Kinh Điển - Kinh Giải Thâm Mật

.

 

Kinh Giải Thâm Mật

HT. Thích Trí Quang dịch giải 

---o0o---

Mục Lục

I. Phần Dẫn Nhập    (1)

(1)

(2)

(3)

II. Phần Dịch Giải

Phần II   (2)

A1. Mở Đầu (Phẩm 1)
B1. Nói Chỗ Nói
B2. Nói Người Nói
B3. Nói Người Nghe
A2. Chính Thuyết
B1. Nói Tâm Siêu Việt Như Thế Nào (Phẩm 2)
C1. Nói Tâm Ly Ngôn Và Bất Nhị
C2. Nói Tâm Siêu Việt Tầm Tư
C3. Nói Tâm Phi Nhất Dị
C4. Nói Tâm Phổ Biến Nhất Vị
B2. Nói Tâm Siêu Việt Ấy Là Thế Nào
C1. Nói Tâm Ấy Là Cảnh Sở Quán (Các Phẩm 3 Đến 5)

Phần III  (3)

C2. Nói Tâm Ấy Là Hạnh Năng Quán (Các Phẩm 6 Và 7)
C3. Nói Tâm Ấy Là Quả Sở Đắc (Phẩm 8)

III. Lời Nói Cuối

Ghi chú  (4)

 

Ghi Sau Khi Duyệt Giải Thâm Mật

Giải thâm mật và Nhiếp luận gần gần như nhau. Nhưng rõ ràng Giải thâm mật nói đặc biệt về bản thể siêu việt, về du dà chỉ quán, nhất là về 3 vô tánh và về Phật ẫ thì không đâu sánh bằng.

Mồng một tháng 5.2537.
Trí Quang

Phần Dẫn Nhập [^]

(1) Giải thâm mật là bộ kinh được đại luận Du dà, các cuốn 75-78, trích dẫn toàn văn, trừ phẩm một (Chính 30/713-736). Tháng 3 năm 51 tuổi, dương lịch 646, ngài Huyền tráng khởi dịch Du dà, năm sau dịch Giải thâm mật, tháng 3 năm sau nữa dịch xong Du dà. Giải thâm mật của ngài Huyền tráng dịch được gọi tắt là Đường dịch.

Trước đó, dương lịch 453 (hoặc 443), ngài Cầu na bạt đà la đã dịch 2 phẩm bảy và tám, đề Tương tục giải thoát liễu nghĩa kinh. Dương lịch 515, ngài Bồ đề lưu chi dịch trọn bộ, đề Thâm mật giải thoát kinh, bộ này được gọi là Ngụy dịch. Dương lịch 561, ngài Chân đế dịch phẩm một mà chia nhỏ làm 4 phẩm, lại sớ giải thành 4 cuốn (tìm chưa thấy, chỉ thấy Viên sớ trích dẫn). Các bản dịch trên đây đều nằm trong Chính 16/665-720, riêng Đường dịch còn có trong Chính 30/713-736 (luận Du dà).

Tài liệu để có ghi chú trên đây là Vạn 34/299; Chính 49/94, 45, 42; Phật học nghiên cứu, bài 10 và 18 (phụ lục 3); Thế giới đại sự biểu của Từ nguyên. Ghi chú trên đây cho thấy Ngụy dịch và Đường dịch đều hoàn chỉnh. Nhưng Đường dịch hoàn hảo hơn, bởi vì dịch chủ là ngài Huyền tráng, dịch kinh này là bộ kinh căn bản của Duy thức học mà, trong Phật giáo văn hệ Trung hoa, ngài là vị sơ tổ.

Sớ giải Giải thâm mật thì bản tôi học là của đại sư Khuy cơ, bài tựa nói trích từ tác phẩm sớ giải Du dà mà khắc in riêng ra. Tiếc rằng hiện tôi không có bản này. Dò tìm cũng chưa thấy tác phẩm sớ giải Du dà nói trên. Còn bản sớ giải mà tôi hiện có là của đại sư Viên trắc. Đối với ngài Huyền tráng, đại sư là người sóng đôi mà khá mâu thuẫn với đại sư Khuy cơ, một vài truyện ký tương truyền như vậy. Đại sư Viên trắc sớ giải Giải thâm mật, nếu không phải trong lúc ngài Huyền tráng còn tại thế thì sau đó cũng không lâu. Trong sớ giải, đại sư trích dẫn lời ngài Huyền tráng khá nhiều. Bản sớ giải này gồm có 10 cuốn, nay chỉ thiếu cuốn chót, 9 cuốn hiện còn trong Vạn 34 và 35. Bản sớ giải này tôi gọi tắt là Viên sớ. Nhưng xin cảnh giác người đọc là chính văn Giải thâm mật của Viên sớ, qua Vạn 34 và 35 in lại, thì khá sai sót, nên phải dò lại chính văn ấy trong Chính 16/688-711 và 30/713-736.

Bản dịch giải của tôi lấy Đường dịch làm chính văn, lấy Viên sớ làm tài liệu tham chiếu.

(2) Giải thâm mật, Phạn tự là Sandhi-nirmocara, dịch âm là San địa niết mô chiết na. San địa có nghĩa sâu kín (thâm mật), đốt xương (cốt tiết hay tiết), nối nhau (tương tục). Niết mô chiết na là lý giải (giải), giải thoát. Vì những ý nghĩa nguyên thể và biến thể ấy mà các tên được dịch như đã thấy ở đoạn trên. Tựu trung, Đường dịch thì rõ và hay hơn cả. Còn sự thâm mật mà kinh này giúp ta lý giải thì sẽ thấy trong đoạn 3 dưới đây.

(3) Giải thâm mật có 5 cuốn 8 phẩm. Cuốn 1 có phẩm một: mở đầu (tự) phẩm hai: thắng nghĩa (thắng nghĩa đế tướng) phẩm ba: tâm thức (tâm ý thức tướng); cuốn 2 có phẩm bốn: tự tánh (nhất thế pháp tướng) phẩm năm: vô tánh (vô tự tánh tướng); cuốn 3 có phẩm sáu: du dà (phân biệt du dà); cuốn 4 có phẩm bảy: địa độ (địa ba la mật đa); cuốn 5 có phẩm tám: Phật sự (Như lai thành sở tác sự).

Tất cả 8 phẩm này Viên sớ chia làm 2 phần: mở đầu (phẩm một) và chính thuyết (phẩm hai đến tám). Phần chính thuyết có 3 mục: 1, nói về chân lý (cảnh) gồm có 4 phẩm hai đến năm; 2, nói về phương pháp (hành) gồm có 2 phẩm sáu và bảy; 3, nói về thành quả (quả) là phẩm tám. Trong mục 1, chia 4 phẩm làm 2: phẩm hai và phẩm ba nói về chân và tục, phẩm bốn và phẩm năm nói về có và không.

Phần tôi, tôi xét có thể nói nội dung Giải thâm mật cũng tương tự với Lăng dà. Lăng dà, một bộ kinh căn bản khác của Duy thức học, nói về cái "Tâm của Phật thuyết" bằng 2 phần: nói cái Tâm ấy siêu việt như thế nào, nói cái Tâm siêu việt ấy là thế nào. Kinh này rõ ràng cũng vậy: phẩm hai nói Tâm siêu việt như thế nào, phẩm ba đến tám nói Tâm siêu việt ấy là thế nào. Lại xét Nhiếp luận thì toàn văn có 3 phần là cảnh hành quả. Phần nói về cảnh có 2 phần: phần căn bản là bản thức, phần biểu hiện là ba tánh. Giải thân mật càng rõ ràng cũng vậy: phẩm ba nói về bản thức, phẩm bốn và năm nói về 3 tự tánh và 3 vô tánh. Cách nói này cho thấy bản thức là căn bản của các pháp nên gọi duy thức. Tư tưởng duy thức như vậy tương đối cổ hơn, nhưng đơn giản và sâu sắc hơn.

Vì xét như vậy, nên khác với Viên sớ, tôi chia 7 phẩm phần chính thuyết của Giải thâm mật làm 2 mục lớn: nói Tâm siêu việt như thế nào, nói Tâm siêu việt ấy là thế nào. Trong mục lớn thứ 2 cũng chia làm ba phần nhỏ: các phẩm ba đến năm nói Tâm ấy là cảnh sở quán, các phẩm sáu và bảy nói Tâm ấy là hạnh năng quán, phẩm tám nói Tâm ấy là quả sở đắc.

Với nội dung này, Giải thâm mật không những làm căn bản cho Duy thức, mà còn làm tổng kết cho Đại thừa.

23.10.2532


 

Phần: 1 | 2 | 3 |Ghi chú|

--- o0o ---

| Thư Mục Tác Giả |

--- o0o ---

Source : www.buddhismtoday.com
-o0o-
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-02-2002

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

song o doi nen hoc cach cui dau do con người và vì con người loi khuyen cua duc dat lai lat ma ve viec sung bai chua dong phuoc tranh chan trau dai thua va thien tong o day họa từ miệng ra tri hue chua leifeng tu theo pháp môn tịnh độ để vãng sanh nỗi bất an của người mẹ ngũ uẩn và căn nghiệp của con người cu de van su tuy duyen khi di chua bệnh âm có thật không tang thu song chet bởi đời là cõi tạm kien truc den tho phat giao co nhat tai noi duc tung kinh cau sieu co thuc su sieu hay khong Ăn Chay chung ta dang tho vi so to phat giao nao lòng từ ái việt trinh tìm bình an nơi cửa phật nguồn gốc và ý nghĩa thien thu trong tung khoanh khac con oi tam su cua mot nguoi me tre pha thai toi loi me dan những lời khuyên quý báu cho những người đã đã kích pháp môn tịnh độ đại thừa lợi ích của việc xuất gia gieo duyên lội khe suối ngọc loi khe suoi ngoc lời khuyên cuộc sống từ những người công đức phóng sanh loi nhan nhu vo cung y nghia cua nguoi me goi con loi noi doi vo hai nen noi hay khong nen noi kinh dien dai thua co phai la nguy kinh cua lời nói dối vô hại nên nói hay không ton trong nguoi la tu trang nghiem chinh minh lời nhắn nhủ của đức dalai lama gửi lời khuyên của đức đạt lai lạt ma hien thuc cua chien tranh loi khuyenchuan bi cho phut lam chung lời khuyênchuẩn bị cho phút lâm chung dai hung dai luc cua bo tat quan the am tim niem vui chan that dau son tren hai dao lời khuyên các đệ tử của tôi tue trung thuong si hien than cua duy ma cat va tinh phap huu Hoàng Thái hậu Ỷ Lan và sự nghiệp của