Bốn mùa hoa giác

 

Tỳ Kheo Ni Huệ Hải  biên soạn 

 

III, MÙA ĐÔNG TỪ 15-10 ĐẾN 15-01

 

1. ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

 

1.DANH NGHĨA:

 

Đức Phật A Di Đà làm giáo chủ cõi Tây Phương Cực Lạc. Tên ngài có ba nghĩa:

1-Vô Lượng Thọ: Thọ mạng vô lượng ( tánh giác thường trụ).

2-     Vô Lượng Quang: Trí tuệ vô lượng ( tánh giác ở khắp mười phương).

3-     Vô Lượng Công Đức: Hằng sa tánh đức diệu dụng.

 

2.KINH VÔ LƯỢNG THỌ:

 

Thời Phật Thế Tự Tại Vương, vua Kiều Thi Ca nghe Phật thuyết Pháp, liền xuất gia làm Tỳ-kheo tên Pháp Tạng, phát 48 nguyện. Y nguyện tu hành sau thành Phật hiệu A Di Đà.

 

Kinh bi hoa: Quan đại thần Bảo Hải có con là Bảo Tạng, tướng tốt dị thường, xuất gia thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm  nghe Pháp, phát tâm cúng dường Phật và đại chúng 3 tháng. Bảo Hải khuyên vua nên phát tâm Bồ-đề, cầu đạo Vô-thượng. Vua nguyện thành tựu một cảnh giới cực kỳ trang nghiêm, đầy đủ phương tiện để giáo hoá chúng sanh. Bảo Tạng Như Lai thọ ký vua sẽ thành Phật hiệu A Di Đà, thế giới tên An Lạc. Bảo Hải sau này cũng thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni.

 

( Kinh A Di Đà Yếu Giải đã in riêng)

 

2.NGÀY 11-11 BIỆT KHOA CÚNG TỔ QUẢNG BÁ

( Xem trong cuốn Pháp Bảo)

 

3.NGÀY 17-11 ĐẠI ĐÀN PHỔ TẾ

 

Lễ Phật- Lễ Tổ-Khai Kinh-Tán Phật A Di Đà.

 

Toàn chúng luân phiên ngày đêm cứ mỗi loài sau đây niệm Phật 10 tràng.

 

ĐỊA NGỤC

NHỊ KHOÁ HIỆP GIẢI

 

A.     ĐỊA NGỤC VÔ GIÁN:

 

Thống khổ không ngừng, triền miên luỹ kiếp.

 

B.     TÁM ĐỊA NGỤC NÓNG:

 

Sức lửa mạnh, hòn đá vuông 3m3 bỏ vào tức thời tiêu tan, hết hạn lại vào các địa ngục phụ.

1)Đẳng hoạt: Chúng sanh móng tay sắt cào nhau rớt thịt.

2)Hắc thằng: Dây sắt chói, búa sắt chặt.

3)Chúng hợp: Hai núi ép cho thịt nát xương tan.

4)Khiếu hoán: Nấu trong vạc dầu, kêu la inh ỏi.

5)Đại hô: Nấu trong chảo sắt, liệng lên tấm sắt quay rán.

6)Viêm nhiệt: Lò sắt rực đỏ.

7)Chúng nhiệt: Ngục tốt cầm cây thiết xoa đâm tội nhân rồi để dựng đứng trong hầm lửa đỏ.

8)Xe lửa: Lột da rồi để dưới xe lửa, bánh xe nghiền nát.

 

16 NGỤC PHỤ:

 

1)Rìu búa

2)Chó sói

3)Cây kiếm

4)Rừng dao

5)Cát đen( cháy da thấu xương)

6)Phân tiểu ( sôi nóng đổ vào miệng)

7)Đinh sắt (đóng khắp thân)

8)Nước đồng sôi ( rót vào miệng)

9)Hòn sắt nóng( bắt ăn)

10)  Vạc đồng ( nấu sôi)

11)   Nhiều vạc đồng

12)  Cối đá( xay thân)

13)  Mủ máu ( nấu sôi mình ở trong)

14)  Đấu sắt nóng ( phải cầm đong lửa)

15)  Sông tro nóng ( phải gieo thân vào)

16)  Hòn sắt nóng( tay nắm sức lửa cháy khắp thân).

 

C.     TÁM ĐỊA NGỤC LẠNH

 

Cũng như địa ngục nóng, tuổi thọ như 20 hộc mè 100 năm lấy ra 1 hột. Lấy hết là hết tuổi thọ.

 

1)Án phù đà ( rét ngặt thịt nát nhừ).

2)Vi lại phù đà ( gió lạnh thổi tới, thân thành bọt nước).

3)A tra tra ( lưỡi khua ra tiếng a tra tra).

4)A ba ba ( môi đập thành tiếng a ba ba)

5)Ẩu hầu hầu ( từ cuống họng phát ra)

6)Uất ba la ( thịt như ướp đá thành mầu tái xanh).

7)Ba đầu ma ( thịt đỏ tươi).

8)Phân đà lợi ( lạnh chẻ xương trắng).

 

D.    Ngoài ra trong nhân gian có các địa ngục rải giác ở các núi, trong lòng nước, ngoài cánh đồng.

 

KINH LƯƠNG HOÀNG SÁM

 

Các địa ngục:Võng sắt, tối tăm, hang sắt, xe đao, đá nhọn, máy sắt, hầm than, rừng gai, rừng cháy, nước sôi, đá mài, than nóng, trâu cày, hổ lang, phun lửa.

 

KINH ĐỊA TẠNG

 

Thông thường ( phóng đâm), sông lửa, dao bay, tên lửa, đao binh, núi dao, bùn lầy, trâu sắt, chó sắt, lừa sắt, ôm cột đồng nung đỏ, kéo lưỡi cho trâu cày, đốt tay, đốt chân, ăn mắt, tranh cãi, nhiều sân, voi lửa, chó lửa, ngựa lửa, trâu lửa, núi lửa, đá lửa, cưa răng, giường lửa, lột da, uống máu, treo ngược, nhà lửa, nhà sắt, thành lửa, rút lưỡi, chém chặt, mổ xẻ, ngu si, khóc lóc, mỏ sắt nhọn, giếng lửa, sỏi bay, gió nóng.

 

QUỶ LOẠI

 

Ngài Anan một mình trong rừng thiền định. Chợt thấy một ngạ quỷ miệng phực ra lửa, đầu toả khói, tay chân lóng đốt lửa cháy nổ tanh tách. Nanh và móng dài như gươm, xưng tên là Diệm Nhiên Vương, nói rằng: Nếu ông đem thức ăn bố thí cho trăm ngàn ức hằng sa ngạ quỷ. Và cúng dường Tam-bảo cầu cho chúng tôi siêu thoát thì ông được tăng tuổi thọ và tu chứng quả Thánh.

 

Ngài Anan kinh sợ sớm mai bạch Phật. Phật dạy phương pháp xuất sanh, trì chú biến thực.

 

Quỷ có bậc thần thông dời núi lấp sông. Có vị ẩn hiện biến hoá kém hơn. Có vị không oai đức chủng loại vô lượng. Các chánh thần có phước đức ở núi cao sông lớn, hưởng nhân gian cúng dường. Quỷ có phước không đức như Dạ-xoa, La-sát, lị mị hưởng cúng máu huyết.

 

-   Quỷ chịu 2 chướng:

 

a)     Nội chướng: Cổ như cây kim, miệng như ngọn đuốc, bụng rộng toàn lửa. Rất khó uống ăn.

b)     Ngoại chướng: Ở trong cảnh lửa hoặc mủ máu, dao đâm gậy đánh.

 

-   Quỷ có 3 phẩm chia thành 9 loài:

 

1-     Có phước: Được ăn uống nhiều.

 

a)       Trông mong thờ cúng, đi trên hư không hoặc ở nhà xưa của mình, hoặc ở mộ địa được bà con cúng tế ( vì trước có bá thí).

b)       Ăn đờm dãi, phân uế, các thứ thiu thối.

c)       Thế lực lớn, cúng điện trang nghiêm.

 

2-     Ít phước: Được chút ít ăn uống.

 

a)       Lông kim: Tự đâm, đâm người, đau đớn cuồng chạy, lâu lắm mới được ăn chút nhơ bẩn.

b)       Lông thối: Cào vóc nhổ lông, rách da xé thịt, đau đớn ngày đêm, lâu lâu được ăn chút nhơ bẩn.

c)       Bướu lớn: Nhức nhối chảy mủ máu hôi thối, lấy ăn cho đỡ đói.

 

3-     Không phước: Chẳng được ăn uống, đói khát cuồng chạy.

 

a)       Miệng thối.

b)       Toàn thân là lửa như cây đuốc.

c)       Họng kim, bụng lớn như cái núi.

 

36 BỘ QUỶ THẦN

 

1.Vạc nước sôi nung nấu( làm nghề sát sanh hoặc có nợ không trả còn chống cự).

2.Miệng nhỏ như trôn kim.

3.Ăn đồ mửa.

4.Ăn phân.

5.Ăn lửa

6.Ăn hơi.

7.Ăn pháp ( xưa kia nói pháp cầu lợi nay đói khát chỉ nhờ nghe pháp mạng được tồn tại).

8.Khô khát thèm uống nước.

9.Hy vọng: Trông mong bà con cúng vái ( buôn bán dối trá lấy vật của người)

10.  Ăn khạc nhổ (đã đem đồ bất tịnh cúng Tăng)

11.  Ăn tràng hoa (đã ăn trộm hoa của Tam-bảo).

12.  Ăn máu (hay sát sanh)

13.  Ăn thịt

14.  Ăn nhang.

15.  Đi nhanh, lửa đốt cháy thân.

16.  Mỗi lông trong mình đều tuôn lửa.

17.  Hắc ám: Ở chỗ tối tăm có rắn cắn mổ ( xưa kia vì mưu cầu tiền bạc mà vu oan)

18.  Đại lực thần thông nhưng chịu nhiều khổ não (Ăn trộm của người này đem cho người khác).

19.  Phừng cháy ( giết người cướp của)

20.  Rình con nít đại tiện để ăn hơi khí bất tịnh.

21.  Dâm dục ( quyến rũ người làm việc này lấy tiền)

22.  Ở cồn biển ( lừa dối người bệnh)

23.  Cầm gậy hầu ( làm quan nịnh vua tạo ác).

24.  Ăn thịt con nít.

25.  Ăn tinh khí người.

26.  La-sát ( sát sanh).

27.  Ăn lửa (ăn vật của Tăng).

28.  Ở các đường hẻm ăn đồ bất tịnh.

29.  Ăn gió (ưa hứa suông)

30.  Ăn than( hành hạ tội nhân không cho ăn uống).

31.  Ăn chất độc.

32.  Ở cánh đồng.

33.  Ăn tro nóng chỗ thiêu thây người chết.

34.  Ở dưới gốc cây ( người trồng cây bá thí mình ác tâm chặt đi)

35.  Ở các nẻo đường giao thông ( bóc lột khách đi đường).

36.  Ma ra: Ma phá hoại người tu hành.

 

4. THIÊN VƯƠNG THỐNG LÃNH 8 BỘ QUỶ THẦN

 

1.Càn-thát-bà ( nhạc thần).

2.Cưu-bàn-trà (hung dữ)

3.Tỳ-xá-dà (ăn tinh khí).

4.Tiết-lệ-đa (quỷ đói)

5.Phú-đơn-na (hôi thối).

6.Dạ-xoa.

7.Quỷ truyền tống

8.La-sát (Ăn thịt người).

 

KINH ĐỊA TẠNG

 

QUỶ VƯƠNG: Mắt ác, ăn thai trứng, hành bệnh, ác độc, đa ác, đại tránh, huyết hổ, xích hổ, tán vương, phi thân, điện quang, lang nha, ăn thú vật, đội đá, chủ hao, chủ hoạ, chủ phước, chủ tài, chủ súc, chủ cầm, chủ mị. chủ sản, chủ tật, chủ mạng, chủ hiểm, ba mắt, 4 mắt, năm mắt, kỳ lợi thất, đại kỳ lợi thất, kỳ lợi xoa, đại kỳ lợi xoa, a na tra, đại a na tra.

 

KINH PETTAKKATHA

 

1. Atthíankhalika: Chỉ có bộ xương bay trong hư không, khóc la thảm thiết, chim đuổi theo mổ kẽ xương (đồ tể).

 

2. Mainsapesi: Khối thịt bị chim mổ xé( sát sanh làm kế sinh nhai).

 

3. Mainsapinđa: Cục thịt ( thợ săn).

 

4. Vicchavi: Thịt đỏ, trùng rúc rỉa.

 

5. Asloma: Lông như lưỡi dao nhọn bay lên bay xuống đâm vào thân.

 

6. Sattiloma: Lưỡi kiếm bay lên bay xuống đâm vào thân.

 

7. Usuloma: Mũi tên lên xuống.

 

8. Suciloma: Kim lên xuống (đã dùng sắt nhọn đâm thúc ngựa trâu chạy nhanh).

 

9. Cumbhanda: Ngọc hành thật to không ngồi được, cứ phải đi chim mổ rỉa ( xử oan người để đòi hối lộ).

10.  Gidhakhađi: Ăn ở trong phân (đem đồ bất tịnh cúng dường Tăng Ni).

 

11.  Okilini : Than nóng xối thân.

 

12.  Ansakabandha: Không có đầu. Mắt mũi miệng ở giữa ngực ( làm nghề đao phủ).

13.  Pabbazila: Thân lửa ( xuất gia phá giới). Những quỷ kể trên đã trả quả trong địa ngục, nay chịu dư báo từ 10 đến 500 kiếp. Trai tăng hồi hướng phước báo có thể siêu thoát.

14.  Vantãsã : Lông tóc xồm xoàm, chân tay cong queo, bụng to phềnh, răng lởm chởm, thân hôi thối, ghẻ lở, ăn khạc nhổ, ở chỗ nhơ bẩn( xả rác, nhổ bẩn trên đất chùa)

15.  Xunapà: Bụng phệ, mắt to bằng cái chén, răng bằng lưỡi cuốc, tóc phết gót, đầu to hơn thân, hôi thối tanh nồng, ăn ròng máu mủ và tử thi, nhưng càng ăn càng đói( cúng dường những thứ cấm cho người tu).

16.  Gùtha: Ở gần cầu tiêu, ăn phân máu ( xấc xược với người tu, bỏn sẻn với cha mẹ).

 

17.  Aggisala: Thân lửa bốc khói, đói khát mà không thể chết ( khinh báng Tăng Ni).

18.  Sucimlbkha: Miệng nhỏ, dài, nhọn như cây kim, thân to lớn, trọn đời đói khát ở rừng sâu ( keo rít để cha mẹ đói).

19.  Xanhại: Uống thì nước hoá lửa, ăn thì món ăn thành lửa (đã phá hoại vườn ruộng chùa).

20.  Nijha: Miệng mọc đuôi dài hôi thối chẳng bao giờ được ăn uống (ác khẩu với Tăng Ni, chế giễu người tàn tật, ly dán người giới hạnh).

21.  Sabbanka: Mình đầy ghẻ lở, ruồi nhặng bu khắp. Đói quá, lấy móng tay nhọn như dao, tự móc thịt ăn. Vừa ăn vừa khóc, càng ăn càng đói. Loại quỷ này rất nhiều ở các thung lũng, núi non và cồn bãi ( bất hiếu cha mẹ, phản bội ân nhân).

22.  Pabbanka: Thịt cứng như đất, lửa cháy đỏ, đói khát cả triệu năm ở trên núi ( chửi oan người đức hạnh).

23.  Ajagara: Thân dài như con trăn, mình lớn bằng con voi, nhiều đầu cọp chó mèo gà khỉ v.v...Khắp mình lửa cháy, đói khát trường kỳ, ngày đêm kêu khóc. Ở núi rừng cồn bãi có rất nhiều loạ này( hung dữ mẳng chửi cha mẹ và những bậc đức hạnh).

24.  Vemanika: Nửa tháng thọ vui như ở cõi trời, nửa tháng thọ khổ ở địa ngục tra khảo chúng sanh. Đói khát đau khổ vô cùng( si mê ai rủ làm tội thì làm tội, ai rủ làm phước thì làm phước).

25.  Mahiddhika: Thân đẹp như thiên tử, thần thông bay trong hư không, y phục toàn ngọc báu, nhưng thân thể hôi thối. Món ăn cứ đặt vào miệng liền biến thành sắt nóng nung đỏ, cháy xém mồm miệng ruột gan( xuất gia tà mạng, cầu danh lợi phá giới).

26.  Ahi: Mình rắn đầu người. Lớn như trái núi, giãy rụa khóc la, sống lâu trong rừng núi( sân giận phá chùa am).

27.  Nimygga: Cứ phải cắm đầu xuống hầm phân, ăn đầy bụng mới trồi lên được, rồi lại cắm đầu xuống cứ thế trọn đời (tà dâm để thống khổ cho vợ con). Tội ở địa ngục, nay là dư báo.

28.  Sukara: Đầu heo miệng lở thối, trôi nổi trong hư không, diều hâu mổ cắn ( mưu mô bóc lột người).

29.  Chataka: Không quần áo, không ăn uống, sống lâu 90 kiếp, giống quỷ này rất đông ( không kính Tam-bảo).

30.  Surruta: Ban ngày cầm búa đập nhau bể sọ, sưng nát mình mẩy. Ban đêm lửa cháy toàn thân. Đến sáng lửa tắt, lại cầm búa đập nhau ( buông lung uống rượu, chơi chọi trâu, chọi gà v.v...)

 

TỪ BI SÁM PHÁP

 

1. Mỗi bên nách đều có sắt nóng đốt thân cháy rực ( Sadi chia bánh cúng chúng, ăn trộm 2 chiếc, kẹp nách)

2. Trên vai có bình nước sôi, tự tay lấy gáo múc sối lên đầu, đau đớn than khóc( Duy na nấu sữa, đợi khách Tăng đi rồi mới chia cho chúng trong chùa).

 

Tất cả những tội trên đây đều là hoa báo, quả ở địa ngục. Chúng con cũng đã từng phạm những tội như thế. Vô minh che chướng không tự nhớ biết. Nay đầu thành niệm phật cầu xin sám hối cho bản thân, xin sám hối cho cha mẹ, Sư trưởng, đồng đàn tôn chúng thượng tôn hạ toà, xin sám hối thay thế tất cả bốn sanh sáu đạo mà quy y thế gian đại từ bi phụ.

 

BÀNG SANH

 

 

Loài rồng, chim cánh vàng.

 

A/ LOÀI CÓ XƯƠNG SỐNG:

 

1.Bốn chân:

 

Bò, trâu, sư tử, gấu, voi, hươu, nai, bò tót một sừng, lừa, lạc đà, khỉ, vượn, ròng rọc, đười ươi, cọp, beo,báo, sói, thỏ, mang ( con đỏ), nhím, chồn, cáo , ngựa, heo, dê, mèo, chó, chột, tắc kè, thằn lằn, kỳ nhông,thạc sùng, rắn mối, kỳ đà, hoẵng, rái nước, heo rừng, tê giác, trâu nước, nhái, cóc, ếch, chàng hiu.

 

2.Hai chân: Gà, vịt, ngỗng, ngan, chim

 

3.Không chân: Rắn, trăn.

 

B/ LOÀI KHÔNG SƯƠNG SỐNG:

 

Cuốn chiếu, bọ chét, rết, nhện, sâu, bọ nẹt, kiến, dán, mỗi, sùng, bọ cạp, chấy rận, ve chó, tằm, run, nhộng, ong, tò vò, phù du, mạt, sán, rệp.

Không sương sống có cánh: Bướm, chuồn chuồn, đom đóm, bù xoè, châu chấu, cào cào, muỗm, bọ ngựa, ong, mối, nắc nẻ, dế, ve sầu, muỗi, ruồi, rầy,thiêu thân, cánh cam. Bọ hung.

 

C/ LOÀI DƯỚI NƯỚC:

 

Cá, sứa, mực, cua, vọp, sò, tôm.

 

LOÀI NGƯỜI

 

Châu Á, Châu Âu, Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Úc, Nam Cực, Bắc Cực.

 

CÕI TRỜI

 

Vô sắc giới, Sắc Giới, Dục Giới.

 

 

 

KẾT NGUYỆN

(mỗi nguyện 10 tràng)

 

1. Nguyện hết thảy chúng sanh giải thoát phiền não chướng ( tham sân si) 

2. Nguyện hết thảy chúng sanh giải thoát nghiệp chướng( sát, đạo, dâm, vọng). 

3. Nguyện hết thảy chúng sanh giải thoát báo chướng sáu căn, năm ấm oan gia đối đầu.

4. Nguyện hết thảy chúng sanh không vì miếng ăn mà tạo ác. 

5. Nguyện hết thảy tà đạo trở về chánh kiến. 

6. Nguyện hết thảy chúng sanh đã hiểu đạo tiểu thừa tiến lên đại thừa. 

7. Nguyện những ai tu phạm hạnh đều được đầy đủ tam tụ giới. 

8. Nguyện những ai trót đã phạm giới không đoạ ác thú, biết sám hối trở về tịnh giới.

9. Nguyện tất cả tật bệnh tiêu trừ. 

10.  Nguyện tất cả tai nạn giải thoát. 

11.  Nguyện những cảnh giam cầm lao ngục chuyển thành an lạc tự do. 

12.  Nguyện mười phương chúng sanh thoát khỏi lưới ma cùng nhau quy y Tam-bảo.

 

Bát nhã-Hồi hướng-Tam quy

 

 

4. NGÀY 01-12 NI TỔ MA HA BA XÀ BA ĐỀ KIỀU ĐÀM DI MẪU

 

Ma-ha: Đại: Lớn. Ba Xà Ba Đề: Sanh chủ.

 

Ấn Độ thời xưa, những nhà quyền quý sanh con, thường mời Thầy tướng xem tương lai đứa trẻ. Rồi tuỳ đó mà đặt tên. Sanh chủ là chủ sự sinh sống. Bà nuôi thái tử Tất Đạt Đa từ lọt lòng đến khôn lớn. Bà là người gây dựng ni chúng trong nhân loại. Bà cùng Ma Gia phu nhân là hai chị em ruột, con vua nước Kô Sa La. Ma Gia : Ma Ra: Huyễn hoá. Ma Gia phu nhân sanh thái tử Tất Đạt Đa được 7 ngày thì mất. Một người thọ mạng non yểu, chỉ thấp thoáng hiện thân nên được tên là Ma Ra.Bà Ma-ha  Ba Xà Ba Đề vừa là dì ruột vừa là mẹ kế của thái tử.

 

Kiều Đàm Di Mẫu. Kiều Đàm đúng chữ là Cù Đàm. Di Mẫu là mẹ kế. Đức Phật họ Cù Đàm, tên Tất Đạt Đa.

 

 Sau khi vua Tịnh Phạn chứng Tu-đà-hoàn rồi mất, bà Ma-ha Ba Xà Ba Đề cũng chứng Tu-đà-hoàn rồi xuất gia, được pháp hiệu là Đại Ái Đạo Tỳ-kheo-ni.

 

Thuở ấy đức Thế Tôn ở nước Thích Xí Xấu, vườn Ni Câu Luật, bà cùng 500 quận chúa tới đảnh lễ xin xuất gia.

 

- Này Cù Đàm Di! Người nữ xuất gia hành đạo thì Phật pháp chẳng thể trụ lâu.

Thế Tôn du hành tới nước Câu Tát La, thẳng đường đến nước Xá Vệ, về ở Kỳ Hoàn tinh xá. Bà cùng 500 quận chúa, cạo tóc, mặc cà sa, từ nước Ca Tỳ La Vệ đến nước Xá Vệ, đi bộ tét chân, bụi đất đầy mình, đứng khóc ở cửa tinh xá. Ngài Anan thương xót vào bạch Phật xin cho nữ nhân xuất gia.

 

- Này Anan! Nhà nào con trai ít, con gái nhiều thì biết nhà ấy suy vi. Ruộng lúa đang tốt, gặp mưa đá sẽ bị hư hoại. Nữ nhân xuất gia thọ đại giới, Phật Pháp sẽ chẳng trụ lâu.

 

- Bạch Thế Tôn! Bà Ma-ha Ba Xà Ba Đề có ân lớn, đã thay mẫu hậu nuôi đức Thế Tôn đến ngày nay.

 

-Thật thế, song ta cũng đã đền ân, đã khiến bà biến đến Tam-bảo. Ân này thế gian không chi sánh bằng.

 

-Bạch Thế Tôn! Nữ nhân xuất gia thọ đại giới có thể được quả Tu-đà-hoàn đến A-la-hán không?

 

- Được!- nếu thế thì xin cho họ xuất gia..

 

- Phải chịu phụng hành Bát Kinh Pháp trọn đời mới được.

 

Bà ma-ha Ba xà ba Đề thưa với ngài Anan rằng: “ Trọn đời đỉnh thọ phụng trì Bát Kinh Pháp mà được giới thẩm Tỳ-kheo-ni thì có khác chi được tắm gội sạch sẽ rồi đặt tràng hoa lên đầu, Thật là bội phần trang nghiêm.”

 

Như thế Bà Ma-ha Ba Xà Ba Đề cùng 500 quận chúa được xuất gia thọ giới. Phật dạy: “ Chánh pháp đáng lẽ trụ thế 1000 năm. Nay vì cho người nữ vào đạo, chánh pháp chỉ còn 500 năm”. Ngài Anan chảy nước mắt, lễ chân Phật, nhiễu quanh Phật 3 vòng rồi lui.

 

TRUY MÔN CẢNH HUẤN QUYỂN 3, BÀI ĐỘ NI GIÁO Ý: Di Mẫu của Phật thâm chán sanh tử, cầu xuất gia. Phật không cho vì nữ tánh hèn kém. Người đời coi thường, khiến chánh pháp bị giảm mất một nửa. Sau ngài Anan xin hộ mới được. Lời Sớ nói: Nữ báo hoặc sâu chí cạn, ưa lười biếng kiêu mạn nên cần Tăng Ni mỗi bộ mười vị giới sự mới phát được thắng tâm. Theo như các luật thì chỉ có bà Đại Ái đạo được nương 8 Kính Pháp mà thành thọ giới. Còn 500 Ni kia phải nương chúng 11 vị( Tăng 10 vị và bà Đại Ái Đạo làm Hoà-thượng). Về sau, từ khi nước Sư Tử có Tỳ-kheo-ni học thông kinh luật mới đặt ra nghi thức hai chúng cho thọ giới. Vì phải có Yết ma của Đại Tăng mới đắc giới( y 8 Kinh Pháp). Cho nên Cầu Na Bạt Ma Thánh giả nói: Nếu không đủ 2 chúng thì chúng 11 vị như việc bà Đại Ái Đạo cũng được.

 

Đại Ái Đạo Tỳ-kheo-ni thường trụ ở Ca Tỳ La Vệ vì Ni Luật không cho phép du phương tham học, cũng không được đi cá nơi giáo hoá ( người nữ có cái luỵ về hình hài mà thời xưa đường giao thông rất thiếu phương tiện).

 

Bà chứng quả A-la-hán. Trong hội Pháp Hoa, bà được thọ ký sẽ thành Phật, hiệu là Nhất Thiết Chúng Sanh Hỷ Kiến Như Lai.

 

Chùa ta lấy ngày an vị thánh tượng ở Linh Quang làm ngày cúng giỗ hàng năm.

 

5.NGÀY 08-12 ĐỨC THÍCH CA THÀNH ĐẠO

 

 

Hôm nay mùng 8 tháng chạp, dưới gốc Bồ-đề, giờ sao mai mọc, chúng ta làm lễ kỉ niệm ngày đức Bổn Sư thành đạo.

 

Theo con mắt thế gian thì Phật thành đạo rồi, ngồi im lặng hưởng pháp lạc. hai mươi mốt ngày sau mới qua vườn Lộc Uyển, giảng pháp Tứ Đế cho 5 anh em ông Kiều Trần Như, gọi đây là lần chuyển pháp luân đầu tiên. Theo kinh sách đại thừa thì đức bổn sư là hoá thân của đức Lư Xá Na. Đức Lư Xá Na thành Phật đã lâu lắm rồi. Cõi Phật Lư Xá Na, Hoa Tạng thế giới, hình giống như bông sen 1000 cánh. Đức Lư Xá Na ứng hiện 1000 thân. Mỗi ứng thân giáo hoá một cánh sen. Mỗi cánh sen có ngàn trăm ức hoá thân. Đức Bổn Sư của chúng ta là một hoá thân.

 

Trong khi người thế gian thấy ngài một mình ở dưới gốc Bồ-đề thì các bồ-tát thấy ngài đang cùng vô lượng đại chúng, gồm đủ cả bốn thánh sáu phàm, giảng về 10 tín. Đồng thời ở Đao Lợi thiên cung, vua Đế Thích cùng quyến thuộc dự Pháp hội dạy về 10 trụ; ở Dạ Ma thiên có pháp hội dạy về 10 hạnh; cõi trời Đâu Suất có pháp hội thập hồi hướng; Tha Hoá Tự Tại thiên cung có Pháp hội Thập Địa v.v...như thế khắp không gian, khắp thời gian lúc nào con đường thành Phật cũng đang được vạch bày, tuỳ theo căn cơ và duyên phước chúng sanh. Pháp môn Vô-thượng Bồ-đề đang được vang vang truyền bá, không một sát na rảnh hở. Thật là diệu thuyết thường hằng.

 

Kinh Hoa Nghiêm là phương pháp tu hành thông cho cả mười phương cõi. Chẳng phải là một giáo hoá tuỳ cơ nghi. Lời dạy cùng cực xứng tánh. Đây là then chốt của nhất thừa. Vì thế sau 600 năm Phật Niết-bàn, Long Thọ Bồ-tát vào long cung, được xem bộ kinh huyền áo này, vội học thuộc đem về nhân gian truyền bá ở Ấn Độ. Chỉ cần một bài kệ cũng đủ phá địa ngục cho chúng sinh. Cất tiếng xưng 7 chữ Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh tức là đã có tổng danh của vô tận kinh tạng. Từ đó các sư đại thừa, trọn mạng sống hoằng truyền, khiến chánh Pháp mãi mãi thạnh huy.

 

Sau khi Phật thị tịch 500 năm, đạo Pháp ở Ấn Độ còn là thời chánh Pháp, thì kinh này vì chưa cần đến nên vẫn ẩn tại long cung. Hết thời chánh pháp, các Bồ-tát mới lưu thông kinh này, để vẽ đường thành Phật cho những khách còn đoạ đày trong tám nạn.

 

Trước hết kinh trình bày chánh báo và y bào không thể nghĩ bàn của đức Lư Xá Na cho chúng ta vui mừng phát tâm mong cầu. Kế là con đường tu học thập Tín, quan sát pháp giới trùng trùng duyên khởi, vô ngã, vô thường, khổ và không. Tất cả đều duy tâm tạo. Luân hồi đã do tâm tạo mà hiện có thì giải thoát cho đến Vô-thượng Bồ-đề cũng do tâm mà hành biện.

 

Được thập tín rồi tiến lên học thập trụ( 10 trùng lý Bát Nhã từ cạn đến sâu). Có thật hiểu đệ nhất nghĩa đế mới chịu an trụ vào chân lý. Trăng sáng, sông lặng, 3 con thuyền, 1 đình trụ, 1 về Nam, 1 về Bắc. Nam thấy trăng kia ngàn rặm theo về Nam. Bắc kia thấy trăng kia ngàn rặm theo về Bắc. Người đình trụ thấy trăng không xê dịch. Thế là vầng trăng bất động mà ở cả ba nơi. Như Lai ứng hiện cũng thế. Tức thể là dụng, không đâu chẳng cùng khắp. Đi hay ở tại chỗ là tuỳ duyên. Phật không động tĩnh mà vẫn khắp phó quần cơ. Như trăng kia thật vẫn ở trên trời mà chúng sanh tự thấy có trăng Nam trăng Bắc. Vì chuyên về Bát Nhã nên tịnh hạnh là thông tu của thập Trụ.

 

Dùng 10 cảnh làm duyên để tác ý quan sát: Thân, thân nghiệp; ngữ, ngữ nghiệp; ý, ý nghiệp; cùng Phật Pháp Tăng và giới. Sơ Phát Tâm trụ, công đức đã ngang với hư không.

 

Trụ nơi chân tâm bản tánh rồi, thập Hạnh dùng 10 ba la mật để phát huy công dụng. Tiếp đến đại bi khắp trùm là hồi hướng chúng sanh. mong cầu đại trí là hồi hướng Bồ-đề. Tin, Hiểu, Hạnh, nguyện đã chu viên, thân chứng chân như, tròn đủ thập địa, gọi là đẳng giác. Rồi lên Diệu giác tức là thành Phật. Cuối cùng phẩm Nhập Pháp Giới mượn một điển hình là Thiện Tài, để trình bày thứ lớp tu chứng, tất cả ngôi vị từ sơ phát tâm đến vô thượng quả.

 

Thỉnh đại chúng đọc qua vài trang chánh văn để tự thân nếm pháp vị ( chúng đọc Hoa Nghiêm kinh, phẩm Nhập Pháp Giới).

 

Văn thù nên biểu thập tín, cũng là căn bản trí, Bát Nhã trí. Tri này ai cũng sẵn đủ, chỉ cần vẹt hết vô minh thì tự hiển lộ. Văn thù cùng đi với cô lượng Bồ-tát, nêu bát Nhã dẫn đường vạn hạnh.

 

Văn thù từ lầu gác Thiện trụ mà ra. ý nói y vào tự lợi mà lợi tha, trước tự giác tỉnh sau giác tỉnh cho người. Xá Lợi phất đem 6.000 Tỳ-kheo đến yết kiến Văn thù. Xá Lợi Phất nêu biểu trí tiểu thừa trợ giúp đại thừa. Con số 6 nêu biểu 6 căn thanh tịnh có thể nhập pháp giới. Nghĩa là có căn khí đại thừa, có thể trở về chân tâm bản tánh. Văn thù dạy 10 hạnh xu hướng đại thừa. Mười câu, mỗi câu đều nhắc “hông chán mỏi”. Vì chúng sanh vô biên, pháp môn vô tận, nếu chấp tướng mà tu hay sanh mỏi nhọc, thành thoái đoạ. Nếu không chán mỏi thì Phật quả nắm chắc trong tay.

 

Thiện tài nói 34 bài tụng, đại ý thương thân trầm nịnh, thỉnh Văn Thù cứu vớt, dạy Bồ-đề đạo. Văn thù đáp toàn vẹn 10 câu hỏi: Nếu thấy nhiều Phật, nghe pháp ( 10 tín) tức có thể học, hiểu ( 10 trụ), tu trì ( 10 hạnh), thành tựu đại nguyên ( 10 hồi hướng), sẽ chứng nhập chân không chẳng ngại diệu hữu ( 10 địa) vào biển phương tiện mà an truh Bồ-đề. Lời đáp đại thành tổng giáo các pháp, hiển trong 10 tín ở văn kinh. Khuyên cầu thiện tri thức không được do dự. Bảo tìm cõi Thắng Lạc, núi Diệu Phong, Tỳ-kheo Đức Vân.

 

Thắng là siêu vượt. Lạc là an vui. Bởi vì tiến lên Sơ Trụ, sự an vui thắng vượt 10 tín. Núi tiêu biểu sự tịch tĩnh không động. Phải lên cao mới có thể thấy khắp. Sơ Trụ tâm mới hiểu giải, y định phát tuệ, tịch nhiên không động, trí giám không sót, thấu triệt nhân quả, quan sát vạn loài. Tên núi Diệu Phong vì ai lên đỉnh tâm này liền thành chánh giác. Tỳ-kheo nêu biểu đã ra khỏi phàm phu và ngoai đạo. Tên Đức Vân nghĩa là đức như mây.

 

Mây có bốn ý:

 

1)   Phổ khắp.

2)   Nhuận trạch.

3)   Che chùm.

4)   Rót mưa, nêu biểu 4 đức định, Phước, Bi và Tuệ.

 

 Vì Đức Vân là Bồ-tát Tỳ-kheo. Bồ-tát tâm lớn thường làm phước. Định và Tuệ là chỗ tu thiết yếu của Tỳ-kheo. Bắt phải cầu thiện bạn để làm quỹ tắc cho tất cả hậu lai tu hành, cầu pháp không lười mỏi. Bạn lành nói pháp không xẻn tiếc. Thiện bạn là toàn phạm hạnh như vua A Xà Thế được gặp Kỳ Bà, như vua Diệu Trang Nghiêm được gặp Tịnh Đức và Tịnh Tạng. Tự phá ngu chấp kiêu mạn, hạ mình học hỏi, khắp kính phụng sư. trong vô cầu vẫn thỉnh cầu. phá chấp thiên không, khiến tức sự thức hành, thà học ít mà chứng nhập.

 

Thiên Tài thấy Đức Vân kinh hành chậm rãi ở một ngọn núi khác, sau 7 ngày tìm kiếm ( 7 ngày nêu biểu 7 giác chi trợ đạo. Kinh hành là quán, đi chậm rãi là chỉ). Đây là ngôi Sơ Phát Tâm Trụ. Vì trí tuệ Trụ ở tánh Bát Nhã đã được bất thoái.

 

Đức Vân dạy:” Ta được tự tại quyết định giải lực, tín nhãn thanh tịnh trí quang chiếu diệu”. Đây chính bày pháp giới tức là niệm phật Tam Muội. Tự tại: Quán cảnh tự tại, tác dụng tự tại. Quyết định: Trí quyết đoán, đã được lòng tin không do dự. Giải: Hiểu rõ.Lòng tin và trí tuệ giúp nhau. Cảnh ngoài không thể động lay gọi là lực, nghĩa là tam muội. Tín nhãn thanh tịnh: Con mắt thấy rõ nên lòng tin chân chánh. Tu niệm phật tam muội trước phải chánh tín, kế dùng trí mà quyết liễu, rõ thấy phân minh.

 

Kinh Văn Thù Bát Nhã dạy niệm Phật nhất hạnh tam muội, trước nói về chân pháp giới bất động. Biết chân pháp giới không động dao là nghĩa hiểu giải quyết định trong đây. Cho nên Niệm Phật việc đầu tiên phải học Bát Nhã. Nhất Hạnh: Hệ duyên pháp giới một tướng tức là hệ duyên pháp giới bất động. Hoà-thượng Cao Tề Đại Hạnh nói rằng:” Hai chữ TIN NHỚ không lìa tâm, kinh xưng danh hiệu Phật không lìa miệng”. Phật không lìa miệng, không lìa tâm. Phật tức cứu hộ. Tâm thường nhớ Phật, miệng thường xưng danh, thân hành lễ kính, mới gọi là tin sâu. Cứ thế sớm chiều, trọn không tạm trụ ở các Pháp sanh tử. Thanh Lương quốc sư đem việc này sách tấn kẻ sơ tâm, cho đây là việc rất quan trọng.

 

Tin nhỡn khắp quan sát không gì chẳng phải là Phật. Đây là bậc thượng căn. Còn thông thường, người tu niệm Phật tam muội trước quán Hoá-thân, kế quán Báo-thân, sau mới quán pháp-thân. Đây đức vân quán cả 3 một lúc. Mắt tin thanh tịnh là đã lìa tất cả chướng ( ngũ cái và chấp thủ dù chìm dù nổi) để chứng tam muội. Kinh dạy:” Không thấy vạn pháp như huyễn thì thấy mà không thấy, đó là kẻ loá mắt”. Nếu còn phân biệt, còn chấp tướng chẳng thể thấy phật. Phải rốt ráo hoàn toàn lìa đắm trước mới thấy Phật. Tín nhỡn khắp quán vạn pháp, tánh thể đều là chân như, gọi là trí quang chiếu diệu. Thấy lìa tướng như thế tức là đầy đủ thanh tịnh nhất hạnh tam muội. Vì nhất hạnh là nhất pháp giới hạnh. Trên đây là nội dụng. Còn sau là ngoại dụng:” Đi khắp mười phương tất cả cuốc độ. Cung kính cúng dường tất cả chư Phật”. Đã cùng cực nguần tịch chiếu thì bất động mà đi, công dụng hẳn vô cùng. Thường niệm tất cả chư Phật, tổng trì tất cả chánh pháp. Thường thấy tất cả mười phương chư Phật, tổng trì tất cả chánh pháp. Thường thấy tất cả mười phương chư phật nghĩa là thường đến nên thấy tại chỗ. Thấy rõ từng sự việc như là sắc tướng quang minh, đạo tràng trang nghiêm, thần thông du hí, tuỳ tâm chúng sanh tin ưa mà thị hiện các thứ giáo hoá v.v...

 

Thiện bạn đầu tiên dạy niệm phật, vì đây là đầu vạn hạnh. Trí Độ Luận dạy rằng:” Bồ-tát lấy Bát Nhã ba la mật làm mẹ, niệm phật tam muội làm cha. Vì có y Phật mới thành các thắng hạnh”. Lại là ngôi sơ trụ duyên Phật phát tâm, vui thích cúng dường. Vì niệm Phật công cao mà dễ tiến. Vì quán Phật thông cả cạn sâu nên có thể khắp nhiếp chúng sanh. Niệm Phật tiêu diệt trọng chướng. Niệm Phật là kiêm cả niệm người và niệm pháp nên dễ gia hộ.

 

Luôn một lúc Đức Vân nêu ra 21 môn niệm Phật. Trước nói tên sau hiển tướng. Cả 21 môn đều là niệm thể và dụng vô ngại của Phật. Quán pháp-thân, Báo-thân, Hoá-thân. Mỗi thứ đều có y báo chánh báo thành 6 pháp quán. Pháp-thân thì có pháp tánh độ. Báo-thân thì Hoa Tạng các cõi là y báo, 10 thân tướng hải là chánh báo. Còn Hoá-thân thì 32 tướng hảo là chánh báo, quốc độ đang thị hiện là y báo.

 

Cảnh trùng trùng đế võng là nhập Phổ Hiền niệm Phật tam muội. Môn cuối cùng này là thông tướng. 20 môn trên là biệt tướng. Môn số 18 là tổng tướng duy tâm, thị tâm thị phật vì thị tâm tác phật. Số 19 tuỳ ngã tuỳ tâm, vì tâm có nhiều thứ nên thấy Phật có khác nhau.

 

Tông Tịnh-độ ở Việt nam giản dị theo kinh A Di Đà, chuyên niệm danh hiệu Phật để cầu vãng sanh, thuộc về sự lý vô ngại, do Hoá Thân Phật Thích Ca Mâu Ni đề xướng.

 

Ngày 08-12, cách đây 2500 năm, là ngày đức Thích Ca thị hiện thành đạo, ở dưới gốc cây Bồ-đề, hứa hẹn giải thoát vô minh cho nhân loại.

 

Ngày Tết Bô-đê!

 

Kể từ ngày ấy, cây bồ-đề được làm tiêu biểu cho chánh giác thế gian. Kể từ ngày ấy, trí tuệ loài người trên trái đất này chợt le lói như sao mai lấp lánh trong màn đêm.

 

Từ ánh sáng của sao mai, một tia hy vọng mát mẻ, báo trước thế gian tối tăm sẽ biến thành rực rỡ quang minh, tắm trong huy hoàng chiếu diệu của mặt trời trí tuệ. Cung thỉnh đại chúng ngửa lên ngắm sao mai mọc mà vui mừng. Tánh của chúng ta không phải là tối đặc, là si mê. Chúng ta là ánh sáng. Kinh Hoa Nghiêm, Phật tuyên bố câu nói lịch sử:” Lạ lắm thay! Hết thảy chúng sanh đều đầy đủ đức tướng, trí tuệ của Như Lai”.

 

Ngôi thập Tín là ánh sáng của sao mai. Thập trụ là minh tướng xuất hiện. Thập hạnh, thập Hồi Hướng là bình minh. Thập địa là thật rõ ban ngày. Đẳng Giác Diệu giác là mặt trời tới đỉnh. Ai chưa đi học cho rằng mặt trời mọc để rồi lặn. Người có học biết mặt trời không hề có mọc có lặn.

 

Ngày 08-12 tuyên bố cho thế gian biết trí tuệ chánh giác vẫn thường trụ ở khắp mười phương. Muôn loài ai cũng có tánh Phật và sẽ thành Phật.

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ( 3 lần)

 

6.CHƯƠNG TRÌNH XẢ Y CÔNG ĐỨC (16-12)

 

-   Lễ Phật - Lễ Y - Lễ 18 A-la-hán.

-   Đại chúng tạ Thầy.

-   Đáp từ.

-   Tặng quà thưởng Tỳ-kheo-ni trì y.

-   Bát Nhã - Hồi Hướng – Tam quy.

-   Chúng nhỏ giải tán.

-   Chúng Tỳ-kheo-ni lưu lại yết ma xả y công đức,

-   Vị trì y ở giữa chúng bạch:

“ Con Tỳ-kheo-ni...vì Tăng trì y công đức đã xong”.

 

 

7. ĐẠI CHÚNG BẠCH TẠ SƯ CÔ BAN THỦ

 

Kính thưa Sư cô Giám Thiền!

 

Mùa y công đức năm nay chúng Liên Hoa thực hiện  khẩu hiệu “ Im lặng – chăn trâu - xả ngã “. Rất may mắn cho chúng con được Sư cô hướng dẫn tận tình. Tuy thời gian không bao nhiêu, nhưng chúng con được nếm chút thiền vị, tập làm quen với pháp môn Tứ Niệm Xứ.

 

Thưa Sư cô! Những ngày đầu tiên chắc Sư cô phải vất vả nhiều, vì chị em chúng con bỡ ngỡ. Sư cô phải hướng dẫn, sửa chữa từng tư thế, cách ngồi, tay, chân, vai, lưng, mắt, điều hoà hơi thở ra vào, sao cho đúng pháp khỏi sanh bệnh. Những buổi trình pháp, chúng con được học thêm nhiều kinh nghiệm trong sự tu hành. Sư cô ân cần nhắc nhở chúng con:

 

-   Phải ghi niệm không được lười mỏi.

-   Phải giữ miệng im lặng, để tâm vào đề mục thiền.

-   Phải theo dõi hơi thở, không cho vọng tưởng sanh.

-   Phải cố gắng hàng phục hôn trầm.

-   Luôn luôn thắp sáng trí tuệ, soi chiếu từng hơi thở, soi chiếu tiểu oai nghi v.v...

 

Thật quý báu thay những giờ tu tập, chúng con đã tiến bộ dần. Nhờ để ý hơi thở, chúng con hàng phục được vọng tâm, khắc chế miệng đỡ nói tạp, vui vẻ hoà nhã với chị em. Nhờ để ý hơi thở chúng con thấy rõ sự sanh diệt, thấy rõ thân mạng vô thường, xây dựng trên hơi thở ra vào mong manh. Mỗi khi xúc sự, tâm muốn nổi sân, thoáng thấy Sư cô, chúng con vội nhớ lại bổn phận. Liền khởi trí quán:” Sân à! Sân à!”, “ vọng tưởng a! vọng tưởng a!?” Nhận rõ bộ mặt của chúng thì chúng khắc tan.

 

Tuy chỉ trọn vẹn có năm tháng, mà chúng con cũng đã thâm nhập được một phần nào hương vị giải thoát. Chúng con ao ước sau khi mãn khoá lại được phước duyên tiếp tục công phu, sâu vào hành pháp Tứ Niệm Xứ, để tiến dần đến Bát Nhã Trí, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ hết thảy khổ ách.

 

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

BAN THỦ ĐÁP TỪ

 

Đang khoá chuyên tu, chị em chỉ có một việc theo dõi tâm mình. Quan sát cảm giác và tư tưởng đến rồi đi, không để tâm dính mắc bất cứ một chuyện gì. Chú tâm tỉnh thức trước những sự đang xảy ra dù ngoại cảnh hay trong tâm. Hình thức tu hành tương đối khắt khe gò bó. Năm tháng vừa qua đã đưa chị em vào khuân khổ oai nghi thánh hiền.

 

Nay mãn khoá, tạm nghỉ, chị em trở về nếp sống bình thường. Chớ quên mọi việc làm, mọi tác động đều là cơ hội thực tập thiền quán. Bất cứ công việc gì, quét dọn, phị bếp, rửa chén, v.v...phải chú tâm tỉnh thức, giữ chánh niệm. Đừng nghĩ rửa nhà cầu, đổ ống nhổ chỉ ích cho người khác. Nên biết tất cả đều là giáo pháp. Đừng nghĩ chỉ mong thời khoá mới hành thiền. Không lẽ ngoài các khoá tu ta không thở sao? Ta có thể đọc sách, tìm hiểu thêm giáo lý nhưng không dính mắc vào sách vở cũng như không nên dính mắc vào định tâm. Đó là trí tuệ.

 

Định lực là dụng cụ tiến xa nhưng ngồi nhiều hay ít không thành vấn đề. Thận trọng, chớ cho tu hành mục đích là đạt đến định tâm an ổn khoái lạc. Thế là phí thời giờ. Thiền Minh Sát là phương pháp giúp ta giải thoát, do quan sát bản chất của vọng thân và vọng tâm vô thường, vô ngã. Hiểu rõ bản chất khổ vui thì Phật pháp ở ngay đấy. Nếu ta hoàn toàn mở rộng tầm mắt trước mọi diễn biến thế gian mà không yêu ghét thì ta với Phật là một. Thấy được thật tướng của vạn hữu là cốt tuỷ của học và dạy học.

 

Mở cửa tịnh thất, trở ra tiếp tục với đời sống trong chúng, chị em cần lưu tâm tránh hai điểm: nói lời vô ích và thói tụm năm túm ba. Đôi khi thấy ai có hành động không tốt, ta bất bình phán đoán, kể lể. Thế là ta đã ra ngoài giáo Pháp của Phật. Ta tự mua phiền não vô ích. Đừng bắt mọi người phải theo đúng như ý muốn của mình. Hãy quay về xem xét những cảm giác của mình. Đó là phương pháp giúp ta khai tuệ. Đang lái xe trên một con đường nhiều khúc cong. Bổn phận ta là chăm chú chớ để xe đi lệch đường. Tai nạn nguy hiểm đợi chờ.

 

Luật sadi kể chuyện: Một tam tạng Pháp sư lên chánh diện, thấy một lão tăng tụng kinh giọng ồ ề liền nói đùa: Ngài tụng kinh như chó sủa. Chỉ vì ngứa lười một lời mà 500 đời sau đoạ thân chó. Thân cuối cùng ăn vụng thịt, chủ nhân giận quá chặt bốn chân, quảng vào đống giác. Chó quàn quại đói khát mấy ngày. Ngài Xá Lợi Phất đi qua sót thương, cho ăn và vì nói Pháp. Tới khi chó chết sanh vào nhà trưởng giả, được đặt tên Quân Đề. Sau theo ngài Xá Lợi Phất xuất gia chứng quả. Vị Tam Tạng pháp sư đã đi lệch đường nên dĩ nhiên phải gặp tai nạn.

 

Cuộc đời muôn màu muôn vẻ nhưng toàn hư vọng. Phật dạy: Không nên có tâm phân biệt, đừng phán đoán. Nên giản dị quay trí sáng về theo dõi tâm mình. Phát triển lòng lành, loại bỏ thói châm chọc khinh mạn, đừng gây đau khổ cho ai. Đây là con đường bình an mãi mãi.

 

8. PHÁP TƯỚNG PHÁP TÁNH

 

Đạo Phật có 2 tông phái tựa hồ trái nhau. Pháp tướng tông thờ đức Di Lặc, chủ chương vạn pháp duy thức biến. Pháp tánh tông nhờ đức Văn Thù, chủ chương vạn pháp duy tâm tạo.

 

Vậy thế nào là tâm thức? Thế nào là tâm tánh? Kinh sách gọi tâm thức là vọng tâm, tâm tánh là chân tâm.

 

Tâm tánh là tánh của tâm, bản chất linh tri, vô phân biệt mà diệu minh, diệu giác không thể nghĩ bàn.

 

Tâm thức là phân biệt theo thức tình vọng động, phan duyên cảnh trần mà tính toán lợi hại.

Tánh là thể, Thức là dụng sai lầm.

 

Thật ra hai tông không trái nhau mà còn làm sáng tỏ cho nhau. Phàm tình chúng ta chấp tướng nặng, nên thường phải học Duy Thức trước, rồi vào Bát Nhã chân tâm mới dễ dàng

 

Pháp tướng tông nghiên cứu đường đi sai lầm của tâm thức, chuyển thức thành trí, đưa người tu trở về chân tâm bản tánh. Nghĩa là đánh giặc vô minh từ ngoài đánh vào.

 

Pháp tánh tông y tánh tông y tánh Viên giác lọc bỏ năm ấm sanh tử, đánh giặc vô minh từ trong ra.

 

Từ xăn phát sanh ra thức. hạt giống cây Long Hoa ( pháp tướng tông) ở ngay sáu căn của chúng ta. Lăng nghiêm ( pháp tánh tông) gọi là mật nhân Bồ-đề.

 

Đức Văn Thù khuyên quan sát kĩ vạn Pháp duyên khởi không thật, để trở về tánh của tâm thức, chính là chân tâm.

 

Phong tục thỉnh đức Di Lặc xông đất ngày đầu năm, có ý mong 365 ngày sắp tới, chúng ta sẽ được bình an vui vẻ như ngài. Muốn được như ngài phải tu theo ngài. “ Mặc ai báng, mặc ai chê, đem lửa đốt trời luống tự nhọc. Ta nghe vui như uống nước cam lồ, tiêu dung đốn nhập khó nghĩ bàn”. Hoà-thượng Thanh Từ giảng rằng: “ Cầm lửa đốt hư không, bao giờ hư không cháy?” Trái lại, nếu tâm chúng ta làm bùi nhùi bốc cháy theo lửa sân của họ thì chúng ta bị cháy ra tro. Người tu đâu cần hơn thua. Chẳng những bình tĩnh thản nhiên, mà còn coi như được uống cam lồ. Chê khen là thử thách để đo lường trí tuệ vô sanh, lòng từ bi, hạnh nhẫn nhục. Nghĩa là đo lường đạo lực của chúng ta. Để kết luận Hoà-thượng cho bài phú:

 

Sãi tôi một dạ tu hành,

Buông xả vạn duyên.

Chí mong siêu thăng làm Phật Tổ,

Lòng nguyện độ tận chúng sanh.

Đêm đông trì chú, dóng chuông boong boong.

Ngày hạ tụng kinh, lên mõ cốc cốc.

Vì chuộng đạo đức,

Miệng chẳng nề ăn đắng ăn cay.

Bởi yêu hai chữ “TỪ BI”

Thân nào quản áo lành áo rách.

 

Đây là lời nhắc nhở. Đi tu quyết thành Phật thành Tổ để làm gì?

 

Để cứu vớt chúng sanh đang trầm luân trong bể khổ.

 

Với tinh thần ấy, sáu căn quản gì trái tai, gai mắt. Đức Di Lặc tươi cười trong ngũ trược ác thế, nhờ trí tuệ biết rõ sáu căn huyễn hoá, sáu trần ảo ảnh, sáu thức mê lầm. Cổ nhân xưa hằng tự nhắc:” Tỉnh tỉnh chớ bị lừa!” Xả thức xanh diệt trở về chân tánh vô sanh là Niết-bàn, là mùa xuân vĩnh cửu.

 

9. PHỐ CÁO ĐÓN XUÂN

 

Kính bạch đại chúng!

 

Nhập gia tuỳ tục! Mỗi năm Tết đến, chùa chúng ta tuy bổn phận là chiếu kiến ngũ uẩn giai không, nhưng vẫn cùng toàn quốc Việt Nam đón xuân mừng tuổi. Vui hoà với nhịp sống thế gian như vậy đã không trái đạo lại còn là chính ý Phật Tổ. Kinh dạy: Nhất thiết chư pháp vô phi Phật Pháp. Xuất thế gian ở ngay trong thế gian là diệu dụng của Bồ-đề. Thầy chắp tay tuỳ hỷ tán thán những ngày vui đầu năm của đại chúng.

 

Nhưng tuy vẫn thở chung một bầu không khí nhộn nhịp vui tươi của ngày năm mới, chúng ta nên mở con mắt đạo nhìn một sự thật. Ngày Tết là ngày “ bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”.

 

Cái vui của thế gian là như thế. Muốn cho loài người vui thì trâu bò, heo dê, gà vit, cua cá phải chết. Nhà nhà bếp bếp thi nhau chặt cổ, mổ bụng chúng sanh. Vậy thì ngày tết là ngày vui hay ngày khổ? Theo Phật Giáo, đó là ngày loài người gieo ác nhân. Ngày chúng sanh trả nợ máu. Đại Thừa Phật giáo có mặt ở Việt Nam đã ngót ba ngàn năm mà vẫn chưa có thể chuyển hoá một phong tục rõ ràng không hợp lý. Chẳng phải là lỗi của Tăng Ni chúng ta hay sao?

 

Tổ dạy có ba cách giải thoát:

 

1)   Thượng căn tự lực giác ngộ. Đây là giải thoát bằng Tuệ.

2)   Trung căn đọc tụng kinh sách, học và hiểu. Đây là giải thoát bằng Trí.

3)   Hạ căn một lòng cầu nguyện. Đây là giải thoát bằng lòng Tin.

 

Chưa có thể giác tỉnh quần chúng, ta chỉ có cách đền tội bằng cầu nguyện. Nên ngày 28,29,30 Tết chúng ta đổi việc sắm tết làm một đàn chay, giải oan gỡ kết cho ta và người.

 

Hương sen chuyên niệm đức A Di Đà, Dược Sư chuyên niệm đức Lưu Ly Quang, Lăng Nghiêm chuyên niệm đức Quán Thế Âm, Linh Quang chuyên sám Lương Hoàng lạy đức Bổn Sư, Liên Hoa chuyên tụng Pháp Hoa, Viên Thông chuyên lạy Thuỷ Sám, Bát Nhã chuyên tụng Bát Nhã, Ni Liên chuyên lễ đức Địa Tạng. Chương trình tụng niệm lễ bái tuỳ mỗi trụ xứ soạn thảo. Ai muốn dâng lễ phẩm chúc tết Thầy, ít nhiều xin cứ gửi cúng vào đàn chay, trên cúng dường Tam-bảo, dưới đảnh lễ tạ ơn đại chúng.

 

Nguyện cầu âm siêu dương thái, pháp giới chúng sanh đồng thành Phật đạo.

 

Nam mô Công Đức Lâm Bồ-tát ma-ha-tát.

 

Linh Quang 21-12 ÂL(1994)

Thầy Hải Triều Âm

Phổ cáo

 

9.TIỀN THÂN ĐỨC DI LẶC

 

Chuyện cổ Phật giáo kể rằng:

 

Ngày xửa ngày xưa, có ông Tiên tên là Nhất Thiết Trí Quang Minh tu ở trong rừng. Gặp năm mưa gió trái thời, cây cỏ héo khô không ra hoa kết quả, dân gian mất mùa, khắp nơi đói kém. Một con thỏ thấy tiên ông nhịn đói, thương quá, bèn ra trước mặt ngài để hiến thân cho ngài. Nhưng tiên ông chỉ vuốt ve thỏ mà không nghĩ gì đến chuyện hại thỏ. Thỏ nghĩ “ Tối nay Tiên Ông đốt lửa sưởi, ta sẽ nhảy vào tự quay nướng thơm ngon, chắc ông tiên sẽ dùng”.

 

Sương chiều lạnh buốt, ngọn lửa hồng vừa cháy đỏ thì con thỏ nhảy phốc vào, ý mừng rằng” Đằng nào cũng chết, nay lại được chết để cúng dường một vị đại đức”.

 

Ngọn lửa xèo xèo reo vui, thui nướng thân hình Bồ-tát. Riêng tiên ông không vui tí nào. Cảm động ngậm ngùi trước sự hy sinh của con vật, ngài phát nguyện:” Đời đời dù chết, quyết không nỡ lòng ăn thịt chúng sanh”.

 

Từ đấy ngài có tên là Di Lặc ( từ thị), luôn luôn mẫn từ thương xót muôn loài. Thỏ là tiền thân của Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

HOÁ THÂN ĐỨC DI LẶC

 

Cách đây hơn ngàn năm, ở bên Tàu bỗng nhiên xuất hiện một vị Hoà-thượng béo tròn, bụng phệ, miệng cười tươi như hoa, tay sách túi vải. Nên được tên là Bố-Đại Hoà-thượng ( Bố đại là túi vải). Có ai thỉnh pháp, ngài buông tay nải xuống chắp tay đứng im. Nếu gạn hỏi” Chỉ có thế thôi à?” thì ngài vác đãy vải lên vai đi thẳng. Một ngày kia, Bố Đại Hòa-thượng ngồi trên mỏm đá, cười mà hoá sau khi đọc bài kệ:

 

Di Lặc! Thật Di Lặc!

Hoá thân nghìn trăm ức,

Luôn luôn nhắc người đời,

Mà người đời chẳng biết.

 

Ngài giáng sanh, độ thế chỉ một nụ cười. Vậy mà cái cười ấy được truyền bá khắp tầng lớp trong dân gian nhiều hơn các thứ kinh luận khác.

 

Người Tàu ham ưa nền triết lý tươi vui của nụ cười nên khắp nơi nơi, thường thấy bóng hình Bố Đại Hoà-thượng hoặc khắc, hoặc vẽ, hoặc nặn, hoặc chạm trổ. Lại sợ những ai không tinh ý, không hiểu được nghĩa sâu xa của nụ cười, người ta nặn thêm hình sáu chú bé bò bám quanh ông bụng phệ, đặt tên là lục tặc( 6 tên giặc). vì các chú ngây thơ dại dột lắm, tinh nghịch dối trá khiến cha mẹ thất điên bát đảo.

 

-   Chú thứ nhất tên nhãn thức (cái biết của mắt)

-   Chú thứ hai tên nhĩ thức ( cái biết của tai)

-   Chú thứ ba tên tỵ thức ( cái biết của mũi)

-   Chú thứ tư tên thiệt thức ( cái biết của lưỡi)

-   Chú thứ năm tên thân thức ( cái biết của thân)

-   Chú thứ sáu tên ý thức ( cái biết của ý)

 

Chú thứ 6 bé nhất, suốt ngày ở trong nhà tối. Chú không tiếp xúc với đời nhưng năm chú kia luôn luôn thì thọt mách lẻo khiến chú cứ mừng vui, hờn giận, ham thích, uất ức... đủ các thứ tâm sở phiền não kết thành màn vô minh. Chú đâm ra mù quáng. Tuy mù nhưng lanh lẹ lắm. Tội nghiệp cho cái thân, cái lưỡi, chúng nó thật là những đầy tớ trung thành, chú bảo sao nghe vậy. Chú sai chúng đủ thứ: sát, đạo, dâm, vọng.v.v...Hết 365 ngày đi, lại 365 ngày khác tới, 6 anh em nhà này cứ loạn xạ, cho đến bao giờ cái nhà mấy chú ở xụp đổ tiêu tan.

 

Câu chuyện có thế, thật là trẻ con. Chỉ là những tấn tuồng hết vui lại buồn, hết buồn lại vui của một đàn trẻ. Bậc thức giả đâu có bị lừa mà chẳng ngồi cười.

 

Khốn nỗi chúng ta ai cũng tin 6 chú bé của ta thông minh, sáng suốt nhất đời. Tin đến nỗi có 6 chú ấy thì ta sống, không có thì ta chết. Ít người tự hỏi vậy: Ta là ai?

 

Nhân loại mỗi người nuôi sáu chú giặc làm con, hèn chi mà quả địa cầu này chẳng ướp mùi khói đạn máu xương, hèn chi mà thần hạnh phúc chẳng lánh xa cõi Ta Bà.

 

Bồ-tát Di Lặc cười vì ngài đã thắng trận giặc rất khó khăn, xưa nay không mấy ai thắng nổi. Ngài đã nắm được chủ quyền. Ngài đã điều phục được giặc, chuyển bọn giặc thành những bầy tôi trung nghĩa hiền lương. Nhà ngài ở vốn Thường Tịnh Quang, không hề vẩn đục chút phiền não.

 

Bởi thế, ngài còn có tên là A Dật Đa. Tàu dịch là Vô Năng Thắng, vô địch tướng quân. Ngài đã toàn thắng vô minh. Bồ-tát ngồi cười vì đã thấy rõ thế gian ân ân oán oán, duyên nợ báo đền chỉ là trò huyễn hoá, do sáu chú “lục tặc” xoá xoá bầy bầy. Chúng ta có đại phước duyên được thờ đức Di Lặc làm Thầy, được học pháp môn Duy Thức nên trong chùa, kẻ trên người dưới vui hoà, cùng nhau đầm ấm sửa soạn đón xuân.

 

10.  KINH DI LẶC HẠ SANH THÀNH PHẬT

 

Tôi nghe thế này: Một thời đức Phật ngự ở núi Linh Thứu, thành Vương Xá, cùng đông đủ các đại Tỳ-kheo.

 

Đại chí Xá lợi Phất cung thỉnh Thế Tôn nói lại bài tụng thọ ký Từ Thị, bậc đại thần thông oai đức, sẽ hạ sanh làm Phật.

 

Xá Lợi Phất định tâm lắng nghe! Hết kiếp giảm đến thời kiếp Tăng, con người thọ 8 vạn tuổi, không tật bệnh, không phiền não, thân tướng đoan nghiêm, sức lực viên mãn, biết trước giờ lâm chung, tự đến rừng Thi Lâm.

 

Châu Nam Thiệm, nhân dân từ nghiệp lành sanh về, sống không hình phạt tai ách. Mặt đất không gai góc, trải cỏ xanh mềm dịu, êm chân như vải bông mịn. Nếp thơm mọc tự nhiên, thức ăn ngon lành tự có. Cây rừng trĩu những hoa trái, y phục và vật dụng để trang sức.

 

Kinh đô Diệu Tràng Tướng lâu đài 7 báu, hào rãnh thân châu, hoa thơm chim quý. Chuông vàng, khánh bạc v.v...nghiêm sức tuyệt diệu, cùng gió vang diễn diệu âm. Nơi nơi ao hồ, tạp sắc hoa nở thơm ngát.

 

Thánh vương Hướng Khư phước đức hùng mạnh, bốn biển thái bình, kho đầy châu ngọc, chánh pháp thạnh trị. Đại thần Thiện Tịnh thông thạo bốn minh. Vợ là  hiền nữ Tịnh Diệu, dạo vườn xem hoa, bỗng sanh con trai thân vàng sáng chói, khuôn mặt trăng tròn, mắt biếc xuân sơn. Đây là Bồ-tát ở cõi trời Hỷ túc giáng sinh, thanh tịnh như sen nở, hào quang khắp rực rỡ. Bồ-tát đi 7 bước, 7 bông hoa đỡ gót. Giọng như đại phạm vương, tuyên bố nội trong đời này sẽ chứng Niết-bàn. Chín rồng phun nước tắm. Hoa trời giải như mưa. Thiên tử che lọng báu. Hư không vang hoà nhạc. Thiện tịnh biết 32 quý tướng này, xuất gia thành chánh giác, ở tại gia làm Chuyển Luân Thánh Vương.

 

Ngày Từ Tôn giáng đản, nữ nào mang thai đều sanh con an ổn. Vua hướng Khư kiến lập 7 bảo tràng cao 70 tầm, rộng 60 tầm, bá thí cho các bà-la-môn, phạm chí. Họ vui mừng hớn hở nhưng chẳng bao lâu các tràng báu hư nát. Bồ-tát thấy vậy, tỉnh ngộ thế gian vô thường, tìm cách thoát ly ngục tù sinh tử. Ngày Bồ-tát xuất gia, 84.000 người phát tâm theo ngài tu phạm hạnh. Ngay đêm ấy, ngài thành chánh giác dưới gốc cây Long Hoa. Quần chúng như mấy, nhóm đông đầy vườn Diệu Hoa. Vua Hướng Khư nghe pháp, cùng 84.000 quyến thuộc xuất gia. 84.000 đồng tử bà-la-môn, Thiện Tài trưởng giả cùng 1000 quyến thuộc, bảo nữ Tỳ-Xá Khư cùng 4000 thị nữ, vô số thiện nam tín nữ đồng thời xuất gia.

 

Đại Từ Thế Tôn phán rằng: Những ai đã thân tâm chịu chánh đạo của Thích Ca Mâu Ni Phật, nay đều sanh trong Pháp ta. Cúng dường Phật Thích Ca, quy y Tam-bảo, tứ sự phụng thờ Tăng chúng, trai giới thanh tịnh, giáo hoá chúng sanh khiến được sạch trừ phiền não v.v... Những người như thế nay đều đã sanh trong pháp của ta.

 

Hội đầu 96 ức Thanh-văn giải thoát.

Hội hai 94 ức Thanh-văn giải thoát.

Hội ba 92 ức thanh-văn giải thoát

 

Mỗi khi Phật từ Thị cùng đệ tử vào thành khất thực, thiên chúng tán hương cúng dường. Hoa thơm trải đất, nhạc âm vang trời Bên đường phất phới tràng phan các mầu. Vua Đế Thích xưng tán” Nam mô Thiên Thượng Tôn! Nam mô Sĩ Trung Thắng! Lành thay Bạc-già-phạm! Đại bi cứu thế gian! Ma vương cõi trời đảnh lễ quy y Đại Đạo Sư,

 

Nhân dân phần nhiều là A-la-hán. Trời, rồng, a-tu-la, La-sát, dược-xoa thảy đều hoan hỷ cúng dường. Tất cả đại chúng đều thành tựu phạm hạnh. Người thì sạch chướng trừ nghi, siêu vượt sanh tử. Người thì lìa nhiễm xả báu, dứt ngã, ngã sở. Người thì huỷ lưới thân ái, viên mãn tịch diệt.

 

Từ Thị Thiên Nhân Tôn thọ 6 vạn tuổi. Chánh pháp trụ thế 6 vạn năm.

 

Người thông tuệ nghe pháp như trên, vui mừng phát nguyện, mong gặp đức Từ Tôn. Ai cầu giải thoát trên hội Long Hoa, hãy chăm cúng dường Tam-bảo, siêng năng tu hành. Ai đọc tụng thọ trì giảng nói kinh này, như pháp tu hành, hương hoa cúng dường, hoặc viết chép lưu bố, sẽ được gặp Từ Thị hạ sanh, sẽ có phần giải thoát trong ba hội.

 

Phật nói pháp xong, ngài Xá Lợi Phất cùng đại chúng vui mừng tin chịu vâng làm.

 

Nam mô Long Hoa giáo chủ, đương lai hạ sanh, Di Lặc Tôn Phật ( 3 lần)

 

11.  LONG HOA TAM HỘI

 

Long Hoa là một thứ cây lớn sum suê, cành uấn khúc như rồng múa. Hoa màu hồng tươi nở rực rỡ khắp cành nên gọi là cây Long Hoa. Đức Di Lặc ngồi dưới gốc cây này thành đạo. Đức Thích Ca nói kinh Di Lặc Hạ Sanh Thành Phật:

 

Nhất tâm nghe cho rõ

Lửa tam muội sáng soi,

Người công đức thứ nhất

Đang sắp sửa ra đời.

Người ấy nói pháp mầu

Ai nghe đều vui thoả,

Như khát uống cam lồ

Tới ngay đường giải thoát.

 

Đất nước ấy bằng phẳng một làn như tấm gương lưu ly. Có bao thứ hoa, cánh hoa mềm mại như lụa trên trời, kết quả cát tường, mùi thơm vị ngọt. Nhân dân sống 84.000 tuổi, người cao 16 trượng. Con gái 500 tuổi mới đi lấy chồng. Đến lúc già suy, cứ tới rừng kia niệm Phật mà vãng sanh, hoặc đi các cõi trời, hoặc đi các cõi Phật. Nhân dân chỉ có 3 bệnh: ăn uống, đại tiểu tiện và già chết. Đại tiểu tiện xong, đất tự nứt chôn đi, tại nơi ấy nẩy bông sen đỏ. Không có giặc cướp, đao binh, đói khát, chết non. Ai nấy giữ gìn 6 căn, cung kính hoà thuận nhau như con yêu cha, bà thương cháu. Người không sát sanh, không ăn thịt, được sanh về đấy.

 

Gạo lúa thơm ngon, cấy một lần, ngặt 7 lần. Chúng nhân coi vàng ngọc như gạch ngói.

 

Vì chúng sanh căn khí khác nhau, đức Di Lặc mở ba hội:

 

1.Gồm những đại thừa Bồ-tát đã tu tròn 6 ba la mật.

 

2.Những vị giữ tròn năm giới trở nên lòng tin quyết định:

 

-   Quy y Phật mở lòng rộng rãi, độ mình độ người.

-   Quy y Pháp, nghiên cứu kinh điển, phân biệt chánh tà

-   Quy y Tăng, tu đức lập hạnh.

 

3.Để vớt những mầm thiện còn kém duyên lành, chậm kết quả.

 

Đức Thích Ca vì bi nguyện, không nỡ bỏ sót một chúng sanh nào đã có duyên với ngài. Nên nhất nhất giao phó cho đệ tử là đức Di Lặc sau này phải làm nốt nhiệm vụ giáo hoá và thọ ký cho tất cả đều được thành Phật. Từ người lễ một lễ, tới đứa trẻ trong lúc chơi đùa, nhác trông thấy thánh tượng. Hình ảnh in vào thức thứ 8. Ngày mai gặp duyên, hạt giống nảy mầm cũng thànhchánh qủ. Cả những kẻ chê bai đạo thích Ca, cũng đã kết duyên với Phật, đều được Từ thệ nhiếp về tới hội này.

 

Nhưng khi nào đức Di Lặc mở 3 hội Long Hoa?

 

Trong kinh Di Lặc Thượng Sanh, Phật bảo ông ưu Ba Ly rằng:” Người ấy từ đây 12 năm nữa sẽ sanh lên trời Đâu Suốt, 50 Ức vạn năm nữa xuống cõi Diêm-phù-đề, ngồi dưới gốc cây Long Hoa thành Phật qủa, khua trống lớn, quay bánh xe Pháp lớn”.

 

Rõ ràng là đức Di Lặc tuy còn ở cung trời Đâu Suất, nhưng cây Long Hoa hiện đang nẩy mầm ở ngay nhân gian này. Chị em chúng ta hãy gánh nước đại bi tưới khắp cõi, cho dễ cây ăn sâu suốt nơi nơi, bắt đàu từ trái tim trong trắng của đàn em bé.

 

Cha chúng ta đã có lời nguyện đại bi, đại dũng như vậy, chúng ta há chẳng nên ra công kết duyên lành cho muôn loài. Nỡ nào còn để sót những sinh linh phiêu bạt trầm luân. Còn ai muốn theo đức Di Lặc lên cung trời Đâu Suất, để sẽ cùng ngài xuống trần mở hội Long Hoa, hãy nghe lời đại sư Thái Hư: Ngay từ bây giờ chuyên học chuyên tu Duy Thức, giữ giới sát sanh thật tinh nghiêm, đoạn trừ phiền não, tỏ ngộ lý ngã-không pháp-không, hàng ngày niệm “ Nam mô Di Lặc Như Lai”. Như thế hiện tại thân tâm trong sạch, không tai nạn bệnh tật. Lâm chung, các thiên tử sẽ xuống đón lên cung trời Đâu Suất.

 

13 HÁI LỘC ĐẦU NĂM

( Tại Cây Bồ-đề Linh Quang sáng 1-1 Nhâm Thân 1992)

 

Sông ái ngàn thước sóng,

Khổ hải vạn trùng ba.

Muốn thoát luân hồi khổ

Mau sớm niệm Di Đà.

 

Giải nghĩa:

 

Xuất gia cắt ái từ thân. Công cha như núi thái sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Cắt đứt tình thâm vào chùa cầu giải thoát. những mong có đạo xuất thế để báo hiếu đền ơn.

 

Nhưng nếu không tu học Tứ Niệm Xứ để xả ngã ái. Cái ta cứ sừng sững đối lập với mọi người. Lại còn riêng tư bè đảng. Người này tôi hợp, người kia không ưa. Khiến cho hai chữ Tăng Già trở thành vô nghĩa.

 

Thánh nhân thường nhắc:” Hãy nhớ thân ta chỉ là nắm bụi”. Xuất gia là chuyển thế giới của cái tôi thành thế giới của chúng ta. Nhà chùa gọi là chuyển cô tâm thành lục hoà tâm. Ai nấy quên quyền lợi riêng để cùng nhau xây dựng Tam-bảo. Đức phật thường nhắc:” Trùng trong thân sư tử mới giết nổi sư tử”. Nghĩa là chỉ những người xuất gia, cạo tóc, đắp y, mà không sống giống như luật, như lời Phật dạy, mới khiến cho đạo Phật suy vi. Phật Pháp tăng là cửa ải giải thoát độc nhất của chúng ta. Mong rằng mỗi người con Phật cố gắng tròn bổn phận.

 

14. MÃN KHOÁ ABHIDHARMA

 

Abhidharma: Tàu phiên âm là A Tỳ Đàm. dịc nghĩa là luận tạng. Abhi là mổ sẻ để bàn rộng, phân tách để nói rõ, phát triển cả chiều cao lẫn chiều sâu. Dharma: giáo pháp, Abhidharma là một kho luận lý. Riêng tiểu thừa( nguyên thuỷ) cũng có tới 7 bộ, gồm nhiều ngàn Pháp môn do Phật nói ở cung trời Đao Lợi. ngài A La Luật Đà đã khéo kết tập, các Tổ sư đã phân khoa và giải nghĩa.

 

Chúng ta học hôm nay chỉ là một phần nhỏ xíu ở quyển đầu bộ thứ nhất. Tuy đã rút đi rút lại chỉ còn một lõi chất thật đơn giản nhưng vẫn đủ ba phần chánh yếu của toàn thể giáo lý, một đời thuyết pháp của đức Bổn Sư: 1- Cảnh, 2- Hành, 3- Quả.

 

1.Tâm thức chúng ta trình bày 3 cảnh:

a)Tâm thiện, tâm ác của dục giới.

b)Tâm sắc giới và vô sắc giới

c)Tâm siêu thế.

2.Pháp môn tu hành có 40 đề mục thiền.

3.Quả là bốn ngôi thánh.

 

Tới A La Hán là tròn phận sự, là ttó nghiệp trường tiểu học Phật Giáo, bằng cấp là trí tuệ Niết-bàn. Chỉ có một việc là chuyển phiền não thành Bồ-đề. vinh hoa là dự hành thánh chúng, hưởng phước vĩnh viễn an vui.

 

Các em đã học kĩ nhưng chưa tập chưa tu. Nhớ nhiều chữ, viết nhiều chữ, kể ra cũng quý lắm. Trong cõi Ta Bà mù loà này mà biết chữ Phật, đã là châu báu vô giá rồi. Nhưng ý Phật không muốn chúng ta đếm châu báu vô giá của Phật mà chỉ ao ước chúng ta thật sự thi đỗ làm quan A La Hán, thoát hẳn cái khổ làm dân luân hồi.

 

Thầy thưởng đồng đều cho mỗi em một cuốn Duy Thức. Cô Giáo Thọ sẽ đưa các em vào rừng Luận tạng đại thừa.

 

Đây là lời Phật rải rác trong khi thuyết pháp ở Ấn Độ thời xưa. Đức Di Lặc soạn tập và biện tác các nguyên lý. Ngài Vô Trước và em là ngài Thế Thân diễn đạt rộng ra. Các đệ tử truyền nối thịnh hành.

 

Nước tàu có Huyền Trang đại sư sang Ấn Độ học, phiên dịch rất nhiều kinh, đặc biệt chú trọng môn này. Khi về nước, ngài đem tài uyên bác thành lập pháp tướng duy thức tông. Các đệ tử nổi danh của ngài đã khiến cho tông phái này cực kỳ hưng thịnh, truyền bá qua Nhật Bản, Cao Ly, Việt Nam...

 

Các em sẽ thấy Luận học nguyên thuỷ hay đại thừa đều cao không cùng, sâu không đáy, rộng không bờ nhưng chung quy chỉ nghiên cứu về cái tâm của chúng ta. Nói về một cái tâm của chúng ta mà Phật Tổ đã dùng cả biển mực viết mãi vẫn chưa xong. Nương ánh sáng trí tuệ của Phật Tổ, các em sẽ có nhiều Phát minh lý thú. Cả một chân trời mới lạ hé mở Đặc biệt Luận nguyên thuỷ và Luận đại thừa đồng thanh nhắc chúng ta rằng ai ai cũng có ba thứ hữu dư:

 

1) Tập khí,

2) Báo chướng,

3) Phiền não.

 

Từ lịch kiếp chúng ta đã tạo vô biên tội ác. Những tội nặng đã trả qủa ở địa ngục, ngã quỷ rồi. Tham ái nhẹ làm bồ câu chim sẻ, cá chép, cá bống, v.v...rồi. Sân nhẹ đã làm rắn, mèo, hổ, báo v.v...rồi. ngu si nhẹ đã làm voi, heo, ruồi, kiến v.v...rồi. Nay còn dư báo phải trả đền:

 

1.Vì tập khí nên xuất gia dễ phạm sát, đạo, dâm, vọng.

2.Vì dư báo nên câm điếc hoặc gặp nhiều hẩm hiu, các thứ chướng nạn.

3.Vì phiền não nên dễ vun bồi thêm nhân ác tham sân si, để đời đời đi lại trong tam đồ.

 

Nhưng nguy nhất là thứ phiền não kiêu mạn. Mười người hết chín bị nó sai sử. Còn một người kia bất quá là chỉ vì biết dùng trí tuệ tự kiềm chế. Nhưng nó vẫn thầm thầm ở trong. Nuôi dưỡng kiêu mạn cống cao thì quả ở đường dưới. Nếu được làm người cũng chịu dư báo, làm thân hèn hạ quyền người sai sử. Tài giỏi sang giàu mà ít kiêu mạn là đã tu nhiều kiếp. Bới thế đối với kẻ ăn xin, ta nên cảm thông nỗi khổ nhục phải kêu nài. Gặp ai cũng nên vui vẻ chào hỏi. Đối với các vị mới xuất gia lớn tuổi nên cung kính để các ngài hoan hỷ mừng tu...

 

Cho nên khiêm tốn nhún nhường là tướng mạo của trí tuệ. Đức Phổ Hiền trong kinh Hoa Nghiêm dạy các đại Bồ-tát: Muốn an trụ nơi Pháp giới thanh tịnh, đầy đủ công đức lành, phải ba nghiệp thân ý niệm niệm hằng sám hối, không bao giờ chán mỏi.

 

15.THƯ THĂM BỆNH

(Kinh Duy Ma Cật)

 

Văn Thù hỏi: An ủi Bồ-tát bệnh thế nào?

 

Duy Ma Cật đáp: Thân vô thường nhưng nó là cái bè đưa người tu lên cảnh thường trụ. Thân là gốc khổ, nhưng bản chất là tánh Niết-bàn. Thân không thật nhưng Bồ-tát cần dùng nó để giáo hoá chúng sanh. Thân tuy rốt cuộc là không, nhưng chân diệu pháp thân, thật không dời nó mà chứng. Biết khổ của bệnh thì thương chúng sanh đã bao đời đeo hết thân này sang thân khác, chịu hết bệnh này sang bệnh khác. Biết gốc của bệnh là do nghiệp báo nên hằng nhớ nghĩ tịnh thân miệng ý, dạy người tu phước ở lành. Bồ-tát thân mang bệnh khổ nên lòng dạ chỉ ước mong làm sao chữa hết bệnh và tâm bệnh cho chúng sanh. Vì thế Bồ-tát bệnh mà vẫn phấn khởi tinh thần, vui vẻ sống với tâm  Bồ-đề.

 

Bồ-tát bệnh, điều phục tâm mình thế nào?

 

-Thưa, nên nghĩ thế này: Thân do đất, nước, gió, lửa giả mượn. Vì cố chấp làm ta cho nên bốn đại không hoà mới tự nhận là mình bệnh. Việc trước hết phải suy xét cho ra, thân này không phải của ta. Không ta không người, không chúng sanh, không thọ mạng. Trở về sống với tánh thể bình đẳng, tánh thể này không hề có bệnh.

 

Thân ta đang khổ còn chúng sanh giờ này đang thế nào? Ta tuy khổ nhưng đã tự biết điều phục vọng tâm để giải thoát gốc khổ. Nay ta cần cố gắng dạy chúng sanh dứt trừ gốc khổ, đừng để đến nỗi hết thống khổ này lại thống khổ khác. Từ tối vào tối, đêm dài rên rỉ, từ lịch kiếp tới nay, hỏi đến bao giờ mới cùng tận.

 

Thế nào là gốc bệnh?

 

-Tâm vọng tưởng phiền não trần lao, dính níu sáu trần trong ba cõi là gốc bệnh( vì đó là gốc luân hồi sanh tử, nhân đây có thân. Từ thân phát sanh ra tất cả sanh, lão, bệnh, tử, ưu, bi, khổ, não).

 

Làm sao dứt được?

 

-Quán vạn pháp vô sở đắc ( 6 căn huyễn hoá, 6 trần ảo ảnh, 6 thức mê lầm). Thưa ngài Văn Thù, Bồ-tát điêu phục tâm mình như vậy, dứt các thống khổ sanh già bệnh chết là dõng mãnh của Bồ-tát.

 

Nếu Bồ-tát còn thấy có ta, có người bệnh. Rồi vì ta bệnh nên thương người bệnh, đó là ái kiến đại bi. Đã thấy có ta thì làm lâu sẽ mỏi. Đã thấy có người thì khi người khổ mình thương, khi người xấu mình ghét. Tâm không bình đẳng sẽ có oán thân. Lòng đại bi quyết định bị thương tổn. Nên trong khi cứu giúp mọi người. Bồ-tát luôn luôn giác tỉnh vô ngã vô pháp. Lòng từ bi luôn luôn sẵn sàng với bất cứ ai ai, bất luận trường hợp nào, hoàn cảnh dù nghịch dù thuận, không cần đủ duyên nên gọi là vô duyên từ.

 

-Có tuệ phương tiện thì giải thoát,

Không tuệ phương tiện thì chói buộc

 

-Có phương tiện tuệ thì giải thoát,

Không phương tiện tuệ thì chói buộc.

 

Thưa Ngài Văn Thù, thường quán thân vô thường vô ngã, khổ và không gọi là có tuệ. Đủ duyên vẫn không quản khổ nhọc để độ chúng sanh gọi là phương tiện. Có tuệ phương tiện là phương tiện có trí tuệ soi sáng. Như trên đã nói, cứu độ chúng sanh mà vẫn giác tỉnh vô ngã, vô nhân, gọi người bội bạc vẫn làm ân, bị hiểu lầm không nản chí. Do đó mà ở hoàn cảnh nào việc lành cũng vẫn tiến hành.

 

Còn phương tiện tuệ là trí tuệ trong khi đủ duyên cứu giúp chúng sanh. Đem tâm ham muốn, nóng giận, tà kiến để vun trồng công đức là không có phương tiện tuệ.

 

Vì có trí tuệ nên Bồ-tát ở trong sanh tử mà không nhơ xấu, ở Niết-bàn vẫn nguyện độ chúng sanh. Tuy cứu độ chúng sanh tận tình mà chẳng yêu thương dính líu. Tuy xa lìa tất cả ràng buộc mà không diệt tận thị tưởng. Tuy thân tâm diệt mà vẫn hiện thân vào tuỳ chỗ ứng thân. Có năng lực như vậy mới có thể phát đại hùng nguyện:

 

Địa ngục chưa không, thề chư thành Phật.

Chúng sanh độ tận, mới chứng Bồ-đề.

 

16. THƯ GỬI NI CHÚNG VIÊN THÔNG

 

Thầy đọc sách: “ Tự giác, giác tha, giác hành viên mãn. Sự nghiệp vĩ đại này, chỉ dành riêng cho những ai giản dị, khiêm tốn nhún nhường, hạ mình đảnh lễ đại chúng. Coi lời chê bai như nước cam lồ. Coi quở trách như món quà sách tấn”.

 

Bao nhiêu tội ác, tham sân si là gốc. Cho nên Sadini mà không có Tứ Niệm Xứ, Tổ gọi là cán cờ gỗ. Tấm y nêu biểu Giới Định Tuệ còn cái cán gỗ thì giá trị gì?

 

Chiến sĩ trước hết phải biết giặc ở chỗ nào. Tham ngon giận dở, cứ mống ra ở cái lưỡi trong mỗi nuốt. Anh hùng dùng gươm tuệ chém luôn. Bé Huệ Hương nhắc thêm:” Chẳng những khi ăn mà khi cãi lộn cũng cái lưỡi này sân si”.

 

Thật ra đâu chỉ một cái lưỡi này xó tội. Đi đứng nằm ngồi, nói nín, mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, thân xúc. Lúc nào tu sĩ chẳng phải canh gác sáu căn. Đêm khuya giặc vẫn lởn vởn trong tâm. Không đề phòng kỹ, làm sao an hưởng thái bình.

 

Đang đêm Tổ ngồi dậy la lớn:” Có giặc! Có giặc!” Trong chúng ta ai là con Phật? Ai phá Tam-bảo?- Chỉ ở nơi phòng giữ sáu căn. Hai đức thẹn hổ vừa rời tâm liền có nạn. Cẩn thân, trong khi đang chê bai người khác, có khi mình đang là giặc sân. Có người chưa đến nỗi thế. Chỉ hôm nay bất mãn một tý. Mai bất mãn một tý. Tập quen thành giặc lúc nào không hay. Trong khi ấy, cứ tự đánh lừa mình là chiến sĩ của đấng pháp-vương.

 

Luật Sadini các con thuộc nhừ hơn cháo. Những điều mà trẻ thơ mấy con biết rõ, già móm hết răng như thầy vẫn chưa làm xong. Các con thật đã được ướp kỹ Phật pháp. Con nhà giàu đâu có sợ nạn đói.

 

Thân gởi các con thêm một chuyện:

 

Cây mít sum suê vươn cao,

Hôm nay ngày cuối tháng 2 mưa rào.

 

Những chiếc là vui sướng mừng reo: Chào chào mưa hạ! Chào nước trong veo! Mát quá! Mát quá! Cám ơn! Cám ơn gió đưa mây về đây!

 

Nhưng cũng có tiếng rên: “ Khổ quá! Lạnh quá! Vừa nắng cháy da nay lại sắp sửa lạnh buốt thấu xương. Khổ quá! Khổ quá!” Các bạn an ủi: Chị hãy dũng cảm đón mưa to gió lớn. Mưa càng giữ dội bao nhiêu chúng ta, chúng ta càng mạnh khoẻ chóng lớn bấy nhiêu. Chị đừng phiền trách mặt trời. Chính ông ta đã cho cả họ nhà mít những múi ngọt ngào thơm ngon. Nếu không có bốn mùa mưa nắng gió sương thay nhau đan dệt, thì làm sao có những trái mít kếch sù, khiến cho nhân loại nể vì họ mít?

 

Chiến sĩ Bồ-đề cũng vậy:

 

Thích Ca nguyện độ chúng sanh,

Đem thân đến ở rừng xanh quản gì.

Sáu năm khổ hạnh một mình,

Trải bao sương tuyết mà không ngã lòng.

Quyết thành pháp ngã hai không,

Trời cao đất rộng, biển nào sánh công.

Nhờ đây đạo Phật sáng ngời!

Ngàn năn mãi mãi cho đời làm gương.

Chúc cầu Phật pháp miên trường!

 

17. CHUYỆN CỔ PHẬT GIÁO

 

Dưới cội Bồ-đề hùng vĩ, đức Thích Ca kết già an định. Một thanh niên tuấn tú quỳ bạch: Con là đông cung Thái Tử nước Cambáa. tên là Djêta, về đây xin làm đệ tử.

 

-   Bảy trăng sáu mùa mưa này ngươi hãy trở lại.

 

Tới kỳ hẹn, đức Phật dạy: Này hoàng tử cao quý! Kiếp trước con đã gây nghiệp. Nay trả quả thì con đã sa ngã như tất cả ai ai. Thế là con không đủ khả năng vào đạo.

 

-   Xin đức Thế Tôn từ bi chỉ rõ để con biết đường ăn năn.

 

-   Vừa rồi, có người mưu đoạt ngôi vị của con nên đã vu cáo cho con một chuyện giữa triều đình. Thay vì bình tĩnh đợi chờ ánh sáng chân lý hoặc nhẫn chịu lời vu khống để trả nợ kiếp xưa, con đã phẫn nộ quyết minh oan cho bằng được. Người tu hành làm thinh lãnh những bất công, vì với họ thế sự không còn nữa: danh giá, lợi dưỡng, oai quyền, tự ái v.v...không còn giá trị. Họ tin chắc lý nhân quả. Trên đời không có sự ngẫu nhiên. Khổ vui, vinh nhục đều do đã gieo nhân.

 

Điều thứ hai là con đã ích kỷ. Tên Batica muốn làm thân với bạn con là Dasa . Lửa ghanh ghét đã bật lên trong lọng con.

 

-   Bạch đức Thế Tôn! Đó là vì con biết Dasa bị lợi dụng.

 

-   Hoàng tử cao quý ơi! Cái biết trong lưới thất tình lục dục, cái biết của mắt thịt tai phàm, cái biết của ngũ quan vô minh, cái biết của ngã ái ghanh ghét. Người học đạo cần tìm chỗ sai của mình hơn là thấy cái xấu của kẻ khác, không than vãn phiền muộn sự phản bội bất trung, quý bạn không vị kỷ mà vị tha. Rộng lòng bác ái chớ không nắm lấy một người, đó là gốc của trí tuệ.

 

Điều thứ ba là con đã thiếu lòng nhân từ, tàn nhẫn xua đuổi thứ phi Nan Đà dù cô đã thiết tha xin chừa.

 

-   Bạch Thế Tôn! Cô đã nhơ danh xú tiết. Con làm sao được phép để cho cô bôi nhọ cả hoàng gia. Điềm nhiên trước những sai quấy như thế là khuyến khích những bại hoại luân thường đạo lý.

-   Này Hoàng Tử cao quý! Bậc cầm quyền cần thưởng phạt. Người cầu đạo tìm hiểu để cứu vớt không phải sự thanh tịnh mà tách mình ra khỏi nhân loại. Con là một phần tử trong thế gian. Nghiệp quả của con vốn vẫn dệt chặt với nghiệp quả của muôn loài. Cần tìm lý do để tha thứ hơn là kết án. Thanh tịnh không đi đôi với từ bi dễ nhuộm độc kiêu căng tự phụ và đưa đến lãnh đạm trước những đau khổ của kẻ kém hèn.

 

Djêta ơi! Hy Mã Lạp Sơn đầy tuyết trắng thật oai nghiêm hùng vĩ nhưng bốn mùa lạnh ngắt. Lòng nhân ái như tia nắng ấm áp. Chúng sanh cần sự tha thứ và nâng giấc và phấn khởi đi lên.

 

-   Lạy đức Thế Tôn! Con se x ráng sửa mình cho hợp lý đạo. Xin cho con đặc ân được yết kiến ngài một lần nữa.

 

Thái Tử hồi triều giúp vua sửa sang việc nước, luôn luôn muốn rằng muốn có đức phảo có công. Mỗi mũi gai làm rướm máu là một bước vào đạo. Gốc dễ của tật xấu ăn sâu vào thâm tâm. Nhổ nó ắt nhiều đau xót. Ta phải tập trung tất cả lực lượng của tâm hồn mới hy vọng.

 

18.LÀNG ANH NHI VIỆT NAM

 

Nửa thế kỷ chiến tranh vừa qua, đã đem vành khăn tang cho bao nhiêu gia đình Việt Nam. Bao nhiêu cô nhi vất vưởng, bao nhiêu phị nữ không gia đình, bao nhiêu già lão bơ vơ. Sư cụ Ngộ Chân Tử chùa Hoằng Pháp khai khẩn 42 mẫu đất ở gia định để thành lập làng Anh Nhi Việt Nam. Nơi đây đã xây cất nào chánh diện, giảng đường, nào trường trung tiểu học, bệnh xá, viện dục anh, viện dưỡng não cho đến nghĩa trang, cơ sở công kỹ nghệ cho các em học nghề và từng dãy nhà cho những nhân viên nông trại của làng. Sư cụ kêu gọi Tăng ni về hợp tác để xây dựng  ở Làng Anh Nhi một nền đạo đức thuần tuý hiếu thiện. Vì theo ý Sư Cụ, con người dù tài cao học rộng đến đâu mà thiếu lễ nghĩa tàm quý cũng là thiếu tất cả, không thể ích lợi gì cho nhân quần xã hội. Làng Anh Nhi Việt Nam có nguyện vọng bảo vệ những tâm hồn thanh khiết, những khối óc trong trắng khỏi bị ô nhiễm vì những thói hư tật xấu của đường đoạ lạc.

 

Nhân dịp đầu năm Ất Mão ( 1975) Sư cụ in một triệu tờ Pháp Môn Niệm Phật, khuyên các Phật Tử xa gần, thuộc nằm lòng 6 tiếng “ Nam mô A Di Đà Phật”. Đường về cõi tịnh ngắn nhất, giản dị, dễ dàng nhưng không nên coi thường. Miệng niệm, tâm nghe, hợp nhau mới ích lợi. nhiều người tu mà ít ai đắc quả, chỉ vì quá phụ sự tướng bên ngoài, không lo tu tâm bên trong. Có người rất thành kính, sớm tối đèn nhang chuông mõ. Nhưng ngoài giờ công phu, lại buông lụng thân miệng ý nên không tránh khỏi vay tạo thêm nghiệp mới.

 

Ngoài các khoá lễ, đi đứng nằm ngồi, quét nhà thổi cơm.v.v...tâm nhớ miên mật sáu chữ hồng danh. Như dùng phèn lắng nước đục, ta tập lắng dịu lòng trần. Định thần thì tuệ sáng. Thất tình lục dục tiêu trừ, ba độc tham sân si mòn mỏng, bao nhiêu phiền não diệt sạch. Được thế thì Cực Lạc hiện tiền, lo gì tâm chung không đến Tây Phương. Vẫn hoà mình với đời, tận lực đọ sanh mà không nhiễm trần vọng. tư tưởng giải thoát từ bi, lại được hào quang Phật tiếp dẫn, thì con đường thánh thiện đâu có nhọc nhằn khó đi.

 

Niệm Phật chẳng cứ sớm chiều, giàu nghèo sang hèn, kẻ bận rộn, kẻ thanh nhàn, ai ai cũng cần niệm Phật. Bởi vì mỗi niệm, mỗi phút giây, nương oai thần Phật, nương nguyện Lực Phật, bao nhiêu tiền oán chướng được băng tiêu, do đây giải thoát các tai nạn. Gia quyến bình an khang thái, cửu huyền thất tổ siêu thăng. Niệm Phật dủ tín nguyện hạnh, thiện căn vững chắc, dõng mãnh đoạn trừ phiền não, một lòng cứu khổ ban vui, gieo giống Bồ-đề, viên thành phước tuệ, thì thiên long quỷ thần ủng hộ, A Di Đà Phật cùng Thánh chúng đón mừng. Mau chân nhẹ gót lên thuyền, rời bến sanh tử Ta Bà ô trược, tới bờ Lạc bang vĩnh viễn an vui.

 

Ai ơi! Niệm Phật quý báu vô vàn!

 

19.  TỊNH ĐỘ

 

Chiêm bao thấy một vị sư dạy ba pháp tối thắng: Danh hiệu phật A Súc, Thích Ca Mâu Ni và A Di Đà.

 

-Con đã niệm vài ức danh hiệu phật A Di Đà

-Tuy cô niệm mà không có tướng niệm trong tâm.

 

Tỉnh dậy không hiểu sao. Nhân kỳ nhập thất này có chút công phu nên biết được. Bèn hành công phu lại quả nhiên an lạc. Nên viết thành bài mong giúp kinh nghiệm cho chị em.

 

 

I. NIỆM PHẬT THẬT TƯỚNG

 

Niệm Phật có 2 nghia quyết định:

1.    Đánh thức tánh.

2.    Nương đại nguyện lực Phật A Di Đà.

 

Từ vô thuỷ chúng ta mải sống với thân tâm sanh diệt, chưa từng một niệm phản chiếu tự tánh. đâu ngờ gốc của sanh là vô sanh. Niệm Phật là nhớ đến tánh Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ, Phật và ta đồng thể. Chỉ vì ta sống với tâm thức sanh diệt nên Niết-bàn ẩn mà lục đạo hiện.

 

-   Tánh chân là thể( chủ)

-   Vọng tâm là tướng dụng ( khách)

 

Tánh và tướng hiển bày lẫn nhau.

 

Bội trần hợp giác đến trình độ nhập lưu, sẽ thấy Phật A Di Đà, vì đã vào được nhà vô sanh.

 

Chân tâm như cái gương thường trụ bất động. Ánh sáng của gương( minh) chiếu ra vọng cảnh sanh diệt, tướng phần của 6 thức. Chúng ta lầm nhận bóng là thật và ở ngoài, quên chân tâm thường tịnh ( gương).

 

Người khéo niệm Phật cũng thế, dùng mà chẳng chấp có, tịnh mà chẳng chấp không.

 

Tướng niệm và tánh vô niệm đã chẳng trái nhau lại còn sáng tỏ cho nhau.

 

Tâm an ổn Thái Bình.

 

 

II. PHƯƠNG PHÁP TU HÀNH

 

Phật và chúng sanh chỉ cách nhau một cái vọng tưởng. Hữu niệm là chúng sanh, ly niệm là Phật. Muốn được ly niệm phải tập vô niệm: Cổ đức thường nói:” Vô tâm, đạo dễ tìm”.

 

Vô tâm chẳng phải không thể chất mà chit hết vọng tưởng. Như nói “ cái bình không”, là muốn nói trong bình không vật chớ chẳng phải không có cái bình.

 

Có ba phương pháp:

 

1.Cảnh hết tâm còn như chuyên phản văn. Áp dụng vào Tịnh-độ thì dũ sạch vạn duyên, nhất tâm niệm Phật.

 

2. Còn cảnh còn tâm. Đức Quán Tự Tại tu hành tinh thâm pháp Bát Nhã ba la mật đa, chủ chương hư không đâu bị keo dính. Trong pháp môn Tịnh-độ, chuyên giữ một danh hiệu Phật làm cảnh từ tâm ra tiếng. Tiếng lại rành rẽ nghe vào tâm.

 

3.Nhiếp cảnh vào tâm( tướng tánh nhất như). Lăng Nghiêm nói:” Cái cây không phải tánh thấy, làm sao thấy được cây?”

 

Vạn pháp quy về Như Lai Tạng. Người niệm phật đã tin chắc vạn pháp duy tâm, nghĩa là pháp giới duy vật. Pháp-thân Phật ở mười phương, ngay quanh ta, tại thân ta, không lìa ta. Kinh dạy: “ Năng niệm sở tánh không tịch. Cảm ứng đạo dao khó nghĩ bàn”.

 

Đức Đại Thế Chí dạy: Thâu nhiếp sáu căn chuyên một tịnh niệm. Không cần phương tiện nào khác mà cùng khai ngộ được tâm mình.

 

 

III.NHÂN TÁNH VÔ SANH TRONG SÁU CĂN

 

-A Di Đà : Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ

 

Vô Lượng Thọ: Vô sanh, thường trụ.

 

Vô Lượng Quang: tánh bản giác ở khắp mười phương.

 

-Kinh Lăng Nghiêm đích chỉ tánh thấy là tâm linh giác và nói rõ tánh bản giác của chúng ta hiện đang lưu lộ ở sáu căn. Mười phương Phật đồng nói:” Luân chuyển sanh tử cùng từ sáu căn, mà tu chứng thanh tịnh diệu thường cũng từ sáu căn”. Đây là chỗ cổ đức bảo: Chính nơi vọng tưởng hiện là chỗ hành của thánh trí. Chân lý cùng cực ở ngay con người mà con người không biết, thật là đáng thương. Đức Lục Tổ dạy:” Quên tánh mà thấy nghe hay biết, càng thấy nghe hay biết càng mê”. Vì căn trần thức chẳng lìa nhất tâm. Chỉ có mê ngộ thành ra xa cách.

 

Câu Niệm Phật được coi là vừa song hành vừa song khiển.

 

Song hành là chân tục song song:

 

a)Vì khế cơ nên dùng pháp hữu vi khởi niệm.

b)     Vẫn khế lý vì mỗi niệm khiến nhớ tới bổn thể tự tánh quang minh vô sanh diệt.

 

Song khiển là buông xả cả hai: Ngài Đại Thế Chí nói: Thâu nhiếp 6 căn chuyên một tịnh niệm vào Tam-ma-địa

 

a)Thâu nhiếp 6 căn: Buông xả hẳn cuộc đời thế tục.

b)Vào Tam-ma-địa: Vào chánh định thì không còn phàm thánh, năng sở. Niệm đã tới chỗ vô niệm thì cảnh tịch diệt hiện tiền.

 

Ngài Trung Phong viết:” Sum la vạn tượng hiện trong đại viên kính trí như mây qua lại trong hư không. Không phân biệt gọi là nhất tâm không loạn. Đến đây quên cả thân tâm”. Đây là pháp như như đang tu nhân mà không nhiễm.

 

 

IV. PHÁ NGÃ ĐỂ SÁNG TỎ TÁNH VÔ SANH

 

Long Thọ dạy: “ Có bệnh phải dùng đúng thuốc mới lành. Thuốc của tiểu thừa là toạ thiền quán khổ. Thuốc của Bồ-tát là quán các pháp không buộc không cởi”.

 

Buộc là phàm phu vướng mắc tốt xấu.

 

Cởi là nhị thừa quán duyên sanh để giải ba độc tham sân si. Bồ-tát sống với tự tánh nên không buộc không cởi.

 

Nay người niệm phật, sống với tự tánh A Di Đà không buộc không cởi. Nhưng phải uống thuốc đúng bệnh. Nếu tự xét còn nặng nghiệp thế gian thì phải kiêm tu các pháp tiểu thừa để thanh lọc tâm tánh.

 

Lục Hạnh Tập viết:

 

1)phàm phu bố thí khởi tâm kiêu mạn thành tội

2)Khởi tâm cung kính thành phước

3)Nhị thừa bố thí quán pháp vô thường.

4)Sơ tâm Bồ-tát bố thí quán pháp vô ngã.

5)Đại Bồ-tát bố thí quán tam luân không tịch.

6)Phật đã chứng duy tâm, bố thí ly niệm thường tịch.

 

Một hạnh bố thí có 6 tướng khác nhau.

 

Niệm Phật thật dễ nhưng pháp môn này lại rất khó hiểu khó tin. Căn cơ chúng sanh lược nói có 3 nhưng thật ra vô lượng nên hành tướng cũng vô cùng.

 

Đau khổ sanh tử đều do chấp ngã mà ra. Vô-thượng Bồ-đề phước tuệ trang nghiêm, bắt đầu phải từ xả ngã. Chấp ngã mở ra các thứ chấp, chôn vùi Pháp thân. Không phá được năm ấm tức là không ra khỏi sanh tử. Nên thường quán thân bất tịnh, thọ thị khổ, tâm vô thường, pháp vô ngã. Có trí tuệ Tứ Niệm Xứ thì niệm phật sẽ tinh tấn và sớm kết quả.

 

 

 

V.THỊ TÂM THỊ PHẬT, THỊ TÂM TÁC PHẬT

(  Kinh Quán Vô Lượng Thọ)

 

Nắm đến chuỗi tràng, trần niệm dứt.

Nghiễm nhiên thành Phật đã từ lâu.

 

Hễ cứ bỏ được trần tâm, liền sống ngay với Phật tánh, biết sắc tâm không, thành Phật chẳng khó. Người mê tu nhân đợi quả . Người trí ngay chỗ dùng hàng ngày được vô sanh. Có người cho rằng mình nhiều vọng niệm rất khó tu, đâu biết rằng đây là tại duyên nhiều cảnh. Gương vì có tánh sáng mới chiếu soi. Vật bóng tuy nhiều nhưng sát chiếu có một.

 

Thế gian có trăm ngàn đường nguy hiểm từ tâm niệm chúng ta đưa tới. Trí Tuệ Phật dạy chúng ta lọc bỏ hết đi, vạch bày một con đường thẳng tắt đưa về cõi An Lạc. Đặt chân cất bước là phàm phu, tới cuối đường bảo đảm sẽ thành Bồ-tát vô sanh bất thoái, để tiến lên nhất sanh bổ sứ. Chỉ cần ở chúng ta quyết tin và quyết đi. Quyết tin ngũ dục thế gian là đám bùn chôn người không có ngày ngóc đầu ra. Ngài Đức Sơn bảo: “ Mảy may hệ niệm là nghiệp nhân tam đồ, chớp mắt tình sanh là gông xiềng muôn kiếp”. Há cho tu hành là việc trì hoãn được ư? Cổ nhân nói: “ Một câu niệm Phật mà dựa không vững, nắm không chắc, thường ngày không chuyên, thì làm sao được tương ứng lúc trở về?” Bởi vì dù đã ngộ, vẫn còn ở bên này bờ sanh tử. Lâm chung, chỉ có tâm tịnh biến thành cảnh tịnh, tâm nhiễm biến thành cảnh nhiễm. Giờ phút gió phong đao xẻ thân, mấy ai còn tự chủ? Nên ngay bây giờ cần phải sớm chiều niệm Phật.

 

 

 

TÍN NGUYỆN HẠNH

 

Thầy soạn hoạt cảnh Tín Nguyện Hạnh để đại chúng vừa giải trí, vừa ôn bài, vừa điểm một nét vui vào ngày lễ tạ khoá học kinh A Di Đà cuối đông mỗi năm.

 

Kính chào liệt vị chúng trung tôn, các đại sĩ cao cấp của nền triết lý Á Đông!

 

Chúng con là ba mãnh tướng của chùa Hương Sen, trung tâm văn hoá đại đạo Thích Ca.

Hôm nay, giờ này,xin đảnh lễ ra mắt. ( cúi đầu ba xá)

 

Mỗi năm có bốn mùa: Xuân, Hạ , Thu, Đông. Con người có bốn khổ: Sanh già, bệnh, chết. Đức Thích Ca nói kinh A Di Đà, khai sinh ra mấy con từ 3000 năm ở xứ Ấn Độ. Các Tổ như Tổ Huệ Viễn đã nuôi nấng cả ngàn năm ở xứ trung hoa nên chúng con mới được phình lớn thế này.

 

Ngẫu Ích Dại sư đặt tên chúng con minh bạch là TÍN< NGUYỆN và HẠNH. Rồi Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế truyền nối cho đến ngày nay.  Thôn Phú An, xã Phú Hội, huyện Đức Trọng, Tỉnh Lâm Đồng, cứ mỗi tiết Đông lạnh lẽo, các chùa khai khoá học kinh A Di Đà, quý sư cô lại gọi mấy con về để hăm đuổi lũ giặc phiền não xâm lăng, củng cố nền độc lập Vô Lượng Quang Thọ.

 

Con là TÍN đại sĩ, đã gây dựng được sự nghiệp là toà Bulding 10 tầng 5 căn, 5 lực, toàn nhờ công mẫn cán của sáu đệ tử.

 

Thưa, đệ tử số 1, Con tên là TIN MÌNH. Con tin chắc chắn thế giới An Lạc vốn sẵn đang ở ngay trong tâm tánh mình. Chỉ cần tận lực tỉnh ra, đừng để kiến-hoặc tư-hoặc rối loạn bưng bít ngày đêm chấp ngã chấp pháp, đến nỗi tâm chân thật của mình bị che kín như vầng trăng ở trong đám mây đen.

 

Tìm hiểu tánh Phật của mình là sự nghiệp Tịnh-độ hoá thế gian 5 ấm ngũ trược của 7 thú. Sự nghiệp này phật tử phải làm ngay. Trước là vâng giới luật không dám áp bức một loài nào dù là con sâu cái kiến. Sau là khai trí bình đẳng, tôn trọng muôn loài hàm thức, tận tình cứu giúp lẫn nhau.

 

Thưa đệ tử số2 con tin là TIN NGƯỜI. Con tin Phật Thích Ca không nói dối. Tin Phật A Di Đà không nguyện suông. Tin 6 phương Phật tướng lưỡi rộng dài quyết không hai lời. Tin lịch đại Tổ sư đã hoằng truyền tông Tịnh-độ là những bậc chân thật ngữ.

 

Thưa, đệ tử số 3, con tên là TIN NHÂN. Con tin quyết định rằng: Nếu đem ba nghiệp thanh tịnh mà niệm phật, thì mỗi niệm là một bước về cõi An Lạc của Phật A Di Đà.

 

Thưa, đệ tử số 4, con tên là TIN QUẢ. Con tin rằng các bậc thượng thiện đang tụ hội ở cõi An Lạc đều do tâm thanh tịnh niệm Phật mà đã kết quả. Con tin rằng: Cõi Cực Lạc hiện nay hoàn toàn do chí nguyện và hạnh tu của Phật A Di Đà cùng các Bồ-tát tạo thành.

 

Thưa đệ tử số 5, con tên là TIN SỰ. Con tin chắc chắn cõi An Lạc có thật ở phương Tây. Con tin chắc chắn Phật A Di Đà đang thật sư phóng hào quang khắp mười phương để tiếp dẫn chúng sanh niệm Phật về cõi Phật.

 

Thưa, đệ tử số 6 con tin là TIN LÝ. Con tin rằng bao nhiêu hoa đốm xanh đỏ, quay cuồng đều do thần kinh mỏi nhọc tự thấy ra. Cảnh giới Ta Bà đã có 6 căn tuần nghiệp xấu ác mà xuất hiện. Thì nay sáu căn thanh tịnh làm nhân, theo duyên thanh tịnh của Đức Phật, hẳn về Tịnh-độ trang nghiêm còn nghi ngờ gì nữa.

 

Tánh Vô Lượng Quang Thọ là căn bản trí, đang lưu lộ ở sáu căn của chúng ta. Lấy đây làm nhân Bồ-đề là tu liễu nghĩa, để cầu thành Phật là chứng liễu nghĩa. Kinh A Di Đà là pháp môn tối cực viên đốn.

 

Trì danh là nghe rõ danh hiệu Phật. Ai cũng biết tánh nghe và viên pháp. Mỗi niệm Phật là một nhớ đến Phật tánh. Nhât tâm bất loạn là hoàn toàn sống với Phật tánh, là đốn thành Phật quả.

 

( TÍN đại sĩ đứng giữa các đệ tử nói)

 

Đức Phật dạy: Cửa ải sanh tử rất khó giải thoát. Chẳng nói những kẻ tu hành lơ mơ, trí tuệ ngông cuồng, buồn tủi không kết quả. Ngay những thiền gia đốn ngộ, lúc lâm chung, nếu tập khí còn sót một mảy tơ, cùng thừa sức mạnh lôi đi truỵ lạc. Vĩnh minh thiền sư bảo rằng:” Ấm cảnh hiện ra, chỉ chớp mắt là theo nó”. Nghe lời này, người trí tuệ rùng mình, lạnh buốt trái tim. Người được đạo quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn rồi mà còn mê  muội trong bào thai. Bồ-tát cách ấm còn hôn ám.

 

Chỉ nhờ sức Phật mới thoát được hiểm nguy đầu thai. Từ bi lực của Phật và Thánh chúng mới đủ sức mạnh tiếp dẫn vãng sanh. Vì thế đức Thích Ca khuyên đi khuyên lại chúng ta phải tin sâu rằng: Chỉ có niệm Phật mới bảo đảm giải thoát.

 

Vui cầu cõi tịnh là phát khởi cái tâm làm thiện. Chán bỏ Ta-bà là quyết định cái tâm phá ác. Chỗ thủ xả này mà chưa có, thì mong gì liễu ngộ lý Phật.

 

Kinh nói: “ Ta thấy lợi thế, cho nên nói thế”. Rõ ràng mắt Phật thấy, tiếng Phật nói để ấn định sự thật này. Chúng ta nên một lòng tin Phật, vâng lời Phật mà niệm Phật cầu về cõi Phật đi.

 

Kính thưa, con là NGUYỆN đại sĩ. Ai nấy đã tin chắc cõi Ta-bà nhơ uế là do công nghiệp những tâm tánh nhơ uế hiện ra. Đúng lý nên chán bỏ.

 

Cõi An Lạc thanh tịnh là do công nghiệp những người thanh tịnh tạo ra. Đúng lý, ta nên vui cầu. Đã thấy đáng chán bỏ thì quyết định buông xả. Đã thấy nên vui cầu thì nhất định hướng về. Nếu sự đã làm chẳng xong thì biết lý hẳn chưa thấu triệt.

 

Chuyển phiền não thành Bồ-đề. Chuyển pháp giới phàm mê thành pháp giới thanh lương. Chí nguyện này phải minh bạch rõ ràng.

 

Ở cõi Ta-bà, được nghe được thấy thánh nhân đã quá hiếm, huống chi thân cận. Ngày nay, chỉ cần chuyên niệm phật liền được về Tịnh-độ, được Thánh nhân làm Thầy làm bạn, cùng diệt vô minh, cùng lên Diệu Giác. Bởi vì niệm Phật có nhiều thiện căn phước đức nhân duyên nên cảm quả báo được chung sống với các Thánh Hiền.

 

Ta-bà là một cửa ải khó lòng ra thoát. Trong sáu đạo luân hồi, loài người độc nhất có điều kiện thoát ly. Cõi trời bị căn trần đêm ngày gây mê, khó khăn tỉnh thức. Các cõi dưới phiền não chướng, chướng nghiệp, báo chướng bức bách, làm sao mống được một niệm trí tuệ. Chỉ có loài người hiểu nổi tin nổi công đức và sức mạnh của chí nguyện.

 

Nguyện lực không thể nghĩ bàn đã khiến Pháp Tạng Tỳ-kheo thành Phật A Di Đà. Thì nay đại thệ nguyện lực cũng phá tan được lùm mây 5 ấm vô minh đưa chúng ta trở về chân tâm bản tánh. Tinh sâu, nguyện thiết là cất bước trên đường Bồ-đề, là kim chỉ nam là vượt biển sanh tử. Kinh Hoa Nghiêm dùng 100 thí dụ vẫn chưa nói hết thịnh đức thiết yếu của Bồ-đề nguyện.

 

Kính thưa đại chúng, con là HẠNH đại sĩ. Chấp trì danh hiệu Phật A Di Đà, lấy nhất tâm bất loạn làm hẹn kỳ, lấy vãng sanh làm mục đích.

 

Tâm ta có cảm thì tâm Phật tất ứng. Như thế cứ mỗi niệm là đức Phật thật sự đang tiếp dẫn chúng ta vãng sanh. Cứ mỗi niệm là chúng ta đang đem thể chất gởi vào trong hoa sen báu. Luôn luôn niệm danh hiệu Phật là Tự Tuệ

 

A.CÓ 2 LỐI CHẤP TRÌ

 

1-Sự trì: là một lòng niệm Phật cầu về Tịnh-độ như con thơ nhớ mẹ không quên.

 

2-Lý trì: Tin Phật A Di Đà và cõi tây phương ở ngay trong tâm mình. An định tinh thần vào danh hiệu Phật khiến tuệ hằng sáng chiếu nghe rõ.

 

B.NHẤT TÂM CŨNG CÓ 2

 

1-Bất luận sự trì hay lý trì, hễ phục trừ được phiền não, diệt xong kiến-hoặc và tư-hoặc là được Sự nhât tâm.

 

2-Bất luận sự trí hay lý trí, hễ minh tâm kiến tánh là được Lý nhất tâm là Tu Tuệ. Danh hiệu Phật A Di Đà là danh hiệu của chân tâm bản tánh Phật. Cái tâm mình đang niệm Phật đây cũng chân thật lắm. Mỗi tiếng niệm Phật là một hạt giống Bồ-đề. Công đức quả tình chẳng thể nghĩ bàn.

 

KẾT KHUYẾN

( Tất cả 9 người vừa đi vừa nói)

 

Loài người chúng ta:

 

1-Hiện đang ở trong kiếp trược, quyết định đang bị vô lượng khổ áp bức.

 

2-Hiện đang ở trong kiến trược, quyết định đang bị cái trí xảo trá chỉ huy.

 

3-Hiện đang ở trong phiền não trược quyết định bị tham dục sân giận, các thứ tâm độc kích thích.

 

4.Hiện đang ở trong chúng sanh trược, quyết định cứ cam phận sống đắng cay chết đoạ đày, không bao giờ ngờ rằng mình có thoát ly.

 

5-Hiện đang ở trong mạng trược, quyết định bị ma lực vô thường như lửa cháy bốn bên mà cứ rong chơi nô đùa, đâu có tỉnh ngộ được.

 

6-nay nghe được pháp môn niệm Phật này chúng con vui mừng tin chịu, quy mệnh đảnh lễ thực hành.

 

7-Cứ một chiều tiến mãi không thôi, đem kinh lưu thông truyền bá khắp nơi, đền đáp ơn sâu của Phật Tổ.

 

8-Chúng con sẽ đi, đi mãi xuất đời vị lai, giáo hoá không cùng không tận.

 

9-Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật...

 

---o0o---

 

Mục Lục  > I > II > III > IV > V > VI > VII

---o0o---

Vi tính: Quảng Tuệ Hương & Quảng Trí Lực

 Trình bày: Anna

Cập nhật: 10-2007

 

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

chùa tam bảo Đà nẵng Tại PhẠVận lợi vạn đạo tuyên cổ tự mang tên quốc sư xứ hanh hoan hy tá³ nghịch tach åº lành thay nếu được là học trò của Mối quan hệ tình bạn theo tinh thần kinh tiếng anh hãy nhớ những việc cần nhớ và quên tieng niem phat khai thiền và cách thở đúng để nâng cao một ngày doi mat biet tu bói toán và những điều cần biết Để Đổ mồ hôi nhiều là biểu hiện của thường Thiều Chửu nhân vật Phật giáo xuất 1948 đa Phật giáo bão chuoi hat trong doi song ban tre Ăn chay giúp sống lâu hơn tuc t廙 vị Ăn rau quả tươi cũng giúp ích cho tinh Lễ húy kỵ Hòa thượng Tăng thống Bửu dao duc trong nep song nguoi phat tu thien vien thuong chieu Lâm mau nhiem thay hai bai than chu những lời sám hối của con tới mẹ diếp nom phần Bún Hạnh nước mùi vị nước thảm họa thiên tai vốn dĩ không tự