categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đình, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, vãng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cõi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cõi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử Hình ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
 
...... ...
.

 

 

PHÂN VIỆN NGHIÊN CỨU PHẬT HỌC

NHÀ XUẤT BẢN VĂN HỌC 

Hà Nội –1990

 

THIỀN UYỂN TẬP ANH

(Anh tú Vườn Thiền)

 

 NGÔ ĐỨC THỌ – NGUYỄN THÚY NGA

Dịch và chú thích

  

(Dịch theo nguyên bản chữ Hán Trùng San) 

THIỀN UYỂN TẬP ANH Khắc in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715)

---o0o---

 

 Mục lục

 

LỜI TỰA 

LỜI BẠT 

LỜI GIỚI THIỆU

(QUYỂN THƯỢNG)

THIỀN UYỂN TẬP ANH TỰ

THIỀN PHÁI VÔ NGÔN THÔNG 

Thiền sư VÔ NGÔN THÔNG

Thiền sư CẢM THÀNH

Thiền sư THIỆN HỘI 

Thiền sư VÂN PHONG

Đại sư KHUÔNG VIỆT

Thiền sư ĐA BẢO

Trưởng lão ĐỊNH HƯƠNG

Thiền sư THIỀN LÃO

Thiền sư VIÊN CHIẾU

Thiền sư CỨU CHỈ 

Thiền sư BẢO TÍNH

Thiền sư MINH TÂM 

Thiền sư QUẢNG TRÍ 

Quốc sư THÔNG BIỆN

Đại sư  MÃN GIÁC

Thiền Sư NGỘ ẤN.

Thiền sư ĐẠO HUỆ

Thiền sư BIỆN TÀI 

Thiền sư BẢO GIÁM 

Thiền sư KHÔNG LỘ

Thiền sư  BẢN TỊNH 

Thiền sư MINH TRÍ

Thiền sư TÍN HỌC

Thiền sư TỊNH KHÔNG

Thiền sư ĐẠI XẢ 

Thiền sư TINH LỰC

Thiền sư TRÍ BẢO

Thiền sư TRƯỜNG NGUYÊN

Thiền sư TỊNH GIỚI

Thiền sư GIÁC HẢI

Thiền sư NGUYỆN HỌC

Thiền sư QUẢNG NGHIÊM

Thiền sư THƯỜNG CHIẾU 

Cư sĩ THÔNG SƯ

Thiền sư THẦN NGHI

Thiền sư TỨC LỰ

Thiền sư HIỆN QUANG

Cư sĩ ỨNG VƯƠNG 

(QUYỂN HẠ)

THIỀN PHÁI TÌ NI ĐA LƯU CHI 

Thiền sư TÌ NI ĐA LƯU CHI(1)

Thiền sư PHÁP HIỀN 

Thiền sư THANH BIỆN 

Thiền sư ĐỊNH KHÔNG

Trưởng lão LA QUÝ AN(1)

Thiền sư PHÁP THUẬN

Thiền sư MA HA

Đạo giả THIỀN ÔNG 

Thiền sư SÙNG PHẠM

Thiền sư VẠN HẠNH 

Thiền sư ĐỊNH HUỆ

Thiền sư ĐẠO HẠNH 

Thiền sư TRÌ BÁT

Thiền sư THUẦN CHÂN 

Tăng thống HUỆ SINH

Thiền sư THIỀN NHAM

Thiền sư BẢN TỊCH

Tăng thống KHÁNH HỶ

Thiền sư GIỚI KHÔNG

Thiền sư PHÁP DUNG(1)

Thiền sư TRÍ THIỀN

Thiền sư CHÂN KHÔNG 

Thiền sư ĐẠO LÂM

NI SƯ DIỆU NHÂN

Thiền sư VIÊN HỌC

Thiền sư TỊNH THIỀN

Quốc sư VIÊN THÔNG

Thiền sư Y SƠN 

THIỀN PHÁI THẢO ĐƯỜNG

Thiền sư THẢO ĐƯỜNG

 

 

LỜI TỰA 

THIỀN UYỂN TẬP ANH, một cuốn sách cổ của Phật giáo Việt Nam ghi lại các tông phái Thiền học và sự tích các vị Thiền sư nổi tiếng vào cuối thời Bắc thuộc cho đến thời Đinh, Lê, Ly một số ít vị lớp sau còn sống đến đầu triều Trần.

Đây là tác phẩm không những có giá trị về lịch sử Phật giáo mà còn là một tác phẩm truyện ký có giá trị về mặt văn học, triết học và văn hóa dân gian.

Cho đến nay chúng ta chỉ có bản trùng san in năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) thời Hậu Lê là bản in cổ nhất được hòa thượng Thích Như Tri và các môn đồ của Ngài khắc in ở chùa Tiên Sơn (Từ Sơn, Hà Bắc).

Tuy cuốn THIỀN UYỂN TẬP ANH không ghi rõ tên soạn giả nhưng qua các tài liệu tham khảo chúng ta có thể xác định tác phẩm này đã được Ngài Thông Biên Thiền sư khởi thảo từ thời Lý đến Ngài Biên Tài, Thường Chiếu, Thần Nghi. Trải qua một quá trình biên soạn rồi đến Thiền sư Ẩn không là người hoàn tất việc biên soạn cuối cùng.

Qua bao phen binh hỏa, trải mấy cuộc thăng trầm, chúng ta may mắn còn giữ được truyền bản của tác phẩm.

Vì lẽ đó, ông Ngô Đức Thọ, chuyên viên Viện Hán – Nôm và các nhà nghiên cứu trong và ngoài Phật giáo tại thủ đô Hà Nội đã dày công nghiên cứu văn bản, dịch thuật, chú giải để tác phẩm sớm được công bố.

Với mong muốn tác phẩm đến được với đông đảo người đọc trong và ngoài nước, đáp ứng yêu cầu tham khảo nghiên cứu của giới Phật giáo nước ta. Phân viện nghiên cứu Phật học phối hợp với nhà xuất bản Văn học tổ chức xuất bản cuốn sách cổ có giá trị này, nhằm góp phần vào sự nghiệp Hoằng đương chính pháp và nghiên cứu văn hóa cổ dân tộc.

Hà Nội, tháng 01 năm 1990

          Thượng tọa THÍCH THANH TỨ


 

LỜI BẠT

Trong những ngày đầu Xuân Canh Ngọ, tôi có nhận được bản dịch THIỀN UYỂN TẬP ANH của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thọ, công tác tại Viện Hán Nôm thuộc Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam, với yêu cầu xem lại và bổ chính bản thảo lần cuối cùng, trước khi xuất bản.

Mặc dù thời gian cấp bách và công việc rất khó khăn, nhưng tôi vẫn phát tâm làm với sự cố gắng tối đa. Bởi vì đây là một công tác đáng lẽ Ban Phật Giáo Việt Nam thuộc Viện nghiên cứu Phật học phải làm, nhưng hiện nay chưa làm được gì nhiều.

Ông Ngô Đức Thọ là nhà Hán Nôm học, rất quan tâm và hứng thú với Phật giáo và Phật học. Công việc của ông đáng khích lệ và hoan nghênh. Ông lại đang công tác tại một cơ quan Nhà nước có chức năng lưu trữ, nghiên cứu các văn bản Hán Nôm, trong đó có nhiều văn bản Phật giáo quan trọng.

Tôi hy vọng sau khi xuất bản dịch THIỀN UYỂN TẬP ANH này, ông Ngô Đức Thọ sẽ tiếp tục cộng tác với Ban Phật giáo Việt Nam chúng tôi (thuộc Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam), trong công việc sưu tầm, khảo đính, phiên dịch và công bố toàn bộ những văn bản Phật giáo Việt Nam bằng chữ Hán Nôm hiện có trong nước và ngoài nước, góp phần xây dựng một “Tục tạng Phật giáo Việt Nam” sẽ là bộ phận quan trọng của Bộ Đại tạng Phật giáo Việt Nam tương lai.

Ngày mồng Tầm xuân Canh Ngọ, tức mồng 3 tháng 2 Tây lịch năm 1990. 

MINH CHI

 

Trưởng Ban Phật giáo Việt Nam, thuộc

Viện nghiên cứu phật giáo học Việt Nam.

                         Chủ nhiệm bộ môn Phật giáo sử Việt Nam tại Trường

Phật học cao cấp thành phố Hồ Chí Minh.


 

LỜI GIỚI THIỆU 

(Quá trình hình thành tác phẩm văn bản và giá trị văn hiến của Thiền uyển tập anh) 

Trong di sản Hán Nôm của nước ta, cuốn Thiền uyển tập anh  là một tác phẩm truyện ký có giá trị không chỉ riêng về văn học mà cả về sử học, triết học, văn hóa dân  gian v.v... Cả về mặt văn bản, tác phẩm này cũng có một giá trị đặc biệt, bởi vì nó là một trong số rất hiếm tác phẩm khởi thảo từ cuối đời Lý, hoàn chỉnh và ổn định đầu đời Trần, cách nay đã trên bẩy thế kỷ mà vẫn còn có truyền bản trọn vẹn lưu lại đến ngày nay.

Trong thiên Nghệ văn chỉ, ở loại truyện ký, Lê Quý Đôn viết: “Thiền uyển tập anh, một quyển, người đời Trần soạn, ghi tông phái Thiền học và sự tích các nhà sư nổi tiếng ở nước ta từ đời Đường, Tống, trải đến các đời Đinh, Lê, Lý, Trần”(1). Trong Văn tịch chí, Phan Huy Chú cũng ghi về Thiền uyển tập anh với nội dung tương tự. Qua bao phen binh lửa, số thư tịch, bi ký đời Lý, Trần được ghi trong thư mục của hai nhà Lê, Phan chỉ còn lại một số rất ít, trong đó may mắn có tác phẩm Thiền uyển tập anh. Tuy văn bản hiện có không phải là bản in đời Trần mà là một bản trùng san (khắc in lại) vào năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), đó cũng là một trong số thư tịch đầu thế kỷ XVIII trở về trước còn giữ được văn bản – hiện vật đến nay. Bài tựa của một nhà Nho (không ghi tên) đặt ở đầu sách cho biết một nhà sư đã đem một bản cũ, hẳn là có nhiều chỗ mờ mòn, rách nát đến nhờ ông chỉnh lý câu chữ để trùng san. Có thể nói hòa thượng Thích Như Trí, các môn đồ cùng các thiện nam tín nữ có tên hiệu ghi ở đoạn cuối bài tựa là những người đã có công in khắc để truyền lại cho chúng ta một di sản văn hóa quý của nước nhà.

Ngoài Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, khoảng thời gian này cũng không thấy mấy tác giả dẫn dụng Thiền uyển tập anh. Phải đến đầu thế kỷ XX, nhà thiền học có tiếng là Phúc Điền hòa thượng (thời Minh Mệnh) đã nhìn thấy ý nghĩa của tác phẩm này đối với việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo ở nước ta. Có nhiều khả năng là PHúc Điền cũng chỉ có trong tay bản in thời Vĩnh Thịnh như đã nói ở trên, mà ông nhận xét rằng trong đó có nhiều sai lầm. “Tựu trung lỗ ngư bất nhất, vận suyển san danh” (trong đó có nhiều chỗ lầm từ chữ này sang chữ nọ, sai lầm khó đọc ra chữ gì). Để lưu truyền văn bản cho đời sau, Phúc Điền lại một lần nữa hiệu chỉnh, cho khắc in lại. Đó là tập sách mang tên: Trùng khắc Đại Nam thiền uyển truyền đăng tập lục. Quyền thượng, với dòng phụ chú: “Thất tập nhân danh, cựu bản Tiên Sơn tự” (tên người biên tập đã thất truyền, căn cứ theo bản cũ ở chùa Tiêu Sơn). Đối chiếu nội dung thì thấy tập sách mà Phúc Điền đề là “... Truyền đăng tập lục”, quyền thượng, thì toàn bộ “ quyền thượng” ấy chủ yếu là khắc in lại Thiền uyển tập anh (bản Vĩnh Thịnh) trong đó Phúc Điền viết lại truyện thiền sư Không Lộ, còn các truyện khác chỉ sửa đổi một ít câu chư. Phúc Điền ghi “quyển thượng” trong tương quan với một cuốn khác là Đại Nam thiền uyển kế đăng lược lục (gọi tắt là Kế đăng lục) mà ông gọi là quyển hạ.

Từ sau Phúc Điền, việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng không có tiến triển mấy. Và Thiền uyển tập anh cả bản Vĩnh Thịnh và bản Phúc Điền cũng không thấy mấy ai nhắc tới. Đến thời hiện đại, Thúc Ngọc Trần Văn Giáp có lẽ là học giả chú ý đến Thiền uyển tập anh khá sớm và đã sử dụng có hiệu quả nguồn tư liệu của tác phẩm này vào chuyên khảo Phật giáo ở Việt Nam. Ông cho biết: năm 1927, ông có thấy trong tủ sách của một nhà nho ở Hải Phòng một tập sách mang tên Thiền uyển tập anh ngữ lục mà ông nhận xét: “Đó là một tác phẩm quý, rất ít người biết tới và chưa được dịch ra thứ tiếng châu Âu nào”. Sau khi ở Pháp về, ông lại thấy trong số sách mới nhập của trường Viễn Đông Bắc Cổ có quyển Thiền uyển truyền đăng lục quyển thượng, tức là tập sách do Phúc Điền in lại đã nói ở trên.(2)

Soát lại theo những chỉ dẫn của Trần Văn Giáp thì thấy cả hai bản Thiền uyển đó hiện nay đều còn có đủ cả ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Chúng ta có thể biết là bản Vĩnh Thịnh của nhà nho ở Hải Phòng ít lâu sau cũng đã được nhượng lại cho trường Viễn Đông Bác Cổ, mang ký hiệu A.  3144 (mất tờ 65, như đã mô tả). Tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm hiện nay còn có một bản khác mang ký hiệu VHv. 1267. Bản này có vết chấm sâu bằng bút son, đủ từ đầu đến cuối. So với bản A.3144 thì bản này ở đầu sách, sau bài tựa, có ba tờ in hình vẽ Trúc Lâm, Pháp Loa và Huyền Quang kèm theo tiểu truyện của ba vị tổ phái Trúc Lâm đó. Xét nội dung thì các hình vẽ tiểu truyện đó không thuộc nội dung của Thiền uyển tập anh, nó chỉ là 3 tờ 8,9,10 của sách Thiền uyển truyền đăng, quyển hạ của bản Phúc Điền. Có thể nhà bán sách hoặc chủ nhân cũ của bản sách đó thấy cả hai phần đều nói về các vị tổ Thiền tông Việt Nam nên đóng gộp thêm vào. Điều thứ hai, sau tờ 72 mà dòng cuối cùng của cả hai bản đều có dòng chữ “Thiền uyển tập anh tất, quyển hạ chung”, thì ở bản VHv.1267 còn có thêm 2 tờ (73 và 74) nội dung in bài Bạt và ghi tên các tín chủ đã đóng góp tiền của cho việc in kinh, tên người đứng đầu là bà Nguyễn Thị Thưởng người xã Trung Mâu (xã này thuộc huyện Tiên Du, phú Từ Sơn). Ngoài hai điểm đó thì hai bản A.3144 và VHv.1267 hoàn toàn giống nhau, và có thể xác định là cũng được in ra từ bộ ván in của Thích Như Trí (gọi chung là bản Vĩnh Thịnh) đã nói ở trên. Và liên hệ với lời ghi chú của Phúc Điền hòa thượng (đã dẫn) có cơ sở để xác định chùa Tiêu Sơn chính là nơi khắc in và tăng bản của sách.

Đáng chú ý là ở tiêu đề của bài Tựa đề là Trùng san thiền uyển tập anh tự ( Bài tựa của lần khắc in lại sách Thiền uyển tập anh). Nói là “trùng san” có nghĩa là văn bản đó từ trước đã có bản in, nay đem ra in khắc lại. Ngoài một số chỉnh lý ở mức độ không nhiều bởi một nhà nho không ghi tên – người đã viết bài Tựa – có những chứng cớ cho thấy ván khắc bản in đời Trần, như: họ của các vua Triều Lý ( Thái Tổ, Thái Tông  v.v...) đã được khắc in đúng chữ “Lý”, còn họ của nhiều nhân vật khác thì chữ Lý vẫn in là “Nguyễn”, ví dụ Thái uý Lý Thường Kiệt in là Nguyễn Thường Kiệt (tờ 65a), sứ giả nhà Tống là Lý Giác chép là Nguyễn Giác (tờ 49a). Việc đổi chép họ Lý thành họ Nguyễn là theo lệnh kiêng huý của nhà Trần ban bố năm 1232. ở truyện thiền sư Tịnh lực có câu thơ “Tự thị [....] tiên huý bất tòng” (tờ 30b). ở vị trí chữ bỏ trống đó được thay bằng ba chữ chú thích cỡ nhỏ: “Thái tổ huý”. Điều đó cho thấy rằng bản lĩnh Vĩnh Thịnh đã được phỏng theo cách viết kiêng huý từ một văn bản đời Trần: tránh chữ  “Thừa” là tên huý của Trần Thừa ( cha Trần Thánh Tông) - ông này không làm vua nhưng sử nhà Trần vẫn tông xưng là Thái tổ(1). Lại ở truyện Pháp Dung, nói vị thiên sư này trụ trì ở chùa Hương Nghiêm núi Ma Ni, phủ Thanh Hoá (nay thuộc xã Phủ Lý huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá) thì văn bia ở chùa này (thác bản No 20957) dựng năm 1124 đời Lý Nhân Tông, đề rõ là “Kiền Ni sơn Hương Nghiêm tự bi văn”.Như vậy,vì đến đời Trần kiêng huý chữ “Kiền” (theo lệnh năm 1299) là tên tước của Phụng Kiền vương Trần Liễu nên tên núi Kiền Ni đổi gọi là Ma Ni(3)

Lại ở truyện “Thông sư cư sĩ” (tờ 39b) nói: sư thị tịch năm “Hoàng triều Kiến Trung tứ niên (1228)”, cách viết “Hoàng triều” (triều vua ta) cho thấy đó là cách viết trong bản in gốc đời Trần.

Có một điều khá quan trọng: đó là văn bản đời Trần truyền lại làm gốc cho các bản Trùng san, dường như bị mất tờ bìa, do đó có thể đã mất luôn cả những điều ghì liên quan đến soạn giả hoặc người biên tập và năm in chính xác của bản in lần đầu. Riêng bản Phúc Điền đã ghi chú rõ là “Thất tập nhân danh” như đã dẫn ở trên. Cũng vì lý do đó mà hai nhà thư tịch học Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú chỉ có thể ghi là “Người đời Trần soạn”.

Tuy vậy, liệu chúng ta có thể tìm được cứ liệu gì liên quan đến soạn giả của Thiền uyển tập anh hay không? Trước chúng tôi, những người từng sử dụng Thiền tuyển tập anh hẳn là đã chú ý tìm hiểu vấn đề này. Nhưng đến nay, sau sáu bẩy thế kỷ, dường như rất ít hy vọng tìm thấy những cứ liệu cho phép đưa ra câu trả lời chuẩn xác về soạn giả của sách này.

Tuy vậy, chúng ta cũng không hẳn hoàn toàn thất vọng: chính tác phẩm hiện còn cho phép tìm hiểu được ít nhiều điều liên quan về vấn đề này. Đến đây cần phải trình bầy trước đôi nét về nội dung của sách Thiền uyển: sách này đứng về phía người soạn mà nói thì nó được làm ra để ghi chép thế kỷ, từ cuối thế kỷ Thiền tông Việt Nam trong khoảng bẩy thế kỷ, từ cuối thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ XIII. Một số điều liên quan đến quá trình du nhập Phật giáo vào Việt Nam thì hiểu biết của người viết sách còn mở rộng về trước ba, bốn thế kỷ nữa. Như vậy có thể tin được rằng soạn giả Thiền uyển tập anh là một người có học vấn uyên bác. Hơn nữa tác phẩm đó phải là công trình biên soạn của một nhà sư quan tâm đến đề tài lịch sử Phật giáo tại Việt Nam. Đọc Thiền uyển tập anh chúng ta có thể nhận ra, rất nổi bật, một nhà sư có đủ khả năng như vậy. Ngươi đó là thiền sư Thông Biện, được phong quốc sư thời Lý Nhân Tông.

Thiền sư Thông Biện (? – 1134) họ Ngô, người hương Đan Phượng (nay thuộc vùng Hoài Đức, Đan Phượng, ngoại thành Hà Nội) được triều đình thỉnh về trụ trì chùa Khai Quốc ở kinh đô Thăng Long. Bấy giờ vua Lý Nhân Tông và hoàng thái hậu Linh Nhân rất tôn sùng đạo Phật, trước sau đã cho xây dựng hơn một trăm chùa tháp, trong đó có nhiều chùa nổi tiếng như chùa núi Lâm Sơn (tức chùa Giạm) Quế Võ, Hà Bắc (1086), trùng tu mở rộng chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột, 1105), chùa Sùng Phúc (Thuận Thành Hà Bắc, 1115), tháp Sùng Thiên Diên Linh (núi Đọi, Duy Tiên, Hà Nam Ninh, 1118) v.... Đối với các thiền sư có tài đức, vua và hoàng thái hậu lại càng kính trọng, thường đích thân đến tận nơi thăm viếng hoặc thỉnh về triều để tham vấn, không chỉ riêng về Phật pháp mà cả những vấn đề quốc kế dân sinh. Thông Biện được mời về trụ trì chùa Khai Quốc là một ngôi chùa lâu đời, nổi tiếng ở kinh đô Thăng Long, là nơi các vua và hoàng tộc nhà Lý thường đến tham thiền lễ Phật. Ngày rằm tháng hai năm Hội Phong thứ năm (1096) Linh Nhân Hoàng thái hậu đến chùa thiết lễ trai tăng. Trong cuộc đàm đạo sau đó cùng các bậc kỳ túc cao tăng, thái hậu có ý muốn hỏi về lịch sử các tông phái Phật giáo ở nước ta. Bà hỏi: “Đạo Phật đến nước ta từ bao giờ? Việc truyền đạo ai trước, ai sau? Mà người niệm tên Phật, đạt tâm ấn của Tổ chưa rõ là những ai?”. Các nhà sư có mặt đều im lặng cả, chỉ một mình sư Thông Biện trả lời thái hậu. Đoạn trả lời của thiền sư Thông Biện chỉ trong khoảng vài trang nhưng đã trở thành nổi tiếng mà bất cứ những ai nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng không thể bỏ qua. Đó là cả một pho sử truyền giáo của đạo Phật đã thu gọn lại trong lòng của thiền sư Thông Biện. Dù là trong ngôn ngữ đối thoại, Thông Biện cũng đưa ra những trích dẫn cần thiết để phác họa những bước chân truyền giáo đạo Phật đầu tiên trên đất nước ta. Thông Biện dẫn lời nhà sư Đàm Thiên (Trung Quốc) nói “Xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc, khi Phật pháp mới đến Giang Đông chưa khắp thì ở Luy Lâu (thủ phú thời Sĩ  Nhiếp, 187 – 266) đã có tới hai mươi ngôi bảo tháp, độ được hơn năm trăm vị tăng và dịch được mười lăm quyển kinh rồi” (4). Đó quả thật là một trung tâm Phật học khá phát triển! Tiếp theo, Thông Biện kể tên một số nhà sư Ấn Độ và Trung Á như Ma Ha Kỳ Vức (Mahajivaka), Tăng Hội (người gốc nước Khương Cư, tức Sogdiane, Trung Á), Chi Cương Lương (Kalaruci) v.v... Thông Biện cũng đã nhắc đến một vài người đại diện trong đương đại để tóm tắt phả hệ của các thiên phái Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) và Vô Ngôn Thông ở nước ta. Có thể thấy rõ đó là nhà sư có tài sử học nổi bật trong số các thiền sư được nói đến trong Thiền uyển tập anh. Với một hiểu biết phong phú như vậy, có cơ sở để tin rằng, bằng cách nào đó ông cũng sẽ ghi chép lại để cho các thế hệ mai sau tìm hiểu về những người có công lai danh tiếng trong vườn thiền. Mà quả thật ông đã làm một việc như vậy: ở truyện thiền sư Biện Tài có chú lưỡng cước cho biết ông là người “nối” pháp tự của quốc sư Thông Biện, từng vâng sắc chỉ biên sửa sách Chiếu đối lục(5). Lại một chỗ khác, ở truyện thiền sư Thần Nghi (? – 1216) đệ tử của Thường Chiếu, có đoạn cho biết khi Thường Chiếu sắp viện tịch, nhân Thần Nghi khẩn thiết muốn biết rõ các đời truyền pháp, Thường Chiếu “bèn lấy tập sách Chiếu đối lục của sư Thông Biện và những điều (tự mình) ghi chép các tông phái để phân biệt thế thứ nối pháp của các dòng” (6) đưa cho Thần Nghi xem. Liên Hệ với đoạn ghi thiền sư Biện Tài vâng sắc chỉ biên sửa sách Chiếu đối lục (đã dẫn) ta biết rõ hơn sách Chiếu đối lục ấy là do quốc sư Thông Biện biên soạn. Trải qua các đời truyền nối, tập sách ấy đã đến tay Thường Chiếu, một thiền sư cũng có hứng thú đặc biệt đối với việc nghiên cứu lịch sử truyền thừa.

Thường Chiếu “? – 1203), họ Phạm, người hương Phù Ninh (nay là xã Phù Ninh, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Ông là vị thiền sư thế hệ thứ 12 dòng Vô Ngôn Thông, đã đến trụ trì ở chùa Lục Tổ hương Dịch Bảng (này là xã Đình Bảng, huyện Từ Sơn, Hà Bắc), vốn là một trung tâm cổ xưa của phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Chính nhờ vậy, ngoài thế thứ, tiểu truyện của  các thiền sư thuộc doanh minh, Thường Chiéu có có điều kiện để sưu tập tiểu truyện của các vị khác thuộc phái Tì Ni Đa Lưu Chi. Và ngoài việc được truyền giữ tập Chiếu đối lục của Thông Biện, Thường Chiếu còn tự mình “ ghi chép các tông phái để phân biệt thế cứ nối pháp của các doành” (đã dẫn). Đó là cơ sở để Thường Chiếu soạn tập Nam tông tư pháp đồ. Tác phẩm này đã được ghi trong Nghệ văn chỉ (7)Văn tịch chí, mặc dầu ngày nay không còn, nhưng có thể biết là nó cũng thuộc thể loại ghi chép các thế hệ truyền thừa, Lê Quý Đôn ghi vào loại PHương kỹ có lẽ chỉ là vì thuận tiện ghi tiếp sau sách Thích đạo khoa giáo của cùng một soạn giả.

Thiền sư Thần Nghi (? – 1216) đã gìn giữ cả hai tập tài liệu quý báu đó (Chiếu đối lục của Thông Biện và Nam tông tự pháp đồ  của Thường Chiếu). Trước khi viên tịch, Thần Nghi đã truyền lại cho đệ tử là Ẩn Không thiền sư. Ẩn Không người huyện Na Ngạn (nay là huyện Lụ Ngạn tỉnh Hà Bắc) người đương thời thường gọi là Na Ngạn đại sư.

Đến đây nguồn tư liệu ghi chép lịch sử truyền thừa hầu như dồn lại cả ở thiền sư Ẩn Không. Và vị này có khả năng là người đã hoàn chỉnh cuốn sách, thực hiện ý nguyện biên soạn tập tiểu truyện các thế hệ truyền thừa ở nước ta mà thiền sư Thông Biện đã khởi thảo. Một điều đáng tiếc, nhưng cũng thú vị, là trong tập Thiền uyển không thấy có tiểu truyện của Ẩn Không là người định cảo tập sách này nên ông không tự viết tiểu truyện về bản thân minh. Trong một chú thích liên quan đến tiểu sử Thần Nghi và Ẩn Không, nhà sử học Hoàng Xuân Hãn cũng từng nêu ý kiến: “Phải chăng tác giả sách Thiền uyển tập anh là vị này?” (8) (Chỉ Ẩn Không). Có thể tin chắc Ẩn Không  đệ tự của Trần Nghi  còn sống đến đầu đời Trần. Do đó Ẩn  Không còn có thể chép được tiểu truyện của Thông Sư cư sỉ mất năm Mậu Tí, niện hiệu Kiến Trung thứ  (1228) đời Trần Thái Tông. Và khi Ẩn Không ngừng việc biên soạn thì ứng vương cư sĩ (tức Đỗ Văn, thuộc thế hệ thứ 15 dòng Vô Ngôn Thông, người cuối cùng của thiền phái này được chép trong Thiền uyển) còn sống bởi vì không thấy chép năm mất của Ứng vương, nhưng cho biết Ứng vương từng “làm quan Trung phẩm phụng ngự dưới triều Chiêu Lăng”. Chiêu Lăng là tên lăng của vua Trần Thái Tông, do đó ta còn có thể biết thêm Ẩn Không đã thực hiện việc biên soạn sách này khoảng thời gian không lâu sau khi Trần Thái Tông mất - (1277).

Nói tóm lại, chúng ta chúng ta có thể hình dung cuốn Thiên uyển tập anh này đã trải qua một quá trình biên soạn: khởi thảo bởi thiền sư Thông Biện, chuyển tiếp qua các thiền sư Biện Tài, Thường Chiếu, Thần Nghi, đến ẩn Không (tức Na Ngạn đại sư) là người cuối cùng hoàn thanhf việc biên soạn.

Theo cách nhìn nhận đó, có thể đoán định rằng sau khi ẩn Không biên soạn xong, tập sách đó vẫn tồn tại ở dạng bản thảo chép tay trong một thời gian khá dài, tương ứng với một thời kỳ hưng thịnh mới của Phật giáo đầu đời Trần. Ngày nay chúng ta có thể biết Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần có ngọn nguồn từ Thiền phái Vô Ngôn Thông. Nhưng với uy tín lớn của Trúc Lâm đệ nhất tổ (tức Trần Nhân Tông) cũng như các vị tổ tiếp theo ( Pháp Loa, Huyền Quang) và các thiền sư nổi tiếng khác đầu đời Trần, tập Thiền uyển chỉ bao gồm tiểu truyện của các thiền sư từ đời Lý trở về trước có thể chưa tìm thấy một thời điểm thích hợp để vấn thế. Do đó Thiền uyển tập anh tuy đã có định bản vẫn còn phải do các đệ tử thân tín của ẩn Không cất giữ trong khoảng 50-60 năm nữa mới được khắc ván in để lưu hành.

Đọc bản Trùng san đời Vĩnh Thịnh ở cuối truyện Vô Ngôn Thông (tờ 5a) sau dòng ghi năm tháng viên tịch của vị thiền sư này, chúng ta thấy hơn một dòng, gồm 22 chữ: “Nhị thập bát niên hựu chí Khai Hựu Đinh sửu nhị thập tứ niên, ngã Việt thiền học tự sư chi thuỷ” (hai mươi tám năm, lại đến [hoặc cho đến] năm Đinh Sửu niệm hựu Khai Hựu hai mươi bốn năm [hoặc  năm thứ 24], (Thiền học nước ta từ Sư là người mở đầu). Đấy quả thật là một dòng ghi chép rất khó hiểu, vì tính từ khi Vô Ngôn Thông mất (năm 820), các số năm kê trên dù ghép với bất cứ sự kiện, niện đại nào cũng thấy không khớp. Trong phần khảo luận ở trước tập Thơ văn Lý Trần tập I, khi viết về Thiền uyển tập anh ông Nguyễn Huệ Chi đã chú ý đến câu này, nêu rõ trong đó có đến mấy điều vô lý, như từ Vô Ngôn Thông đến niên hiệu Khai Hựu (1329 – 1341) mà chỉ cách nhau 28 năm? niên hiệu Khai Hựu chỉ có 13 năm mà ở dòng ấy lại ghi năm thứ 24?, đã phải nhận xét rằng: “Có thể câu văn này đã bị chép lẫn lộn đến mức sai lạc cả cú pháp lẫn nội dung. Tuy vậy hai chữ Khai Hựu thì không thể sai được”(9). Có điều khác là ông Nguyễn Huệ Chi cho đó là năm biên soạn tác phẩm, còn chúng tôi qua việc tìm hiểu quá trình hình thành tác phẩm mà nhận định rằng Thiên uyển tập anh đã được biên soạn xong năm sau chục năm trước đó, còn năm Khai Hựu Đinh Sửu (1337) chỉ là năm tác phẩm được in ra, lúc này ẩn Không thiền sư đã qua đời và công việc khắc in là do các đệ tử thân tín của ông thục hiện.

Sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, các bậc danh nho như Nguyễn Trãi, Phan Phu Tiên, Lý Tử Tấn nhặt nhạnh trong giấy tàn sách nát, gắng sức sưu tập di tác thơ văn của người xưa, nhưng chưa thấy nói đến mảng thư tịch của nhà phật. Đến Trích diễm thi tập đã thấy Hoàng Đức Lương nhận xét: “Sách vở về Đời Lý, Trần, loại được truyền bá rộng rãi phần nhiều chỉ là sách chép việc nhà Phật...” (10)Nhưng trong Trích diễm thi tập không có thơ văn thời Lý thì chứng tỏ Hoàng Đức Luơng không tìm thấy hoặc không chú ý đến Thiền uyển tập anh. Và tác phẩm này vẫn nằm trên giá sáchcủa những thiền viện nào đó cho đến tận đầu thế kỷ XVIII. Bây giờ văn bản Thuyền uyển tập anh đã rất hiếm, và may mắn là một bản đã đến với nhà sư Thích Như Trí để làm gốc cho bản Trùng san đời Vĩnh Thịnh.

Gần 60 năm sau, trong thời gian soạn Toàn Việt thi lục (1768) Lê Quý Đôn đã dùng Thiền uyển tập anh có phần chắc đó là bản Vĩnh Thịnh. Là nhà văn hiến học lỗi lạc, Lê Quý Đôn phát hiện ngay tác phẩm này là một kho chứa văn học đời Lý. Trong lời Lệ ngôn của Toàn việt thi lục ông viết:

“Nước ta từ khi gây dựng, văn minh không kém gì Trung Quốc. Bài Từ vua Tiền Lê tiễn Lý Giác nhà Tống, lời lẽ nõn nà, có thể vốc được... Hai vua Thánh Tông, Nhân Tông nhà Lý đều giỏi sách, hay thơ, nhưng nay không biết tra tìm vào đâu, chỉ thấy sách Thiền uyển tập anh còn chép được của Thái Tông hai bài của Nhân Tông hai bài”(11).

Kết quả là trong tập thi tuyển đồ sộ đó, nhờ sử dụng Thiền uyển tập anh Lê Quý Đôn đã sưu tập được 14 bài của 11 tác giả hầu hết là các thiền sư đời Lý như Vạn Hạnh, Không Lộ, Mãn Giác v.v... là một thành quả đầu tiên trong việc sưu tập thơ văn đời Lý, dù Lê Quý Đôn chỉ đặt nó vào phần phụ lục ở cuối quyển 4, nhưng không vì thế mà sự mở đầu đó kém phần quan trọng.

Sau này trong một hợp tuyển gọn hơn, là Hoàng Việt thi tuyển (1825), Bùi Huy Bích, căn cứ vào Toàn Việt thi lục tuyển lại 7 tác phẩm của 7 nhà thơ đời Lý. Cho đến lúc chữ hán kết thúc sứ mệnh lịch sử ở nước ta (1919), lại bắt đầu một quá trình mới để giới thiệu di sản thơ văn của người xưa. Từ Đinh Văn Chấp trên Nam Phong năm 1927 đến Ngô Tất Tố trong Văn học đời Lý  (Nxb. Mai Lĩnh, 1942), chủ yếu đã dựa vào Thiền uyển tập anh đ giới thiệu thi phẩm của các tác giả đời Lý. Nhưng phải đến bộ Thơ văn Lý Trần do Viện Văn học chủ trì thì di sản thơ văn của thời kỳ này mới thực sự được sưu tập, giới thiệu trên quy mô lớn. Đến nay, tuy sách chưa xuất bản đủ bộ, nhưng về thơ văn đời Lý thì đã thực hiện xong ở tập I. Các soạn giả không chỉ sử dụng những bài Lê Quý Đôn đã chép trong Toàn Việt thi lục, mà trực tiếp nghiên cứu, dịch thuật từ nguyên bản Thiền uyển tập anh, trong đó gồm 75 bài (và đoạn) thơ, kệ của 41 tác giả.

Sơ lược một vài nét về việc sưu tập giới thiệu di sản văn học đời Lý như trên, chúng ta cũng đủ thấy giá trị lớn lao như thế nào của sách Thiền uyển tập anh đối với việc chuyển tiếp, giữ gìn di sản văn học của dân tộc.

Một giọt sương lung linh trên đầu ngọn cỏ (Vạn Hạnh), cành mai bật nở trắng xoá trong đêm xuân (Mãn Giác), đến vầng trăng vắng lặng soi con thuyền vượt biển giữa không gian mênh mông (Huệ Sinh) v.v... vừa là những cảnh vật của đời thường, mà cũng là những hình tượng sâu lắng của thơ ca thiền học. Cách thiền sư – thi sĩ đã hòa tan cảm xúc của mình với thiên nhiên, đất nước và con người. Họ đã diễn tả được những khái niệm rất trừu tượng nhiều khi chỉ trong một bài kệ ngắn. Chẳng hạn Thế giới Tâm, đồng nghĩa với Như Lai tạng, tức là bản thể vũ trụ, là một khái niệm khá phức tạp nhưng vẫn được Thường Chiếu suy ngẫm bằng những hình tượng bình dị mà sâu sắc:

Tại thế vi nhân thân

Tâm vi Như Lai tạng

Chiếu diệu thả vô phương

Tâm chi cánh tuyệt khoáng.

(Ở thế là nhân thân

Tâm là Như Lai tạng

Chiếu dọi khắp muôn phương

Nừu tìm không thấy bóng)

Cả khái niệm không gian, thời gian vô cùng vô tận, chuyển hóa, trường tồn đã đọng lại trong bốn câu thơ nổi tiếng của thiền sư Mãn Giác (1052 – 1906):

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đáo bách hoa khai

Sự trục nhãn tiền quá

Lão tòng đầu thượng lai

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

(Xuân ruồi trăm hoa rụng

Xuân tới trăm hoa cười

Trước mắt, việc đi mãi

Trên đầu, già đến rồi

Đừng tưởng xuân tàn, hoa rụng hết

Đêm qua, sân trước, một nhành mai).

Ngô Tất Tố dịch.

 

Đó là vài nét về thành tựu văn học đời Lý mà phải có nhiều chuyên khảo mới có thể phát hiện, khám phá hết cái hay, cái đẹp. Và khác với một vài ngộ nhận, một trong những cái hay cái đẹp đó phải chăng là sự lạc quan, niềm tin đợi ở sự bừng sáng của mặt trời trí tuệ trong tâm mình?

Ngày nay đọc Thiền uyển tập anh mà thấy tập ấy ghi chép tiểu truyện và tác phẩm của các nhà sư – thi sĩ đời Lý thì không có gì lạ. Lê Quý Đôn viết: “Đinh tiên Hoàng lúc mới bình định được cả nước liền xếp đặt phẩm cấp tăng và đạo, Ngô Chân Lưu và Trương Ma Ni làm tăng thống, tăng lục; Đặng Huyền Quang làm uy nghi. Sau đó Lê Đại Hành kế tiếp cũng rất tôn trọng tăng đạo... Câu thơ của sư Thuận làm cho sứ thần nhà Tống phải kinh phục, văn từ của Chân Lưu vang tiếng trong một thời, Vạn  hạnh biết lời sấm thay đổi ngôi vua...” (12) các nhà sư có đức vọng được vua phong làm quốc sư, đại sư như Viên Thông, Minh Không, Thông Biện, Mãn Giác... Hộ là những người đã góp phần thực hiện những chủ trương chính trị được lòng dân trong các đời vua đầu triều Lý, có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành và phát triển nền văn hóa, văn minh Đại Việt thời đại Lý Trần. Không chỉ riêng tín ngưỡng đã ăn sâu hàng nghìn năm trong dân gian, mà cả tâm lý, phong tục, tập quán, văn học bác học, văn học dân gian cũng mang những dấu ấn không thể phai mờ của Pháp giáo.

Về phương diện sử học, Thiền uyển tập anh cũng là một tài liệu quý giá để nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Sách ghi chép các tông phái Phật giáo Thiền tông ở Việt Nam trong khoảng bẩy thế kỷ (từ cuối thế kỷ VI đến đầu thế kỷ XIII). Nhưng không chỉ có thế, qua lời kể của quốc sư Thông Biện (đã dẫn ở trên) chúng ta có thể biết được, dù sơ lược, tình hình du nhập Phạt giáo vào Việt nam từ giữa thế kỷ thứ II trở về sau. Lời kể của sư Thông Biện là một tư liệu bản địa rất quan trọng để từ đó chúng ta có thể sử dụng những tài liệu tham khảo khác của Trung Quốc như Lý hoặc luận của Mâu Bác (cuối thế kỷ II), Hoằng minh tập  của Tăng Hựu, Quảng Hoằng minh tập của Đạo Tuyên (đời Đường) v.v.. để bổ túc sử liệu Phật giáo trong giai đoạn này. Nhưng một thời kỳ dài từ cuối thế kỷ thứ VI, nói chính xác hơn là từ năm 580 khi Thiền sư Ấn Độ Tì Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) đến chùa Pháp Vân (tức chùa Dâu) cho đến trước đời Trần thì nguồn sử liệu tổng hợp về Phật giáo Việt Nam quan trọng nhất chính là bộ Thiền uyển tập anh này. Nhờ việc ghi chép các thế hệ truyền thừa tương đối chi tiết, phân định dòng phái khá rõ ràng cùng những chi tiết về tiểu sử sự nghiệp và phương pháp tu trì của các thiền sư, chúng ta có thể có một sự hình dung có hệ thống và không đến nỗi mờ nhạt về tình hình Phật giáo ở nước ta trong giai đoạn nói trên. Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi (cũng gọi là dòng Thiền Nam Phương) phát triển sớm qua hai mươi thế hệ từ sư tổ sáng lập dòng phái đến thiền sư Y Sơn (? – 1213) đã gây được một ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử truyền thừa, đã cống hiên những thiền sư có công với đất nước như Sùng Phạm (1004 – 1087), Vạn Hạnh (? – 1018), Huệ Sinh (? – 1063). Minh Không (1066 – 1141), Khái Hỷ (1067 – 1140), Viện Học (1050 – 1113), Viên Thông (1080 – 1151), v.v...

Thiền Sư Vô Ngôn Thông đến chùa Kiến Sơ (xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội) sau Tì Ni Đa Lưu Chi 240 năm, nhưng ngôi chùa này từ đó trở nên nổi tiếng vì dòng Thiền mang tên ông, tuy muộn nhưng lại có con đường riêng để phát triển ảnh hưởng ngày một sâu rộng, và có thể nói càng về sau càng có thế lực hơn. Qua 16 thế hệ truyền thừa, chỉ kể từ thời độc lập, Thiền phái này đã có những nhà sư nổi tiếng như Khuông Việt đại sư (Ngô Chân Lưu), Thiền lão, Viên Chiếu (999 – 1090), Chứu Chỉ, quốc sư Thông Biện (? – 1134), đại sư Mãn Giác (1052 – 1096), Đạo Huệ (? – 1172), Bảo Giám (? – 1173), Quảng Nghiêm (1122 – 1190), Thường Chiếu (? – 1203), Hiệu Quang (? – 1221), đặc biệt vị thiền sư cuối cùng này là người mở đầu cho dòng thiên Yên Tử sẽ phát huy ảnh hưởng rực rỡ dưới triều Trần, tạo ra những đỉnh cao mới đáng tự hào nhất của Thiền học Việt Nam.

Thiền uyển tập anh cũng ghi chép cả thiền phái Thảo Đường với 6 thế hệ truyền thừa. Dòng thiền này chỉ phát triển dưới triều Lý với phạm vi hoạt động hạn hẹp, nhưng lại có ảnh hưởng khá quan trọng tại cung đình, vì chính vua Lý Thánh Tông (ở ngôi: 1054 – 1072) là người trực tiếp kế thừa và có ý thức truyền lập riêng một tông phái. Đáng tiếc là Thiền uyển tập anh chỉ dành chưa đến hai tờ để kê sơ lược các thế hệ của Thiền phái này mà thôi.

Gần 20 thế kỷ tồn tại và phát triển, lịch sử Phật giáo là một bộ phận không thể tách rời của lịch sử văn hóa, lịch sử tư tưởng mà các nhà khoa học ngày nay quan tâm nghiên cứu. Cuốn Thiền uyển tập anh vì thế đã được các nhà viết lịch sử Phật giáo Việt nam chú ý tham khảo sử dụng. Chỉ kể thời gian hơn một thập kỷ gần đây đã có cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang (13) và cuối Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học vừa được xuất bản (14). Trong công trình mới nhất này những phần liên quan đến Thiền uyển tập anh đã được nhà nghiên cứu Phật học Minh Chi và giáo sư Hà Văn Tấn giới thiệu sử dụng, qua đó đưa ra những phân tích, nhận định về đặc thù của các dòng phái Thiền tông, ảnh hưởng qua lại giữa các dòng phái đó, cùng những ý kiến đánh giá ý nghĩa quá trình phát triển Phật giáo thời Lý Trần trong lịch sử nước ta.

Qua một số ý kiến trình bày trên đây, có thể thấy rằng dù Thiền uyển tập anh chỉ khiêm tốn là một tập truyện ký về các vị thiền sư nhưng giá trị văn hiến của nó lớn lao biết chừng nào! Có thể nói nó đã góp phần quan trọng để đạt tới những thành tựu nghiên cứu, biên khảo về văn học, sử học thời Lý Trần mà chúng tôi đã giới thiệu ở trên. Tuy vậy, chính tác phẩm Thiền uyển tập anh thì từ trước đến nay lại chưa có điều kiện xuất bản dịch. Vì vậy nhà xuất bản Văn học đã ủy thác công việc đó cho chúng tôi. Thực hiện công việc này, chúng tôi có điều kiện thuận lợi là đã tham khảo, sử dụng được các bản dịch thơ của các nhà thơ, nhà nghiên cứu đã công bố trong mấy chục năm gần đây mà ở phần trên chúng tôi đã nói tới, và về sử học thì những công trình đã giới thiệu cũng là nguồn tham khảo giúp ích nhiều cho công việc của chúng tôi. Nhân đây xin trân trọng cám ơn chang các tác giả những công trình đó. Riêng đối với các bản dịch thơ, chúng tôi chọn lấy bản dịch nào đều xin trân trọng đề tên dịch giả và kèm theo chữ tắt ghi xuất xứ(15). Một số ít chưa có bản dịch được công bố, hoặc cần có bản dịch theo đúng thể thơ của nguyên bản thì do chúng tôi thực hiện (không ghi tên dưới bản dịch như các bản khác).

Chuyển mã một văn bản cổ hàm chứa những tư tưởng triết học, văn học sâu sắc tinh tế như Thiền uyển tập anh tất là công việc khó, nhiều trường hợp vượt quá tầm hiểu biết của chúng tôi. Mừng thay là bản dịch đã được nhà nghiên cứu Phật học Minh Chi, Trưởng Ban Phật giáo Việt Nam thuộc Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam góp ý, sửa chữa, nhuận chính cho một lần cuối. Xin phép được ghi tại đây công đức của Cư Sĩ cùng là sư khích lệ, giúp đỡ của các đồng chí Nguyễn Bỉnh Khôi ở Nxb. Văn học, Mai Xuân Hai ở Viện Hán Nôm đối với nhóm dịch chúng tôi. Tuy vậy có thể vấn còn sai sót do trách nhiệm của nhóm dịch, kính mong quý vị cao minh chỉ chính cho.

Trong điều kiện kinh phí dành cho việc in ấn loại sách giới thiệu di sản văn hóa cổ còn hạn chế, chúng tôi đặc biệt cảm ơn Hòa thượng Thích Thanh Tứ, Đại đức Thích Thanh Ninh, Đại đức Thích Thanh Quyết và các vị công tác tại cơ quan Trung ương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối hợp với Nhà xuât bản Văn Học để có thể xuất bản cuốn Thiền uyển tập anh này trong đầu Mùa xuân năm 1990, năm hứa hẹn nhiều triển vọng tốt đẹp của đất nước. 

NGÔ ĐỨC THỌ


 


(1) Lê Quý Đôn - Đại Việt thông sử. NXB Khoa học xã hội, 1987, tr.111.

(2) Xem: Trần Văn Giáp – Le Bouddhisme en Annam des origines au XVIIIe siecle. Bulletin de l’Ecole Frâncise d’Extrême – Orient. Tom XXXII Fasc 1. H, 1932; p.193.

(3) Trong Lý Thường Kiệt (H. Sông Nhi. 1949) ông Hoàng Xuân Hãn cũng đã xác   định tên núi Ma Ni trong TUTA chính là núi Kiền Ni.

(4) Xem truyện Quốc sư Thông Biện trong sách này.

(5) : Xem truyện thiền sư Biện tài và thiền sư Thần Nghi trong sách này.

(6) : Xem truyện thiền sư Biện Tài và thiền sư Thần Nghi trong sách này.

(7) Đại Việt thông sử (Sđd) tr.112; chưa rõ tại sao lại ghi “Thường Chiếu người đất Minh Hương” (?), chắc không nhầm do Lê Quý Đôn vì ông dùng TUTA, biết rõ quê quán của Thường Chiếu.

(8) Xem: Hoàng Xuân Hãn. Văn Nôm và chữ Nôm đời Lê. Tập san Khoa học xã hội, số 7 (Paris, 10-1980) tr.106.

(9) Xem: Thơ văn Lý Trần, Tập I, Nxb. Khoa học xã hội, 1977,tr.117.

(10) Xem Tựa Trích diễm thi tập, trong thơ văn lý Trần, tập I (sách đã dẫn) tr.17.

(11) Toàn Việt thi lục Lệ ngôn; Thơ văn Lý Trần Tập I (Sđd), tr.24.

(12) Lê Quý Đôn – Kiến văn tiểu lục, Phạm Trọng Điềm dịch. H., Nxb. Sử học, 1962. tr.453.

(13) Xem: Nguyễn Lang – Việt Nam Phật giáo sử luận. Tập I. Sài-Gòn, NXB. Lá Bối, 1974.

(14) Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Nguyễn Tài Thư chủ biên. Hà Nội, NXB. Khoa học xã hội, 1988.

(15) Chúng tôi sử dụng các chữ tắt sau đây: VHĐL (Văn học đời Lý của Ngô Tất Tố, Sdd); TVLT1 (Thơ Văn Lý Trần, Tập 1, Sđd); LSPGVN (Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Viện Triết học, Sđd); TSVN (Thiền sư Việt Nam của Thanh Từ; Tu viện Chơn Không xb., S., 1973); cũng dùng chữ tắt TUTA để chỉ văn bản Thiền uyển tập anh (bản Vĩnh Thịnh ĐNTU để chỉ bản Đại Nam Thiền uyển truyền đăng của hòa thượng Phúc Điền (đã nói ở trên)

 

---o0o---

 

Mục Lục > Quyển thượng > Quyển hạ

 

---o0o---

Vi tính: Quảng Đại, Quảng Khánh, Quảng Tuệ, Diệu Đại

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-06-2005

 

(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang lịch sử Phật Giáo >>