phá được kiến tư phiền não, chứng minh được Bát nhã đức. Tu Diệu hữu Thanh tịnh quán, phá được trần sa phiền não, chừng được Giải thoát đức. Tu Quảng đại trí huệ quán, phá được vô minh phiền não, chứng được Pháp thân đức. Ba pháp quán này, cử một tức đủ ba, nói ba tức là một. Chẳng phải trước sau, chẳng phải chung riêng. Vì ba pháp quán này là tuyệt đãi viên dung. Tức là ý nghĩa chữ Quán của Quán Thế A⭮ Đấy, ba pháp quán tự lợi, cũng tức là căn bản lợi tha vậy.

Từ quán và Bi quán là hai quán lợi tha, mà cũng là dụng tự lợi vậy. Quán Thế Âm Bồ Tát là Quán Thế Âm trong tâm chúng sanh. Vì với chúng sanh đồng thể chẳng hai. Cứu khổ chúng sanh tức là cứu khổ tự mình, tuy khiến chúng sanh thoát ly tất cả các thống khổ ngũ trì, nhị tử; giải trừ tất cả các tai nạn lục phàm, tam thừa. Không một hạng nào chẳng phải là nhiếp tha về tự, để làm việc cần thiết nơi thân mình. Sở dĩ gọi lá đồng thể Đại bi quán.

Từ, năng khiến chúng sanh được vui Chơn không, vui Diệu hữu, cho đến vui Trung đạo vô thượng Niết bàn bất sanh bất diệt. Tịch diệu là Vui, và cái vui Vô thượng Bồ đề, bất cấu bất tịnh: giác pháp lạc. Trọn ngày cho vui mà không có tướng cho vui. Không có Bồ Tát là Năng duyên, cũng không có chúng sanh là Sở duyên. Năng với Sở duy là nhất tâm. Nên gọi là Vô duyên Đại từ. Sở dĩ bọn chúng ta là chúng sanh thường nguyện Quán Thế Âm Bồ Tát Từ bi cứu vớt cho; thường mong Phổ Môn Đại Sĩ Diệu Tướng Trang Nghiêm đảnh lễ ngửa trong cầu xin soi nhiếp.

*

Sáng thanh tịnh không nhơ

Tuệ nhựt phá các tối

Hay tiêu tai khói lửa

Khắp soi sáng thế gian.

Quán Thế Âm Bồ Tát với ba quán Pháp trước đã đầy đủ, phá trừ tất cả phiền não được trong sạch, không còn nhơ bẩn nên gọi là Không nhơ. Tâm chúng ta vốn là thanh tịnh, như gương sáng trong sạch không nhơ. Đức Lục Tổ đã nói: Xưa nay không một vật. Chỉ vì tham, sân, si ba độc nhơ bẩn ngăn ngại, như bụi bẩn che gương sáng nên lu mất dụng sáng trong. Bởi đấy, sở dĩ chúng sanh là chúng sanh muôn đời ! Quán Thế Âm Bồ Tát, khi ban sơ cũng là phàm phu, nhờ dùng công phu tam quán, mới đem nhơ bẩn chà rửa làm trong sạch; suốt đến trong sạch rốt ráo là bất sanh bất diệt. Sạch cùng cực, là sáng thông suốt. Hết nhơ hiện sáng. Sở dĩ ấy trong ngoài thấu suốt sáng rực rỡ, nên gọi là sáng thanh tịnh không nhơ. Cái sáng như thế, tức là Đại trí huệ quang. Huệ quang chiếu sáng, giống như sáng mặt Nhựt giữa thanh không năng phá tất cả màn đen tối. Chúng ta tuy đội dưới ánh sáng của bạch Nhựt thanh thiên, nhưng cả bọn đều mờ mịt bởi tự tâm ác liệt. Thiện thời cũng như đang ở trong thế giới tối đen mù mịt vậy. Nhưng ngày hôm nay, quí vị đến đây nghe Kinh, hiểu rõ đạo lý, mở mang trí huệ. Niệm Phật tức thanh tâm, chuyển đổi thế giới đen tối, biến thành thế giới quang minh.

Bồ Tát dùng Chơn không quán, chứng Nhất thiết trí quang, đem phá tối tăm kiến tư phiền não cho chúng sanh. Dùng Thanh tịnh quán chứng Đạo chủng trí Quang, đem phá tối tăm trần sa phiền não cho chúng sanh. Dùng Quảng đại trí huệ quán, chứng Nhất thiết Chủng trí, đem phá tối tăm vô minh phiền não cho chúng sanh. Cho nên gọi là Phá Các Tối. Phiền não tối tăm là phiền não của chúng sanh đã bị phá hết, thời tất cả các tai nạn lả quả khổ cũng phải bị tiêu diệt theo, cho nên gọi là: Hay tiêu ba tai bảy nạn, tất cả các gió, nước, lửa, đao binh, tai kiếp mênh mông và giặc cướp các nạn, cho đến tiêu diệt trong âm thầm vô hình.

Đức Quán Thế Âm Bồ Tát dùng Huệ nhật ba Quán pháp, ba trí quang, phóng bủa Đại quang minh khắp soi cả thế gian đều khiến lìa khổ được vui; dùng Huệ nhật Nhất thiết trí quang phóng bủa Chơn không quang minh, khắp soi cõi luc phàm đồng cư thế gian; dùng Huệ Nhật Đạo chủng trí Quang, phóng bủa Diệu hữu quang minh, khắp soi cõi Nhị thừa phương tiện thế gian; dùng Huệ nhật Nhất thiết chủng Trí quang, phóng bủa Trung đạo quang minh, khắp soi cõi Bồ Tát thật báo thế gian. Cho nên gọi là khắp soi sáng thế gian.

*

Lòng bi răn như sấm

Ý từ diệu dường mây

Xối mưa pháp cam lồ

Dứt trừ lửa phiền não.

Bốn câu này là khen ngợi ba Luận bất khả tư nghì của Quán Âm Bồ Tát. Câu đầu, khen ngợi thân luân là thể Pháp thân Đại Từ Bi. Đại Bi pháp thể do trì giới mà chứng được. Quán Thế Âm Bồ Tát mới dùng Đại Từ Bi giới thể, thân luân hiện thông, thị hiện 32 ứng hóa thân, để diễn ra Đại thần thông, làm kinh động cả cõi đại thiên thế giới như sấm sét để cảnh tỉnh những người mê mộng. Cho nên gọi là "Lòng bi răn như sấm".

Câu hai, khen ý luân. Dụng tâm của Bồ Tát, không đâu chẳng phải là lòng dạ Đại Từ Đại Bi để soi xét các cơ nghi, dùng các phương tiện, với mục đích là hy vọng cả chúng sanh đều được lợi ích. Lối dụng ý thâm diệu như đám mây lớn che khuất nắng mặt trời, tiêu trừ nóng bức mà được mát mẻ. Cho nên gọi là "Ý từ diệu dường mây".

Ba, bốn hai câu, khen khẩu luân Cam lồ, là thuốc trường sanh bất tử trên trời, dụ cho Diệu pháp bất sanh bất diệt. Bồ Tát dùng khẩu luân thuyết pháp, pháp nào cũng thấm nhuần vào chúng sanh tam thảo nhị mộc đều được sanh trưởng, thảy đều diệt trừ lửa hừng phiền não, mới chứng được đất mát mẻ lả Niết bàn bất sanh bất diệt vậy.

*

Cái kiện qua chỗ quan

Trong quân trận sợ sệt

Do sức niệm Quán Âm

Cừu oán đều tiêu tan.

Nếu gặp phải việc tranh chấp, kiện cáo mà đến Quan nha nguy hiểm. Hoặc bị binh tai chiến họa, kinh khủng nguy nan, niệm danh Quán Âm tất cả oan gia đối đầu đều có thể hư tan. Như Phi Phạm Cửu Cư sĩ ở huyện Bình Hồ này. Trước đây chiến cuộc đương diễn, chính lúc đó Cư sĩ đang ở tại Thượng Hải phục vụ cho thương vụ ấn thư quán. Chiến cuộc dữ dội tại đây. Một sáng sớm ông phải bỏ sở ra đi. Sau năm ngày đến thôn Kiệm Đức Tân, thời cuộc chiến lại lan dần đến đấy, và Kiệm Đức Tân lại là trung tâm của pháo hỏa. Khi đó ông quyết chí định đi ngang qua Tô giới công cộng để tránh chiến nạn. Nhưng ngặt nỗi vượt qua sông Tô Châu không được, vì chiến binh bố phòng quá nghiêm mật. Đang lúc Phí Cư sĩ lưỡng lự chưa biết nên đi về hướng nào, thời bỗng thấy một em bé đến nói với ông rằng: Cứ đi tới đi, đằng sau có người đuổi bắt. Cư sĩ vội vàng dắt bà nhạc mẫu, phu nhân và một con tất cả bốn người sắp chạy, thời thấy hàng rào dây kẽm gai vừa mở trống chừng vừa người chui lọt. Cả gia đình vừa chạy qua xong là gặp liền hai người lính ngoại quốc. Đến đấy ông mới ngó lại thời chẳng thấy em khi nảy đâu cả. Mới dìu dắt nhau đến nương ở xóm Nguyên Nguyên lý một thời gian, chiến sự mới cáo chung. Bốn phía xóm nhà ông đều biến thành gạch vụn, duy có căn nhà ông ở còn nguyên vẹn mà thôi. Đấy là nhờ Phí Cư sĩ và toàn gia đã hàng ngày thành kính tu niệm Đức Quán Thế Âm Bồ Tát mới được nhờ gia hộ bất khả tư nghì như vậy.

* 

Diệu Âm Quán Thế Âm

Phạm âm, hải triều âm

Tiến hơn thế gian kia

Cho nên thường phải niệm.

Văn trước nói Chơn quán, Thanh tịnh quán, Quảng đại trí huệ quán, Bi quán và Từ quán là giải thích chữ Quán của Quán Thế A⭮ Văn đây là giải thích chữ A⭮ Do đấy hợp lại để giải thích lý do lập Hồng danh Quán Âm Bồ Tát. Chữ Diệu là Diệu âm tức là ý nghĩa bất khả tư nghì. Tuy Bồ Tát đến đâu cũng tùy duyên giáo hóa, thi thiết Pháp âm quyền mưu phương tiện, nhưng tức nơi Quyền là Thiệt. Nguyên lai chẳng đổi dời, chẳng lay động. Cho nên là Tùy duyên mà thường bất biến. Tức nơi Dụng là Thể, nên gọi Diệu A⭮ Xét soi tất cả tiếng tăm ấy đến mà cứu khổ. Trăng trời chẳng động khắp hiện nghìn sông. Chẳng khởi khỏi Bản diệu mà khắp cửa cứu nạn cứu tai. Tức nơi thực mà thi thiết Quyền mưu; bất biến mà vẫn tùy duyên, phát khởi các Diệu Dụng, nên gọi Quán Thế A⭮ Diệu A⭍ là Quán Thế A⭬ bất biến thường tùy duyên; cũng có thể, Quán Thế Âm là Diệu âm, tùy duyên tức bất biến.

Chữ Phạm, là nghĩa thanh tịnh khiến bạch. Tiếng Quán Âm chẳng rơi vào "không và hữu" không ô nhiễm hai bên. Bên trên hợp lý trung đạo thật tướng với mười phương chư Phật. Nên gọi Phạm âm. Diệu Âm Bồ Tát thuyết pháp phổ biến mà lại chẳng mất thời cơ nữa. Dưới mỗi lời nói là hợp với cơ duyên chúng sanh. Chúng sanh nào được nghe chọn Pháp âm không một ai chẳng vui sướng, có như tiếng hải triều khắp cả mà lại lui ra, nhảy vào có thời khắc nhất định. Khi mà cơ duyên chúng sanh đã thuần thục và thời đến là Bồ Tát tức thì hiện thân thuyết pháp hóa độ. Cơ nghi đã xong, thời ứng tích chẳng ẩn mà ẩn, nên gọi là Hải triều âm. Phạm âm, trên cầu Phật đạo. Hải triều âm, dưới hợp cơ nghi chúng sanh. Sở dĩ vượt khỏi tất cả các tiếng thế gian là đồng cư, phương tiện, thiệt báo. Bởi duyên cớ này, nên chúng sanh ta phải cần thường thường xưng niệm mới được thật ích.

*

Niệm niệm chớ sanh nghi

Quán Âm bậc Tịnh Thánh

Nơi khổ não nạn chết

Hay vì làm nương cậy.

Đủ tất cả công đức

Mắt lành trông chúng sanh

Biển phước lớn không lường

Cho nên phải đảnh lễ.

Chúng ta trì niệm Thánh hiệu Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, tuyệt đối chẳng nên mống sanh mảy may nghi ngờ. Nghi là rất chướng ngại lớn lao cho lòng tin, khó được cảm ứng. Sở dĩ với trong mỗi mỗi niệm đừng nên sanh nghi ngờ, ngay thẳng mà niệm đi tự được lợi ích. Vã lại Quán Thế A⭍ Bồ Tát đã dứt hết phiền não, cũng như chẳng đồng với La Hán, vì La Hán chưa dứt hết được trần sa phiền não huống là vô minh ư ? Sở dĩ Quyền thừa Bồ Tát và La Hán tuy là Thánh nhân, nhưng là bậc hiền trong Thánh. Duy có Quán Thế Âm Bồ Tát là Thánh trong bậc Thánh. Bởi vì ngũ trụ phiền não đã dứt rốt ráo, hai thứ chết đã hẳn tiêu vong, thanh tịnh rốt ráo nên gọi là Tịnh Thánh.

Phải biết chúng ta hiện đang còn ở trong sanh tử khổ não, gặp lúc ách nạn, năng nhất tâm bất loạn xưng niệm Quán Thế A⭬ thời Bồ Tát năng làm vị Từ Phụ cho chúng ta nương dựa, làm vị Từ Mẫu chúng ta cậy nhờ. Bởi vì Quán Thế Âm Bồ Tát đầy đủ tất cả các công đức nhiều vô lượng, đem con mắt Đại Từ Bi bình đẳng xem tất cả đại chúng sanh không có sai khác, đồng như cha mẹ ái mộ các con gái trai với tấm lòng phi thường nồng nhiệt. Cho nên khi mà đại nạn đến đầu, khả dĩ làm chỗ nương cậy nhờ. Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã dồn công chứa đức, phước lớn như một đống ngọc báu, rộng như bể cả không ngằn. Bởi những cớ ấy, nên chúng sanh cần phải lễ bái cúng dường.

 

Trì Địa Bồ Tát

 

Bấy giờ Ngài Trì Địa Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đến trước bạch Phật rằng: "Thế Tôn ! Nếu có chúng sanh nào nghe phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát đạo nghiệp tự tại, phổ môn thị hiện sức thần thông này, thời phải biết công đức người đó chẳng ít".

Khi Đức Phật nói kệ tụng vừa xong, có một vị Bồ Tát tên là Trì Địa, từ chỗ ngồi đứng dậy thưa Đức Phật xin ngợi khen Phẩm Phổ Môn này, để làm chứng minh công đức. Ngài Trì Địa Bồ Tát, ở vô lượng kiếp về trước, là một con người khổ não, không học thức mấy, nhưng mà Ngài hoài bảo tấm lòng lợi người và mình rất tha thiết, khác hẳn với mọi người bình thường. Nên Ngài vui lòng làm những công đức từ thiện một cách vô tư lợi ích cho thế gian dân chúng. Và có thể là tổn mình lợi người, vẫn làm, đầy đủ tâm trường Bồ Tát, nên Ngài phải chịu thiệt thòi về phần văn kinh thính Pháp, đương nhiên là con đường lý trí Ngài vẫn lờ mờ. Phàm những cử động gì mà ích lợi nhân bởi thiên tánh sử nhiên là ám hiệp với hành vi Bồ Tát. Sống mà đem sức mạnh của kẻ võ phu, trọn ngày ở tại đầu cầu mé đường, đợi gặp những kẻ mang gánh nặng nề, thời Ngài ra sức thay mang giúp gánh hộ qua khỏi cầu đường; hoặc gặp xe nặng nề khó đẩy lên giốc là quyết định với họ một sức ấn vào đẩy lên lực lượng. Và chẳng nhận một món thù lao nào hay lời cảm ơn gì cả. Một công tác thường xuyên này nữa cũng đáng kể: Ngài thấy những khúc đường bị lở lói, lồi lõm, chỗ cao, chỗ thấp bất bình đẳng là Ngài mang đất đến lấp bằng; và cầu cống bị hư hỏng là ra sức tu bổ lại cho chắc chắn. Nên thời bấy giờ họ gọi tên Ngài Trì Địa tức ông gánh đất. Tuy Ngài đến đâu vẫn khổ tâm lo việc mình làm mình biết chẳng cần ai để ý, là dụng tâm hết sức lương thiện và cặm cụi làm như vậy đã lâu rồi, nhưng chưa hề thấy hiệu quả đến như thế nào ?

Một hôm Ngài gặp Đức Phật Kỳ Xa Phù đi ngang qua sở, liền cung kính lễ bái. Đức Phật dạy: Ngươi là việc công ích, từ thiện khắp giúp mọi người, cố nhiên là việc làm tốt lành. Nhưng ngươi cứ một mặt trên vật chất mà làm là thành công chẳng tròn, chẳng biết muôn vật là duy Tâm. Ngươi phải biết thế giới đại địa đều là từ trong tâm hiện ra. Địa có cao thấp do Tâm bất bình. Sở dĩ tâm ngươi bình, thế giới mới bình theo. Vì Tâm là làm chủ nhân muôn loài; nhân bình thời quả mời bình, lẽ phải như thế. Sở dĩ muốn bình đại địa, trước tiên phải bình Tâm đã. Sau một hồi được Đức Phật khai thị cho phen này. Ngài Trì Địa Bồ Tát, liền từ nơi sự việc đã làm mà vào lý quán. Và thế mà lần nữa gắng công tu hành mới phá được vô minh chứng Pháp tánh, thành Đại Bồ Tát.

Khi Đức Thánh Tôn giảng Phẩm Phổ Môn, thời Trì Địa Bồ Tát cũng được tham dự, khi nghe xong mới đứng dậy ra trước chúng Hội chứng minh để thuật sự đắc ích của Đại chúng rằng: Bạch Đức Thế Tôn ! Nếu có chúng sanh năng nghe Phẩm Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn này, thời Bồ Tát đầy đủ sức tự tại tam nghiệp, không chướng không ngại năng khắp cửa tùy loại thị hiện Thần thông oai đức, thời người ấy được công đức nghe Pháp rất là rộng lớn mênh mông, chứ chẳng nhỏ nhen vậy.

 

Chánh Đẳng Chánh Giác

 

Lúc Phật nói phẩm Phổ Môn này, trong chúng có tám muôn bốn nghìn chúng sanh đều phát tâm vô đẳng đẳng vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Khi Đức Phật Thích Ca giảng phẩm Phổ Môn, Đại chúng nghe giảng tại Hội có Chúng đệ tử, Trời, Rồng và tám bộ chúng thảy, số lượng quá nhiều chẳng kể xiết. Nội bên trong có tám muôn bốn ngàn chúng sanh. Cho nên một người nghe kinh được lợi ích tức là tám muôn bốn ngàn chúng sanh ấy đều được chịu ích lợi. Đấy là cứ trên một cái thân mà nói, chứ tâm bao gồm cả thái hư, lượng khắp cả sa giới, mười phương pháp giới đều ở trong tâm. Cho nên người phát khởi Bồ đề tâm tức là cả Pháp giới đều duyên đấy mà phát khởi theo. Một cái động là động tất cả. Sở dĩ đó nên trong tự tâm ta có vô lượng Đại chúng đều đã phát tâm rồi vậy.

Phát tâm vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tức là phát tâm thành Phật. Hiện tiền chúng sanh có giác tri, nhưng là vọng giác vọng tri. Nếu giác ngộ được muôn Pháp đều không, trọn không có gì, chẳng đắm nơi có gọi là Chánh giác. Tuy Chánh giác rồi đấy, nhưng một bên chấp đắm là không, lại chẳng bình đẳng. Cho nên điều tiên quyết phải là đem tự tri mà tri cho kẻ vị tri, đem tiên giác mà giác cho kẻ hậu giác. Từ bi mà giác ngộ cho chúng sanh, tức cực mà cứu giúp cho đời. Được như thế, đã chẳng chênh lệch nơi ngoan không, lại cũng chẳng ngưng trệ nơi giả hữu, thời "không và hữu" bình đẳng, gọi là Chánh đẳng. Tự giác tha hai giác này đều tròn đầy vượt lên trên tất cả các công đức khác gọi là Vô thượng.

Chánh giác là tự lợi, Chơn không là tiêu cực, khỏi đời. Chánh đẳng là lợi tha, Diệu hữu là tích cực, vào đời. Vô thượng là Tự với Tha chẳng hai, bình đẳng Nhất như. Dung thông cả cõi đời và vào đời hội qui cả tiêu cực và tích cực viên dung vô ngại, tức là trung đạo Không và Hữu bình đẳng bất nhị. Diệu hữu phi hữu là Chơn không; Chơn không Bất không là Diệu hữu. Gọi đó là Phật tánh Viên tuyệt Diệu trung. Khi thành Phật tức là chứng Tánh này đây vậy. Người đời thường hay ngộ nhận, cho Phật giáo là Không môn, chẳng phải chơn nghĩa. Cần phải hiểu rõ hai nghĩa Không và Bất không: Chẳng chấp đắm nơi Không nên mới làm lợi tha, tức là Chánh đẳng. Và phải biết Hữu túc là phi hữu, chẳng chấp đắm nơi Hữu mà sanh ích kỷ, mới được giác ngộ Chơn không, tức là Chánh giác. Như thế lìa năng và sở, tuyệt đối đãi, duy là trung đạo bình đẳng bất nhi, tức là Vô thượng.

Được như vậy thời mới vượt lên trên tất cả phàm phu, La Hán và Bồ Tát, chẳng có thể ngang hàng với ba hạng trên, nên gọi la Vô đẳng, tức không ngang hàng. Không ngang mà ngang; ngang với tất cả: Một sắc một hương, không một thứ nào chẳng phải là trung đạo, nên gọi là Vô đẳng đẳng. Nghĩa là Pháp ấy bình đẳng không có cao hạ. Người người đều sẽ thành Phật, đều có thể ngang hàng với tâm Bồ đề Vô đẳng này. Cho nên đời gọi O⮧ Thuấn vậy là người thế nào ? Ta vậy là người ra sao ? Phải chăng là có làm như ông ấy thời cũng là ngang hàng với các ông ấy vậy. Sở dĩ quý vị cần nên phát tâm quảng đại Bồ đề. Chúng ta đã thấy rõ chân nghĩa Phật pháp, nếu chẳng phát tâm hành trình, thời như nói món ăn, đếm hộ của tiền cho người khác, và như chiếc bánh vẽ chẳng ích gì dạ đói. Rốt cuộc đến cùng, tự mình chẳng được một điểm thọ dụng nào cả.

Cho nên cứ mỗi buổi sáng tinh sương, khi mới thức dậy, liền niệm Quán Thế Âm Bồ Tát bảy tiếng. Đấy là y theo giải mà khởi hành – mắt và chân đều có công dụng đồng thời. Hy vọng quý vị buông thả muôn duyên chơn thật tiến tu, bỏ lìa tình nhiễm, và vượt khỏi sự thấy biết tầm thường, lão thiệt trì niệm, khắc kỳ mà chứng lấy, mong sao được sự lợi ích thù thắng. Được vậy mới xứng đáng là chơn nhơn tử. Nguyện Chư Phật tử cố gắng, xin đừng khinh thường mà bỏ qua cơ hội.

DIỆU PHÁP LIÊN HOA KINH

QUÁN THẾ ÂM BỔ TÁT PHỒ MÔN PHẨM

GIẢNG LỤC

Phụ Lục

 

NGHI THỨC TỤNG NIỆM

QUÁN THẾ ÂM BỔ TÁT 

1- Quán Âm Tán

Quán Âm Đại Sĩ

Bửu hiệu Viên Thông

Mươi? đại nguyện thệ hoằng thâm

Khổ hải độ mê tân cứu khổ tầm thanh

Các cõi đều hiện thân.

Nam mô Thanh Lương Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.

(Xưng 3 lần) 

2- Tụng Kinh Chú

Diệu Pháp Liên Hoa kinh Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm. (Tụng 1 lần hoặc tụng thêm)

Đại Bi chú. (Tụng 3 lần hoặc 7, hoặc tụng thêm)

Ma Ha Bát Nhã Ba la Mật Đa tâm kinh.

(3 hoặc 7 lần)

3- Đại Quán Âm Tán

(Do AᮠQuang lão Pháp sư tân soạn)

Quán Thế Âm Thệ nguyện thâm

Độ sanh ra khỏi khổ luân

Hưng Từ Vận Bi khắp cõi trần

Thảy đều nhiếp nhập Phổ Môn

Ba mươi hai ứng thị hiện thân

Rốt ráo khiến chứng Phật tâm

Thường niệm cung kính Quán Thế Âm

Tiêu tai cát khánh lâm

Thường niệm cung kính Quán Thế Âm

Tiêu tai cát khánh lâm.

4- Quán Âm Kệ 1

(Do AᮠQuang lão Pháp sư tân soạn)

Quán Âm thệ nguyện diệu khó nghì

Phó cảm ứng cơ chẳng mất thì

Cứu khổ tầm sanh đá hút sắt

Hiện thân thuyết pháp trăng đáy trì

Trần sát các cõi đều tế độ

Ta bà trong giới dũ lòng Từ

Ơn sâu muôn kiếp khen chẳng xứng

Mong thương ngu dại khắp hộ trì.

Nam mô Tây phương Cực Lạc thế giới Đại từ

Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma ha tát.

5- Quán Âm Kệ 2

(1, 2 tùy dụng 1)

Phổ Đà lạc già thường vào Định

Tùy phó cảm khắp mọi nơi nơi

Tầm thanh cứu khổ đạo mê đời

Vậy nên hiệu là Quán Tự Đại

Nam mô Phổ Đà lưu ly thế giới Đại từ Đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát ha tát.

6- Niệm Hồng Danh Bồ Tát

(Trăm ngàn vạn tiếng càng nhiều càng tốt)

Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát

7- Hồi Hướng Kệ

(Do AᮠQuang lão Pháp sư tân soạn)

Nguyện công đức trì tụng tốt này

Xin nhờ Đại sĩ dũ lòng thương

Tiêu trừ tự tha nghiệp xưa nay

Tăng trưởng ta người căn lành tốt.

Luôn kiếp hằng ôm lòng Đại Sĩ

Khắp cõi thường tu hạnh Bồ Tát

Tột đời vị lai làm lợi ích

Khiến khắp hữu tình không họa hại

(Nếu không thì giờ nhiều, tức từ kệ Quán Âm mà khởi niệm cũng được)

Bài Bạt

Của THÔI CHÚ BÌNH dịch

 

Thời nay cách Phật đã xa, nên lòng tham,sân, si nổi lên cuồn cuộn liên miên chẳng khi nào dứt. Sát, đạo, dâm cứ từng lớp sinh ra không lúc nào cùng. Rồi nhân đấy sừng móng đấu nhau, lòng dạ câu móc; ngươi lầm bởi ta gạt. Thôi là gai trông trạt đất, bạo ngược nhẩy đầy. Đã từng không yên ổn trong giây lát, đâu còn có góc trời nào mà an vui. Thật đáng thương thay !

Ngược giòng mà xét: Từ khi khoa học văn minh, vật chất tiến bộ. Kìa như tàu thủy, xe lửa, phi cơ, nháy mắt đã vượt qua ngàn dặm, vốn là để giao thông cho tiện lợi. Lại nữa, điện khí, lý hóa, cơ giới ngày càng tiến vọt, vốn là để lợi cho đời sống được dày dặn thêm. Cho nên ngày nay hễ trăm sực cần dùng, tất cả đều là hưởng lạc. Thế thì đâu chẳng phải xa hoa hào xí, buông lung cho thỏa thích ? Đem mà so sánh với ngày xưa, nào những trăm lần hơn ! Tuy nhiên, đại phàm có lợi là hại vẫn kèm theo một bên. Kìa thử xem sản nghiệp cải cách, đua nhau trọng về cơ giới, ngày càng mới, mới luôn, tinh xảo lanh lẹ.

Cứ như nghề dệt mà nói: Một người điều khiển một bộ máy dệt, mỗi ngày sản xuất hàng hóa đến cả trăm ngàn; thật là sức sanh sản hết sức hùng hậu, so với các thủ công nghiệp chẳng còn nói gì được nữa. Lại nữa, hàng hóa ấy đẹp, giá lại rẻ, ai mà chẳng thích dùng ? Nhân đây, cho nên hàng vải nội hóa như sa như bố chẳng còn ai đếm xỉa tới nữa. Vì thế mà kinh tế ở nông thôn bị ảnh hưởng thật lớn lao ! Hướng lại nữa, thời gian rất gần đây, lại có mới phát minh thứ máy dệt tự động. Bốn chục bộ máy dệt ngày xưa phải dùng đến bốn mươi người quản lý, mà nay chỉ cần một người là đủ rồi ! Vậy còn thừa lại ba mươi chín người làm gì ? Phải chăng là đều bị thất nghiệp. Một nghề dệt như thế thời các ngành khác cũng đều bị như vậy cả !

Cứ thế ngày giờ diễn tiến năm tháng thay đổi. Đấy, sở dĩ những người thất nghiệp đầy nhẩy ngàn vạn, khắp cả toàn cầu, vẫn có tăng thêm mà không bớt. Kẻ thất nghiệp đã lắm nhiều thời sức mua bán cũng bởi đó mà yếu kém. Mua bán yếu kém, tức con đường tiêu thụ cũng bị ngưng trệ ứ đọng. Đường tiêu thụ mà chẳng thông suốt là càng khiến cho sự kém khuyết lại nhiều thêm. Thề là giai cấp Tư sản lại càng khiếm khuyết thêm, thời những nhân viên, nhân công phụ trách trong các ngành sản xuất thương mãi cũng phải thất nghiệp theo. Vậy là kẻ thất nghiệp ngày càng gia nhập đông nhiều hơn. Vậy thời con đường tiêu thụ đã bị bế tắc, hàng hóa bị ứ đọng, chẳng lẽ chẳng mở mang thêm thị trường để mà lưu thông hàng hóa.

Mà muốn mong cho nền thương nghiệp được phát triển, sự mậu dịch được an toàn, lại chẳng lẽ chẳng dùng võ lực làm hậu thuẫn cho việc phát triển và khuếch trương ấy sao ? Cho nên các thứ dụng cụ xâm lược như chính trị, kinh tế, quân sự đều tùy theo đó mà phát khởi chẳng thế nào mà ngăn chận được nữa. Vã lại chính lúc mà phương pháp làm cho hưng thịnh chưa ổn định xong, bởi đây là chủ nguyên nhân gây thành nông thôn bị phá sản, kinh tế bị sụp đổ, thế giới đại chiến, thịt kẻ yếu bị đứa mạnh nuốt là lẽ đương nhiên.

Lại như tàu thủy vốn là để lợi ích cho việc vượt biển cả đại dương; máy bay nguyên là con thuyền để xuyên qua hư không. Nhưng bị lợi dụng làm giàu cho Đế quốc chủ nghĩa dã tâm xâm lược như Pháp Tây Tư Đế chủ nghĩa, rồi bèn tranh nhau tạo ra quân hạm, chiến đấu cơ thủy. Thuốc nổ nguyên là để đốt nổ phá vỡ núi gò, và mở mang đường hầm. Nhưng cũng bị lợi dụng làm tiên phong xâm lược. Do đấy rồi tài sản và tính mệnh của nhân dân, không còn cách nào hơn là hy sinh cho trước rừng súng lửa đạn, thôi thì chẳng có thể lấy vài chữ mà tính cho xiết. Than ôi ! Đau đớn thay.

Phải chăng, đấy là Ma vương tác quái, La sát hiện hình, cũng bởi là nơi ác nghiệp của toàn dân cơ cảm và cũng bởi mọi người đều thiếu khuyết đạo đức mà lại đua chuộng lối sống trá ngụy, đến nỗi gây ra lương chi lương năng sẵn có chìm ngấm mất trong biển sanh tử khổ hải, không còn cách nào mà cứu vớt được nữ vậy.

Bởi thế cho nên Đức Đại Giác Thế Tôn ta, với tấm lòng Đại Từ Đại Bi thương xót nên rộng bố Giáo pháp: Trước tiên nói ba đạo pháp là tam quy ngũ giới và thập thiện; kế sau mới đến đoạn hoặc chứng chơn để rộng độ chúng hữu tình, cuối cùng là giác hạnh viên mãn đều thành Phật đạo. Luận về cương yếu là không ngoài ngăn ác tu thiện, rõ nhân biết quả, niệm Phật cầu sanh Tây phương với mục đích là rộng độ chúng sanh mà thôi.

Tức nơi ngũ giới mà nói: 1) Chẳng sát sanh, 2) Chẳng trộm cắp, 3) Chẳng tà dâm, 4) Chẳng nói dối, 5) Chẳng uống rượu.

Lưu ý giới bất sát sanh cho lắm đấy ! Bất sát, thời với những loại hàm linh tánh bò bay máy cựa hãy hãy chẳng dám giết huống hồ là giết người. O⩠! cái nhân giết hại đã dứt, thời đại tai đao binh chẳng còn do đâu mà khởi lên được. Nhưng với ngày nay sở dĩ chiến họa lan tràn đầy nhẩy khắp cả toàn cầu, đã nhiều năm rồi mà chẳng dứt: Ở không yên một ngày, sống không vui một khắc. Vụt ra vài quả lựu đạn là chợ quán biến thành gò hoang; nổ một quả bom là thịt máu biến thành sông núi. Nhân bởi có sát nghiệp đời trước gây nên ngày nay như thế đây ? Cho nên đã nói: Muốn biết do đâu có chiến tranh, chỉ nghe hàng thịt tiếng nửa đêm. Lại nói thêm: Muốn khỏi chiến tranh sống hòa bình, khi nào loài người chẳng ăn thịt. Người đời họ xem đây, cần phải biết sợ mà răn dè vậy.

Người đời bị một cú đánh, một lời mắng, hãy còn nghĩ cách trả thù, huống là bị giết hại táng thân mất mạng là đại thù chẳng đội trời chung chừng họ chịu thua sao ? Nếu được, không việc sát hại, thời những tội hình pháp sát nhân hại mạng đều chẳng còn vi phạm vậy.

Chẳng trộm cắp, thời dã tâm chở hàng tới để cướp của lợi, nuốt dần đất đai tự nhiên dứt mất: Nước với nước chẳng đánh nhau, đảng với đảng chẳng tranh nhau, cá nhân với cá nhân chẳng đấu nhau, mà thân sơ đồng nhất thể vậy, thời những tội hình pháp cướp mạnh, trộm biển nguy hại cho quốc gia chính phủ, ngụy tạo tiền tệ, ấn loát văn tự, quấy rối chức phận, xâm chiếm lấn át, các tội cũng chẳng do đâu mà gây thành được vậy.

Chẳng tà dâm, thời giữa trai với gái nên dùng lễ độ giao thiệp với nhau, phải nghiệm lập giới hạn hẳn hoi ( dù cho thuận theo trào lưu xã hội công khai đi nữa, nhưng cũng cần nỗ lực răn cấm sự lạm dụng để đề phòng vượt quá phạm vi. Bởi vì chúng sanh ái nặng, ở lâu với nhau thời quen, quen là tình dục dễ sanh. Mà tình dục sanh thờ mất hết lẽ phải. Được thế là đã không còn có thói tìm hoa hỏi liễu, cắp nách nàng đi dạo chơi, thời đâu còn có họa đồi phong bại tục, nghiêng nước đổ nhà hư thân hại danh nữa. Tức những tội hình pháp phương hại phong hóa, phương hại hôn nhân và gia đình các tội lỗi ấy thời đều là trở thành đủ lẽ lịch đẹp vậy.

Chẳng nói dối, thời lời nói ra đều chân thật. Con nít, ông già cũng không bị gạt. Một lời nói chẳng cẩu thả, đâu còn dùng lối bẻ cong sự thật, làm cho kẻ nghe rối lầm; nêu lên những điều chẳng tốt của người, mà ẩn giấu những việc rất xấu của mình. Được như thế là những tội hình pháp phỉ báng lừa gạt các tội lỗi cũng chẳng đâu mà gia hại đến thân phận vậy.

Chẳng uống rượu thời thần chí sáng suốt là phán đoán việc phải quấy, từng ly tí phân minh. Nhưng những kẻ thèm rượu là uống khỏe hơn ai hết, cạn một chén, một chén nối liền, uống như sói nuốt hổ táp. Bởi đó nên ác niệm liền manh sanh. Thôi thời trăm quấy đều làm, điên đảo mù mịt, trắng đen lộn lạo, bậy bạ hết đời !

Ngày xưa đã có người uống rượu say quá chén, mới bắt cắp gà hàng xóm giấu và làm thịt để giúp thêm chén thêm ý nghĩa điệu vị. Thế là phạm sát, đạo hai giới. Người phụ nhân hàng xóm bị mất gà, đến tìm gà hỏi: O⮧ ta giả vờ nói chưa thấy gà vịt gì chạy đến đây cả. Lại phạm giới vọng ngữ nữa. Máu say nhìn ngắm kẻ phụ nhân có nhan sắc đẹp lại cưỡng bức gian dâm. Thế là phạm thêm giới tà dâm nữa. Một phen say rượu mà phạm năm tội ác đầy đủ vậy. Luận Trí Độ nói tường tận rượu có 35 tội lỗi. Cho nên biết uống rượu là hoạn hại lớn nhất vậy.

Nếu như ai có thể nghiệm tu ngũ giới: Bên trong lương tri sáng láng minh mẫn, khiến cho hình pháp để nơi vô dụng; bên ngoài những sự dối trá tiêu tan. Võ khí hoá thành ngọc lụa. Đâu chẳng phải làm cho gạt bỏ hết hình phạt mà tạo thành nhân giai tịnh độ đại đồng thế giới vậy thay !

Lại nữa, chẳng trộm cắp là yêu tiếc của công vật, vật bỏ dùng lại cho lợi; chẳng tư dụng của công vật. Chẳng cờ bạc, lượm được của rơi nơi đâu đó là giao lại cho nguyên chủ ngay. Mua bán quyết phải công bình. Chẳng tà dâm chính là chẳng cờ bạc. Đối vời đàn bà con gái cần lễ nhượng. Chẳng nói dối tức là ước hẹn hội nhau đúng thời giờ. Chẳng uống rượu chính là chẳng say sưa. Mọi nơi chỗ cũng với lối tân sinh hoạt, phải biết chỗ giúp đỡ nhau, chẳng mưu toan mà thích hợp vậy.

Lại nữa, là người Chân học Phật, gắng chịu bần khổ, đạm bạc tự cư, ít muốn biết đủ, chẳng màng vinh hoa chỉ cần áo bố đắp toàn thân là được rồi. So sánh với những lụa là sô gấm đảm phí chẳng phải là ít. Cũng chẳng dùng hương phấn xoa thân, đâu cần gì nhập cảng những lụa là hương liệu hóa trang các thứ xa xỉ.

Nếu chẳng sát sanh, chỉ cần cải rau cơm hẩm mà thôi, đâu cần gì nhập cảng những thứ vi cá, hải sâm, bong bóng cá, quế sò, các thứ sơn hào hải vị làm chi. Chẳng uống rượu là một trong năm giới. Mọi người đều chẳng uống rượu, thờ gạo nấu rượu để sung vào làm nguyên liệu khác, đều chẳng hư phí mê loạn tâm linh. Hút thuốc cũng loại tiêu hao, cũng chẳng phải là thứ chúng ta nên dùng. Vậy thời không ai nhập cảng thuốc, rượu, số ngoại tệ hàng năm lọt ra ngoài mười hai vạn vạn đồng, chẳng ngăn cấm mà tự nhiên chẳng lọt được nữa vậy. Đấy là những điều mà lắm có quan hệ với nền kinh tế quốc gia vậy.

Cờ bạc, tuy là miệng nói vui chơi nhưng tâm trước đã bất chính. Vã lại vứt một con bài, chẳng may là có thể khuynh gia bại sản và lo lắng bạc tóc nữa là khác. Phạm giới trộm cắp, Đại Tiểu Thừa giới đều ngăn cấm. Tà dâm đã liệt vào trong bốn giới căn bản, cũng được Đại Tiểu thừa đều ngăn. Tự mình đã thủ trinh chẳng dâm, thời bọn đĩ thỏa chẳng cấm mà tự nhiên hết vậy.

Tâm khỉ ý ngựa rất khó chế ngự. Mà ngăn nhất tâm lại được một chỗ thời được Đức Phật khen mà ! Cầu được nhất tu tâm đạo chẳng rảnh, đâu còn có thời giờ mà đi xem hát xướng ca múa nữa. Đại phàm hạn chế sự vui thú, ngăn cấm cờ bạc, giữ gìn tín nhiệm, bài trừ say sưa các việc ấy, đã không bị phạm là với sự đề xướng vận động hô hào tiết kiệm tự nhiên ăn khớp với nhau như một.

Lại nữa, người đời đều cho Phật giáo là đạo chuyên thờ hình tượng nhân đấy mà khinh thường coi nhẹ. Họ đâu biết rằng đấy là tiêu biểu thâm tình ngưỡng mộ; đối với thế gian, đắp tượng xi măng, đúc tượng bằng đồng để lại làm kỷ niệm cho muôn đời đâu có khác chi ? Hoặc có người cho Phật giáo là đạo thần bí là mù tít, là lìa cõi đời. Rồi bèn cho là tiêu cực. Họ chẳng biết rằng Phật giáo là tại thế gian, chẳng rời sự giác ngộ của thế gian. Ta thử xem, trước vừa nói pháp ngũ giới, đối với vấn đề trọng đại: Nhân, sinh, xã hội, quốc gia, thế giới lại cùng với quốc pháp tân sinh hoạt tiết ước tiết kiệm các loại quốc sách quan hệ biết bao thì sao gọi là tiêu cực được ? Kìa những kẻ ấy thật đáng thương vậy thay ! Nếu cho rằng mù mịt, xa tít, thần bí ! Thử hỏi ta đọc tụng sách Nho, có ai thấy các Ngài Nghiêu, Thuấn, Châu Công, Khổng Tử vậy sao ? Hay là vì mắt chưa thấy mà bèn phủ nhận và chẳng đáng tin ư ?

Đức Phật nói khắp trong hư không thế giới vô lượng vô biên, có một thế giới tên là Cực Lạc. Chúng sanh ở trong thế giới ấy, không có các điều khổ, mà chỉ hưởng các sự vui. Vã lại, chúng sanh trong mỗi thế giới cũng vẫn nhiều vô lượng vô biên, chẳng dùng được tính toán số lượng mà có thể biết. Kìa xem như các nhà Thiên văn học, họ đã phát hiện thấy có tám đại hành tinh. Trong bản đồ chú giải đầy đủ vị trí các hành tinh ấy rõ ràng. Nếu cho rằng con mắt thịt của chúng ta từng được thấy đầy đủ, bằng không thời chẳng có, chừng như có đúng chăng ? Lại nữa, Thiên văn gia còn phát hiện trên mỗi tinh cầu ấy, cũng có núi sông, đất liền, động vật, thực vật thảy đều đầy đủ, lại là các việc mà sức mắt ta đâu có thể xem thấy đến được. Nhưng đối với dẫn chứng lời Phật nói như trên là Đồng hay là Khác.

Thời đại Đức Phật là trước đây trên hai ngàn năm trăm năm về trước, Phật đã từng nói trong một bát nước có tám muôn bốn ngàn vi trùng; và trong một thân thể con người cũng có số hộ trùng chừng ấy. Ngày nay những nhà Y học vẫn đã phát hiện trong thân thể con người có trùng loại rất nhiều. Nếu dùng gương hiển vi soi vào cũng thấy được suốt các thứ vi sinh trùng mà mắt người chẳng thế nào thấy tới được. Nhưng với sự dẫn chứng lời Phật nói như trên là Đồng hay là Khác ?

Các nhà Thiên văn cố nhiên là chẳng nói dối, chúng ta đều tin theo lời họ chắc chắn chẳng nghi ngờ gì. Nhưng Phật mà sở dĩ thành Phật là vì nhờ tu ngũ giới mà thành. Đức Phật là kẻ Cố sức, chủ yếu, chẳng nói dối; vậy thời những lời cho chính Phật nói ra đâu được chẳng tin chịu mà phụng hành ư ?

Lại như trong thời đại Trung Quốc bế quan tỏa cảng, chỉ biết: phía Đông là mọi Di, Tây là mọi Nhung, Nam là mọi Man, Bắc là mọi Địch. Đến như các nước: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Anh, Pháp, Đức, Mỹ đều chưa thấy. Một ngày nọ hải cấm được mở rộng mới có nhân sĩ các nước AⵠMỹ nối gót chen vai mà đến. Bấy giời Tàu ta mới bừng mắt biết có các nước AⵠMỹ. Nhưng khi ban đầu chưa kịp thấy họ thời chẳng phải không có các nước Tây Bồ ? Và đến lúc thấy biết, lại cũng phải nhân sĩ các nước Tây Bồ, bấy giời mới xuất sanh ra ?

Lại như ông Khoa Luân Bố phát hiện Tân đại lục, khi mới ban sơ người Anh cũng chẳng chịu tin. Nhưng lại trước khi ông Khoa chưa phát hiện, vẫn chẳng phải đại lục lặn chìm. Và cũng chẳng phải khi ông Khoa phát hiện mới bắt đầu nhóm cát đọng bàn lại mà thành Đại lục địa. Vậy là biết người đời chăm cho rằng mắt chưa thấy đến là bèn vội phủ nhận. Và cũng nhân đấy mà vội vàng chẳng tin lý do có Tây phương Cực lạc thế giới vậy. Bởi đấy mà đủ chứng biết là tri kiến họ quá hẹp hòi.

Lại nữa, Đức Phật nói lục đạo luân hồi lộn quanh chịu quả báo. Với việc này, cố nhiên người đời còn đang mê muội lắm, và họ lại chịu ảnh hưởng học thuyết của bốn ông Tinh, Châu, Hàn, Aⵠcho là hình hài đã hư diệt, thời thần thức cũng bị bay tan theo làm họ bị mê hoặc. Vì thế nên người đời đều cho là sau khi ngườ chết là dứt mất hẳn, và không có đời sau. Nhân đấy bèn phóng tâm làm điều tà vạy, xa xí, bạo ngược, buông lung, không ác nào chẳng dám lám. Thế là bởi mê lầm nên gây nghiệp, bởi nghiệp mà chịu quả báo. Do đấy, rồi bị chìm đắm trong lục đạo và lộn quanh, quanh lộn không khi nào dứt được ! Biết thở than than thở làm sao cho xiết !

Vật lý học có định luật vật chất bất diệt. Đại ý bảo rằng vật chất chỉ có thể biếng đổi hình trạng mà thể chất nó chẳng thế nào hủy diệt mất hẳn được v.v… ví như đốt cây củi người ta chỉ thấy khói và tro mà thôi. Rồi bèn cho là đốt cây củi hóa làm khói sắc đen vậy thôi. Kỳ thiệt chẳng phải vậy. Chính khi cây củi bị đốt cháy, dưỡng khí cùng với nó hóa hợp biến làm thành thứ khí thể thán toan, nó hổn hòa ở giữa hư không với không khí, rồi nó bay phát ra làm tư dưỡng liệu để nuôi dưỡng cho rừng rậm cây cối được sanh trưởng. Sau khi cây cối hút thu khí thán toan, nó mới nhả ra dưỡng khí tinh túy. Một khi cây cối đã trưởng thành bị chặt và lại bị đem đốt cháy. Cứ như thế lộn quanh mà biến hóa. Nhưng cây củi và dưỡng khí thật chưa hề bị hủy diệt mất bao giờ ? Chỉ vì nhãn lực của chúng ta chẳng thấy kịp đến đấy thôi.

Thực vật như thế, thời con người do Địa (da, xương v.v…) Nước (máu, đàm v.v…) Hỏa (ấm, nóng v.v…) Phong (hô hấp v.v…) tứ đại hòa hợp mà thành thân thể thời đâu có thể đứng ngoài lệ ấy được. Phật nói: Người chết Địa đại vẫn qui về cho Địa Thủy, Hỏa, Phong cũng đều như thế. Vậy thời Phật với Vật lý học từng có khác gì đâu ! Nay lại tiến thêm mà luận cho rõ: Loài người sở dĩ có trí huệ và động tác, trừ ngoài từ đại hãy còn có một vị cư chủ thể là thần thức tồn tại. Chính lúc người chết, thần thức này y cứ theo lực lượng nghiệp thiện ác ở đời trước, do nhân như thế để quyết định quả như thế; mỗi mỗi đều chịu sự đền trả ớ các đạo; Người, Trời, Quỷ, Súc sanh v.v… nên đã nói: Ra một bào thai, vào một bào thai. Bào thai tuy có biến đổi, mà thần thức chủ thể này, thật chưa từng trả về lại mảy may nào cho Thái hư không cả.

Như vài năm trước đây, tại Thượng Hải, nơi vườn Đại trường phóng sanh một con heo chỉ có một chân bên tả đàng trước vẫn là tay người mà chẳng phải chân heo. Chính bởi người này đời trước đã gây nhiều điều ác nghiệp, và khi ăn năn, đến trước một vị tăng chỉ đưa lên một tay tả để sám hối, cho nên tay tả vẫn lưu lại y cựu nguyên hình. Lại một vụ nữa, tại huyện Đan Dương, thôn Tạ Gia, cũng trước đây vài năm, nơi nhà họ Tạ có sáu con heo con, ở trên lưng mỗi con đều có nổi lồi lên cục thịt láng trơn không lông, và đều hiện ra họ tên những kẻ sanh thời rất rõ ràng minh bạch, đều là những đại nhân vật có tiếng tăm hiển quý oai vũ quyền thế trong thời gian hai ba mươi năm gần đây cả. Sở dĩ thị hiện như thế là để răn nhắc chúng ta bỏ ác hướng thiện vậy.

Nếu bảy con heo này chẳng hiện tay người và tên họ kẻ sanh tiền, vẫn chẳng khỏi cái khổ dao thớt, hoặc là cung cấp cho bà con dòng họ con cháu và bạn bè ăn nhậu. Mà những người ăn nhậu, nào có biết tự mình ăn thịt thân hữu tổ tiên mình đâu ! Nay những ke ăn thịt đổi địa vị mà suy nghĩ coi, ai chẳng quăng đũa mà bùi ngùi run sợ, đau đớn, khóc sa nước mắt ấy thôi ! Vậy nên người đời phải dùng rau trái mà chẳng nên ăn thịt. Bởi vì không còn mảy may gì nghi ngờ vậy.

Vã lại, quả thật người, sau khi chết, hình hài hư mục, tinh thần cũng phiêu tán, chẳng có ai chịu quả báo luân hồi, thời ngày có một người chết, tức là ngày đó thiếu một người, tại sao lại còn có ngày nào vẫn sanh sản con nít nhiều như thế, cứu xét do đâu mà đến sanh ư ?

Nếu bảo do đấng Phạm Thiên hay đấng nào đó ban cho. Vậy thời ai lại ban cho có ra đấng nào đó hay vị Phạm Thiên ? Nếu quả là sanh tử chẳng lấy thiện ác mà làm tiêu chuẩn thăng lên hay giáng xuống, hoặc thịnh hay suy, thì tại sao những trẻ em mới sanh ra chưa làm một điều ác nào hết mà vẫn bị chết yểu, tật bịnh và các việc khổ đau ư ? Và với việc người chết phải chuyển biến là heo thay hình đổi dạng hiện ra người tại thế gian này ư ?

Đấy là bởi người đời mê muội lý nhân quả ba đời mà duy có nhà Phật nói rất rõ ràng và đầy đủ vậy thôi. Xem đấy, thời biết những kẻ chủ trương: cá, thịt, tôm, cua, sò, ốc của trời sinh để cung cấp cho người ăn, hoặc bảo đấng Phạm Thiên ban cho, và chẳng bởi do thiện ác mà phải thăng trầm, mà chỉ đem lòng tin hay chẳng tin làm tiêu chuẩn; cùng với các học thuyết cho rằng người chết phải trả về lại thái hư, chẳng cần công kích mà nó tự phá vỡ vậy.

Lại nữa, ngũ giới Phật dạy cùng với ngũ thường của Nho giáo tương đồng: Chẳng giết là nhân, chẳng trộm là nghĩa, chẳng tà dâm là lễ, chẳng nói dối là tín, chẳng uống rượu là trí. Lại tiến thêm lên nữa, thời chẳng những chẳng giết mà còn cần phải phóng sanh, cho đến chẳng những chẳng uống rượu, lại cần phải thâm tín nhân quả, sùng phụng ngôi Tam Bảo, thời lại là cao hơn nữa. Và ngũ giới lại cùng với tâm lý kiến thiết tổng lý vẫn cũng giúp đỡ nhau thông suốt. Bởi vì trung nghĩa tức chẳng trộm cắp (chẳng trung nghĩa mà vẫn giữ chức vị hảo lãnh lương cũng là phạm giới trộm cắp). Hiếu để cùng với nhân từ tức chẳng sát sanh (vì tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ tử là mẹ ta vậy). Tín tức chẳng nói dối. Hòa bình tức chẳng yếu rượu.

Lại nữa, một tiếng niệm Phật, tức có lợi ích một tiếng, cho đến niệm liên tục trăm ngàn vạn ức tiếng là lợi ích vô cùng. Vì chính lúc xưng danh, niệm do tâm khởi, tiếng từ miệng ra; nhiếp tai trở lại nghe tiếng, thời tâm dễ định nhất. Kinh gọi là thu nhiếp tâm buông lung kia lại ấy vậy. Và cũng chính khi trì danh, vọng tưởng chẳng sanh được, tức là bố thí. Kinh gọi bố thí là xả bỏ ấy vậy. Và cũng vẫn lá chính lúc trì danh, ác niệm chẳng mống khởi, tức là trì giới. Chúng ta rảnh ở không, không có việc gì để làm, lại là ăn no ngủ ấm thường nghĩ đến dâm dục. Dục niệm, một khi mống khởi, tức là đã bị đốt trong dục hỏa, khó nỗi mà dập tắt. Nếu nhất tâm cao tiếng xưng niệm: Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát chừng vài tiếng, và nhiếp tai chuyên chú lóng nghe, thời dâm niệm dục giác tức thì ngưng dứt ngay liền khắc.

Tôi (Tác giả) đã thường thí nghiệm thử phương pháp này rất có hiệu quả, không sai. Thật là một chính quy chủ lực quân giúp chúng ta để hàng phục dục ma, khắc chế tà niệm mới khỏi phạm tịnh giới vậy. Như Phẩm kinh này dạy rằng: Nếu có chúng sanh, nhiều nơi dâm dục, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát, bèn đặng lìa dục. Tin chắc chứ chẳng dối vậy.

Tất cả hủy báng, chẳng đến nỗi não hại, tức là nhẫn nhục. Niệm tiệm nối luôn, chẳng chút gián đoạn tức là tinh tiến. Nhiếp tâm chẳng tán loạn, không cho buông lung, tức là thiền định. Tất cả lý giải rực rỡ thông suốt, tức là trí huệ. Vậy thời biết một phen cất tiếng lên xưng danh, tức đã thu nhiếp hết lục độ vạnh hạnh của Bồ Tát tu không sót một pháp nào cả. Nên kinh nói: Không một pháp nào chẳng phải từ pháp giới này chảy ra, và cũng không một pháp nào chẳng phải về lại pháp giới này. Niệm Quán Thế Âm Bồ Tát cũng như thế. Lớn vậy thanh Trì Danh ôi. Hay là cò kẻ nào tiến bộ hơn, niệm Phật cầu sanh Tây phương, một đời là thành Phật chứng vô sanh nhẫn; mới phân hóa thân hình ra khắp mười phương thế giới, để rộng độ chúng hữu tình, đồng thành Phật đạo. Nhưng người đời, trong mười người hết chín người, với phương pháp này đã nghi ngờ nên chẳng sanh lòng thành tín. Nay xin đem một ví dụ cho rõ:

Ví như có một sinh viên đại học xuất dương lưu học để cầu sự nghiệp học vấn cho được thâm tháo; hoặc là phụng lệnh xuất quốc để khảo sát. Tất nhiên, chính lúc xuất dương xuất quốc, đối với các vấn đề của bản quốc gia, xã hội tất cả đều gác lại một bên đó đã; in tuồng tiêu cực. Nhưng một mai sự học vấn đã thành tựu, hoặc khảo sát xong trở về nước, mới đem chỗ tâm đắc của mình ra cống hiến: Vì quốc gia làm kế hoạch giàu mạnh, vì dân tộc làm chính sách phục hưng, vì xã hôi lo trù tính an toàn và vì dân chúng mà mưu cầu phúc lợi. Học để ứng dụng, người đem hết tài năng của mình đã sẵn có ra, đấy mới là tích cực. Tôi đối với niệm Phật cầu sanh Tây phương, chứng vô sanh nhẫn, phân thân mười phương rộng độ chúng sanh cũng là như thế vậy. Quý hồ thay ! Thịnh đại thay ! Công đức niệm Phật bất khả tư nghì vậy.

Bởi vì biển nghiệp mênh mông, khởi tâm động niệm đều là tội ác. Bụi trần mù mịt, vì tham nên sân đều bởi ngu si. Tám nạn ba đường, đưa mắt ra nhìn đều là như thế. Các khổ não, chín tai hoạnh đeo mãi hừng cháy. Do đó nên thế, chẳng được an ninh, dân chúng khó bề lạc nghiệp. Cúi đầu cầu mong: Đức Quán Thế Âm Bồ Tát dủ lòng Đại Bi, phát hoằng thệ nguyện, tầm thanh cứu khổ, được thoát khỏi bảy thứ tai nạn, ban cho mười bốn món Vô úy, tùy duyên mà phó cảm; y mười hai lời thệ nguyện mà thị hiện ba mươi hai ứng thân. Vã lại còn giúp rập Đức Phật A Di Đà mà hoá hiện mười phương, tiếp dẫn chúng sanh siêu lên cõi Cực lạc. Những điều trước đấy, sở dĩ cứu hộ sắc thân, mà các điều sau là dẫn đem về Chánh giác. Ơn rất lớn lao vậy thay !

Đức Đại Sĩ khắp ban cho ơn rộng lớn, thật đem trời đất chẳng đủ dụ đức rộng dày; cha mẹ chẳng đủ dụ lòng từ ái.

Bảo Công Pháp sư học Tông Thiên Thai, giáo hoằng Pháp môn Tịnh Độ. Dĩ nhiên Diệu Pháp Liên Hoa kinh là thọ trì đọc tụng. Và Ngài rất là quy hướng Đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Thật là Long Tượng của Pháp môn; nhãn mục của nhân thiên vậy.

Đường áp Cư sĩ lâm đã thành kính cung thỉnh đại tạng kinh bản Tống Thích Sa in chụp bóng, rồi lại lễ thỉnh Pháp sư cử hành nghi thức vào lúc 9 giờ ngay 1 tháng 2 năm Dân quốc thứ 25. Và cũng chiều ngày ấy vào lúc 6 giờ mới khai giảng Phẩm kinh này, sau 14 ngày tròn là hoàn tất. Thính chúng ở bốn phương nối gót liền nhau đến dự Hội chẳng lúc nào dứt; những kẻ đến sau không còn chỗ đứng ngồi. Nay những người hân hạnh dự Hội tuy thu hoạch được lợi ích là hiểu Đạo pháp rõ ràng hơn hết, nhưng xét ra vẫn là hạn cục địa phương và thời gian, nếu chẳng ghi chép cho thành sách thời làm sao mà được rộng truyền bá khắp cho đại thiên thế giới và lưu bố trong và ngoài nước ư ?

Do đó nên chẳng tự lường sức nghe thấy hẹp hòi của tôi, nên tôi đã cùng với Đạo hữu Tôn Tử Á nghe đâu chép đó trong khi dự Hội thính giảng, chẳng ngờ đã thành sách. Sau khi đã trình lên Pháp sư đính chánh, mới đem nhờ hai tời báo đặc san: Nam Thông và Ngũ Sơn chuyên đang tải để giúp cho quý vị còn đang bận rộn bởi việc đời ràng buộc, nên chưa rãng đến tham dự vào Pháp viện để nghe giảng, cũng được nhờ đây mà xem thấy đồng như cùng nhau nếm mùi Pháp vị chẳng khác. Nhưng, nếu biết mà chẳng thật hành thời Pháp hội này trở thành hư triết. Trái lại, thật hành mà chẳng hiểu là dễ lạc lối, vì đường đời nhiều ngả rẽ.

Nay đã rộng đàm nói Diệu Pháp, nên không một người nào chẳng phải là bạn tri âm, rất cần chân thiết mà hành trì, mong cầu có ngày chứng đến Đạo Pháp, để tránh sự mỉa mai là nói suông, bánh vẽ và đếm của giùm cho kẻ khác. Cho nên tiếp theo đây cũng vẫn cung lĩnh Pháp sư lãnh chúng huân tu Quán Âm Phổ Môn. Và nhân đấy gọi là Tam Pháp Hội vậy.

Qua đến mùa Hè, Pháp sư mới đem bản thảo giao cho Phật Học Thư Cuộc khắp bản để ấn hành lưu thông. Nguyên tôi nghĩ muốn đem các bản thảo có tương quan với Phẩm kinh này họp lại mà khắc bản để lưu hành, nhưng chẳng may gặp phải thời cuộc đặc biệt phi thường: Giá giấy in tăng lên gấp đôi, bất đắc dĩ chỉ in theo đây hai bài phụ lục mà còn lại bao nhiêu bài khác để lại chờ khi nào thuận tiện.

Sau khi bản đã thành xong, các anh em chức viên trong Thư Cuôc sơ đính lần đầu, tôi nhận tái đính lần thứ, nhưng chẳng may vừa bị bệnh nên không đủ sức để tường khám cho kỹ càng, mới đưa qua cho Phạm Sư Cổ Nông để nhờ Sư bình duyệt lần tối hậu, mong sao tránh khỏi sự tự lầm và làm cho ngườ khác bị lầm theo, xin trình bày tỏ lòng cảm tạ. Nay sách đã thành tựu và sắp được lưu thông, tôi bèn viết lếu láo mấy lời để thuật lại nguyên do đã khởi sự ra cuộc giảng và cũng tỏ bày sơ lược cảm tưởng vô cùng tận như sau: Ai biết tôi, mới bắt tội tôi. Lời của Đình Hầu đã minh huấn. Và tôi lại đem bài kệ văn của Giang Dị Viên lão Cư sĩ, nhờ đấy thay làm lời hồi hướng.

Kệ rằng:

Chúc nguyện Trung Hoa Dân Quốc

Nhãn đến các nước thế giới

Chính phủ hoằng dương Phật Pháp

Toàn quốc quy y Tam Bảo

Oai thần Tam Bảo gia bị

Nội phỉ ngoại hoạn tiêu trừ

Nhân dân an cư lạc nghiệp

Người người niệm Phật trì trai

Tu thân tề gia trị quốc

Khắp cả thiên hạ thái bình

Nguyện cùng Pháp giới chúng sanh

Đồng sinh Tây phương Cực lạc.

Phật lịch số 41 Mậu Dần, ngày Phật

thành Đạo. Nam Thông Thôi Chú Bình viết

Bài Bạt này tại Phật giáo Cư sĩ lâm

Chiếc Giang Dư Dao.

TRÍCH KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

Thay Lời Nguyện của người ấn tống
 

… "CA DIẾP ! Thí như trong cõi Tam Thiên Đại Thiên nơi núi sông, khe, hang ruộng, đất sanh ra cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc, bao nhiêu giống loại tên gọi màu sắc đều khác. Mây dầy bủa giăng trùm khắp cõi Tam Thiên Đại Thiên đồng thời mưa xối xuống, khắp nơi nhuần thắm. Cây cối lùm rừng và các cỏ thuốc: hoặc thứ gốc nhỏ, thân nhỏ, nhánh nhỏ, lá nhỏ; hoặc thứ gốc vừa, thân vừa, nhánh vừa, lá vừa; hoặc thứ gốn lớn, thân lớn, nhánh lớn, lá lớn.

Các giống cây lớn nhỏ, tùy hạng thượng trung hạ mà hấp thọ khác nhau. Một cụm mây tuông mưa xuống xứng theo mỗi giống loại mà cây cỏ đặng sanh trưởng, đơm bông kết trái. Dẫu rằng, một cõi đất sanh, một trận mưa thấm nhuần mà các cỏ cây đều có sai khác.

… PHẬT ở trong đại chúng mà xướng lời này: TA là đấng NHƯ LAI, ỨNG CÚNG, CHÁNH BIẾN TRI, MINH HẠNH TÚC, THIỆN THỆ, THẾ GIAN GIẢI, VÔ THƯỢNG SĨ, ĐIỀU NGỰ TRƯỢNG PHU, THIÊN NHƠN SƠN, PHẬT THẾ TÔN. Người chưa được ĐỘ, thời làm cho được độ, người chư tỏ ngộ, thời làm cho tỏ ngộ, người chưa an, thời làm cho được an, người chưa từng NIẾT BÀN, thời làm cho Niết Bàn, đời nay và đời sau PHẬT đều biết đúng như thật. Ta là bậc NHẤT THIÊN TRÍ, bậc NHẤT THIÊN KIẾN, là bậc TRI ĐẠO, bậc KHAI ĐẠO, bậc THUYẾT ĐẠO. Các người, hàng Trời, người a tu la, đều nên đến đây vì để nghe PHÁP vậy".

Bấy giờ có vô số nghìn muôn ức loài chim chúng sanh đi đến chỗ Đức PHẬT mà nghe PHÁP. Lúc đó Đức NHƯ LAI xem xét các căn lợi độn, tinh tấn hay dãi đãi của chúng sanh đó, thuận vừa sức nó kham được mà vì chúng nói PHÁP, chủng loại nhiều vô lượng, PHẬT đều khiến vui mừng đặng nhiều lợi hành. Các chúng sanh này nghe pháp rồi, hiện đời an ổn, đời sau sanh về chỗ lành, do đạo được thọ hưởng vui và cũng được nghe pháp, đã nghe pháp rồi lìa khỏi các chướng ngại, ở trong các pháp theo sức mình kham được lần lần đều được vào Đạo.

NHƯ MÂY LỚN KIA MƯA RƯỚI KHẮP TẤT CẢ CỎ THUỐC, THEO GIỐNG CỦA MỖI THỨ ĐỀU ĐƯỢC ĐƯỢM NHUẦN ĐẦY ĐỦ, ĐỀU ĐƯỢC SANH TRƯỞNG.

Quyến Thứ Ba Phẩm Dược Thảo Dụ Thứ Năm

LỜI NGUYỆN:

Nguyện đem công đức ấn tống quyển Phổ Môn Giảng Lục nầy:

Cầu cho nước Việt Nam mau thoát khỏi cảnh binh đao, máu lửa

Cầu cho người đọc, được thân tâm an lạc, tinh tấn tu hành, chóng thành đạo quả.

Cầu cho hương linh những người đã khuất với núi sông, sớm sanh về cõi Tịnh Độ, muôn năm an hưởng cảnh thanh nhàn.
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

--- o0o ---

Mục Lục | 01 | 02 | 03 | 04 | 05

06 | 07 | 08 | 09 | 10 | 11 | 12 | 13

--- o0o ---

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-4-2005

 

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

Hấp Bàn tay là nơi chứa nhiều vi khuẩn đừng đem bản ngã của mình để dạy vài suy nghĩ về mùa lễ hội Khuyên học cách tu thiền đẻ ni su thich nu hanh tue phần 6 thiền sư người mỹ phillip kapleau thích không gian năm chiều của từ bi minh sát tuệ Tây Tạng Xem xét việc loại trừ sữa Viết cho cha yêu nang 1 mười hai nhân duyên ngôn hãy khéo chăm sóc cái tâm Người thầy đầu tiên của con Nhớ Tết xưa neu mot ngay toi mat di nguoi yeu va ghet toi se nhặt vàng phai Nấu chè đậu thật đơn giản tat ca chung ta xin truyen di nhung thong diep yeu niem ve cai chet bat ngo ceo thai ha books chan dat di an cong duc nghe phap Giải mã việc bạn luôn lo lắng sợ Vài nét về sơ tổ sáng lập dòng Chút lãng đãng Sài Gòn câu chuyện người mù sờ voi về thăm mẹ ngày 8 Khánh Hòa Lễ húy kỵ Tổ Phước Tường Thế nguoi Trung thu hoài ức và trăn trở tuyet đàn kiến và cơn bão nhung cau noi giup ban tinh ngo chuong iv phương pháp trị giãn tĩnh mạch Ăn nhiều gây mất ngủ về đêm Ngày cuối năm Lâm Thở đúng để đẩy độc tố ra ngoài nhan hoc ta ba mat tong 8217 tim thay cuoc doi moi nho mot cuon thien thu đường Rau quả giúp giảm béo hiệu quả