categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đình, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, vãng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cõi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cõi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử Hình ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
 

 

 

Kinh Đại Phương Quảng Tổng Trì Bảo Quang Minh

 

Thích Như Điển

 

Quyển thứ nhất

 

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển thứ 10 thuộc Hoa Nghiêm bộ. Từ trang 884 đến trang 905, gồm 5 quyển

Tây Thiên trung Ấn Độ, nước Ma Già Đà, tại chùa Na Lan Đà, truyền giáo Đại sư Ngài Tam Tạng Tứ Tử Sa Môn Thần Pháp Thiên phụng chiếu dịch (thuộc nhà Triệu Tống).

Tỳ Kheo Thích Như Điển, Trụ Trì Chùa Viên Giác tại thành phố Hannover, nước Đức, thuộc đời Thủ Tướng Schröder, nhân mùa An Cư Kiết Hạ 2545 phụng dịch từ tiếng Hán sang tiếng Việt từ ngày 14 tháng 8 năm 2001 nhằm ngày 25 tháng 6 năm Tân Tỵ.

Ta nghe như vầy, một thuở nọ Đức Thế Tôn đang ở tại thành Vương Xá trong núi Linh Thứu cùng với trăm ngàn vị Tỳ Kheo đã đầy đủ các pháp thanh tịnh. Cũng có những bậc Sư Tử hống trí tuệ tròn đầy nhiều lợi ích cũng như các bậc Bồ Tát Ma Ha Tát. Các vị ấy có tên là :

Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát, Bảo Ấn Thủ Bồ Tát Ma Ha Tát, Thường Hiện Bồ Tát Ma Ha Tát, Công Đức Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát, Phước Đức Âm Bồ Tát Ma Ha Tát, Đại Huệ Bồ Tát Ma Ha Tát, Đức Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Tuệ Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Quang Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Khí Trượng Bồ Tát Ma Ha Tát, Diệu Cang Bồ Tát Ma Ha Tát, Trì Địa Bồ Tát Ma Ha Tát, Hiện Nhứt Thiết Bồ Tát Ma Ha Tát, Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát, Đắc Đại Thế Bồ Tát Ma Ha Tát, Kiên Lao Huệ Bồ Tát Ma Ha Tát, Kim Cang Kiết Tường Bồ Tát Ma Ha Tát, Diệt Ác Thú Bồ Tát Ma Ha Tát, Trừ Nhứt Thiết Phiền Não Huệ Bồ Tát Ma Ha Tát, An Tường Bộ Bồ Tát Ma Ha Tát, Ly Thủ Xả Bồ Tát Ma Ha Tát, Chiên Đàn Hương Bồ Tát Ma Ha Tát, Hải Tuệ Bồ Tát Ma Ha Tát, Nan Thắng Bồ Tát Ma Ha Tát, Thật Thắng Bồ Tát Ma Ha Tát, Huệ Hạnh Bồ Tát Ma Ha Tát, Biện Tích Bồ Tát Ma Ha Tát, Diệu Hương Bồ Tát Ma Ha Tát, Từ Thị Bồ Tát Ma Ha Tát và rất nhiều vị Bồ Tát Ma Ha Tát như thế.

Tất cả đều an trụ nơi cửa của bất khả tư nghì giải thoát tam muội. Lại cũng đã chứng được phép không của vô lượng âm thanh. Xem nghe tất cả các âm thanh của các nước nơi có các Đức Phật, không sợ hãi. Thọ mệnh rất lâu chứng được tên lớn. Ba cõi không ngăn ngại lại cũng không bị phá hoại. Tất cả người trí đều là quyến thuộc. Thành tựu rất nhiều trí tuệ, làm cho chúng sanh đầy đủ. Tất cả đều đến bờ giác ngộ phía bên kia. Lại cũng chứng được phép không của thân, miệng, ý nghiệp. Chứng được tất cả trí tuệ và biết được rất nhiều hạnh nguyện. Chứng được phép không, vô tướng vô nguyện và pháp môn giải thoát. Những vị Bồ Tát như thế đều cùng đến đây để ngồi.

Lúc bấy giờ Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát từ trong chúng hội đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật và bạch Phật rằng:

Kính bạch Đức Thế Tôn: Phải hiểu pháp giới như thế nào?

Phật dạy rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Với pháp giới nầy không có tánh không thể hiểu biết được. Vì sao vậy? Nầy Thiện Nam Tử! Ví như hư không, lìa những hí luận cũng chẳng mất hí luận, chẳng nhận chẳng bỏ; chẳng có tánh, chẳng phải chẳng có tánh. Lại cũng chẳng có nơi chốn. Nầy Thiện Nam Tử! Nên biết pháp giới là như vậy đó.

Lúc bấy giờ Ngài Phổ Hiền Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Pháp giới trụ ở chỗ nào?

Nầy Thiện Nam Tử! Nơi chốn còn chẳng có, huống gì có nơi để trụ. Nầy Thiện Nam Tử! Pháp giới nầy không thể biết không thể nghĩ, không có tự tánh, không thể hiểu rõ hết. Nầy Thiện Nam Tử! Pháp giới tánh kia không thể biết, không thể thấy.

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Bồ Đề có những gì?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Bồ Đề có vô lượng hình tướng không thể đo lường được.

Phổ Hiền Bồ Tát lại hỏi: Kính bạch Đức Thế Tôn: Pháp giới lại có phân biệt như thế nào?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Pháp giới gốc của nó không có phân biệt.

Phổ Hiền Bồ Tát lại hỏi: Kính bạch Đức Thế Tôn: Nếu mà pháp giới không thể phân biệt được thì tại sao phàm phu chúng sanh có thể hiểu được?

Phật bảo rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Nếu có kẻ phân biệt tức là những chúng sanh nầy mê muội nên mới sanh tâm phân biệt đối với việc không phân biệt nầy.

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Sự giác ngộ của Như Lai thật sâu xa vi diệu khó thể giải thích được.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Bồ Đề tức là tất cả pháp vậy, lìa những hí luận, cho nên không có gì để phân biệt cả.

Lại cũng trong chúng hội có Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ dưới chân Phật và bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Nguyện vì chúng con mà nói pháp môn "Bảo Quang Minh Tổng Trì" nầy.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Nay ta hỏi ông tất cả pháp hải nơi Biện Tài Bồ Tát Ma Ha Tát. Ông ta vì ngươi mà nói vậy.

Lúc ấy Diệu Cát Tường Đồng Tử ở trước Đức Như Lai hai tay chắp lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Như Lai là bậc nhất thiết trí, là người thấy biết tất cả, tại sao Ngài không nói?

Phật bảo rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Vì có những Bồ Tát Ma Ha Tát, nên ở nghĩa nầy, Như Lai không nói.

Diệu Cát Tường thưa: Tuy nhiên bạch Thế Tôn! Tại sao Như Lai không nói pháp cho chúng con?

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Vì ta không nói pháp cho hữu tình nơi đây. Cho nên Thiện Nam Tử! Ta hiển thị cho Bồ Tát kia nói lên bất khả tư nghì vậy.

Lúc ấy Ngài Cát Tường Đồng Tử bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Duy Nguyện Đức Như Lai lòng từ vô lượng hãy vì chúng con mà nói pháp môn "Bảo Quang Minh Tổng Trì".

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Nay ta hỏi Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát thay ta mà nói pháp môn nầy vậy. Nầy Thiện Nam Tử! Hãy biết rằng Bồ Tát Ma Ha Tát nầy trí huệ vô lượng.

Ngài Diệu Cát Tường: Nếu Như Lai bảo chúng con phải nghe Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát thì nay con hỏi.

Phật bảo: Nầy Diệu Cát Tường: Ta đã được các pháp môn giải thoát như vi trần. Tại sao lại hỏi Như Lai?

Diệu Cát Tường đáp rằng: Bạch Đức Thế Tôn! Con chưa nghe một pháp nào không phải Phật nói cho đến tất cả các Đức Như Lai đều nói chơn như thật tánh. Từ đó con có thể nhớ nghĩ thọ trì không quên như ngày hôm nay.

Phật bảo: Lành thay! Lành thay Thiện Nam Tử! Nay ta sẽ nói. Phật bảo: Nầy Diệu Cát Tường! Nay ta sẽ hỏi Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát về pháp môn Tổng Trì nầy.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát nầy đã thâm nhập thật tướng của Đại Thừa chưa?

Phật bảo: Thiện Nam Tử! Các ngươi nên biết rằng tất cả đều tự tại như là một vị Pháp Vương đã chứng đắc không gì khác. Nầy Thiện Nam Tử! Hãy biết rằng với phước đức nhiều không thể kể nên đã đạt pháp không. Chứng được bất khả tư nghì giải thoát tam ma địa môn.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử thừa Phật thánh chỉ nên đã đến trước Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát chắp tay cúi đầu một lòng cung kính bạch Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: Thưa Ngài: Nguyện vì chúng con mà nói hai chữ pháp môn.

Lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Sẽ hỏi hai chữ gì nơi ta?

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử bạch Ngài Phổ Hiền Bồ Tát rằng: Thưa Ngài: Giác và người giác hai chữ nầy có tướng như thế nào?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát nói: Nầy Phật Tử: Giác vốn là không tướng, không tánh bất khả tư nghì, chẳng có chẳng không v.v... lìa các hí luận, cũng chẳng lìa các hí luận, không có ý nghĩa nên không thể đề cập đến được. Nầy Thiện Nam Tử! Đó là tánh giác của chư Phật vậy.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Thưa Ngài! Nếu Phật pháp chẳng hí luận. Vì sao mà Phật pháp làm như vậy?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát bảo với Ngài Diệu Cát Tường rằng: Nầy Phật Tử! Lìa lời nói cho nên gọi là như vậy.

Diệu Cát Tường thưa: Thưa Ngài: Thế nào là lìa ngôn ngữ để nói?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp: Nầy Diệu Cát Tường! Trí lìa lời nói.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Thưa Ngài: Thế nào biết được trí?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp: Nầy Diệu Cát Tường! Trí lìa lời nói.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Thưa Ngài: Thế nào biết được trí?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đáp: Nầy Diệu Cát Tường: Nghĩa là biết vô tánh, biết chẳng phải vô tánh.

Ngài Diệu Cát Tường lại hỏi: Thưa Ngài: Thế nào gọi là biết vô tánh và biết chẳng phải vô tánh? Vì sao mà nói pháp tam thừa?

Ngài Phổ Hiền Bồ Tát nói: Nầy Diệu Cát Tường! Thế giới lìa sự nhiễm ô vì sao gọi là có nói.

Diệu Cát Tường hỏi: Vì sao tất cả các pháp lại cũng vô tánh mà nói tánh của Như Lai vô lậu và Ngũ uẩn tánh cũng không thể có được?

Diệu Cát Tường thưa tiếp: Vì sao mà Bồ Đề có hí luận?

Phổ Hiền Bồ Tát đáp: Nầy Phật Tử: Bồ Đề chẳng có hí luận mà cũng chẳng lìa hí luận. Tánh giác nầy chẳng có hí luận mà cũng chẳng phải chẳng hí luận, không lời nói nên không nói được vậy.

Lúc ấy Đức Phật tán dương Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát và nói rằng: Thiện tai! Thiện tai, Thiện Nam Tử: Như ta đã nói đây là pháp môn bất khả tư nghì, cao xa sâu sắc, cũng có thể nói lời rằng trên trời dưới đất loài người khó mà giải thích.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử bạch Phật rằng: Kính bạch Thế Tôn: Tất cả pháp đều không thể biết, không thể thấy và không có pháp nào có thể nói.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Như thế đó, như thế đó.

Lúc ấy Ngài Phổ Hiền Bồ Tát Ma Ha Tát lại bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Đây là pháp môn thanh tịnh lìa sự giãi bày, lìa sự hiểu biết.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Như thế đó, như thế đó.

Lúc ấy Ngài Huệ Hải Bồ Tát bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn: Ngài Phổ Hiền Bồ Tát đã nói pháp môn thanh tịnh vậy.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Như vậy đó, như vậy đó. Lại nữa Thiện Nam Tử! Tất cả các pháp đều thanh tịnh nên cơn mưa pháp nầy cũng lại như thế.

Liền lúc ấy Bình Đẳng Tịch Tỉnh Ba La Đại Bà La Môn tử bạch Phật rằng: Kính bạch Thế Tôn. Đây là sự giác ngộ bình đẳng bất khả tư nghì, lìa tướng văn tự chữ nghĩa khó thấy, lìa các sắc tướng.

Phật bảo rằng: Nầy Thiện Nam Tử! Như thế đó, như thế đó. Pháp giới tánh lìa khỏi tướng của sự tuyệt đối.

Lúc ấy Diệu Cát Tường Đồng Tử liền bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Tướng của không có phải là làm nên âm thanh, làm nên màu sắc, nên gọi là tướng?

Phật bảo: Nầy Diệu Cát Tường! Không có nghĩa là lìa âm thanh, lìa màu sắc, các lời nói mà cũng chẳng lìa những lời nói. Thiện Nam Tử! Pháp tánh là như vậy đó. Không có nghĩa là lìa chữ nghĩa nên gọi là không, lại cũng lìa lời nói nên gọi là không. Nầy Thiện Nam Tử! Không có nghĩa là tự tánh của tất cả pháp vậy.

Lúc ấy Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Lai xem việc chứng đắc nầy là một đại biến hiện bất khả tư nghì giải thoát Bồ Đề phải không?

Phật bảo Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất rằng: Đối với trí tuệ của các A La Hán và trí huệ của các vị Bồ Tát mới phát tâm còn xa lắm, còn nói gì đến Bồ Tát nầy đây. Vì sao vậy? Vì sơ phát tâm Bồ Tát chỉ sẽ thành Phật. Quả vị A La Hán thì chưa thể đến được.

Lúc ấy Ngài Nhứt Thiết Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Đức Phật nói con nay đã hiểu. Vì Thanh Văn thì không thể chứng được pháp Thanh Văn.

Phật bảo: Nầy Thiện Nam Tử! Thanh Văn nầy chẳng thể chứng được pháp Thanh Văn. Lại nữa Thiện Nam Tử! Nếu mà Thanh Văn cùng với Bồ Tát tranh nhau về Trí Tuệ có được thì ở đây không thể đề cập đến.

Lúc bấy giờ Diệu Cát Tường bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như Lai vì sao mà nói Ngài Xá Lợi Phất chứng đắc được trí tuệ đệ nhất?

Phật bảo Diệu Cát Tường rằng: Như ta đã nói thật chẳng có chỗ nào chứng đắc.

Lúc ấy Ngài Diệu Cát Tường Đồng Tử mới hỏi Ngài Xá Lợi Phất rằng: Trưởng Lão chứng được pháp Thanh Văn như thế nào?

Ngài Xá Lợi Phất bảo rằng: Ta ở nơi chẳng dính mắc.

Ngài Diệu Cát Tường thưa: Điều ấy có phải để cho những kẻ chẳng phải phàm phu chăng?

Chẳng phải vậy. Thiện Nam Tử.

Diệu Cát Tường bảo: Như vậy thế nào gọi là được trí tuệ đệ nhất?

Ngài Xá Lợi Phất bảo: Nên biết rằng không phải là kẻ phàm phu, lại cũng chẳng phải là kẻ trí tuệ đệ nhất.

Như vậy là người gì?

Ngài Xá Lợi Phất đáp: Nầy Thiện Nam Tử! Ta cũng chẳng biết! Trí huệ nầy có được nhiều do như biển cả. Cho nên ta nay chẳng phải đối đáp với ngươi.

Diệu Cát Tường hỏi: Thưa Ngài Trưởng Lão Xá Lợi Phất! Chưa nói lời nầy. Ngài tự biết mình là người đã huân tập phước đức nhiều năm, vì sao mà khiêm nhường như vậy?

Ngài Xá Lợi Phất trả lời: Nầy Thiện Nam Tử! Ta tuy nhiều năm, nhưng không công đức cũng chẳng chứng. Lại nữa Thiện Nam Tử! Dụ như tất cả sự sai biệt của vạn pháp là do từ núi cao với một hạt bụi đáng động nơi kim cương vậy. Nầy Thiện Nam Tử! Ta lại cũng như thế! Giống như một sợi lông mà đem trí huệ ấy so với số lượng của nhiều hạt bụi vậy. Tất cả chúng sinh đều giống như ta, lại chẳng sai khác gì. Nầy Thiện Nam Tử! Huống là ta chỉ có một mình, cho nên ta nay chẳng mắc vào đó. Nầy Thiện Nam Tử! Giống như con voi dữ có thân hình vĩ đại, sức mạnh cũng lắm. Thế mà con người chỉ dùng cây roi mà chế ngự được. Ta cũng giống vậy đó. Nầy Thiện Nam Tử! Vì sao vậy? Nay có trí lực lớn, nhưng lực của ta yếu. Nầy Thiện Nam Tử! Lực của các ngươi giống như rồng lớn. Vì sao mà lực của ta có thể địch với lực kia được.

Trưởng Lão Xá Lợi Phất bạch Phật rằng: Kính bạch Đức Thế Tôn! Như người sanh ra mù muốn đi đến nơi khác, lúc ở giữa đường chắc chắn rằng chẳng có thể thấy thành ấp. Vì sao mà có thể đi du lịch như thế? Nầy Thiện Nam Tử! Điều nầy như thế nầy. Ta đối với kẻ kia cũng dụ như kẻ mù. Ta nay biết rằng Phật đạo sâu xa, tới đích thật lâu. Nên phải biết rằng như vậy.

Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: Chớ làm như thế! Với uy đức của Như Lai có thể làm cho tất cả chúng sanh thay đổi cách nghe để được pháp nầy. Nầy Xá Lợi Phất! Huống là chứng được bất khả tư nghì giải thoát vậy. Lúc ấy Đức Thế Tôn nói pháp nầy rồi trên trời loài người có chín vạn hai ngàn chúng sanh đều chứng được pháp nầy.

Lúc ấy Ngài Pháp Huệ Bồ Tát nhờ uy thần của Phật nên nhập vào tam muội, tên Bồ Tát là Vô Biên Tướng Ưng Bảo Quang Minh Tam Ma Địa, lúc ấy Pháp Huệ Bồ Tát tức thời vào trong mười phương mười ngàn Phật sát vi trần thế giới. Cứ ở mỗi phương như thế đều có mười ngàn Phật sát vi trần chư Phật Thế Tôn, đều đến trước mặt. Lúc ấy các vị Phật mới hỏi Pháp Huệ Bồ Tát rằng: Một phương cũng như mười phương đều thế.

Lại được các Đức Thế Tôn tán thán. Lành thay! Lành thay Pháp Huệ! Nay nên nhập vào Bồ Tát Vô Biên Tướng Ứng Tam Ma Địa vậy. Lại nữa Thiện Nam Tử! Lúc ấy ở mỗi mỗi nơi có tất cả mười phương mười ngàn vị Phật ở trong sát độ vi trần cùng với các Đức Như Lai đến ngồi ở đó cũng giống như ta nay cùng với tất cả các Đức Như Lai cũng đồng một hiệu. Tất cả đều là Thế Tôn Tỳ Lô Giá Na Như Lai có uy đức cao cả và có nguyện lực đầy đủ vậy. Được có lợi lớn cho đến việc chuyển đại pháp luân. Cũng giống như các vị Phật khác cùng nói kệ rằng:

Trí Phật vốn thanh tịnh

Phổ cập khắp pháp giới

Lại xem các chúng sanh

Vào ra trí Vô Ngại

Chẳng sánh tướng tương ưng

Tất cả lời nói lành

Liền chứng tất cả trí

Viên mãn nơi các pháp

Ba đời trí đều đủ

Nên nói pháp như vậy.

Nầy Thiện Nam Tử! Nay ta nhờ oai thần lực của Phật nên nói Bồ Tát ở vào pháp môn thập trụ.

Lúc ấy Đức Thế Tôn cùng với các vị Vô Ngại trí làm cho Pháp Huệ Bồ Tát chứng được Tam Ma Địa, có tên là Vô Ngại, Vô Đoạn, bất không pháp, bất không trí, vô lậu vô tế, vô tận, vô lai, vô khứ, vô biên bổn tánh, vô trước... chứng được những Tam Ma Địa như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn lấy tay phải xoa đầu Pháp Huệ Bồ Tát. Đức Phật sau khi xoa đầu Bồ Tát rồi, tức thời Pháp Huệ Bồ Tát từ Tam Ma Địa mà dậy nói với các Bồ Tát rằng: Nầy chư Phật Tử! Có vị Bồ Tát có quyến thuộc rất nhiều, tận đến các pháp giới hư không. Nầy chư Phật Tử! Bồ Tát Ma Ha Tát trong quá khứ từ tộc họ của Như Lai mà sanh ra. Trong hiện tại cũng từ trong dòng họ của Như Lai mà sanh và vị lai cũng từ trong dòng họ của Như Lai sẽ sanh như vậy.

Liền lúc đó các vị Bồ Tát Ma Ha Tát mới hỏi Ngài Pháp Huệ Bồ Tát rằng: Nầy Phật Tử! Nghe ta nói đây. Vị Bồ Tát Ma Ha Tát kia vì sao mà được sinh ra trong dòng họ của Như Lai từ trong quá khứ đến hiện tại và vị lai? Lại cũng được gọi là Bồ Tát, ở ngôi vị Bồ Tát vậy? Các vị Bồ Tát Ma Ha Tát hỏi Bồ Tát Pháp Huệ rằng: Nầy Phật Tử! Lành thay hãy vì chúng tôi mà nói pháp môn thập trụ của Bồ Tát. Quá khứ Phật đã nói, hiện tại Phật đang nói và vị lai Phật sẽ nói. Nầy Phật Tử! Vì sao nói là pháp hành của Thập Trụ Bồ Tát?

Điều thứ nhất là phát tâm trụ, thứ hai trì địa trụ, thứ ba tương ưng trụ, thứ tư sanh quý trụ, thứ năm phương tiện cụ túc trụ, thứ sáu chánh tâm trụ, thứ bảy bất thoái trụ, thứ tám đồng chơn trụ, thứ chín vương tử trụ và thứ mười là quán đảnh trụ. Nầy Phật Tử! Đó là pháp hành của Thập Trụ Bồ Tát vậy.

Điều nầy quá khứ hiện tại vị lai 3 đời chư Phật Thế Tôn đã nói và sẽ nói. Nầy Phật Tử! Vì sao gọi là Bồ Tát phát tâm trụ? Nghĩa là Bồ Tát nầy chứng được sắc tướng nơi chư Phật nguy nga đẹp đẽ tốt đẹp quảng đại, thuyết pháp không có gì sánh bằng và hóa độ chúng sanh cũng ngộ lớn. Thấy tất cả những biến hiện quảng đại như thế, lại cũng nghe những pháp sâu xa khác nữa. Được pháp chưa từng có. Lại thấy những chúng sanh khổ não cho nên Bồ Tát phát A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề Tâm. Vì cầu Như Lai nhứt thiết trí, nhứt thiết tướng trí. Cho nên có tên là sơ phát tâm trụ. Lại cũng học mười lực. Những gì là mười?

Một là xứ phi xứ tri lực, hai là quá hiện vị lai phước nghiệp báo tri lực, ba là Thiền định giải thoát tam muội tri lực, bốn là đến tất cả xứ đạo tri lực, năm là vô số nhiều thế giới tri lực, sáu là vô số nhiều loại thắng giải tri lực, bảy là căn thắng liệt tri lực, tám là túc trụ ức niệm tri lực, chín là thiên nhãn tri lực và mười là vô lậu tri lực.

Nầy Phật Tử! Đây là sơ phát tâm Bồ Tát phải học 10 lực nầy. Các Bồ Tát sơ phát tâm tất cả các thời phải cung kính cúng dường các Đức Như Lai.

Các vị Bồ Tát ấy an trụ và xưng tán vậy. Vì thế gian là bậc đệ nhất thế chủ vậy. Cầu trí tuệ vô lượng của chư Phật. Cầu tịch tỉnh tướng tam ma địa, xa lìa luân hồi, chuyển bánh xe pháp. Cầu độ tất cả những khổ não của chúng sanh. Vì sao vậy? Vì chơn thật pháp mà phát tâm vậy. Nghe nhận gần gũi, xa lìa những tán loạn, kế tục không gián đoạn. Nầy Phật Tử! Do đây mà có tên là Bồ Tát sơ phát tâm vậy. Nầy Phật Tử! Lại nữa sao gọi là Bồ Tát Trì Địa Trụ?

Nầy Phật Tử! Trì Địa Trụ Bồ Tát nầy vì các chúng sanh đầu tiên phát ra mười loại tâm. Thế nào là mười?

Đó là tín tâm, niệm tâm, tinh tấn tâm, huệ tâm, nguyện tâm, giới tâm, hộ pháp tâm, xả tâm, định tâm và hồi hướng tâm. Nầy Phật Tử! Đây là Trì Địa Trụ Bồ Tát lại cũng đã phát mười loại tâm như vậy. Nầy Phật Tử! Đây là Trì Địa Trụ Bồ Tát thường nhớ nghĩ đến nghe nhiều, tương tục không gián đoạn, thường vui vẻ để phụng sự các thiện tri thức, cúng dường thân cận tất cả các bậc giác ngộ, phát ngôn khiêm nhường cung kính. Cầu kiên cố, vô úy trí, phát thú trí giác ngộ cho đến cầu tịch tỉnh dũng mãnh trí vậy. Cũng cầu diệu pháp lìa những hư giả, tâm không mê hoặc. Vì sao vậy? Nghĩa là phát ra những tâm thành thật như thế vì cầu tất cả Phật pháp vậy. Cho đến tùy theo nơi nào có thánh pháp đều tự mình đến đó để nghe thọ trì và gần gũi, lìa những tán loạn, liên tục không gián đoạn, chưa từng rời bỏ. Nầy Phật Tử! Cho nên có tên là Bồ Tát Trì Địa Trụ. Nầy Phật Tử! Lại nữa thế nào gọi là Bồ Tát Tương Ưng Trụ?

Nầy Phật Tử! Bồ Tát Tương Ưng Trụ nầy có mười việc muốn cầu tất cả pháp. Thế nào là mười? Đó là cầu tất cả vô thượng pháp. Xa rời tất cả những ưu não. Tất cả pháp không thể tính được. Lìa tất cả những nghi hoặc, không thể thay đổi được, chẳng có chẳng không, không lấy không bỏ. Nầy Phật Tử! Đó là Tương Ưng Trụ Bồ Tát vậy. Lại thấy tất cả chúng sanh giới đều bình đẳng, pháp giới bình đẳng thế giới bình đẳng, địa giới bình đẳng, thủy giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới, dục giới, sắc giới, vô sắc giới như thế tất cả các thế giới đều bình đẳng.

Vì sao vậy? Nghĩa là tất cả các pháp, tự tánh của nó là bình đẳng. Vì cầu thắng pháp đến khắp mười phương. Ở nơi trước chư Phật mà gần gũi lắng nghe và ghi nhận. Lìa những tán loạn, niệm niệm tương tục, không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Cho nên có tên là Bồ Tát Tương Ưng Trụ vậy. Nầy Phật Tử! Lại nữa sao có tên gọi là Bồ Tát Sanh Quý Trụ? Được sanh mười loại tròn đầy tịnh nghiệp, giãi bày lời nói của thánh nhơn. Thế nào là mười? Đó là khi nghe Bồ Tát thuyết pháp thì tôn kính thọ nhận, dần dần tăng trưởng chẳng thoái lai, liễu đạt các pháp, quán các thế gian chẳng hoại diệt, quán tất cả nghiệp tánh lìa vọng tưởng, quán tất cả quả báo đều chẳng giữ bỏ, quán luân hồi không đến không đi, quán Niết Bàn yên vui tịch tịnh.

Nầy Phật Tử! Đây là Sanh Quý Trụ Bồ Tát vậy. Có được mười loại viên mãn tịnh nghiệp giải thoát ngôn thuyết. Lại bảo Phật Tử, Sanh Quý Trụ Bồ Tát quán quá khứ Phật pháp bình đẳng hay nhớ nghĩ liên tục không gián đoạn. Quán vị lai Phật pháp bình đẳng nguyện sẽ học. Quán hiện tại Phật pháp bình đẳng siêng năng tu tập. Quán tất cả Phật pháp đều bình đẳng như vậy cho nên được quá khứ, hiện tại và vị lai. Nơi 3 giai đoạn nầy chứng đắc trực ngộ. Như thế mà tu tập, nhớ nghĩ không quên, tất cả Phật pháp đều quý trọng cung kính. Lại cũng quán quá khứ Phật pháp và học sự tăng trưởng của bình đẳng. Quán hiện tại Phật pháp cũng phải học sự tăng trưởng của bình đẳng.

Nầy Phật Tử! Đó là Sanh Quý Trụ Bồ Tát, như thế mà quan sát hướng về tất cả Phật pháp, tất cả đều bình đẳng và tăng trưởng sự tu tập. Vì sao vậy? Nghĩa là 3 đời bình đẳng tối thắng chơn thật trụ nơi không hư dối vậy. Cho đến nghe thấy ở nơi khác có pháp như thế đều phải tự thân mình hoặc khuyến tấn siêng năng, tâm chẳng tán loạn, niệm niệm tương tục, không cho gián đoạn. Nầy Phật Tử! Cho nên có tên là Bồ Tát Sanh Quý Trụ. Nầy Phật Tử! Lại nữa tại sao có tên là Bồ Tát Phương Tiện Cụ Túc Trụ? Nầy Phật Tử! Phương Tiện Cụ Túc Trụ Bồ Tát nầy quán vô lượng vô biên vô số A Tăng Kỳ bất khả tư nghì, không gì so sánh với chúng sanh giới. Do hư không chẳng sanh chẳng diệt tự tánh thanh tịnh, đồng với chơn tế và tánh chơn thật. Như thế mà xem tất cả chúng sanh; nên gọi là Bồ Tát Phương Tiện Cụ Túc Trụ. Nầy Phật Tử! Phương Tiện Cụ Túc Trụ Bồ Tát nầy có 10 loại việc. Do tu thiện nghiệp mà làm phương tiện lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Nghĩa là làm cho tất cả chúng sanh phát tâm vô thượng đạo không thối chuyển. Thương tưởng tất cả chúng sanh không xa lìa. Giúp đỡ làm cho tất cả chúng sanh được an vui. Có lòng từ bi đối với tất cả chúng sanh. Muốn làm cho tất cả chúng sanh đều chứng được đạo giải thoát một cách bất khả tư nghì. Làm cho tất cả chúng sanh rửa sạch được những nghiệp dơ. Nhiếp phục tất cả chúng sanh. Muốn làm cho tất cả chúng sanh hoan hỷ không chán ghét. Đó là những phương tiện dẫn đường cho tất cả chúng sanh vậy. Muốn làm cho tất cả chúng sanh được cứu cánh Niết Bàn tịch diệt an lạc.

Nầy Phật Tử! Đây là những phương tiện đầy đủ trụ nơi Bồ Tát như thế cho đến nghe và đem đi thuyết pháp ở nơi khác. Chính tự mình khuyến khích kẻ khác tu hành, tâm không tán loạn, niệm niệm liên tục không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Đây có tên là Bồ Tát Phương Tiện Cụ Túc Trụ. Nầy Phật Tử! Lại cũng có tên gọi là Bồ Tát Chánh Tâm Trụ. Nầy Phật Tử! Với Chánh Tâm Trụ nầy Bồ Tát có mười pháp khác nhau. Phải nên vui nghe khuyến khích ý chí và ở trong Phật pháp mà trụ được nơi chánh tâm. Nầy Phật Tử! Thế nào là mười?

Đó là Phật có hình tướng, không hình tướng và ở trong đó chứng được chánh tâm trụ. Thuyết pháp có hình tướng không hình tướng đều ở trong Phật pháp mà giữ tâm chơn chánh. Nói về việc làm của Bồ Tát có hình tướng và không hình tướng ở nơi Phật pháp mà giữ tâm chơn chánh, như thế cho đến nói việc nầy cho tất cả chúng sanh ở đây hoặc ở những nơi khác. Những chúng sanh ở nơi cảnh giới phiền não, không phiền não. Chúng sanh dễ độ, chúng sanh khó độ cho đến một thế giới to lớn hơn, ra ngoài thế giới ấy, thế giới có hình tướng, thế giới không hình tướng; thế giới có pháp, thế giới không có pháp. Nầy Phật Tử! Đây là những cách trụ tâm chân chánh của Bồ Tát. Như thế cho đến ở trong Phật pháp và nghe những pháp nầy, đều gọi là những Bồ Tát chứng được ở nơi tâm chơn chánh vậy. Nầy Phật Tử! Chánh Tâm Trụ Bồ Tát nầy lại cũng nghe mười loại pháp khác nhau, nhập vào chơn lý, khuyến thỉnh cho đến nghe tất cả các pháp vô thượng cho đến tu học. Thế nào là mười?

Nghĩa là: không tướng, không tánh, không thật, không nhiễm, xa lìa, không dính mắc, không có tự tánh, như huyễn, như mộng, lìa những nghi hoặc, nghe như thế tất cả pháp rồi nên phát tâm khuyến khích tu tập. Vì sao vậy? Vì với tâm chơn chánh nầy Bồ Tát ở vào nơi pháp môn chơn thật, như thế cho đến nghe và vì người khác và đi đến nơi khác để nói lại như thế. Tự mình phải khuyến khích và tu tập, tâm không tán loạn, niệm niệm tương tục không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Đây có tên là Bồ Tát chánh tâm trụ. Nầy Phật Tử! Lại cũng có tên là Bồ Tát bất thoái trụ.

Nầy Phật Tử! Bồ Tát bất thoái trụ nầy nghe mười pháp không dính mắc và từ trong Phật pháp tâm không lui sụt. Thế nào là mười? Nghĩa là khi nghe biết được có Phật và chẳng phải chẳng có Phật. Những vị Bồ Tát nầy ở trong Phật pháp tâm chẳng thối chuyển vậy. Chẳng có pháp nào có và cũng chẳng có pháp nào chẳng có. Từ nơi Phật pháp tâm chẳng thối chuyển. Chẳng có Bồ Tát mà cũng chẳng phải chẳng có Bồ Tát. Từ nơi Phật pháp mà tâm không thoái chuyển. Chẳng chấp giữ Bồ Tát mà cũng chẳng phải chẳng chấp giữ Bồ Tát. Chẳng phải lìa hạnh của Bồ Tát mà cũng chẳng phải chẳng lìa hạnh của Bồ Tát. Bồ Tát chẳng ra đời mà Bồ Tát cũng chẳng phải chẳng ra đời. Từ nơi Phật pháp mà sanh tâm không thoái chuyển. Quá khứ chư Phật chẳng có đến mà cũng chẳng phải chẳng có đến. Vị lai chư Phật không đến mà cũng chẳng phải chẳng đến. Hiện tại chư Phật không an trụ mà cũng chẳng phải chẳng an trụ. Như thế chư Phật trong 3 đời đều bình đẳng chỉ một tướng không tướng. Không có cái cuối cùng và cũng chẳng có cái chẳng cuối cùng, lìa các chướng ngại. Những Bồ Tát nghe những pháp như thế đó. Không phải chỗ Phật pháp mà tâm chẳng thối chuyển.

Nầy Phật Tử! Đây có tên gọi là Bồ Tát Bất Thoái Trụ. Nầy Phật Tử! Những Bồ Tát bất thoái trụ nầy lại nghe mười loại pháp khác nhau từ đó mà siêng tu tập. Thế nào là mười? Đó là nghe tất cả chúng sanh và vì tất cả pháp mà tinh cần tu tập. Với thắng nghĩa đế nầy vì do nhiều nhân duyên khởi mà thành thắng nghĩa đế vậy. Tức tánh tức vô tánh, tức tướng tức vô tướng, tức hữu sắc, tức vô sắc, lìa các tướng, tâm một lòng hướng đến sự tu tập. Vì sao vậy? Nghĩa là nghe như thế tất cả các pháp về nhơn quả một cách triệt để không nghi ngại về các pháp chơn thật ấy, rồi giãi bày một cách thành thục. Như thế đó cho đến sau khi nghe phải đem pháp nầy đi đến chỗ khác để nói ra. Chính mình phải khuyến khích kẻ khác tu tập, tâm không tán loạn, niệm niệm tương tục không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Cho nên có tên là Bồ Tát Bất Thoái Trụ.

Nầy Phật Tử! Lại nữa tại sao có tên là Bồ Tát Đồng Chơn Trụ? Nầy Phật Tử! Vị Đồng Chơn Trụ Bồ Tát nầy chứng được mười pháp. Thế nào là mười? Nghĩa là chứng được thân nghiệp thanh tịnh, khẩu nghiệp thanh tịnh, ý nghiệp thanh tịnh, chứng được tất cả pháp khi chúng sanh khởi tâm động niệm. Vì tất cả chúng sanh khi bố thí thì đều hiểu rõ. Hay vì chúng sanh như thế mà giãi bày. Hay vì chúng sanh nhiều loại khác nhau ở các thế giới khác nhau cho đến địa giới, hỏa giới, phong giới, hư không giới, dục giới, sắc giới vô sắc giới, các thế giới như thế đều biết rõ mà giãi bày. Thần thông nhanh chóng tùy theo sự nhớ nghĩ mà đến. Nầy Phật Tử! Như thế cho nên có tên là Bồ Tát Đồng Chơn Trụ.

Nầy Phật Tử! Đồng Chơn Trụ Bồ Tát lại nghe mười pháp mà có thể tu tập. Thế nào là mười? Nghĩa là nghe về trí huệ của Phật, chấn động tất cả các Phật. Quán tất cả Phật, tìm đến các xứ Phật, đi đến các nơi Phật, qua lại nhiều A Tăng Kỳ thế giới, nghe A Tăng Kỳ nghĩa thú, xa lìa nhiều loại tự tánh sai biệt, phát một tâm niệm mà tỏa ra khắp A Tăng Kỳ nước Phật, nghe biết để tu tập. Vì sao vậy? Nghĩa là nghe những pháp chơn thật như thế đó. Thành thục giãi bày một nghĩa như thế. Như vậy cho đến sau khi nghe đem điều ấy đến phương khác mà thuyết pháp. Chính mình khuyến khích tu tập, tâm chẳng tán loạn, niệm niệm tương tục chẳng có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Cho nên gọi đây là Bồ Tát Đồng Chơn Trụ.

Nầy Phật Tử! Lại nữa tại sao có tên gọi là Bồ Tát Pháp Vương Tử Trụ?

Nầy Phật Tử! Bồ Tát Pháp Vương Tử Trụ nầy có mười loại pháp có thể hiểu rõ. Thế nào là mười? Nghĩa là có thể biết tất cả nơi sanh của chúng sanh. Có thể biết tất cả phiền não của chúng sanh. Hay biết tất cả những sự yêu đắm của chúng sanh. Có thể biết tất cả nơi của chúng sanh, có thể biết tất cả các diệu pháp của chư Phật, có thể biết tất cả tánh chơn thật của chư Phật, có thể biết nhiều pháp sai biệt của thế giới. Có thể biết trí tuệ của quá khứ, vị lai, hiện tại 3 đời chư Phật, có thể biết thế gian rộng rãi, các pháp đều không chắc chắn. Hay biết chơn tánh như như y nhiên tịch tịnh. Nầy Phật Tử! Cho nên điều nầy có tên gọi là Bồ Tát Vương Tử Trụ.

Nầy Phật Tử! Pháp Vương Tử Trụ Bồ Tát nầy lại cũng có mười loại pháp có thể khuyến khích tu tập. Thế nào là mười?

Đó là siêng học tất cả sự tác dụng của tất cả thành của vua. Vui với tất cả lễ lạc của thành vua, vui với tất cả chỗ ở nơi vương thành. Hoan hỷ khi vào tất cả vương thành, hoan hỷ khi có thể tự tại du lịch tất cả vương thành, ở nơi quán đảnh của pháp vương, ở nơi quan sát của pháp vương, được tự tại lực của pháp vương, kế tục ngôi vị pháp vương, chứng được lời nói của pháp vương. Vì sao vậy? Nghĩa là tu tập tất cả các chơn thật pháp không ngại. Như thế cho đến nghe rồi đi đến nơi kia để thuyết pháp, thân cận tự mình khuyến khích tu tập, tâm không tán loạn, niệm niệm tương tục không có gián đoạn. Nầy Phật Tử! Đây có tên gọi là Bồ Tát Pháp Vương Tử Trụ.

Nầy Phật Tử! Lại nữa sao có tên gọi là Bồ Tát Quán Đảnh Trụ?

Với Bồ Tát nầy có được mười loại thần thông. Thế nào là mười?

Nghĩa là hay làm cho A Tăng Kỳ thế giới giao động nhiều loại khác nhau. Hay chiếu sáng nhiều A Tăng Kỳ thế giới khác nhau. Hay xem xét A Tăng Kỳ thế giới khác nhau. Hay cùng với A Tăng Kỳ thế giới gia tâm tu tập. Hay vì thành tựu các thiện nghiệp khác nhau của A Tăng Kỳ thế giới. Hay biết được tâm sai biệt của chúng sanh ở những A Tăng Kỳ thế giới khác nhau. Hay vì mỗi một chúng sanh trong A Tăng Kỳ thế giới mà cùng làm một lúc. Hay vì mỗi mỗi chúng sanh trong A Tăng Kỳ thế giới mà liễu giải căn tánh của họ. Hay vì sự giáo hóa chúng sanh trong A Tăng Kỳ thế giới. Hay biết được sự tác dụng tâm của chúng sanh trong A Tăng Kỳ thế giới vậy. Lại nữa Thiện Nam Tử! Đây là Quán Đảnh Trụ Bồ Tát và những việc làm ấy miên mật và những Phật sự nầy khó có người hiểu biết hết. Vì sao vậy? Nghĩa là thân nghiệp không thể biết, khẩu nghiệp chẳng thể biết, ý nghiệp chẳng thể biết, biến hiện chẳng thể biết, quán sát mọi loài biến hóa chẳng thể biết, quán sát quá khứ có làm chẳng thể biết, một thoáng chốc có làm không làm cũng chẳng thể biết, quán sát trí huệ chẳng thể biết, tâm ý chẳng thể biết, tất cả dụng trí chẳng thể biết.

Nầy Phật Tử! Đây là Quán Đảnh Trụ Địa Bồ Tát vậy. Lại nghe về thập trụ của Thế Tôn. Thế nào là mười? Đó là nghe 3 thế trí, Phật trí, Pháp trí, pháp giới phân biệt trí, thế giới trung biến trí, tất cả thế giới so sánh với pháp giới trí. Chiếu sáng tất cả thế giới trí. Viên mãn tất cả chúng sanh trí, tất cả pháp trí, vô biên Phật trí. Các Bồ Tát nầy tất cả đều ở nơi trí tuệ của chư Phật vậy. Vì sao thế? Nghĩa là nghe như thế rồi tất cả đều bằng trí huệ. Nầy Phật Tử! Đây gọi tên là Bồ Tát Quán Đảnh Trụ.

 

---o0o---


Quyển 1 > Quyển 2
 > Quyển 3  > Quyển 4  > Quyển 5  

 

---o0o---

Nguồn: www.viengiac.de
Trình bày: Linh Thoại

Cập nhật: 1-06-2008

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Kinh Điển II >>