Phật Học - Thanh Văn.

 

... .

 

THINH VĂN

(śrāvaka)


Thích Đức Thắng
---o0o---

 

Thinh Văn là chỉ cho các vị đệ tử của đức Đạo sư khi còn tại thế, nhờ nghe âm giáo dạy dỗ của đức Đạo sư mà các ngài chứng ngộ. Như vậy Thinh Văn có được do nơi sự thích nghĩa mà có từ Phạn ngữ śrāvaka được phiên âm là Xá-la-bà-ca dịch là đệ tử. Theo các nhà phát triển sau này thì Thinh Văn đã trở thành một trong năm thừa được các Ngài phân loại theo những lời dạy do đức Đạo sư nói ra trong vòng bốn mươi lăm năm, tuỳ thuộc vào căn cơ của đệ tử mà ứng hiện qua năm pháp môn đối trị chính, được gọi giáo lý nền tảng chuyên chở chúng sanh này ra khỏi bờ mê chóng quay về bờ giác được các Ngài gọi là thừa, đó là:

1/ Pháp Tam quy ngũ giới, vận chuyển chúng sanh ra khỏi tam đồ (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, còn gọi là hoả đồ, đao đồ, huyết đồ), tứ thú ( địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, a-tu-la) mà sinh về Nhơn đạo gọi là Nhơn thừa (manuya-yāna).

2/ Pháp Thập thiện, tứ Thiền, bát Định vận chuyển chúng sanh ra khỏi bốn châu trong Nhơn đạo (Nam thiệm bộ châu, Bắc câu lô châu, Đông thắng thần châu, Tây ngưu hoá châu) mà đến các cõi trời gọi là Thiên thừa (deva-yāna).

3/ Pháp tứ Đế vận chuyển chúng sanh ra khỏi ba cõi (cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc) đến nơi hữu dư Niết-bàn mà thành A-la-hán gọi là Thinh văn thừa (śrāvaka-yāna).

4/ Pháp thập nhị Nhân duyên vận chuyển chúng sanh ra khỏi ba cõi, đến nơi vô dư Niết-bàn mà thành Bích Chi Phật gọi là Duyên giác thừa (pratyeka-buddha-yāna).

5/ Pháp môn Bi trí của Lục độ vận chuyển chúng sanh ra khỏi cảnh giới ba cõi của ba thừa để đến Vô thượng Bồ-đề, bờ bên kia của Đại Bát Niết-bàn gọi là Bồ-tát thừa (bodhisattva-yāna). Ở đây Thinh văn thưa thuộc thừa thứ ba của năm thừa.

Theo Đại thừa Nghĩa chương 17 thì, danh nghĩa của Thinh văn được giải thích theo ba cách:

1/ Dùng nhân duyên đắc đạo để giải thích thì, các hàng đệ tử của Ngài nhờ nghe âm thính thuyết giáo của đức Đạo sư mà ngộ giải đắc đạo nên gọi là giải thích là Thinh văn.

2/ Dùng quán chiếu là pháp môn để giải thích, như Thập địa kinh luận 4 thì, chúng sanh, vì chỉ dùng danh xưng nên phải dùng âm thinh để nói, đối với âm thinh mà ngộ giải cho nên gọi là Thinh văn.

3/ Dùng ký thuyết (thọ ký) khi giáo người khác (đệ tử) mà giải thích, như kinh Pháp hoa 2, phẩm Tín giải thì, dùng âm thinh Phật đạo để khiến cho tất cả chúng sanh được nghe cho nên gọi là Thinh văn (nghe âm thinh).

Trong ba cách giải thích này thì hai cách giải thích trước là lối giải thích theo Thinh văn Tiểu thừa, còn lối giải thích thư ba là lối giải thích của Bồ-tát và, ở đây cũng tuỳ thuộc vào nghĩa của chúng mà gọi là Thinh văn.

Thinh văn nguyên chỉ cho đệ tử xuất gia của đức Phật khi Ngài còn tại thế và, sau khi đức Thế tôn thị tịch thì theo đà phát triển và phân loại của Phật giáo phát triển sau này nếu đi cùng với Duyên giác thì gọi cả hai là nhị thừa, nếu cả hai cùng đi với Bồ-tát thì gọi là tam thừa. Như trên chúng tôi đã nói Thinh văn lấy pháp tứ Đế làm đối tượng quán lý cùng tu tập ba mươi bảy phẩm đạo để đoạn trừ kiến tư hoặc, tiến lên tu tập để đoạn trừ hai hoặc (trần sa hoặc và vô minh hoặc) mà lần lượt chứng đắc bốn quả sa môn và, cuối cùng nhập vào Vô dư Niết-bàn. Giáo pháp đức Đạo sư nói riêng cho các hàng căn cơ Thinh văn nghe thì gọi là Thinh văn thừa, còn kinh đển ghi thuật lại những giáo thuyết đó thì gọi là Thinh văn tạng.

Trong các bộ kinh luận nói về Thinh văn thì có nhiều loại: có hai chủng loại, hoặc ba chủng loại, hay bốn chủng loại tuỳ thuộc vào kiến giải của các bộ phái phát triển vào lúc bấy giờ.

Theo kinh Giải thâm mật 2, trong phẩm vô tự tánh, tướng thì có loại thinh văn: Nhất hướng thú tịch Thinh văn và, Hồi hướng Bồ-đề Thinh văn.

Theo Nhập Lăng Già kinh 4 thì, có ba loại Thinh văn: Quyết định tịch diệt Thinh văn, Phát Bồ-đề nguyện thiện căn Thinh văn và, Hoá ứng hoá Thinh văn.

Theo Du già sư địa luận 73 thì có ba loại Thinh văn:  Biến hoá Thinh văn, Thệ nguyện Thinh văn và, Pháp tánh Thinh văn.

Theo luận Pháp Hoa quyển hạ của ngài Thế Thân thì có bốn loại Thinh văn: Quyết định Thinh văn, Tăng thượng mạng Thinh văn, Thối bồ-đề tâm Thinh văn và, Ứng hoá Thinh văn.

Riêng theo Văn cú Pháp hoa quyển 4 phần đầu thì Thinh văn phân ra thành năm loại:

- Quyết định Thinh văn, nhờ tu tập theo Tiểu thừa giáo lâu ngày huân tập qua nhiều kiếp đã chín mùi mà nay chứng được tiểu quả, nên gọi là quyết định Thinh văn.

- Thối Bồ-đề Thinh văn, các ngài khi xưa vốn đã tu tập theo Đại thừa, đã huân tập tích trong việc tu đạo trong nhiều kiếp, nhưng vì trong lúc tu tập trong sinh tử trở nên mệt mỏi nhàn chán không tự thắng mình tinh tấn nổ lực vương lên từ sinh tử mà bị chúng làm mỏi mệt nên tâm đạo lớn của Đại thừa bị âm mòn thối lui, chỉ còm muốn chứng lấy tiểu quả mà thôi nên gọi là thối thất Bồ-đề Thinh văn.

- Ứng hóa Thinh văn, là chỉ cho chư Phật chư Bồ-tát vì muốn hóa độ cho hai loại Thinh văn trên nên bên trong bí mật mang hành nguyện Phật và Bồ-tát, bên ngòai thì mang hình tướng Thinh văn để động viện khích lệ hai hàng trên thấu hiểu rằng đạo lý Tiểu thừa chỉ làm cho con ng7ời của mình và mọi người trở nên chật hẹp trong việc tự tu, tự chứng thôi, mà không đem những sở học, sở tu, sở chứng của mình ra để giúp đỡ mọi người. Vì vậy nên các Ngài phải ngoài hiện thân tướng thinh văn, mà bên trong thì hành bồ tát hạnh đề giúp đỡ khuến khích động viên viên hai hàng Thinh văn kể trên phải vượt qua tiểu thừa để siêu chứng Đại thừa., cho nên gọi là Ứng hóa Thinh văn.

- Tăng thượng mạng Thinh văn, là chỉ cho các hàng Thinh văn chán chê sinh tử muốn lìa sinh tử, ham vui cảnh giới Niết bàn an vui, nên chỉ muốn tu tập giáo lý Tiểu thừa và, khi đã đạt được kết quả Niết-bàn an lạc của Tiểu thừa rồi cho đó là cõi niết-bàn an vui tuyệt đối đầy đủ, nên những gì chưa được các Ngài cho là đã đạt được, những gì chưa chứng đã cho rằng đã chứng rồi đối với Đại thừa, đó gọi là Thinh văn thượng mạng.

- Đại thừa Thinh văn, vì những âm thinh về Phật đạo khiến cho các ngài tất cả không có bất cứ vị nào khi nghe qua mà muốn trụ vào hóa thành (Niết-bàn của Tiểu thừa) mà tất cả đều quay về với lý thật tướng của Đại thừa cả, nên gọi là Đại thừa Thinh văn.

Những phân loại về Thinh văn có được ở trên là chúng tôi căn cứ vào nơi giáo nghĩa kinh luận của các nhà phát triển Đại thừa để thiết lập. Sự phân loại như vậy là do các nhà Đại thừa cũng căn cứ vào giáo nghĩa căn cơ mà đức Đạo sư khi còn tại thế đã giáo huấn theo trình độ nhận thức của từng loại chúng sanh, mà Ngài ban thuốc để đối trị với từng loại căn bệnh  trong tu tập. Nhưng theo kinh luận Tiểu thừa như các bộ A Hàm cùng Phát trí luận, Lục túc luận v.v.. thì không thấy có sự phân loại Thinh văn thành nhiều loại như vậy, mà duy nhất chỉ có một Thinh văn là đệ tử xuất gia đã chứng bốn quả sa-môn hướng đến Niết-bàn tịch diệt ra khỏi ba cõi mà thôi. Trong thời kỳ đức Đạo sư còn tại thế Thinh văn được chỉ chung cho những vị đệ tử của Ngài, xuất gia cũng như tại gia đã vào hàng dự lưu Thánh chủng cho đến bốn quả Sa-môn và chứng đắc Niết-bàn đều gọi chung là Thinh văn cả, nhưng sau này khi đức Đạo sư vào Niết-bàn, trong thời kỳ phát triển giáo đòan và các bộ phái ra đời thì Thinh văn chỉ còn dành cho các vị xuất gia tu tập phạm hạnh mới gọi là Thinh văn, còn các hàng tục gia đệ tử thì trong kinh luận không thấy còn liệt kê họ vào thành phần Thinh văn nữa. Thinh văn theo các nhà Tiểu thừa thì chỉ có một chủng loại Thinh văn và, Thinh văn duy nhất dùng một thứ ngôn ngữ trong cuộc sống từ khi tu tập cho đến lúc chứng đắc Niết-bàn an ổn ra khỏi ba cõi như kinh luận Tiểu thừa ghi lại mà thôi.

Tóm lại, về ý nghĩa tu tập chứng quả Thinh văn thì giữa Tiểu thừa và Đại thừa không có sự sai khác nào trong việc định nghĩa và pháp tu tập để đưa đến đắc quả A-la-hán, nhưng chỉ có một sự khác biệt trong quan niệm về quả vị A-la-hán đã rốt ráo hay chưa rốt ráo thì, giữa các nhà Tiểu thừa và Đại thừa không nhất trí trong việc này. Theo các nhà Tiểu thừa thì coi như quả A-la-hán là quả vị tột cùng của chúng ta, trong việc giải thóat khổ chứng đắc Niết-bàn an vui và, họ quan niệm muốn đạt đến Niết-bàn an vui tịch diệt thì, phải vượt ra khỏi ba cõi này để an trụ vào một cảnh giới an vui tịch diệt ngòai ba cõi này, trong khi các nhà Đại thừ thì cho rằng quả vị A-la-hán của các hàng Thinh văn chưa phải là cõi Niết-bàn an vui cứu cánh rốt ráo theo như những phân tích của họ trong ngũ thừa giáo mà đức Đạo sư đã phương tiện dạy cho chúng ta. Đó chỉ là cảnh giới tạm thời và, chúng sẽ bị vượt qua để đi đến Niệt bàn an vui tịch diệt của Phật quả sau này nữa và, trạng thái Niết-bàn anvui tịch diệt đó bất cứ ai cũng có thể đạt được hết ngay trong ba cõi thế gian này chứ không phải đi ra ngòai ba cõi này. Và cũng vì quan niệm như vậy nên Thinh văn trong sự phân loại của các nhà Đại thừa là căn cứ trên nền tảng giáo nghĩa năm thừa giáo mà có trong khi các nhà Tiểu thừa chỉ đến A-la-hán là quả chứng cuối cùng trong tu tập nên chỉ có một Thinh văn duy nhất và cùng một thứ ngôn ngữ duy nhất về Thinh văn mà thôi.

---o0o---

Trình bày: Phổ Trí

Cập nhật: 01-03-2007

 

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

nghĩ về văn hóa tâm linh và tín ngưỡng 02 lời nói đầu tong thong an do keu goi quang ba nhung chan ly va bí mật trái tim thiêng liêng bất diệt thờ phật như thế nào cho đúng với Một bậc Thầy sáng ngời đạo hạnh tọa thiền niệm phật Tổ sư đời thứ 6 của Phật giáo buc tinh thu day cam xuc cua gs cao huy thuan gui Sống hạnh phúctheo Phật giáo hãy nghĩ rằng mọi thứ đều có thể y nghia va nguon goc cua hai vi than tai va tho tai sao gioi tre nen lam le hang thuan trong chua bo bai van hay cua chu tieu khi nho ve me den vấn đề thở và thiền mung xuan moi y nghia tinh do Nobel Y học 2016 mở ra cơ hội điều Khảo về vấn đề An trạch nhẫn nhục thế nào cho chính đáng Ẩm thực suy ngẫm về việc ô nhiễm môi trường Kỷ niệm 75 năm ngày Tổ Phi Lai viên phap luat phat giao làm gì khi chúng ta gặp thị phi nghiep chớ nên phá bỏ thai nhi dù thai nhi bị về với yên tử nhân 709 năm phật hoàng xanh hon niem hy vong Lễ húy kỵ tổ khai sơn chùa Long Hải giao ly dao phat ve tai sanh phan 1 Lạc Dương Thánh Cảnh quê hương ngài Trẻ tự kỷ dễ mắc các bệnh đường Tập hít thở để ngăn ngừa huyết áp dinh huong cho su phat trien cua phat giao viet phật Thiên thu tuyệt tác qua trinh hinh thanh dai tang kinh chu han bản phat chi 3 nghiep bao khien hon nhan tan vo can chuyện kể chàng tiến sĩ và phật pháp tim niem vui chan that 10 bài học về kỹ năng tự học từ một thiền sư trung hoa thời hiện đại niem phat mot thang phat di da cho biet vang sanh kinh le duc the ton nguoi cho con chan ly