categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đình, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, vãng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cõi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cõi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử Hình ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
 
 

 

 

 

PHẬT PHÁP

 

Minh Châu - Thiên Ân - Chơn Trí - Đức Tâm

Biên soạn

 

 

MỤC LỤC

A.- LỊCH SỬ

I. CÁC ĐỨC PHẬT

1. Đức Phật Thích Ca từ sơ sinh đến xuất gia

2. Đức Phật Thích Ca từ xuất gia đến nhập Niết bàn

3. Đức Phật A Di Đà

4. Đức Di Lặc

II. CÁC VỊ BỒ TÁT

1. Đức Quán Thế Âm

2. Ngài Văn Thù Sư Lợi

III. CÁC VỊ TỔ SƯ

1. Ngài Ma Ha Ca Diếp

2. Ngài A Nan

3. Ngài Nguyên Thiều

4. Ngài Liễu Quán

IV. CÁC NGÔI CHÙA

1. Chùa Quốc Ân

2. Chùa Thuyền Tôn

V. TRUYỀN BÁ

1. Đạo Phật Việt Nam từ thời đại du nhập đến nhà Lý

2. Đạo Phật Việt Nam từ đời Trần đến cận đại

 

B.- KINH ĐIỂN

1. Kinh Mười điều thiện

2. Tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân

 

C.- GIÁO LÝ

1. Ba ngôi báu : Phật, Pháp, Tăng

2. Sáu hòa kính

3. Lý nhân duyên sinh

4. Lý nhân quả

5. Lý luân hồi

6. Bốn đế

7. Mười hai nhân duyên

8. Tám chánh đạo

9. Thiện ác nghiệp báo

D.- PHÁP HẠNH

1. Ba quy y

2. Ăn chạy

3. Niệm Phật

4. Năm giới

5. Mười điều thiện

6. Bốn ân

7. Bốn Nhiếp Pháp

8. An cư kiết hạ

9. Giới, Định, Huệ

10. Mục ngưu đồ

11. Quán tưởng niệm Phật

12. Tám Quan trai

13. Sáu độ

E.- NGHl THỨC

1. Bài sám hối

2. Nghi thức phổ thông

G.- CHUYỆN TlỀN THÂN VÀ CHUYỆN ĐẠO

I. CÁC CHUYỆN TIỀN THÂN

1. Cặp mắt Thái tử Cau Na La

2. Lòng hiếu chim oanh vũ

3. Thái hậu Đại Noa

4. Con sư tử trọng pháp

5. Quả báo làm mẹ đau khổ

II. CÁC MẨU CHUYỆN ĐẠO

1. Bà già cúng đèn

2. Lòng ngưỡng mộ Phật pháp của vua A Dục

3. Thầy Tỳ kheo với con ngỗng

4. Đức Phật với La Hầu La

5. Đức Phật độ cho người gánh phân

6. Những người mù rờ voi

7. Tràng hoa bong bóng

8. Gần Phật với xa Phật

9. Con dao trong tâm

10. Tại sao phải niệm Phật

H.- PHỤ LỤC

1. Châm ngôn và năm điều luật Gia đình Phật tử

2. Hoa sen và mục đích Gia đình Phật tử

3. Phương pháp dạy đạo Phật cho thiếu nhi.

 

(Toàn tập -pdf)

 

  

 

LỜI NÓI ĐẦU

Tập Phật Pháp này ra đời có một chủ đích: “Giới thiệu đạo Phật cho Thanh Thiếu nhi”. Chương trình gồm các mục lịch sử, giáo lý, pháp hạnh, nghi lễ, mẩu chuyện đạo, chuyện tiền thân, kinh điển ... soạn tuần tự theo bốn cấp bậc Hướng Thiện, Sơ Thiện, Trung Thiện, Chánh Thiện cho Thiếu niên, Thiếu nữ với sức học tương đương từ lớp 6 lên đến chuyên khoa. Một tập thứ II soạn sau, đành riêng cho nam nữ Phật tử sẽ bổ túc cho tập này.

Người dạy đạo Phật cho tuổi trẻ cần để ý:

1. Bậc Hướng Thiện, Sơ Thiện, bài dạy dễ hơn, vì các em mới ở đồng niên, đồng nữ lên, hước mới vào. Bậc Trung Thiện, Chánh Thiện có khó hơn vì các em đã ở hai năm sinh hoạt trong Gia đình Phật tứ, và để sửa soạn cho các em học chương trình nam nữ Phật tử.

2. Tùy theo trình độ các em, có thể soạn lược các bài (nếu các em còn nhỏ và trình độ học kém); hay bổ túc thêm với tài liệu ở ngoài (nếu các em lớn tuổi hay sức học khá).

3. Các bài làm thiên về đại cương. Người dạy cần tìm tài liệu ở ngoài để giảng giải thêm. Trong khi dạy, cần diễn giảng rõ hơn, tìm những ví dụ ở ngoài lấy trong hoàn cảnh các em hiện sống, tìm những đoạn kinh, những mẩu chuyện có quan hệ đến bài giảng, và tìm cách ứng dụng bài giảng trong đời sống hằng ngày của các em.

Cả tập Phật pháp này chỉ là những dòng chữ đen trắng phối hợp lại. Nghệ thuật của người dạy là làm thế nào cho những dòng chữ đen trắng này biến thành những sức mạnh khiến các em sống đúng theo năm hạnh TINH TẤN, HỶ XẢ, THANH TỊNH, TRÍ TUỆ, và TỪ BI, lợi ích cho các em, cho mọi người. Đó là sở nguyện chân thành và tha thiết của các tác giả.

CÁC TÁC GIẢ 

 

 

GIA ĐÌNH PHẬT TỬ PHẬT PHÁP

A.- BẬC HƯỚNG THIỆN

1/. Biết sự tích Đức Phật Thích Ca từ sơ sinh đến xuất gia.

2/. Biết hai chuyện tiền thân hay mẩu chuyện đạo.

3/. Thuộc và hiểu bài Sám hối.

4/. Hiểu châm ngôn và năm điều luật của Gia đình Phật tử.

5/. Hiểu ý nghĩa hoa sen và mục đích của đoàn.

B.- BẬC SƠ THIỆN

1/. Biết sự tích Đức Phật Thích Ca từ xuất gia đến thành đạo.

2/. Biết sự tích Đức Phật A Di Đà và Đức Quán Thế Âm.

3/. Biết ba chuyện tiền thân hay mẩu chuyện đạo.

4/. Biết ba ngôi báu, ba pháp quy y, sáu phép hòa kính.

5/. Hiểu ý nghĩa ăn chay niệm Phật.

6/. Hiểu và thuộc nghi thức thông thường.

C.- BẬC TRUNG THIỆN

1/. Sự tích Đức Phật Di Lặc.

2/. Sự tích Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

3/. Sự tích chùa Quốc Ân.

4/. Sự tích chùa Thuyền Tôn.

5/. Lý Nhân duyên sinh.

6/. Lý Nhân quả.

7/. Lý Luân hồi.

8/. Năm giới.

9/. Mười điều thiện.

10/. Bốn ân.

11/. Bốn Nhiếp pháp.

12/. Tám điều giác ngộ của bậc Đại nhân.

13/. An cư Kiết hạ.

14/. Lịch sử đạo Phật Việt Nam từ thời đại du nhập đến đời Lý.

15/. Biết năm mẩu chuyện đạo.

D.- BẬC CHÁNH THIỆN

1/. Sự tích Ngài Ma Ha Ca Diếp.

2/. Sự tích Ngài A Nan.

3/. Sự tích Ngài Nguyên Thiều.

4/. Sự tích Ngài Liễu Quán.

5/. Giới Định Huệ.

6/. Mục ngưu đồ.

7/. Bốn đế.

8/. Mười hai nhân duyên.

9/. Chánh Đạo.

10/. Kinh Mười điều thiện.

11/. Thiện ác nghiệp báo.

12/. Sáu độ.

13/. Quán tưởng và niệm Phật.

14/. Tám quan trai.

15/. Lịch sử đạo Phật từ đời Trần đến cận đại.

PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐẠO PHẬT CHO THIẾU NHI

A. LỜI NÓI ĐẦU

Đao Phật là đạo của mọi người, thì đạo Phật cũng phải là Đạo của Thiếu nhi, của tuổi trẻ. Gia đình Phật tử ra đời, các đoàn Thiếu nhi Phật tử hoạt động, mục đích áp dụng đạo Phật trong sự giáo dục Thiếu nhi, đào tạo các Thiếu nhi thành những Phật tử chân chính, sống đúng tinh than đạo Phật, sống lợi ích cho các em, cho gia đình, cho mọi người. Sự giáo dục ở nơi đây hoàn toàn chú trọng hướng dẫn các em sống theo các hạnh tinh tấn, hỷ xả, thanh tịnh, trí tuệ và từ bi.

B. VÌ SAO CẦN PHẢI DẠY ĐẠO PHẬT?

Chúng tôi chú trọng dạy các em hiểu biết về Phật pháp vì những lý do sau này :

1. Đạo Phật là đạo của giác ngộ, tôn trọng lý trí, thì một Phật tử nào dầu là Thiếu nhi, cũng phải có một sức học Phật pháp chắc chắn.

2. Đạo Phật dạy rằng, nguyên nhân đau khổ là vô minh, nghĩa là mê mờ không sáng suốt. Một em Phật tử muốn sống đúng tinh thần đạo Phật, cần phải hiểu giáo lý Phật dạy, hiểu những phương tiện hành trì. muốn hiểu thời phải học, phải tự mình chứng nghiệm.

3. Đạo Phật là Đạo của lý trí mà vì tín đồ thất học bị hiểu lầm là mê tín dị đoan. Muốn tránh các nạn thất học mù đạo rất đáng phàn nàn ấy, các em cần phải học ngay đạo Phật từ lúc nhỏ.

C. CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY ĐẠO PHẬT

Nhưng Phật pháp là liều thuốc bổ trị tâm bệnh chúng sinh, nếu không hiểu phương tiện giảng dạy, có thể trở lại đầu độc các em. Những ai tự nhận lấy trách nhiệm cao quý đem đạo Phật đến với các em cần phải rất thận trọng.

I. CÁC PHƯƠNG CÁCH GIẢNG DẠY

Dạy Phật pháp cho các em thường dùng những phương cách sau đây :

1. Giảng dạy: Dạy từng bài một như bài cách trí, địa dư có bài mẫu nhỏ cho các em học và chép. Cách dạy này cần định nghĩa rõ ràng, cần bài mẫu dễ hiểu, rất có lợi cho các em sức học lớp sáu trở lên hay trên 12 tuổi, nhưng có phần khô khan và hay thiên về hiểu biết suông.

2. Nói chuyện và hỏi chuyện: Người dạy thành một người kể chuyện theo một dàn bài đã định trước. Vừa kể chuyện lại vừa hỏi cho các em trả lời và chú ý; các buổi học trở nên hoạt động vui vẻ thân mật; nếu khéo lựa câu hỏi, thời có thể phát triển sự nhận xét chú ý của các em. Cách dạy này có khó hơn, vì phải biết điều khiển, rất lợi cho các em nhỏ và các em thích quan sát tìm hiểu, nhưng có cái hại là dễ quên, vì không được ghi chép.

3. Gợi sự nhận xét, phát triển lý trí: Không cần bài học, không cần mẩu chuyện, người dạy tùy theo từng trường hợp hoàn cảnh, thuận tiện, mà tìm cách phát triển lý trí và sự nhận xét của các em, như đưa các em lên chùa chiêm ngưỡng tượng Phật, gợi cho các em tìm hiểu đôi mắt của Đức Phật là hình ảnh của từ bi vô lượng; toàn thân chói sáng hào quang là hình ảnh của Trí tuệ vô lượng v.v... Hay ở tại chùa chỉ cho các em thấy điện Phát trang nghiêm, nghe chuông ngân từ hòa, giọng tụng kinh đầy nhạc đạo; rồi để các em so sánh với cảnh đời náo nhiệt ồn ào các em thường ngày sống. Hoặc chỉ cho các em nhận xét đời sống đạm bạc uy nghi đức độ của vị Tăng già ở chùa để các em tìm hiểu và bắt chước. Cách dạy này cần nhiều nghệ thuật, giúp các em thâm nhập, lợi cho các em về phần nhận xét và lý giải.

4. Giúp các em thể nghiệm thâm nhập: Khác với sự lý giải cần nhiều lý trí và suy đoán, cách dạy này toàn dùng phương pháp trực nhận để các em thâm nhập chứng nghiệm những nghĩa lý sâu xa mầu nhiệm của đạo Phật. Trong đời sống tập đoàn của đạo Phật, như sáu hòa, bốn nhiếp pháp; trong đời sống cá nhân của mỗi em; người dạy giới thiệu những phương tiện như quy y ăn chay, niệm Phật, nghĩa là người dạy tìm tất cả phương tiện để đào tạo một hoàn cảnh, một đời sống, một bầu không khí thấm đượm chốn tinh thần đạo Phật để các em hít thở chung sống một cách tự nhiên. Ở đây nhiều khi không cần lời nói văn hoa mà chỉ là một nghệ thuật hướng dẫn khiến đạo Phật dần dần thâm nhập một cách sâu xa kín đáo trong tâm hồn các em. Phương pháp này rất khó áp dụng, cần phải tự mình thâm nhập đạo nhiều, lại cần phải gần các em, cần phải có một khung cảnh thuận tiện, cần phải nhiều thời gian, nhiều kinh nghiệm mới thành tựu.

Trong bốn phương cách kể trên, và vì vấn đề giáo dục. Thiếu nhi còn đương ấu trĩ về kinh nghiệm, người lãnh trách nhiệm dạy đạo Phật cho các em cần phải khéo léo, ứng dụng cả bốn cách, tùy theo trường hợp hoàn cảnh không nên thiên hẳn một phương pháp nào.

II. CÁCH DẠY ĐẠO PHẬT

Cần phải hợp pháp và hợp cơ.

1. Hợp pháp: là đúng với chân lý, chánh pháp; những bài dạy không được sai Phật pháp. Người dạy cần phải nghiên cứu nhiều, học hỏi nhiều. Chúng ta nên hiểu các em thông minh, nhận xét giỏi, hay hỏi nhiều câu thắc mắc, người dạy đạo Phật phải biết trả lời thông suốt để khỏi mất uy tín và làm thỏa sự đòi hỏi nghiên cứu, vì đạo Phật mênh mông như bể cả, căn cơ các em khó dò như bể sau. Có học nhiều, nghiên cứu nhiều mới tạm xứng đáng dạy các em về Phật pháp.

2. Hợp cơ: nghĩa là hợp tánh tình, căn cơ các em. Tành tình các em Thiếu niên, Thiếu nữ trái hẳn nhau, cách dạy đạo Phật không thể nhất luật được. Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng trong năm hạnh: Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí tuệ, Từ bi, các em nam phần đông thích hạnh Tinh tấn, còn các em nữ chỉ thích hạnh Từ bi, nhưng các em thích hạnh Hỷ xả ngang nhau. Sự nhận xét trên cho chúng ta thấy rõ các em nam thích động, thích phấn đấu lấn lướt hơn người; các em nữ thích về tịnh, nhiều tình cảm và lòng thương, nhưng cả thiếu niên nam nữ đều thích vui vẻ Hỷ xả. Tuổi các em là tuổi của nụ cười, tuổi của muôn hoa. Lại riêng trong các em nam hay nữ, tâm trạng của các em rất phức tạp, tánh tình lại có thể thay đổi tùy theo tuổi, tùy theo sức học, tùy theo hoàn cảnh, người dạy Phật pháp phải tùy theo căn tánh mà dạy, chỉ bày, hợp với căn cơ với từng tính tình. Đừng ham dạy nhiều, cần dạy ít nhưng phải hợp với tâm lý của các em.

3. Nên mời các vi xuất gia giảng dạy: Trong những địa phương có các vị xuất gia hiểu Đạo, hiểu Thiếu nhi, thời nên mời các vị ấy dạy cho các em. Chính đời sống và hình ảnh tu hành của vị xuất gia giúp rất nhiều trong sự giáo dục của các em, nhất là giúp các em ưng học Phật pháp và chịu thực hành theo Phật pháp. Nhiều khi cũng một bài Phật pháp mà người có tu học dạy thế nào cũng có nhiều ảnh hưởng cho các em hơn là một người không tu học. Lại đạo Phật không phải là đạo dễ dàng, cần phải học nhiều mới thấu hiểu, cho nên dạy đạo Phật cần phải rất thận trọng.

4. Tạo một khung cảnh đặc biệt trong giờ học Phật pháp:

a/ Thì giờ. - Các em Thiếu nhi bậc Trung Thiện trở xuống thì chỉ dạy nửa giờ, các em bậc Chánh Thiện có thể dạy 45 phút hay một giờ, nên học Phật pháp về buổi sáng hay sau khi tụng kinh.

b/ An tịnh. - Đừng cho các em chơi những trò chơi mạnh trước giờ Phật pháp và lựa những chỗ thanh tịnh mà dạy.

c/ Khung cảnh. - Nên sắp các em ngồi vòng tròn để người dạy có thể nhìn khắp các em. Đừng sắp như lớp học vì khêu gợi các em hình ảnh một nhà trướng thứ hai. Rất có thể tổ chức những lớp học ngoài trời, dưới những cây cổ thụ có bóng mát.

d/ Nên dạy Thiếu niên nam, nữ riêng. - Nếu có đủ người dạy nên dạy nam nữ riêng. Tuy cũng một bài Phật pháp, nhưng dạy bên nam bên nữ khác nhau. Ví dụ trong một câu chuyện kể cho các em, nếu là nữ thời phải lựa những chuyện thiên về từ bi, thiên về tình cảm; nếu là nam thời phải lựa những chuyện dũng cảm, những cử chỉ siêu phàm. Còn các em nữ thiên về lòng tin và sự tịnh nhiều, các em nam thời thiên về lý trí và ưng hoạt động nhiều, nên dạy Phật pháp phải khác nhau.

Cho nên muốn buổi học Phạt pháp thiết thực, có lợi ích thời cần dạy riêng thiếu niên nam, nữ; nếu được một vị xuất gia Tỳ kheo dạy cho các em nam, một Ni cô dạy cho các em nữ mới thiệt có ích.

Trong khi dạy phải tránh những lỗi lầm sau đây:

III. NHỮNG LỖI LẦM PHẢI TRÁNH

1/. Đừng bắt các em tin một cách mù quáng. - Đạo Phật rất tôn trọng lý trí. Bắt các em nhắm mắt tin suông, tin mù quáng tức là trái chân tinh thần đạo Phật. Vẫn biết tuổi các em còn nhỏ chỉ biết tin mà thôi, nhưng lòng tin ấy phải được sự lý giải khai sáng.

2. Đừng nhồi sọ các em.- Nhồi sọ là chồng chất bài này trên bài khác, không để các em có thì giờ suy nghiệm, thâm nhập; các bài Phật pháp vô tình đã trở thành những món ăn tinh thần khó tiêu và vô tình chúng ta đã đè nén bộ óc non nớt của các em. Đạo Phải chỉ khác tôn giáo, các chủ nghĩa khác là ở nơi sự kính trọng quyền nhận xét cá nhân, tự do tư tưởng phát triển lý trí.

3. Đừng chuyên danh ngôn, phải chú trọng thực hành.- Có thực hành các em mới hiểu Phật pháp, các em có ăn chay mới hiểu lợi ích của ăn chay, có niệm Phật mới hiểu sự lợi ích của niệm Phật. Muốn đào tạo các em thành những Phật tử chân chính phải bày cho các em thực hành ngay đời sống trong hàng ngày của các em các hạnh Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí tuệ và Từ bi. Sự thực hành đi đôi với sự lý giải mới giúp các em sống đúng chân tinh thần đạo Phật.

4. Đừng nói suông, phải tụ mình làm gương cho các em.- Dạy các em ăn chay, người dạy phải ăn chay, dạy các em niệm Phật, người dạy phải niệm Phật, dạy các em Tinh tấn, Hỷ xả, v. v… người dạy phải Tinh tấn, Hỷ xả … Chính đời sống của người dạy Phật pháp rất có ảnh hưởng đến đời sống của các em, vì các em thường hay noi gương người lớn. những sớ hành của người dạy có phù hợp với những lời của mình dạy mới mong các em bắt chước thực hành noi theo. Và chỉ có vậy, sự giảng giải Phật pháp mới đem đến cho các em những kết quả thiết thực lợi ích.

5. Đừng trái với những lánh tình trong đẹp của các em.- Dạy cho các em quá nhiều những nỗi đau khổ của cuộc đời, trình bày một cách quá sống sượng có thể làm cho các em mất tin tưởng, phát sinh hoài nghi và chán nản; như vậy là đầu độc tinh thần của các em và trái ngược với tánh tình vui vẻ của tuổi trẻ. Dạy cho các em chớ nên tà dục, chớ nên uống rượu, nói cho các em rõ những tâm niệm độc ác của con người tức là đã vô tình làm hoen ố tâm hồn trong sạch, hồn nhiên của các em và phạm một điều tối kỵ trong nghệ thuật giáo đục, vì rằng các em chưa đến tuổi nghĩ đến những sự tà dục, những sự uống rượu v.v... mà nay nhắc các em đừng nên tà đục đừng nên uống rượu v.v... tức vô tình gợi cho các em nghĩ đến những điều ấy và vô tình làm những tà niệm xen lẫn trong tâm hồn trong trắng của tuổi trẻ.

D. KẾT LUẬN

Đức Phật có dạy: “Trong các sự bố thí, bố thí pháp công đức hơn tất cả”, chúng ta đem Phật pháp dẠy cho các em tức là chúng ta đem tung vãi những hột giống Phật pháp vào thửa ruộng xanh tươi đầy nhựa sống của tuổi Thiếu nhi trong sạch, đầy tin tưởng. Một cử chỉ bao hàm biết bao ý nghĩ tốt đẹp cao quý, chúng ta chỉ cần một chút thành tâm; và sung sướng cho chúng ta bao nhiêu khi chúng ta nhận thấy đôi mắt của các em đã in nét từ bi vô lượng của chư Phật, gương mặt trong đẹp tuổi trẻ ấy đã phản chiếu ánh hào quang trí tuệ cua các bậc Đại Giác trong mười phương. 

 

A.- BẬC HƯỚNG THIỆN

 

1.- BIẾT SỰ TÍCH ĐỨC THÍCH CA TỪ KHI SƠ SINH ĐẾN XUẤT GIA.

2.- BIẾT HAI CHUYỆN TIỀN THÂN, HAI MẨU CHUYỆN ĐẠO.

3.- THUỘC VÀ HIỂU BÀI SÁM HỐI.

4.- HIỂU CHÂM NGÔN VÀ NĂM ĐIỀU LUẬT CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ.

5.- HIỂU Ý NGHĨA HOA SEN VÀ MỤC ĐÍCH CỦA ĐOÀN.

 

1.- LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA

(Từ sơ sinh đến xuất gia)

i. THÂN THẾ CỦA THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA

Đức Phật Thích Ca tên là Tất Đạt Đa, hiệu Thích Ca một nhánh của họ Kiều Tất La, một đại quý tộc ở Ấn Độ. Hợp cả tên lẫn họ là Kiều Tất La Thích Ca Tất Đạt Đa. Ngài là con vua Tịnh Phạn nước Ca Tỳ La Vệ. Mẹ Ngài là Ma Gia Hoàng hậu. Nước Ca Tỳ Là Vệ ở Ấn Độ thời ấy là một nước rất phồn thịnh, nay tức là xứ Therai, ở phía Đông Bắc thành Bộ La Nại, phía nam nước Népal.

ii. NGÀY VÀ CHỖ ĐẢN SINH THÁI TỬ

Thái tử sinh lúc mặt trời mọc, ngày rằm tháng Hai Ấn Độ, tức là ngày rằm tháng Tư theo lịch Trung quốc, vào năm 544 năm trước Công nguyên. Như vậy đến năm 1962 là đúng với Phật lịch 2506. Ngài sinh dưới cây vô ưu, trong vườn Lâm Tỳ Ni trong khi bà Ma Gia đang dạo chơi vườn cảnh.

iii. TƯỚNG MẠO THÁI TỬ VÀ LỜI TIÊN ĐOÁN CỦA A TƯ ĐÀ.

Khi Thái tử sinh có nhiều điềm rất lạ, trời mưa hoa thơm, nhạc trời chúc tụng, quả đất rung động. Thái tử sinh ra có 32 tướng tốt. Ông tiên A Tư Đà đến đoán tướng ngài nói rằng: “Thái tử có đủ 32 tướng tốt, nếu làm vua thì làm vị Chuyển luân thánh vương; nếu xuất gia tu hành thì sẽ thành Phật”.

iv. SỰ GIÁO DỤC VÀ TÀI NĂNG CỦA THÁI TỬ

Sau khi sinh Thái tứ được 7 ngày thời bà Ma Gia từ trần. Vua Tịnh Phạn giao Thái tứ cho người dì tên là Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi nấng chăm sóc. Vua hết sức lo sự giáo dục cho Thái tử. Ngài cho mời những bậc giáo sư có tiếng nhất ở trong nước về văn cũng như về võ, Thái tử rất thông minh, chỉ học qua một lần đều thông hiểu, văn võ toàn tài không ai sánh kịp. Các vị giáo sư đều bái phục.

v. ĐỜI SỐNG CỦA THÁI TỬ

Thái tử được vua Tịnh Phạn yêu quý, ngày ngày sống trong cảnh phong lưu sung sướng. Vua xây cho Thái tử những toà lâu đài hợp với ba mùa của xứ Ấn độ. Mùa nóng có chỗ mát, mùa lạnh có chỗ ấm, mùa ôn hòa có chỗ không nóng không lạnh. Cung điện trang hoàng cực kỳ mỹ lệ, vườn cảnh có đủ hoa thơm cỏ lạ. Vua Tịnh Phạn lại ban cho 500 thể nữ kiều diễm đêm ngày ca múa đàn hát; các món vui chơi trong nước, không còn thiếu một món gì. Tuy Thái tử sống trong xa hoa lộng lẫy, nhưng ngài không bao giở say đắm, trên mặt luôn lộ một vẻ buồn kín đáo, thương người thương mọi vật. Tuy văn võ hơn người, Ngài vẫn khiêm tốn lễ độ, không kiêu căng tự đắc.

vi. THÁI TỬ LẬP GIA ĐÌNH

Đến 17 tuổi, ngài vâng theo lời của Phụ vương kết hôn với nàng Da Du Đà La. Theo tục quý phái xưa, Thái tứ đã chiến thắng tất cả thanh niên đến dự các buổi thi và lựa nàng Da Du là người tươi đẹp thuần thục nhất trong các Công chúa muốn được làm vợ Ngài. Thái tử sinh được một người con tên là La Hầu La.

vii. THÁI TỬ TIẾP XÚC VỚI ĐỜI

Vì có lời tiên đoán của ông A Tư Đà, nên vua Tịnh Phạn không cho Thái tử tiếp xúc với cảnh khổ; nhưng vì Thái tử khẩn khoản cầu xin, vua Tịnh Phần để cho Thái tử đi du ngoạn và tiếp xúc với thực trạng của cuộc đời.

1. Cảnh khổ thứ nhất: Sống là khổ. Một hôm Ngài theo Vua cha dự lễ cày cấy. Thấy người và vật vất vả, khố đau dưới ánh nắng thiêu đốt để đổi lấy bát cơm, chim chóc dành nhau mổ ăn các loài côn trùng giẫy giụa trên luống đất mới. Ngài thương xót buồn rầu vô hạn. ngài thương chúng sinh đau khổ vì sống, và vì món ăn phải giết lẫn nhau.

2. Ba cảnh khổ của cuộc đời: Già, bệnh, chết. Lần sau ngài lại xin phép Phụ vương ra của thành dạo chơi. Lần thứ nhất Ngài gặp một ông già tiều tụy, da nhăn, lưng còm, mắt lòa, tai điếc. Lầ thứ hai Ngài thấy một người tật bệnh bụng to cổ trướng rên la khổ sở. Lần thứ ba Ngài gặp một đám tang, thân nhân gào khóc thảm thiết. Ngài nhận hiểu được rằng: sống ở đời giàu nghèo sang hèn đều bị đau khổ doanh vây áp bức: già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ.

viii. TÂM TRẠNG CỦA THÁI TỬ SAU KHI TIẾP XÚC VỚI ĐỜI

Trước thực trạng đau khổ của kiếp người, Ngài bị xúc động mạnh mẽ. Sau khi thấy sự đau khổ của chúng sinh, ngồi luôn luôn tưởng nghĩ đến chúng sinh, nghĩ đến những nỗi đọa đày lầm than của chúng sinh, và ngài luôn luôn trù nghĩ suy tầm phương pháp cứu chúng sinh thoát khỏi biển trầm luân khổ ải. Mặt Ngài thường hiện vẻ lo buồn trầm mặc. Ngài lo buồn cho chúng sinh, Ngài trầm mặc để tìm phương pháp cứu độ chúng sinh thoát khỏi đau khổ.

ix. CẢNH GIẢI THOÁT VÀ THÁI TỬ XUẤT GIA.

1. Cảnh giải thoát: Lần thứ tư ra dạo chơi ngoài cửa thành, Ngài gặp một vị Sa môn thanh cao bình tĩnh, ngài hỏi rằng: “Ngài là ai?”. Vị Sa môn đáp: “Tôi là người đã thoát khỏi sự đau khổ của già, đau, chết”. Thái tử liền hiểu được rằng, chỉ có phương pháp cứu chúng sinh thoát khỏi bể khổ mênh mông là phải xuất gia tìm đạo.

2. Thái tử xuất gia: Một đêm kia, sau buổi yến tiệc linh đình, Ngài thừa lúc mọi người đang ngủ say, lặng lẽ ra khỏi cửa thành. Ngài định đánh thức bà Da Du Đà La ngỏ đôi lời từ biệt, nhưng sợ lòng nhi nữ hay bịn rịn có thể ngăn trở ý định, ngài Chỉ đành nhìn vợ con lần cuối cùng rồi gọi người hầu cận trung thành là Xa Nặc thắng ngựa Kiến Trắc, hai thầy trò ra đi, quân canh còn mải ngủ chẳng hay biết gì cả. Ngài ra đi lúc 19 tuổi, vào ngày trăng tròn tháng Hai.

x. KẾT LUẬN

Cử chỉ của Ngài xuất gia là một gương sáng cho mọi người soi chung. Vì lòng thương chúng sinh, lòng thương nhân loại, Ngài đã bỏ cung điện giàu sang, giường cao nệm ấm, cao lương mỹ vị và cả ngôi báu. Cho đến vợ đẹp con yêu ngài cũng đành từ giã để đi tìm hạnh phúc chân thật cho chúng sinh đang đau khổ. Cử chỉ của ngài ra đi nhắc nhủ cho muôn loài biết rằng hạnh phúc không thể tìm trong danh vọng tài sắc và những người thật thương yêu chúng sinh. Phải tìm chân lý để soi sáng cho chúng sinh. Cử chỉ của Ngài lúc ra đi là cả một sức mạnh quyết tìm chân lý, và chân lý chỉ đến với những tâm hồn cao cả thoát tục, tràn đầy một lòng vị tha không bờ bến.

2. HAI CHUYỆN TIỀN THÂN, HAI MẨU CHUYỆN ĐẠO

1). CẶP MẮT THÁI TỬ CÂU NA LA

Thuở Xưa ở Ấn Độ có một ông vua tên là A Dục trị dân rất công bình. Hồi còn trẻ, tính ngài hay giận dữ, nhưng dần dần Ngài trở nên hiền từ dịu dàng. Nhờ gương sáng của Ngài, nhờ huấn dụ đưa ra, ngài dạy cho dân tình nhã nhặn đối với mọi người và lòng bác ái đối với kẻ khổ sở. Ngài lập bệnh viện để chữa người bị bệnh, lập công viên để người và vật có chỗ nghỉ ngơi, sai đào giếng để khách bộ hành và vật khỏi khát nước, sai trồng hai bên đường những cây ăn quả và cây để làm thuốc.

Người con đầu của Ngài có cặp mắt đẹp hiền từ như chim “Câu Na La” vì thế người ta gọi chàng là Câu Na La. Đức vua rất đổi yêu mến Hoàng hậu Liên Hoa là mẹ của Thái tử. Hoàng hậu mất sớm, nhưng Thái tử rất được vua cha yêu dấu và tin dùng. Lòng từ ái, tính dịu dàng và khiêm nhượng của Ngài làm nhân dân rất yêu mến và kính trọng. Vợ Ngài rất dịu dàng, bao giờ cũng làm vừa lòng ngài, tên nàng là Ma Đa Vi.

Hoàng hậu mất, vua A Dục lấy một người vợ kế, lại kiêu căng, độc ác tên là Xích Di. Sau khi nàng sinh được một người con, nàng ước ao nó sẽ được nối ngôi thay Câu Na La, và tuy không để lộ một cử chỉ gì, lòng nàng rất ghét người con ghẻ.

Nhân khi vua mắc bệnh nặng, các thầy thuốc đành chịu bó tay, nàng Xích Di tìm cách chữa khỏi. Vua ngỏ ý muốn tạ ơn nàng. Nàng xin vua cho con nàng được nối ngôi.  Thật éo le cho vua A Dục. Ngài lấy làm buồn rầu vì không chiều lòng ân nhân, và Ngài lại nhắc lại lời hứa với Chánh hậu lúc lâm chung chỉ truyền ngôi cho Thái tử Câu Na La mà thôi. Ngài nói: “Ta có thể bỏ ngôi báu chứ không thể phụ lời hứa được”.

Thấy chuyện không thành, Xích Di xin vua được cầm quyền chính một ngày. Vua nghe lời, và nàng định sẽ nhân dịp ấy mà làm những việc ghê gớm.

Trong nước có một thành gọi là Đắc Xô Thi La nổi lên chống các quan cai trị của nhà vua. Chính Hoàng hậu Xích Di cũng dính líu vào việc ấy Thật thế, trước hết nàng cho các quan tiền rồi bảo lấy thuế dân thành ấy thật nặng, sau xúi dân nổi lên làm loạn. Hoàng hậu lại xúi dân nên yêu cầu vua cho Thái tử Câu Na La ra cai trị thành ấy, lấy cớ rằng chỉ có Thái tử là công bằng mới dẹp loạn được. Sáng hôm sau các đại biểu thành Đắc Xô Thi La đến để yêu cầu việc ấy, Xích Di tâu vua cho được tự tiện dùng ấn của Ngài, là cái ấn dùng để niêm phong những sứ mệnh gởi đi. Thế tức là nàng nắm được quyền hành trong ngày ấy.

Rồi các đại biểu đến. Hoàng hậu tán thành lời yêu cầu họ, tâu vua rằng chỉ có Hoàng tử được dân khâm phục và vì thế đưa dân đến chỗ bình an mà không có cuộc bạo động gì. Vua nghe lấy làm bối rối, vì Ngài nghi Hoàng hậu có manh tâm. Có gì nguy hiểm bằng sai Thái tử đến một thành phiến loạn.

Thấy vua lo âu, Hoàng hậu giả vờ đau đớn nói rằng: “Nếu nhà vua còn nghi ngờ lòng nàng thì từ nay nàng không nói gì nữa”. Rồi nàng giả bộ giận dỗi trả ấn lại cho vua, vì nàng biết thế nào vua cũng không nỡ lấy lại. Thật thế, vua A Dục trọng lời hứa không dám lấy ấn lại. Thái tử cũng một mực xin đi, Ngài phải bằng lòng, nhưng muốn chắc chắn, Ngài định cho một đội quân đi hộ tống, Hoàng tử từ chối việc ấy. Vì Ngài nghĩ muốn tránh sự đổ máu, phải hành động mau, nếu đi với đạo quân thì mất nhiều thì giờ. Ngài lại nói rằng: “Nào phải thấy gươm giáo như rừng, nghe tiếng ngựa hý, voi gầm, tiếng xe, tiếng trống, tiếng kèn, mà yên nhân tâm được đâu”.

Vua không nói gì nữa.Thái tử từ giã Ngài, từ giã nàng Ma Đa Vi rồi một mình cưỡi con ngựa Măng Đa La phi đi mau như gió. Chàng có ngờ đâu sau lưng chàng có con kỵ mã đang phóng nước đại. Đó là một người rất trung thành với Hoàng hậu, đương mang trong mình một sứ mạng có niêm ấn kỹ lưỡng.

Thái từ cưỡi bạch mã đi mau như bay. Hai bên đường làng mặc núi đồi đồng lúa rừng xanh như thụt lùi lại, nhưng cái tên chàng đến còn nhanh hơn, vì nhân gian mong Ngài đến lắm. Họ sửa soạn tiếp chàng. Kẻ thì rắc hoa xuống đường, kẻ thì hái quả để tiến, đâu đâu cũng nổi đầy tiếng hoan hô. Nhân dân xin Thái tử tha tội vì dân chúng không dám nổi lên chống vua, mà chỉ vì bọn tham quan ô lại. Nghe tiếng kêu van, Ngài lấy làm thương hại, tha lỗi và đi vào thành giữa tiếng nhạc vang lừng. Thái tử đặt lại thuế má, cho người công bình ra trị dân; dân lây làm mừng rỡ và phái đại biểu về tâu vua tỏ bụng trung thành và ca tụng Thái tử đã đưa lại cho họ sự yên ổn.

Thành Đắc Xô Thi La đang vui vẻ bỗng chiều ngày ấy người cưỡi ngựa theo Thái tử vừa đến, và giao cho công chức trong thành một cái dụ. Mở ra xem ai nấy sửng sốt sợ hãi vì đạo dụ ra lệnh “phải móc mắt Thái tứ Câu Na La kẻ thù lợi hại của nhà vua và là kẻ đã làm nhơ nhuốc nòi giống”. Đạo dụ lại nói rằng khi đã làm hình phạt ấy rồi, không người dân nào được cứu giúp Thái tử và cấm không được nói đến tên Ngài nữa.

Các viên chức không dám cho Thái tử biết đạo dụ vô nhân đạo ấy. Sau một đêm lo ngại, họ nói với nhau rằng: “Nếu ta không tuân lệnh sẽ bị nhiều nguy hiểm. Đến Thái tử là người tốt đối đãi với tới cả thiên hạ mà nhà vua còn bắt tội nữa là chúng ta”.

Ngày mai họ dâng đạo dụ lên cho Hoàng tử. Đọc xong, Ngài nói: “Đấy là chánh lệnh của vua, vì có niêm ấn rõ ràng. Các ngươi cứ thi hành theo lệnh ấy”.

Ngài cũng biết rằng vua cha chẳng bao giờ có lệnh hành hình con, đó là do Hoàng hậu, nhưng đã có niêm ấn thì phải tuân theo.

Dân gian được tin rằng mệnh lệnh sẽ thi hành tại một khoảng đất rộng, giữa thành phố. Đến giờ đao phủ được lệnh móc mắt Thái tử, nhưng bọn này chỉ cung kính chắp tay xin chịu: “Chúng tôi không đi đủ can đảm làm việc ấy”. Thái tứ tháo chuỗi ngọc mang trên đầu đưa cho đao phủ và nói rằng: “Đây là tiền thưởng cho các ngươi để làm tròn phận sự”. Chúng vẫn một mực từ chối. Sau cùng có một người hình thù quái gở, đến xin thay chân bọn đao phủ. Nhưng anh này cũng không có gan dùng tay móc mắt. Anh ta đến đống lửa lớn nung một thanh sắt đỏ lên rồi lại gần Thái tử. Thái tử ngồi tự nhiên để cho đâm vào cặp mắt.

Cảnh tượng bấy giờ thật là đau đớn đến nỗi hàng nghìn người chung quanh đều khóc vang lên.

Hành hình xong, Thái tử một tay chống trên người kia một tay ra hiệu bảo người chung quanh yên lặng. Thái tứ khuyên phải xa Ngài ra, không được cứu giúp Ngài và kêu tên Ngài, y như trong đạo lệnh. Họ cúi đầu vừa đi vừa khóc, trong khi ấy Thái tử nằm phục xuống đất. Nghe nắng dội nóng, Ngài mãi lê đến một chỗ có bóng im mát để nghỉ.

Lâu lắm chung quanh ngài yên tịnh không một tiếng động. Bỗng ngồi nghe tiếng chân ngựa giậm gần rồi có những tiếng kêu thảm thiết. Nhận là con ngựa Măng Đa La, Ngài nói: “Còn con nữa, con cũng nên bỏ thầy con”.

Con ngựa quanh quẩn vài lần rồi đi xa, ra khỏi thành phố, một mình lủi thủi trở lại con đường mà nó vui vẻ đưa Thái tử đi.

Mặt trời lặn. Một vài người động lòng muốn giúp Ngài. Song đã có lệnh cấm, họ đành đứng xa, nhìn nhau lắc đầu. Sau mãi một bà lão nghèo đi lại gần ngài lấy nước rửa chỗ đau và lấy cỏ băng lại; bà đỡ Ngài dậy, dìu ra khỏi cổng làng rồi đành thở dài trở về.

Trong lúc Thái tử đang đau đớn, thì đại biểu thành Đắc Xô Thi La được vua tiếp đãi ân cần. Thấy nói Thái tử được hoan hô tôn trọng lòng nàng Ma Đa Vi cũng bớt lo sợ, vì nghe chồng nàng phải đi dẹp loạn: lòng nâng cũng áy náy không yên.

Một ngày sau, sốt ruột, nàng đi đến chỗ nàng từ biệt chồng; qua ngày thứ ba, nàng bỗng thấy con ngựa Măng Đa La trở về một mình. Một ý nghĩ ghê gớm thoáng qua óc nàng; rồi như cây gỗ bị đốn gốc, nàng ngã xuống bất tỉnh.

Tỉnh dậy, nàng nghĩ rằng có lẽ chồng nàng bị dân nổi lên giết chết. “Sao ta lại không tin chồng ta còn sống? Nếu chưa tin được chắc chắn, sao không đi tìm chồng?”. Nghĩ vậy nàng không để mất một phút trở về cung, trút bỏ đồ trang sức. ăn vận như một người thường dân rồi trốn đi tìm chồng, nàng không dám cho vua biết, sợ vua vì thương mà cầm lại chăng.

Nàng lủi thủi đi về phía thành Đắc Xô Thi La, ruột đau như cắt. Dọc đường gặp ai nàng cũng hỏi có gặp Thái tử không?- Đi ngày này sang ngày khác chẳng được tin gì cả.

Một buổi sáng vừa ra khỏi chỗ trú đêm, nàng liền gặp một người nông phu đang gieo mạ. Người ấy nói lúc rạng đông, nhân đi qua cánh rừng nhỏ thấy một người trẻ tuổi mắt mù, mặc áo ra dáng ông hoàng; người nông phu liền cho người mấy quả cây hái ăn trong rừng và một chén nước lã.

Nàng Ma Đa Vi liền đến chỗ ấy thì nàng thấy Câu Na La một mình trên phiến đá. nhưng đau đớn thay, cặp nhỡn tuyến của chàng đã tắt hẳn. Nàng khóc nức lên và quỳ trước chàng nghẹn ngào, cầm lấy tay chàng, nghe nước mắt nhỏ xuống tay, Thái tứ cảm động, đoán là nàng Ma Đa Vi, nhưng chưa dám tin. Đến khi nghe rõ tiếng nàng không nghi ngờ gì nữa, chàng bảo nàng ngồi xuống, trong lúc đang đau khổ ấy được gặp người thân yêu, nỗi vui mừng khôn xiết.

Thái tử thuật lại cho vợ nghe những chuyện xảy ra. Rồi sau đó nàng đỡ chàng đứng dậy, đưa chàng cùng về ra mắt vua cha.

Về phần vua A Dục từ khi được tin con ngựa Măng Đa La về một mình và nàng Ma Đa Vi đi trốn, ngài rất lo ngại. Tức khắc sai sứ đến thành để hỏi tin Thái tử và tìm nàng Ma Đa Vi. Nhân dân trong thành, thấy vua lo ngại cho Thái tử liền hiểu họ bị cái dụ dầu tiên lừa. Sợ bị nghiêm trị họ liền tìm cách nói dối sứ giả rằng Thái tử đã một mình về triều. Dân chung quanh không dám hé răng: vì họ biết rằng nói ra sẽ bị trừng phạt. Sử gia nghi dân đã giết Thái tử nhưng không có chứng cớ gì, đành trở về.

Trong khi ấy, hỏi vợ chồng Thái tử cũng dắt nhau về kinh. Bấy giờ Thái tử đã trút bỏ bộ áo quần ông hoàng mà khoác đồ rách rưới vì trong tình cảnh ấy đồ trang sức chỉ làm thêm đau lòng. Đi qua làng hai vợ chồng cất tiếng hát trong trẻo dịu dàng, dân làng động lòng đưa cho đồ để ăn uống.

Một ngày kia hai người về đến cung điện vua. Lính canh cửa thấy người lam lũ nên không cho vào, nhưng thấy cảnh thương hại áo rách bùn lầy bụi bặm nên cho vào trú trong chỗ chứa xe. Mỏi mệt hai người ngủ thiếp. Ngày mai, vua A Dục còn buồn rầu nghĩ đến con thì ngài giật mình vì nghe tiếng hát quen tai, đó là tiếng Thái tử hát trong nhà chứa xe. Vua nhận ra là tiếng con, nhưng còn sợ lầm, Ngài sai ra hỏi xem ai hát. Cận thần tâu rằng: đó là tiếng của người ăn mày, mù, đi với một người vợ. Vua liền sai dẫn cặp vợ chồng kia đến sân rồng. Thoạt đầu thấy người ăn mặc rách rưới, vua còn nghi ngờ chưa dám nhận là con, nhưng bộ mặt hiền từ phúc hậu kia thật là của Thái tử còn lầm sao được. Hơn nữa nàng dâu Ma Đa Vi, áo quần thô kệch cũng còn dễ nhận. Vua đưa mắt nhìn dâu, nhìn con rồi ôm choàng cả hai mà nức nở.

Một hồi lâu vua mới định thần lại, hỏi Thái tử vì sao mắc nạn. khi hiểu nguyên do; vua nổi giận, nói rằng: “Đứa nào dám dùng ấn của trẫm để làm việc tày trời kia?”. Thái tử ngồi im vì chàng không muốn nói, sợ Hoàng hậu bị nghiêm phạt. Hỏi mãi nàng Ma Da Vi mới nhắc lại cho vua hay rằng Hoàng hậu Xích Di có được phép dùng riêng ấn vua một ngày. Đã nhiều lần vua nghĩ Hoàng hậu có bụng ác với Thái tử. Vì Ngài nghĩ rằng, Hoàng hậu muốn cho con được nối ngôi tức là muốn trở Hoàng tử Câu Na La; tuy nghĩ vậy Ngài vẫn không dám tin, nhưng bây giờ sự đã rõ ràng, Ngài liền truyền lệnh vời Hoàng hậu đến.

Về phần Hoàng hậu, từ khi thi hành thủ đoạn, mất ăn mất ngủ; hễ chớp mắt là thấy hiện ra cảnh Thái tử bị hành hình. Thế rồi vừa tỉnh dậy vừa lo, năng lo rằng tội nàng sẽ có ngày bị tiết lộ. Nàng tưởng tượng rằng từ vua chí dân, ai cũng nhìn thấu rõ tâm can mình. và nàng càng thêm khắc khoải lo sợ.

Khi có lệnh đòi, nàng đoán biết là việc bại lộ. Lúc thấy tất cả cái tội ác của mình. nàng hối hận, nhưng không nói ra tiếng nữa, chỉ cúi gầm mặt xuống, đợi giờ tuyên án. Thái độ ấy rõ ràng hơn lời thú tội.

Vua A Dục nổi giận mắng lớn và truyền rằng trước khi đưa Hoàng hậu ra chém còn bắt chịu nhiều cực hình đau đớn đã. Thái tử tâu xin vua mở lượng tư bi giảm tội cho nàng, nhưng vua vẫn không nghe, Thái tử bèn quỳ xuống nói rằng: “Tâu lạy phụ vương, nào phải một mình Hoàng hậu phạm tội đâu? Đó chỉ vì kiếp trước con có làm nhiều tội ác, nên nay bị nghiệp báo thôi. Đã từ lâu con cố nhớ xem lại kiếp trước con đã tạo nên tội ác gì nhưng mãi đến tối hôm qua, con mới nhớ rõ ...”.

Vua ngắt lời: “Như con thì có tội gì, con là người tốt nhất trên đời?”. Thái tứ cảm động đáp: “Một người hiền lương cũng chưa hẳn vô tội. Vì nếu kiếp này ăn ở hiền lành, nhưng kiếp trước bạc ác thì cứ chịu quả báo. Tâu phụ vương, thuở xưa, có một người săn, một hôm thấy năm chục con dê rừng trong núi, liền dùng lưới bắt hết.

Anh ta nghĩ rằng nếu giết hết thì tiêu thụ làm sao cho hết, chi bằng ta móc mắt chúng không trốn được, ta sẽ lần lượt đưa từng con tới tỉnh mà bán. Nghĩ thế anh ta không ngần ngại đưa tay móc mắt chúng đi rồi thả vào hang núi để bán dần dần. Người đi săn ấy là tiền kiếp của con. Người đi săn ấy làm khổ năm mươi chúng sinh, ngày nay chính là ngày người ấy trả nợ vậy”.

Vua nghe lấy làm cảm động, nhưng còn phân vân chưa tin thì Thái tử ngồi ngay ngắn lại, chắp tay trước ngực mà nói rằng: “Nếu lời tôi nói đúng sự thật, thì xin Phật chứng minh cho và mắt tôi sang lại”.

Lời nói vừa dứt; mắt Thái tứ bỗng sáng như thường, vua A Dục và nàng Ma Đa Vi xiết bao vui mừng.

Vua dẹp giận, ra lệnh ân xá cho nàng Xích Di, chỉ buộc nàng phải tìm chỗ yên tịnh để sám hối tội lỗi. Vua từ đó ngôi báu vững vàng, còn Thái tử chính thức được phong Đông cung để nối ngôi sau này và nàng Ma Đa Vi sẽ là Hoàng hậu.

2). LÒNG HIẾU THẢO CỦA CHIM OANH VŨ

Thuở xưa núi Tuyết Sơn có một con chim Oanh Vũ, cha mẹ đều mù, thường đi tìm trái cây thơm chín dâng cha mẹ dùng. Lúc bấy giờ có vị điền chủ mới cấy lúa bèn phát nguyện rằng: Lúa tôi đây xin nguyện cho chúng sinh ăn dùng”. Chim Oanh Vũ thấy vị điền chủ phát tâm bố thí như vậy, bèn thường bay xuống lấy lúa cúng dường cha mẹ. Người điền chủ đi xem lúa, thấy loài chim; loài trùng phá hoại lúa quá sức, bèn nổi giận đặt lưới bắt được chim Oanh Vũ. Chim Oanh Vũ thưa vị điền chủ rằng: “Trước đây ông có lòng tốt bố thí nên tôi mới dám lấy lúa của ông sao lại đặt lưới bắt tôi?”. Người điền chủ hỏi: “Ngươi lấy lúa làm gì?”. Chim Oanh Vũ đáp: “Tôi có cha mẹ mù, nên phải lấy lúa cúng dường”. Vị điền chủ nói rằng: “Từ nay về sau, ngươi cứ lấy lúa mà dùng, đừng e ngại gì cả”. Loài súc sinh còn biết hiếu thuận cha mẹ huống nữa là người.

Chim Oanh Vũ là tiền thân Đức Phật Thích Ca. Người điền chủ là tiền thân ông Xá Lợi Phất.

3). BÀ GIÀ NGHÈO CÚNG ĐÈN

Một thời Đức Phật ở nước La Duyệt Kỳ tại núi Kỳ Xà Quật, lúc bấy giờ vua A Xà Thế thỉnh Đức Phật dự lễ trai tăng trong hoàng cung. Sau khi thọ trai, Đức Phật trở về Tinh xá Kỳ Hoàn, Vua bèn hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta thỉnh Phật thọ trai xong, nay không biết nên làm gì?”. Kỳ Bà nói: “Ngài nên đem rất nhiều đèn để cúng dường Phật”. Vua liền sai chở mọt trăm thùng dầu về Tinh xá Kỳ Hoàn.

Có một bà già nhà rất nghèo, có tâm chí thành muốn cúng dường Đức Phật mà không có tiền. Bà thấy vua A Xà Thế lam công đức như vậy, rất lấy làm cảm kích. Bà đi xin được hai tiền, liền đến nhà hàng mua dầu. Chủ hàng hỏi: “Bà rất nghèo túng, xin được hai tiền, sao không mua đồ ăn mà lại mua dầu?”. Bà già đáp rằng: “Tôi nghe ở đời gặp Đức Phật rất khó, vạn kiếp mới được một lần. Tôi nay may mắn được sinh đời Phật, mà chưa có dịp cúng dường. Ngày nay tôi thấy vua làm việc đại công đức, tôi tuy cùng khổ, cũng muốn cúng dường ngọn đèn để làm căn bản cho đời sau”. Lúc bấy giờ người chủ quán cảm phục chí nguyện của bà già, liền đong cho thêm ba tiền thành được năm tiền dầu. Bà đến trước Đức Phật thắp đèn lên, tự nghĩ dầu thắp không quá nửa đêm, bà phát nguyện rằng: “Nếu như sau này tôi được chứng đạo Vô thượng như Đức Phật thời ngọn đèn này sẽ đỏ suốt đêm và sáng tỏ khác thường”. Phát  nguyện xong bà lễ Phật rồi về.

Các ngọn đèn của vua cúng dường, có ngọn tắt, có ngọn đỏ, tuy có người săn sóc nhưng không được châu toàn. Riêng ngọn đèn của bà lão thì chiếu sáng hơn các ngọn đèn khác, suốt đêm không tắt, dầu lại không hao.

Trời sáng, Đức Phật bảo ngài Mục Kiền Liên rằng: “Trời đã sáng, hãy vào tắt các ngọn đèn”, ngài Mục Kiền Liên vâng lời thứ lớp tắt các ngọn đèn, nhưng riêng ngọn đèn của bà già thổi tắt ba lần cũng không được; sau lấy áo cà sa mà quạt, ngọn đèn lại đỏ rực rỡ hơn. Đức Phật bèn bảo rằng: “Hãy dừng lại, ngọn đèn ấy là hào quang công đức của một vị Phật tương lai, không thể lấy thần thông của ngươi mà trừ diệt được”.

Vua A Xà Thế nghe nói, liền hỏi Kỳ Bà rằng: “Ta làm công đức rộng lớn như vậy mà Đức Phật không thọ ký cho ta thành Phật, còn bà già kia chỉ thắp một ngọn đèn mà được thọ ký là cớ làm sao?”. Kỳ Bà đáp rằng: “Ngài cúng đèn tuy nhiều mà tâm không chuyên nhất, không bằng được tâm thuận thành của bà kia đối với Đức Phật”.

(A Xà Thế Vương thọ quyết kinh)

4). THẦY TỲ KHEO VỚI CON NGỖNG

Có một vị Tỳ kheo đến khất thực tại một nhà khi được mời vào trong phòng ngồi một mình. Người chủ lên tiếp chuyện tay có đeo một chiếc nhẫn, vô ý đánh rơi mà không biết. Lúc ấy có con ngỗng đi ngang nuốt vào bụng. Vị Tỳ kheo thấy, nhưng không nói gì. Một lát, người chủ mới biết mất chiếc nhẫn bèn lên tìm hỏi. Vị Tỳ kheo im lặng không đáp, người chủ sinh nghi hỏi dồn, vị Tỳ kheo vẫn im lặng, không thể nén lòng tức giận, người chủ mắng chửi và đánh đập, nhưng vị Tỳ kheo vẫn cam chịu không nói một lời gì, lúc ấy có người nhà, chạy lên thưa với người chủ rằng: “Không biết vì sao con ngỗng của nhà tự nhiên ngã chết ngoài sân kia”. Nghe lời nói xong, vị Tỳ kheo mới thong thả trả lời: “Khi hồi tôi thấy con ngỗng nuốt chiếc nhẫn”. Người chủ liền bảo người nhà đem mổ bụng con ngỗng thì tìm được chiếc nhẫn.

Người chủ hối hận liền thưa với vị Tỳ kheo: “Bạch Thầy, sao khi hỏi Thầy lại không nói ngay cho con biết, để đến nỗi con sinh nghi, xúc phạm đền danh thể cua Thầy?”.

Vị Tỳ kheo trả lời: “Ông nghi cũng phải, nhưng nếu tôi nói ngay thì con ngỗng sẽ bị ông giết vì lời nói của tôi, việc ấy tôi không bao giờ dám làm cả, dẫu có hại đến tánh mạng của tôi cũng vậy”.

3. BÀI SÁM HỐI

Đệ tử kính lạy, Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Thập phương chư Phật, vô thượng Phật pháp, cùng Thánh Hiền Tăng. Đệ tử lâu đời lâu kiếp, nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc, ngày nay nhờ Phật biết sự lỗi lầm, thành tâm sám hối, thề tránh điều dữ, nguyện làm việc lành, ngửa trông ơn Phật, từ bi gia hộ, thân không bệnh tật, tâm không phiền não, hằng ngày an vui tu tập, phép Phật nhiệm mầu, để mau ra khỏi luân hồi, minh tâm kiến tánh, trí huệ sáng suốt, thần thông tự tại, đặng cứu độ các bậc tôn trưởng cha mẹ anh em, thân bằng quyến thuộc, cùng tất cả chúng sinh, đồng thành Phật đạo.

GIẢI NGHĨA

Đại Ý: Bài này có ý chính:

i. Xin thú nhận những lỗi của mình đã làm.

ii. Nguyện làm các việc lành theo lời Phật dạy.

iii. Xin nguyện hồi hướng công đức cho cha mẹ anh em chị em, cùng tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo.

Dàn Bài: Bài này có thể chia làm ba phần:

i. Từ câu “Đệ tử kính lạy …” đến câu “... cùng Thánh, Hiền, Tăng”, đoạn này đệ tử xin kính lạy Phật, Pháp, Tăng.

ii. Từ câu “…Đệ tử lâu đời …” đến câu “... thần thông tự tại”, trong đoạn này, đệ tử xin sám hối những lỗi lầm đã làm, xin nguyện làm các việc kinh, xin nhờ ơn chư Phật gia hộ để vâng theo lời Phật dạy.

iii. Từ câu “… Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng ...” cho đến hết. Trong đoạn này, đệ tử xin hồi hướng công đức cho cha mẹ anh em cùng tất cả chúng sinh đồng thành Phật đao.

 Giảng Nghĩa:

i. Sám hối: Sám là xin thú nhận những lỗi đã làm. Hối là xin nguyện từ nay về sau

không phạm những lỗi ấy nữa. Bài này gọi là sám hối, chúng ta đối trước Phật, Pháp, Tăng, tỏ bày những lỗi lầm của mình đã phạm từ trước đến nay, rồi xin nguyện từ nay về sau không phạm một lần nữa.

ii. Đệ tử: Đệ là em, là học trò. Tử là con, là tiếng các Phật tử xưng đối với Đức Phật. Đức Phật là thầy, mình là học trò là con, vì nhờ Đức Phật làm tăng trưởng trí huệ và phước đức, và vì Đức Phật thương tất cả chúng sinh như con.

iii. Kính lạy: Kính là tôn kính, tôn là trọng, lạy là năm vóc gieo xuống đất. Kính lạy là cử chỉ tỏ lòng cung kính tôn trọng đối với Phật, Pháp, Tăng.

iv. Đức Phật Thích Ca: Đức Phật là một vị giác ngộ cho mọi loài, cho mình, hai giác hạnh đều hoàn toàn viên mãn. Thích Ca là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ ở cõi Ta bà, dịch nghĩa là Năng nhân Tịnh mặc: Năng nhân là có lòng nhân từ; Tịnh là trong sạch không có các tánh xấu: Mặc là an tịnh không có các phiền não nhiễu loạn.

v. Phật A Di Đà: Là Đức Phật làm Giáo chủ ở cõi Tịnh độ. A Di Đà có nghĩa là Vô lượng thọ nghĩa là sống lâu khôn lường và Vô lượng quang nghĩa là sáng suốt khôn lường.

vi. Thập phương chư Phật: Là các Đức Phật trong mười phương: phương Đông, Phương Tây, phương Nam, phương Bắc: phương Đông Nam, phương Tây Nam, phương Đông Bắc, phương Tây Bắc và phương trên, phương dưới. Đây chỉ phương nào cũng có rất nhiều Đức Phật, số nhiều như số cát sông Hằng không thể kể.

vii. Thánh Hiền Tăng:  Tăng là chỉ các vị Tăng già xuất gia theo đạo Phật. Thánh Hiền Tăng đây chỉ cho các vị Bồ tát, các vị A la hán từ trước đến nay đã tu hành chứng quả.

viii. Lâu đời lâu kiếp: Đời là khoảng thời gian từ khi sinh ra đến khi chết. Kiếp là gồm có nhiều đời. Ý nói đệ tử trải qua rất nhiều kiếp về trước.

x. Nghiệp chướng nặng nề: Nghiệp là sự hành động, có ba nghiệp là thân nghiệp nghĩa là những hành động về thân, khẩu nghiệp là những lời nói, ý nghiệp là những ý nghĩ tư tưởng. Chướng là chướng ngại trên đường chánh đạo, con đường giải thoát. Những nghiệp làm từ trước đến nay rất nặng nề, lam chướng ngại sự tu học, sự giải thoát của mình.

x. Tham giận kiêu căng: Đây là một tánh xấu thường của người. Tham là tham lam, ham muốn như tham tiền, tham ăn v.v... Giận là nóng nảy giận dữ. Kiêu căng là khoe khoang ỷ mình tài giỏi khinh người.

xi. Si mê lầm lạc: Đây là một tánh xấu nữa; u mê ngu dốt không biết phải trải, nên làm việc sai lạc. Bốn tánh xấu này là tánh cội gốc của con người, bao nhiêu tánh xấu khác đều do bốn tánh này mà ra.

xii. Ngày nay nhờ Phật, biết sự lỗi lầm: Ngày hôm nay nhờ Phật chỉ bày dạy bảo nên tự biết những điều sai lầm, những tánh xấu.

xiii. Thành tâm sám hối: Xin thành tâm sám hối tất cả những tội lỗi.

xiv. Thề tránh điều dữ, nguyện làm lành: nghĩa là đứng trước Phật, Pháp, Tăng, xin tự hứa chắc chắn bắt đầu từ nay bỏ tất cả điều dữ với người, làm tất cả việc lành lợi người.

xv. Ngửa trông ơn Phật từ bi gia hộ: Nghĩa là trông mong lòng từ bi của Đức Phật thương tưởng ủng hộ giúp đỡ.

xvi. Thân không tật bệnh, tâm không phiền não: (Phiền não là nung nấu não loạn), nghĩa là trông mong ơn Phật gia hộ cho thân thể khỏi các bệnh tật, tâm được an tịnh, khỏi những sự phiền não làm rối loạn.

xvii. Hằng ngày an vui tu tập: Tu là sửa tánh xấu; tập là làm theo những hạnh lành; nghĩa là thường thường được an tịnh vui vẻ, sửa đổi những tánh xấu tập làm hạnh lành.

xviii. Phép Phật nhiệm mầu: Tức là những phương pháp Phật dạy áp dụng theo, sẽ có nhiều kết quả rất nhiệm mầu, khó lường hiểu được.

xix. Minh tâm kiên tánh: Là sáng rõ chân tâm, thấy rõ thể tánh: tức là được giải thoát giác ngộ như Đức Phật sáng suốt, thấy rõ tâm tánh chân thật của mình và của mọi người.

xx. Trí huệ sáng suốt: Là không còn u mê tối tăm, trí não được sáng suốt, hiểu rõ mọi sự mọi vật.

xxi. Thần thông tự tại: Thần thông là những phép bí mật huyền diệu người thường làm không nổi, chỉ riêng các vị giác ngộ mới hiểu, mới làm được. Tự tại là tự do tự ý không bị hoàn cảnh xung quanh trở ngại, tùy theo ý muốn làm gì cũng được.

xxii. Đặng cứu độ các bậc tôn trưởng cha mẹ anh em thân bằng quyến thuộc cùng tất cả chúng sinh đồng thành Phật đạo: Cứu độ là cứu giúp đưa từ đau khổ đến an vui, từ mê lầm đến giác ngộ; tôn trưởng là các vị trưởng lão nhiều tuổi nhiều đức đứng đầu trong một họ, một phái. Chúng sinh chỉ cho tất cả các loài có sinh mạng, có sống chết như các loài người, loài súc sinh, loài chư thiên ... Đây là lời nguyện của một Phật tử tu hành không phải mưu lợi riêng cho mình mà còn nguyện cứu độ tất cả mọi loài cũng được giác ngộ như mình.

 

Nỗi khổ bị thiêu trong ba đường dữ, nỗi khổ chở nặng của con lạc đà, con lừa, nỗi khổ đói khát của quỷ đói, chưa gọi là khổ. Si mê không học, không biết hướng đi mới gọi là khổ.

Kinh SA DI THẬP GIỚI.

 

 

 

4. CHÂM NGÔN VÀ NĂM ĐIỀU LUẬT CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

CHÂM NGÔN BI, TRÍ, DŨNG

BI: Là cho vui, cứu khổ, đem hạnh phúc đến cho mọi loài, cứu khổ diệt trừ mọi nỗi thống khổ cho chúng sinh. Đạo Phật là đạo Từ bi, Đức Phật là hiện thân của từ bi, nên Phật tử phải là người thực hành hạnh từ bi, đem vui cứu khổ cho mọi loài. Người Phật tử cố gắng không làm đau khổ một ai, dầu là đối với súc vật; người Phật tử không thản nhiên trước sự đau khổ của muôn loài, Phật tử phải ra tay cứu giúp. Phật tử đến đâu cần phải cố gắng diệt trừ đau khổ, đem hạnh phúc an vui gieo vãi cùng khắp.

TRÍ. - Là hiểu biết sáng suốt cùng khắp, nhận chân được sự thật. Đạo Phật là đạo Giác ngộ, Đức Phật là hiện thân của Giác ngộ, nên Phật tử phải là người thực hành Trí huệ, luôn luôn tìm hiểu, hướng tiến đến sự thật. Người Phật tử không cam tâm chịu dốt, chịu mê mờ, Phật tử phải tìm hiểu học hỏi, luôn luôn tìm chân lý, Phật tử khai sáng cho mình, còn có bổn phận khai sáng cho người, tự mình tìm hiểu để bày vẽ

cho mọi người tìm hiểu. Phật tử học Phật pháp tức là học pháp như Thật để tìm hiểu sự Thật, tức là học những phương pháp sống như Thật để hướng tiến đúng mục đích như Thật.

DŨNG. - Là dũng mãnh tinh tấn, không yếu đuối hèn nhát, luôn luôn quả cảm, không giải đãi, gián đoạn. Đạo Phật là đạo Hùng lực. Đức Phật là đấng Đại hùng Đại lực, nên Phật tử phải là người anh dũng quả cảm luôn luôn tiến đến giác ngộ, giải thoát của đạo Phật, luôn luôn đem vui cứu khổ cho muôn loài, luôn luôn tìm hiểu, học hỏi khai sáng trí huệ cho mình, cho mọi người. Người Phật tử cố gắng vượt qua mọi sự thử thách gian lao, mỉm cười trước nguy hiểm, tự tại trước thất bại, vững chí cương quyết, dũng tiến trên con đường đạo.

NĂM ĐIỀU LUẬT CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

1. Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng và giữ giới đã phát nguyện.

2. Phật tử mở rộng lòng thương tôn trọng sự sống.

3. Phật tử trau giồi trí huệ, tôn trọng sự thật.

4. Phật tử trong sạch từ thể chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm.

5. Phật tử sống hỷ xả để dũng tiến trên đường Đạo.

GIẢI THÍCH

1. Phật tử quy y Phật, Pháp Tăng là tôn Phật, Pháp, Tăng làm thầy, trọn đời quy ngưỡng, y chỉ Phật, Pháp, Tăng, lời nói, ý nghĩ, việc làm đều hướng về Phật, Pháp, Tăng, không theo tà sư, không theo ngoại đạo tà giáo, không theo bè đảng độc ác.

Giữ giới đã phát nguyện: Giới là những giới luật của Đức Phật chế như năm giới của người tại gia. Trong năm giới ấy, tùy nguyện tuy sức đã thọ lãnh giới nào, thời triệt để giữ giới ấy, không lúc nào trái phạm. Nếu tái phạm thời phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.

2. Phật tử mở rộng lòng thương, tôn trọng sự sống. Phật tử thực hành hạnh Từ bi, mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi loài là tôn trọng sự sống của tất cả sinh vật. Phật tử không thương riêng thân mình, riêng gia đình mình, mà phải mở rộng lòng thương cùng khắp mọi người, mọi gia đình. Phật tử không thương riêng loài người mà còn thương yêu các loài sinh vật nữa. Phật tử tôn trọng sự sống nghĩa là không giết hại mạng sống của bất cứ sinh vật nào, mà còn phải bảo tồn, tôn trọng tất cả sự sống, dầu là sự sống của những sinh vật nhỏ nhiệm. Phật tử giữ giới không sát hại và ăn chay cũng là giữ điều luật này.

3. Phật tử trau dồi trí huệ tôn trọng sự thật. Phật tử thực hành hạnh trí huệ bằng cách phát chiếu trí huệ và tôn trọng sự thật. Phật tử dùng trí huệ để tìm hiểu học hỏi, dùng lý trí để xét đoán, không mê tín dị đoan. Đối với các học thuyết Phật tử lấy trí phán đoán vô tư để tìm hiểu, nếu phải thì công nhận, nếu trái thì không tin theo. Đối với Phật pháp, Phật tử hết sức tìm hiểu chân nghĩa của Phật, dùng lý trí phân tích, thiệt nghiệm tìm hiểu để thực hành, để sống như lời Phật dạy, vì Phật tử nhận rõ rằng chỉ có sự thực hành mới phát sinh trí tuệ con người. Phật tử tôn trọng sự thật nghĩa là biết phụng sự lẽ phải và sự thật. Phật tử sẽ không nói láo là nói lời trái với sự thật. Phật tử không xuyên tạc sự thật để mưu cầu danh lợi hãy để bênh vực lòng tự ái của mình.

4. Phật tử trong sạch từ thể chất trên tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Phật tử thực hành hạnh Thanh tịnh, hạnh hoa sen trong trắng, giữ gìn thân thể, lời nói, ý nghĩ, việc làm cho tinh sạch trong sáng. Phật tử giữ y phục, thân thể, sách vở, nhà cứa, sạch sẽ. Phật tử chỉ nói lời chân thật, hòa giải, như thật, nhu hòa, Phật tử không nghĩ, không làm các điều ác, chỉ nghĩ, chỉ làm những điều thiện có lợi mình và lợi người.

5. Phật tử sống hỷ xả để vững tiến trên đường Đạo. Phật tử thực hành hạnh Hỷ xả và Tinh tấn. Phật tử sống hỷ xả là luôn luôn hoan hỷ vui vẻ, dầu gặp những nghịch cảnh, trở lực. Phật từ vui vẻ hỷ xả để giúp đỡ cứu khổ cho mọi loài không để tâm ganh ghét thù hằn một ai. Phật tử tinh tấn trên đường đạo không dừng nghỉ, không thoái thoát. Phàm làm việc gì thì làm đến kỳ cùng, cho đến khi thành tựu mới thôi. Dầu gặp nghịch cảnh trở lực, Phật tử phải luôn luôn gắng sức. Khi nào mục đích chưa thành tựu mỹ mãn người Phật tử vẫn phải hoan hỷ, xả bỏ tất cả, để dũng tiến trên đường đạo sáng.

 

Si là gốc tội lỗi, Huệ là gốc hạnh lành.

Kinh PHÁP CÚ THÍ DỤ

 

5. HIỂU MỤC ĐÍCH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VÀ Ý NGHĨA HUY HIỆU HOA SEN

MỤC ĐÍCH CỦA GIA ĐÌNH PHẬT TỬ

Mục đích của Gia đình Phật tử là đào tạo những Phật tử chân chính và cải tạo đời sống theo chân tinh thần Phật giáo.

ĐÀO TẠO NHỮNG PHẬT TỬ CHÂN CHÍNH

Một Phật tử chân chính là một Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng, giữ giới đã phát nguyện và thực hành năm hạnh Tinh tấn, Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi.

1). Phật tử quy y Phật, Pháp, Tăng là tôn Phật, Pháp, Tăng làm Thầy, trọn đời quy ngưỡng, y chỉ Phật, Pháp, Tăng, lời nói, ý nghĩ, việc làm đều hướng về Phật, Pháp, Tổng, không theo tà sư, ngoại đạo tà giáo, không theo bè đảng độc ác.

2). Giữ giới đã phát nguyện. Giới là những giới luật của Đức Phật chế, như năm giới của người tại gia. Trong năm giới ấy, tùy nguyện tùy sức đã thọ lãnh giới nào thời triệt để giữ giới ấy, lúc nào phạm, thời phải làm lễ sám hối rồi cầu xin giữ lại.

3). Sống theo năm hạnh. Tinh tấn, Hỷ xả,Thanh tịnh, Trí huệ, và Từ bi.

a. Tinh tấn: nghĩa là luôn luôn tiến trên con đường trong sạch tinh tuần (tinh), trên con đường đến mục đích của Đoàn, trên con đường Đạo. Tượng trưng hạnh Tinh tấn là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, hy sinh gia đình, ngôi báu, vợ con danh lợi, để dấn thân trên đường đạo, tu khổ hạnh trong sáu năm, ngồi thiền định 49 ngày; rồi sau khi thành đạo, lại đi thuyết pháp giáo hóa hơn bốn mươi chín năm, cứu toàn thể chúng sinh thoát khỏi mọi điều thống khổ.

Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh tinh tấn là luôn luôn tinh tấn thật hành các hạnh Hỷ xả, Thanh tịnh, Trí huệ và Từ bi. Trái với hạnh Tinh tấn là biếng nhác trên đường đạo, trong bổn phận của mình.

b. Hỷ xả: nghĩa là luôn luôn vui vẻ hoan hỷ, làm mọi người mọi loài vui vẻ hoan hỷ, sống phóng xả hy sinh.

- Gặp việc buồn, dữ, hoặc bệnh tật, không than khóc quá lo buồn, sợ hãi.

- Thấy người làm việc lành hoặc được người khen thì vui vẻ, tán thành không ganh ghét, tức bực.

- Thấy người gặp việc buồn khổ, thì khuyên giải.

- Gặp người xúc phạm, không tức giận, mắng nhiếc, đánh đập. Trái lại dùng lời từ hòa giảng dụ giải thích; nếu không được thì nhẫn nhịn.

- Biết hy sinh cho mọi người, mọi loài.

Hỷ xả không có nghĩa là vui vẻ trẻ trung, cười nói ồn ào. Hỷ xả là hạnh của một tấm hồn trong sạch, yêu đời, thương mọi loài, điềm tĩnh và biết hy sinh. Một thiếu niên sống theo hạnh Hỷ xả là có một gương mặt tươi trẻ, một cặp mắt trong sáng, một nụ cười hiền hòa; và trong tự thân tỏa ra sức mạnh khiến mọi người hoan hỷ hy sinh theo mình. Tượng trưng hạnh Hỷ xả là Đức Phật Di Lặc, một Đức Phật có một lòng thương rộng lớn cao có, một gương mặt luôn luôn tươi cười.

c. Thanh tịnh: nghĩa là trong sạch thân thể, trong sạch lời nói, ý nghĩ, việc làm và sống một cuộc đời giản dị thanh bạch.

- Trong sạch trong thân thể, là thân hình sạch sẽ, tóc chải tử tế, áo quần tề chỉnh, bao giờ cũng vậy.

- Trong sạch trong lời nói, là không nói lời giả dối, độc ác, thêu dệt, chải chuốt, nói hai lời. Chỉ nói lời thành thật, từ hòa, giản dị và chính trực.

- Trong sạch trong ý nghĩ, là không có tánh tham, sân, si, tư tưởng trong sạch chân chính.

- Trong sạch trong việc làm, là cử chỉ việc làm chân chính.

- Sống giản dị, là sống thanh bạch giản dị, đạm bạc, không xa hoa, phù phiếm.

Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh Thanh tịnh là thân thể áo quần luôn luôn sạch sẽ tề chỉnh, lời nói, ý nghĩ, việc làm, luôn luôn trong sạch và sống cuộc đời giản dị thanh bạch.

Tượng trưng hạnh Thanh tịnh là Đức Phật A Di Đà, một Đức Phật có hào quang vô lượng, thọ mạng vô lượng, hai quả đức do nhân hạnh hoàn toàn thanh tịnh; và cảnh giới của Đức Phật A Di Đà hoá độ chúng sinh là cảnh Tịnh độ, một cõi hoàn toàn trong sạch đẹp đẽ.

d. Trí huệ: là hiểu biết đúng đắn, cùng khắp, tất cả. Hiểu biết đúng đắn là sự thật cảnh vật như thế nào, thì hiểu đúng như vậy không sai lầm. Hiểu biết cùng khắp là hiểu biết rộng rãi. Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh Trí huệ là phải học hiểu những điều phải học đúng theo chương trình, phải học hiểu Phật pháp đúng theo thứ bậc của mình. Tượng trưng hạnh Trí huệ là Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, một vị Bồ tát có trí huệ bậc nhất, tiêu biểu cho trí căn bản, và thường thay thế Đức Phật khai sáng trí huệ cho mọi loài.

d. Từ bi: Là đem vui cứu khổ cho mọi loài, như đối với người khổ vì đói khát thì bố thí các món ăn uống cho hết khổ ... Một thiếu niên, thiếu nữ sống theo hạnh Từ bi là luôn luôn cứu giúp mọi loài, mọi người sống hạnh phúc. Tượng trưng hạnh Từ bi là Đức Quán Thế Âm Bồ tát, một vị Bồ tát hiện thân cứu khổ cứu nạn cho mọi loài, luôn luôn thương tưởng, cứu giúp cho tất cả chúng sinh.

CẢI TẠO ĐỜI SỐNG THEO CHÂN TINH THẦN ĐẠO PHẬT

Đã sống theo đạo Phật, Phật tử có trách nhiệm cải hóa đời của mình, của người thân, bạn bè chung quanh mình cùng sống theo tinh Bi Trí Dũng của đạo Phật. Mỗi Phật tử phải là một năng lực cải tạo, một sức mạnh cảm hoá, để chuyển đổi mọi hoàn cảnh, mọi người, mọi loài, trong tất cả thời, khắp tất cả chỗ.

HUY HIỆU HOA SEN

Huy hiệu của gia đình Phật tử là dấu hiệu tròn Hoa sen trắng, Có tám cánh trên nền màu xanh lá mạ.

1). Hình tròn tượng trưng cho đạo Phật viên dung, hoàn toàn, vô ngại.

2). Sen trắng tượng trưng cho ánh sáng của trí huệ: hoàn toàn (giác ngộ) và cho ánh sáng của hạnh Thanh tịnh hoàn toàn (giải thoát).

3). Tám cánh sen chỉ rõ mục đích của Gia đình Phật tử: 5 cánh trên chỉ cho các hạnh Tinh tấn, (cánh giữa), Hỷ xả, Thanh tịnh (2 cánh bên trái, bên mặt cánh giữa, ở ngoài ngó vào), Trí huệ và Từ bi (bên trái cánh Hỷ xả, bên phải cánh Thanh tịnh), 3 cánh dưới chỉ cho Phật (cánh giữa). Pháp (cánh phía trái ở ngoài ngó vào) và Tăng (cánh phía mặt).

4). Màu xanh là màu tương lai, màu hy vọng, màu của Thanh, Thiếu, Nhi Phật tử.

 

Ta không bỏ tiền của, tiền của sẽ bỏ ta.

Kinh BẢO TẠNG

 

 

 

B. BẬC SƠ THIỆN

1. BIẾT SỰ TÍCH ĐỨC THÍCH CA TỪ XUẤT GIA ĐẾN NHẬP DIỆT.

2. BIẾT SỰ TÍC ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ QUÁN THẾ ÂM.

3. BIẾT BA CHUYỆN TIỀN THÂN HAY MẪU CHUYỆN ĐẠO.

4. BIẾT BA NGÔI BÁU, BA PHÉP QUY Y, SÁU PHÁP HÒA KÍNH.

5. HIỂU Ý NGHĨA ĂN CHAY NIỆM PHẬT.

6. HIỂU VÀ THUỘC NGHI THỨC PHỔ THÔNG.

 

LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT THÍCH CA

(Từ xuất gia đến nhập diệt)

i. THÁI TỬ XUẤT GIA

Nửa đêm mùng 8 tháng Hai, Thái tử cùng Xa Nặc thống ngựa Kiền Trắc, vượt cửa thành ra đi. Ngài đến sông A Nô Ma, rồi xuống ngựa, lấy gươm cắt tóc giao cho Xa Nặc đem tới cả đồ trang sức và ngựa về cung tâu với phụ vương rõ chí quyết định của Thái tử. Rồi Ngài cởi áo đổi cho một người thợ săn, cương quyết đoạn tuyệt cảnh đời xa hoa vương giả, khoác chiếc áo hoại sắc một mình một thân đi tìm đạo.

ii. THÁI TỬ HỎI ĐẠO

Trước hết Ngài đi tìm hiểu và hành trì các đạo đang lưu hành trong nước, tìm xem có đạo nào là chân chính giải thoát cho muôn loài.

1. Thái tử hỏi đạo lần thứ nhất: Thái tử đi lần đến thành Vương Xá đến hỏi đạo các vị Tiên ở rừng Bạc Già tu theo khổ hạnh để được làm Ma vương, Thiên thần, được thần thông. Thái tử nhận thấy tu theo khổ hạnh lên cõi Trời cũng sung sướng thật, nhưng hết phước rồi sẽ đưa vào các cõi đau khổ, chưa phải là đạo chân chính giải thoát.

2. Thái tử hỏi đạo lần thứ hai: Rồi Ngài từ giã các vị Tiên và đến phía Bắc thành Tỳ Xá Ly hỏi đạo ông A La La Tu về Số luận chuyên nhiếp tâm và định Sơ thuyền v.v... sinh vào cõi Trời Vô tưởng, đặng giải thoát. Thái tử cũng tu theo và cũng chứng đặng cõi trời Vô tưởng nhưng Ngài nhận thấy không phải là đạo giải thoát, nên Ngài từ tạ ra đi.

3. Thái tử hỏi đạo lần thứ ba: Ngài đến hỏi ông Uất Đầu Lam Phất, chuyên dạy các sự chấp trước có hình tướng hay không hình tướng đều là sai lạc, chỉ phải lãnh thọ cái thể nhiệm mầu của muôn vật mới được giải thoát và sinh về cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ; Thái tử liền tu theo và chứng được Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng Ngài cũng nhận rằng cõi ấy chưa phải là cảnh giải thoát.

iii. THÁI TỬ TU KHỔ HẠNH

Thái tử ba lần hỏi đạo, biết rằng các đạo hiện hành không có đạo nào là chân chính giải thoát. Ngài tự nghĩ phải chính thân hành trì chuyên tu mới có thể tìm rõ đạo chính. Ngài liền đến rừng Ưu Lâu Tần Loa phía Nam núi Tượng Đầu bên sông Ni Liên Thuyền và bắt đầu tu khổ hạnh với năm người bạn là Kiều Trần Như, Ác Bệ, Thập Lịch Ca Diếp, Ma Ha Nam, Câu Ly và Bạc Đề. Ngài tu trong sáu năm, cương quyết hành hạ tự thân ép xác đến nỗi mỗi ngày chỉ ăn một hột gạo một hột mè. ngài cũng tu khổ hạnh, càng gầy mòn yếu ốm đến nỗi một ngày kia phải té xỉu chết giấc. Khi Ngài tỉnh dậy, Ngài hiểu rằng hành hạ xác thân quá đáng không ích gì, người cầu đạo cần phải phát chiếu trí huệ mới mong được giác ngộ. Nghĩ thế ngài nhất định ăn uống như thường, để giữ lại cái thân làm lợi khí trong công cuộc tìm đạo giải thoát. Năm người bạn đồng tu thấy vậy tưởng Ngài thoái chí nên bỏ đi.

iv. THÁI TỬ THAM THUYỀN

Khi ấy một thiếu nữ tên Tu Xà Đề thấy Ngài nằm dưới gốc cây liền đem sữa đến dâng, ngài dùng sửa xong, sức lực tinh phục, rồi xuống sông Ni Liên Thuyền tắm rửa sạch sẽ. Tắm xong ngài liền đến dưới cây Bồ đề, trải cỏ làm nệm và ngồi tịnh tọa tham thuyền luôn trong 49 ngày. Ngài thề rằng: nếu ta không thành đạo chứng quả thì quyết trọn đời không rời khỏi cây Bồ đề này”.

v. THÁI TỬ THÀNH ĐẠO

Ngài định tâm chuyên chú: nhất tâm mặc tưởng thuyền vu. Các Ma vương sợ Ngài thành đạo sẽ giác ngộ cho mọi loài bèn rủ nhau đến quyến rũ mê hoặc hại Ngài, nhưng Thái tử định lực cao cường, nên chiến thắng tất cả sự cám dỗ của Ma vương.

Đến đêm mồng tám tháng Chạp, canh một Ngài chứng quả Túc mạng minh thấy rõ kiếp trước của mình của người; canh hai chứng quả Thiên nhãn minh giác ngộ hoàn toàn cùng khắp; canh ba chứng quả Lậu tận minh diệt trừ hết thảy mê lầm vô thỉ. Đến lúc sao mai mới mọc, Ngài liền chứng đặng đạo Vô thượng, thành Phật hiệu Thích Ca Mâu Ni. Lúc bấy giờ quả đất đều rung động, nhạc trời chúc tán, mưa hoa cúng dường.

vi. ĐỨC PHẬT ĐI TRUYỀN ĐẠO

Khi Ngài mới chứng quả, ngài còn ngần ngại chưa muốn đi truyền đạo ngay vì sợ đạo

Ngài sâu xa khó hiểu, nhưng sau Ngài phán rõ căn cơ và ứng dụng các phương tiện. Ngài mới cương quyết đem đạo Phật ra giáo hóa chúng sinh.

Trước hết ngài đến vườn Lộc Uyển, thuyết pháp Bốn Đế độ cho các ông Kiều Trần Như. Bắt đầu từ đó mới có đủ Phật, Pháp, Tăng ba ngôi báu. Sau Ngài độ cho một thanh niên tên Da Xá và chỉ trong ba tháng ngài có hơn 60 đệ tử.

Dưới đây là một vài đệ tử có danh, Đức Phật đã giáo hóa trong khi truyền đạo:

1. Ông Ca Diếp vị Tổ sư thờ lửa và các vị đồ đệ của ông.

2. Vua Tần Bà Ta La xứ Ma Kiệt Đà .

3. Ông Mục tiền Liên thần thông đệ nhất và ông Xá Lợi Phất trí huệ bậc nhất.

4. Ông Nan Đà, ông A Nan, ông Ưu Ba Ly và ông A Na Luật Đà .

5. Bà Di mẫu Ma Ha Ba Xà Ba Đề là người đàn bà đầu tiên được Đức Phật cho vào Giáo hội.

6. Ông Tu Bạt Đà La hơn 80 tuổi là vị đệ tử cuối cùng của Đức Phật.

Đức Phật thuyết pháp giáo hóa hơn 49 năm, độ cho hàng vạn ức đệ tử, không phân biệt giàu nghèo sang hèn. Ngài thường đi thuyết pháp trong 9 tháng nắng, còn các tháng mưa thì ở lại Tịnh xá để chuyên tu.

vii. ĐỨC PHẬT NHẬP NIẾT BÀN

Đến ngày trăng tròn tháng Hai Ấn Độ, Ngài biết mình sắp nhập Niết bàn, liền đến xứ Câu Ly, vào rừng Xa Nại, khiến treo võng nơi hai cây song thọ. Ngài hội họp các hàng đệ lử lại giảng dạy khuyên bảo lần cuối cùng rồi từ giã mọi người mà nhập Niết bàn. Ngài hưởng thọ được 80 tuổi. Trước khi ngài viên tịch, Ngài phú chúc cho ông Ca Diếp thọ lãnh y bát của Ngài để truyền đạo.

viii. KẾT LUẬN

Đời Ngài từ lúc xuất gia đến lúc nhập diệt lớ có một gương sáng tìm đạo, hành đạo. truyền đạo để cứu chúng sinh ra khỏi biển khổ. Ngài cương quyết đoạn tuyệt canh đời vương giả, dấn thân trong gian khổ để đi tìm đạo rồi lại chuyên tu khổ hạnh hơn sáu năm, tham thuyền trong 49 ngày chứng quả; rồi lại đi thuyết pháp giáo hóa hơn 49 năm để truyền đạo chân chính cứu khổ cho muôn loài.

 

Người mê sẽ nhờ học mà tỉnh, người ngu sẽ nhờ học mà sáng suốt, nhờ học mới có thể sửa mình và chỉ đường cho mọi người.

Kinh PHÁP CÚ THÍ DỤ.

 

 

SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ ĐỨC QUÁN THẾ ÂM

ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

1. Danh Nghĩa Đức Phật A Di Đà:

Đức Phật A Di Đà là một Đức Phật làm giáo chủ ở cõi Tây phương Cực lạc. Tên ngài có ba nghĩa:

1) Vô lượng quang: Nghĩa là hào quang trí huệ của Ngài vô lượng vô biên chiếu khắp các thế giới.

2) Vô lượng thọ: Nghĩa là thọ mạng Ngài sống lâu không lường kể.

3) Vô lượng công đức: Là Đức Phật A Di Đà làm những công đức to lớn không thể kể xiết.

2. Sự tích Đức Phật A Di Đà:

Theo kinh Đại A Di Đà, về thời Đức Phật Thế Tự Tại Vương ra đời, có một vị quốc vương tên Kiều Thi Ca. Vua Kiều Thi Ca nghe Đức Phật huyết pháp liền bỏ ngôi vua xuất gia làm vị Tỳ kheo hiệu là Pháp Tạng. Một hôm Ngài đảnh lễ Phật, quỳ xuống chắp tay cầu Phật chứng minh và phát 48 lời nguyện. Do lời nguyện ấy sau này thành Đức Phật Di Đà.

Lại theo kinh Bi Hoa, về đời vua Chuyển luân thánh vương tên Vô Tránh Niệm có vị đại thần Bảo Hải. Vị này có người con tên là Bảo Tạng tướng tốt dị thường, sau xuất gia thành Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai. Một hôm vua Vô Tránh Niệm nghe Phật thuyết pháp liền phát tâm muốn cúng dường các món ăn uống y phục cho Đức Phật và đại chúng luôn trong ba tháng. Vị Đại thần Bảo Hải khuyên vua nên phát tâm Bồ đề cầu đạo vô thượng. Vua liền nguyện sau này thành Phật sẽ làm giáo chủ một cảnh giới cực kỳ trang nghiêm thanh tịnh để giáo hóa chúng sinh. Vua Vô Tránh Niệm phát nguyện xong, Đức Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký cho vua sau này sẽ thành Phật hiệu là A Di Đà và cõi nước của Ngài sẽ là cõi Cực lạc Tây phương. Vị Đại thần Bảo Hải sau này cũng thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.

3. Hạnh nguyện Đức Phật Di Đà:

Đức Phật A Di Đà là gương sáng của hạnh Thanh tịnh vì thân Ngài chói ngời ánh hào quang thanh tịnh sáng suốt, cõi Tịnh độ của Ngài chói ngời các món trân bảo thanh tịnh sáng suốt và các chúng sinh ở trên cõi Cực lạc hết thảy đều thanh tịnh sáng suốt. Đức Phật A Di Đà có phát 48 lời nguyện rộng lớn cứu độ tất cả chúng sinh, trong ấy có lời nguyện tiếp dẫn tất cả chúng sinh nào hướng niệm đến Ngài đều được vãng sinh lên cõi Cực lạc. Ngài lại có nguyện nếu chúng sinh nào niệm danh hiệu Ngài, đến 10 niệm Ngài cũng tiếp dẫn lên cõi Cực lạc.

4. Lòng Quy ngưỡng của Phật tử:

Nước Việt Nam phần đông theo tôn Tịnh Độ nên thờ tượng Đức Phật A Di Đà.  Tượng Ngài đứng hoặc ngồi trên toà sen, tay phải duỗi xuống phóng hào quang, tay trái đè ngang bụng bắt ấn cam lồ. Tại các chùa, Đức Phật A Di Đà thờ chung với Đức Phật Thích Ca (bên phía tay mặt Đức Phật Thích Ca) và Đức Phật Di Lặc, có khi thờ một mình hay Đức Quán Thế Âm bên tay trái và Đức Đại Thế Chí hầu bên mặt Ngài, hai vị này trợ hóa cho Ngài bên cảnh Cực lạc.

Thường năm đến ngày 17 tháng 11, các Phật tử làm lễ vía của Ngài. Trong khi gần lâm chung và khi đưa đám, hoặc khi cúng lễ thường niệm danh hiệu Ngài là thanh tịnh trong sạch để trừ những tà niệm, chuyển đổi cảnh đời ô trược thành cảnh giới thanh tịnh sáng suốt như cảnh giới Cực lạc.

 

ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT

1. Ý nghĩa tên Ngài::

Đức Quán Thế Âm là một vị Bồ tát thường hay quán xét tiếng đau khổ chúng sinh để cứu giúp nên gọi Ngài là Quán Thế Âm; lại do Ngài quán sát nghe mà giác ngộ tụ tại cứu độ chúng sinh nên cũng gọi là Ngài Quán Tự Tại. Trong khi Đức phật Thích Ca Mâu Ni ra đời, Đức Quán Thế Âm thường trợ hóa cho Đức Phật A Di Đà ở cõi Cực lạc, và thường hầu bên tay trái Đức Phật A Di Đà.

2. Lịch sử:

Kinh Bi Hoa chép rằng: Về thời quá khứ. Ngài Quán Thế Âm làm Thái tử con vua Vô Tránh Niệm, đồng thời có Đức Bảo Tạng Như Lai ra đời giáo hóa chúng sinh. Vua nghe Đức Phật thuyết pháp hiểu đặng đạo lý, phát tâm Bồ đề mong sau thành Phật đặng cứu độ chúng sinh. Vua cúng dường Đức Phật và Tăng chúng luôn trong ba tháng. Thái tử cũng cúng dường và cũng tu như vậy. Vua Vô Tránh Niệm tu hành tinh tấn, đến khi công hạnh vẹn toàn thì thành Phật ở cõi Cực lạc phương Tây hiệu là A Di Đà, Thái tứ cũng công hạnh trọn đủ, cũng sinh về cõi ấy thành Bồ tát hiệu là Quán Thế Âm, đặng cùng với Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sinh về cõi Phật.

3. Hạnh nguyện của Ngài:

Trong kinh Phổ môn, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có nói về hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm Bồ tát là cứu độ chúng sinh thoát khỏi ba tánh tham, sân, si, nếu chúng sinh niệm đến danh hiệu Ngài. Đức Quán Thế Âm lại thường hiện thân vào tất cả từng lớp chúng sinh để cứu chúng sinh thoát khỏi các nạn tai ách. Hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm là tượng trưng cho hạnh Từ Bi và tất cả chúng sinh thường niệm danh hiệu Ngài là nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát, hay nam mô Đại từ bi phụ Linh cảm Quán Thế Âm Bồ tát.

4. Lòng quy ngưỡng của Phật tử:

Vì Đức Quán Thế Âm có nhân duyên, cơ cảm với chúng sinh ở cõi Diêm Phù Đề này, nên Ngài rất được tôn thờ. Một khi có tai nạn gì xẩy ra, mọi người liền niệm danh hiệu Ngài để nhờ Ngài cứu độ. Trong những thời kỳ binh đao tai nạn, mọi người thường hay ấn tống tượng Ngài để thờ hoặc để đeo. Người ta thường vẽ tượng Ngài bằng hình dáng phụ nữ tượng trưng cho lòng thương không bờ bến của Ngài, bà mẹ hiền của chúng ta. Ngài cầm một cành dương liễu để tiếp dẫn chúng sinh và bình nước cam lồ để rưới tắt phiền não, đem lại nước trong mát cho mọi loài .Người ta vẽ Ngài đi trên hoa sen giữa bể cả ba đào, tỏ rằng trong bể khổ sóng gió Đức Quán Thế Âm bao giờ cũng gần gũi chúng sinh, cứu vớt chúng sinh bằng hoa sen Từ bi ngát hương chân lý. Có khi vẽ Ngài ngồi ở pháp tọa trong rừng trúc, hình dung Ngài ở núi Phổ Đà thường nhập định, đồng thời tùy duyên thuyết pháp độ chúng sinh; tuy tùy duyên ứng thân thuyết pháp mà vẫn không rời pháp toạ tự giác vậy. Hình ảnh này và hình ảnh có Thiện Tài, Long Nữ đứng hậu là tượng trưng cho phạm hạnh đồng chơn của Đức Quán Thế Âm, nghĩa là hoa sen trong sạch giữa bùn lầy ô trược như tâm hồn tươi trẻ trước cảnh sắc mê hoặc. Trong năm có ba ngày vía lớn của Ngài là ngày 19 tháng 2, 19 tháng 6, 19 tháng 9. Người Phật tử chân chính niệm Đức Quán Thế Âm là luôn luôn thể theo hạnh Từ bi của Ngài mà độ cho tất cả chúng sinh đau khổ, làm tất cả hạnh lành, dầu phải gặp những gian nan, đau khổ.

 

Người ăn thịt đoạn mất giống từ bi. Không ăn thịt thời không có người sát hại chúng sinh.

Kinh LĂNG GIÀ.

 

BA MẪU CHUYỆN ĐẠO

1. LÒNG NGƯỠNG MỘ PHẬT PHÁP CỦA VUA A DỤC.

Vua A Dục trước là con người độc ác, từ khi theo đạo Phát, đổi thành người rất nhân từ. Hồi mới theo đạo Phật vì lòng cảm mộ quá dồi dào, nên mỗi khi ngự ngoài đường, hễ gặp các vị Tỳ kheo nào đi ngang qua, liền xuống kiệu khấu đầu lạy. Có vị đại thần tên là Da Tát, lấy thế làm quá đáng bèn can ngăn vua rằng: “Các thầy Tỳ kheo kia chẳng qua là những người các cấp đi hành khất ngoài đường, không đáng tôn trọng”. Vua im lặng không trả lời. Cách vài ngày, vua truyền cho các quan văn võ, mỗi ông phải đem bán một đầu súc vật, và cho biết giá bán các đầu ấy như thế nào; ông Da Tát thời phải bán một đầu người. Các đầu súc vật thời bán được với một giá tiền sai khác hơn kém nhau, duy có đầu người của ông Da Tát bán thì không ai mua. Vua hỏi cớ sao, ông Da Tát trả lời: “Vì đầu người là một vật hèn hạ, không có giá trị gì”. Vua lại hỏi: “Chỉ có cái đầu này là hèn hạ hay tất cả đầu người đều hèn hạ?”. Ông đáp tất cả đầu người đều hèn hạ. Vua bèn hỏi: “Vậy đầu trẫm đây cũng là hèn hạ sao?”. Ông Da Tát sợ hãi không dám nói, sau vua bắt ép ông phải thú thật đầu vua cũng hèn hạ. Vua bèn giảng giải cho ông Da Tát nghe rằng: “Phải ngươi muốn cản ta đừng lạy các vị Sa môn là nhà ngươi có ý kiêu cũng tự đắc, nhưng cái đầu của trẫm đây là một vật hèn hạ không ai thèm mua, vì cúi đầu xuống mà được thêm công đức, thêm giá trị thì phỏng có hại gì? nhà ngươi muốn chỉ trích các thầy Sa môn là người các cấp, nghĩa là không sang trọng nhưng nhà ngươi không rõ ân đức của các Thầy. Khi nào có đi ăn tiệc, ăn đám cưới thời mới nên hỏi đến giai cấp, chớ đã đi tu học đạo, phân biệt giai cấp làm gì? người sang trọng đánh giá bị tội trạng thời ai cũng nói người này là kẻ có tội, và ai cũng đem lòng khinh bỉ. Nếu con người hèn hạ mà tu nhân tích đức thời ai cũng cúi đầu”. Vua nói đến đây, bèn chỉ hẳn vào ông Da Tát nói lớn rằng: Nhà ngươi há lại không nhớ câu này của Đức Phật Thích Ca hay sao? Ngài dạy: “Người có trí thời dầu vật không có giá trị cũng làm nên có giá trị”. Ta muốn theo Phật, ngươi lại can gián ta, ấy là bất trung. Đến khi ta nằm xuống đất như cây mía kia, thì dẫu muốn lạy, muốn cung kính cũng không sao được nữa, thời làm thế nào có công đức? Vậy ngươi nên đế yên ta lạy các vị Sa môn kiếm chút phúc đức. Nếu người nào dám tự nói: “Ta là người đáng tôn trọng hơn tất cả, thời ấy là người u mê nhất đời. Nếu lấy huệ nhân của Đức Phật mà xem xét thân thể, thời biết thân ông vua và thân mọi người cũng giống nhau, cũng da thịt xương, khác nhau chỉ cái phù hoa bề ngoài, nhưng cốt yếu ở đời là lòng đạo đức thời trong thân thể người là hèn hạ nhất đời cũng có thể được. Chính cái ấy là người trí giả gặp đâu cũng phải cung kính, phải vái lạy vậy.

Trích trong chuyện vua A Dục.

2. ĐỨC PHẬT VỚI LA HẦU LA

Khi La Hầu La (con của Đức Phật Thích Ca) chưa thành đạo, tâm tánh thô tháo, lời nói ít thành tín. Phật bảo La Hầu La rằng: “Ngươi hãy về tịnh xá Hiền Độ, giữ miệng nhiếp ý, siêng tu kinh giới”. La Hầu La vâng theo lời Phật dạy về ở tịnh xá Hiền Độ 90 ngày, tàm quý tự hối ngày đêm không dừng nghỉ. Đức Phật an tọa, La Hầu La nhiếp tâm đứng hầu một bên. Phật bảo La Hầu La rằng: “Ngươi hãy bưng chậu nước đến đây rửa chân cho ta”. La Hầu La vâng lời rửa chân Đức Phật. Khi rửa xong, Đức Phật bảo La Hầu La rằng: “Ngươi có thấy nước rửa chân trong chậu kia không?”

- Bạch Thế Tôn, con thấy.

- Nước ấy có thể dùng để ăn uống súc miệng được không?

- Bạch Thế Tôn, không thể dùng được. Nước ấy trước kia trong sạch, nay vì rửa chân trở thành nhớp đục nên không thể dùng. Phật dạy rằng: Ngươi cũng như vậy, là con ta, là cháu của vua Tịnh Phạn, bỏ sự vui sướng ở đời, làm vị Sa môn; nếu ngươi không tinh tấn, nhiếp thân giữ miệng, thời phải bị ba món là tham, sân, si làm nhơ nhập tâm ý, cũng như nước đục kia không thể dùng được”.

Phật lại bảo La Hầu La: “Hãy đổ nước kia đi”.

La Hầu La liền đổ nước trong chậu ra.

Phật nói: “Chậu kia nay không còn nước nhớp nữa, vậy có thể dùng để đựng đồ ăn uống được không?”

- Bạch Thế Tôn, không thể dùng được, là vì đã mang cái tên chậu đựng nước rửa và đã từng chứa nước bất tịnh.

Phật dạy La Hầu La: “Ngươi cũng như vậy; tuy làm vị Sa môn, miệng không nói lời thành tín, tâm tánh lại cương cường, chẳng niệm tinh tấn, thường bị tiếng đồn không tốt. Thật cũng như cái chậu rửa kia, không thể đựng đồ ăn được”.

Đức Phật lấy ngón chân hất cái chậu rửa, khiến chạy lăn tròn, nghiêng qua nghiêng lại vài lần mới dừng lại. Phật bảo La Hầu La: “Ngươi có tiếc cái chậu này bị bể không?”.

Bạch Thế Tôn, cái chậu để rửa chân là vật không quý giá gì. Trong ý tuy cũng có tiếc đôi chút, nhưng không đến nỗi thiết tha lắm.

Phật bảo La Hầu La: “Ngươi cũng như vậy, tuy làm người Sa môn, không nhiếp thân và miệng, nói lời thô ác làm hại nhiều người, thời trong chúng không ai thương, người trí thức không ai tiếc, thân chết hồn luân chuyển trong ba đường dữ, sống chết vô lượng, các vị Hiền Thánh không ai thương tiếc; cũng như ngươi nói không tiếc cái chậu nữa”. La Hầu La nghe lời Phật dạy, lấy làm hổ thẹn và sám hối tất cả lỗi lầm đã phạm.

Kinh PHÁP CÚ THÍ DỤ.

3. ĐỨC PHẬT ĐỘ CHO NGƯỜI GÁNH PHÂN

Thành Xá Vệ có một người Chiên Đà La, sống về nghề đổ phân. Một hôm Đức Phật gặp đi giữa đường bèn kêu lên. Người đổ phân thưa rằng: “Con là người gánh phân ô uế không sạch, con không dám lại gần ngài”. Đức Phật nói rằng: “Ta nay muốn cứu độ ngươi”. Rồi Đức Phật tự thân dắt người gánh phân xuống sông Hằng tắm rửa sạch sẽ, và đưa về Tịnh xá Kỳ Hoàn cho xuất gia làm vị Sa môn. Người gánh phân tu hành rất tinh tấn cần khổ chuyên tâm, nên chưa đầy một tuần chứng quả A la hán, thần thông tự tại. Lúc bấy giờ vua trong nước nghe tin Đức Phật độ cho người Chiên Đà La, lấy làm bất mãn cho rằng làm vậy ô nhắc hạng Sa môn, và làm khó khăn sự kính lễ của các hàng vua chúa, liền đến tịnh xá trách thiện Đức Phật. Khi đến chỗ Phật ở, thấy một vị Sa môn uy nghi đức hạnh, ngồi thuyền trên một tấm đá, hiện nhiều thần thông kỳ diệu. Vua vào lễ Phật và bạch rằng: “Bạch Thế Tôn, vị Sa môn kia, danh hiệu là gì, sao lại có nhiều thần thông như vậy”. Phật bảo rằng: “Đó là người gánh phân, nhờ công hạnh tinh tấn nên chứng được quả A la hán”. Rồi Đức Phật dùng thí dụ cho vua rõ rằng: “Như ở trong bùn nhơ bẩn, có nở một hoa sen thơm ngát, vậy Bệ hạ là người có mắt, Bệ hạ có hái lấy hoa kia không?”. Vua đáp: “Đóa hoa tuy mọc trong bùn lầy mà thơm ngát hương quý, rất nên dùng để tự trang nghiêm. Còn bùn lầy nhơ bẩn kia thì nên quán xem như là trạng thái của bà mẹ, chính tự trong bào thai mẹ sinh nở đóa hoa công đức”.

Lúc bấy giờ vua lại bạch Phật rằng: “Vị A la hán trước làm nghề đổ phân, nay công quả tu hành viên mãn, chứng được những quả đức không thể nghĩ bàn. Tôi xin nguyện luôn luôn cúng dường mười món cần thiết, không dám để thiếu thốn”.

BA CHUYỆN TIỀN THÂN

1. THÁI TỬ TU ĐẠI NOA

Ta nghe như vầy:

Một thời Đức Thế Tôn ngự tại nước Xá Vệ nơi rừng Kỳ Hoàn, tại A luyện trong vườn A Nan Phân, để đối với vô số Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di. Lúc ấy Ngài ngồi chính giữa, có bốn hàng đệ tử chầu chực xung quanh. Bỗng Ngài mỉm cười và nơi miệng có chiếu hào quang năm sắc.

Ông A Nan đứng dậy, sửa y phục trang nghiêm, chắp tay quỳ xuống và nói: “Bạch

Đức Vô Lượng Thọ, đã 20 năm con hầu cận ngài, chưa hề thấy Ngài cười lần nào như hôm nay. Bạch Đức Chánh Biến Giác, hiện giờ, Ngài nhớ đến chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai chăng? Con rất mong đợi biết vì sao Ngài lại mỉm cười như thế?

Phật đáp: “Ta không tưởng tới Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Ta nhớ cái hạnh bố thí Ba la mặt của ta hồi vô lượng kiếp trước”.

Ông A Nan nói: “Bạch Đức Vô Lượng Quang, xin ngài hoan hỷ cho con biết pháp ấy ra sao?”.

Phật nói: “Thuở A tăng kỳ kiếp, có một nước hiệu là Diệp Ba, vua tên là Thi Tí, lấy pháp chân chính trị vì chẳng hề làm tổn hại lê dân. Vua có 4.000 quan Thượng thơ, 500 thớt voi bạch, cai quản 60 tiểu bang và 800 thôn xã. Vua tuy có hai muôn vương phi mỹ nữ, song không có bà nào có con. Ngài khẩn cầu khắp nơi, tu luyện đạo đức.

May thay! một bà bỗng có thai.

Thiên tử bổn thân săn sóc chánh cung rất chu đáo. Ngài lai ra lệnh lo nào nệm thúy gối loan cho bà an nghỉ, nào món ăn cho mỹ vị, thức uống cho tinh khiết đặng bà dùng. Sau chín tháng đến ngày mãn nguyệt khai hoa, bà sinh hoàng nam. Hay tin này, cả thảy quý phi trong cung đều hớn hở vui mừng.

Thời gian qua, Thái tử được 16 tuổi. Ngài văn võ kiêm toàn. Lại thêm lễ nhạc cung đờn cũng là tột chúng. Ngài phụng kính Hoàng phụ và Mẫu hậu chẳng khác chi tiên thánh. Vua cha lại dựng riêng cho Hoàng tử một tòa đài các nguy nga rực rỡ.

Tuy trẻ tuổi, song Đông cung lại quý sự phước thiện, bố thí cho nhân loại, thượng cầm hạ thú. Ý ngài chỉ muốn cho tất cả chúng sinh dược an vui tự tại.

Khi đến tuổi trưởng thành, vua cha đính hôn cho Ngài với nàng Mạn Trà, con một vị thiên tử, Công chúa sắc đẹp tuyệt trần và đức hạnh không ai sánh kịp.

Ngày tháng qua, Đông cung được một trai một gái.

Một hôm, Ngài xin phép vua cha ra thành dạo chơi và xem cảnh vật. Ngài thấy những người nghèo, đui, điếc, câm đi dọc đường, trong lòng ưu ái, không hân hoan chút nào. Vua cha hỏi, Đông cung nói: “Tâu Hoàng phụ, con ra thành thấy người nghèo, điếc, đui, câm; con động mối từ tâm, xót lòng trắc ẩn. Con muốn tâu Hoàng phụ biết ý muốn của con, song con còn ngần ngại e Hoàng phụ không nhận lời”.

Hoàng thượng nói: “Con muốn điều gì,  cha cũng hoan hỷ ban cho như ý”. Đông cung nói: “Con muốn lấy tất cả của cải trong kho tàng của Hoàng phụ, đem bố thí cho mọi người, bất luận ai xin một vật chi thời con cho vật ấy”.

Hoàng phụ đáp: “Hay thay, con cứ thi hành theo bổn nguyện, cha không cấm cản”.

Đông cung xin các quan hầu cận đem đồ châu báu ra bày biện nơi bốn cửa thành và ngoài chợ đặng bố thí cho tất cả nhân loại. Tám phương trời đất đều hay việc lành của Hoàng tử. Bốn hướng xa xôi ngàn dặm, đua nhau lội suối,trèo non, đến thọ thí. Người đói rách, Hoàng tử cho ăn mặc, kẻ xin bạc vàng cháu báu, Hoàng tử tại cấp cho, ai ai cũng được toại lòng hả dạ.

Thời ấy có một ông vua nghịch sinh lòng nham hiểm hay tin hoàng tử bố thí bất luận là ai cùng vật gì, mới hội các đình thần và các vị Bà la môn trong nước bàn bạc rằng: “Ta nghe vua nước Diệp Ba có một thớt tượng bạch, tên là Tu Đàn Diên chạy bay được trên liên hoa. Voi ấy đã dõng mãnh lại mạo hiểm trong việc chiến tranh, trăm trận trăm thắng, chả biết chư khanh có ai chịu đi xin voi ấy chăng?”. Các quan văn võ lắc đầu trương mắt nhìn nhau; song trong hàng Bà la môn, có tám ông tâu rằng: “Chúng tôi nguyện làm như ý, cúi xin Hoàng thượng ban cho chúng tôi ít đồ hành lý”.

Vua dạy cấp đồ đi đường và nói rằng: “Ta rất tin cậy các người, nếu các người xin được voi ấy ta sẽ trọng thưởng”.

Tám ông Bà la môn tay cầm tích trượng lên đường, khi lên thác, khi xuống ghềnh. Lần hồi đã tới nước Diệp Ba. Chúng hỏi thăm đến trước cửa đền hoàng tử, thảy đều chống gậy kim cương, chân đứng chân treo, dây mặt vô cửa. Người giữ cửa vào báo cho Đông cung. Ngài liền ra thi lễ một cách tôn trọng, chẳng khác chi nghĩa cha con. Đoạn Thái tử hỏi: “Bạch quý ngài, quý Ngài ở đâu đến đây? Đi đường sá xa xôi có cực khổ chăng? Cảm phiền quý ngài cho tôi biết có việc chi quan hệ mà phải chịu nhọc nhằn treo chân thế này?. Tám vị Bà la môn đáp: “Thưa Hoàng tử Đông cung, chúng tôi mạn nghe Đông cung mở đường phát thiện, bố thí bất luận là ai cùng bất cứ của gì, nên danh thơm của Ngài truyền khắp tám phương, công đức của Ngài thật vô lượng vô biên, xa gần đều chúc tụng, không một ai không biết. Chính bần đạo lấy đó tin chắc chắn như lời. Thưa Hoàng tử Đông cung, thật Ngài là con cõi thượng thiên, thế thì lời nói của Ngài còn hơn kim thạch. Vậy nếu Ngài thành tâm bố thí, chúng bần đạo xin ngài hoan hỷ cho chúng tôi bạch tượng bay trên liên hoa”.

Đông cung liền lại chuồng tượng dắt ra một con voi bạch, song các vị Bà la môn nói lại: “Thưa Hoàng tử Đông cung, không phải thớt voi này, chúng tôi xin đẩy là xin bạch tượng chạy được trên hoa sen, tên nó là Tu Đàn Diên”.

Hoàng tử đáp:

“Cha tôi thương mến voi ấy lăm, chẳng khác chi tôi, tôi không thể tự quyền cho các Ngài. Nếu tôi cho thì cha tôi hết thương tưởng tôi, lại còn đuối tôi ra khỏi nước nữa”. Nhưng Đông cung lại nghĩ rằng: “Trước kia ta đã lập trọng nguyện ‘Bố thí như ý’, nếu nay ta từ chối thì ta tự bác đại nguyện của ta. Ta nên cho voi ấy mới có thể đạt được pháp Ba la mật đa”.

Đông cung không còn ngần ngại nói: “Bạch quý Ngài, tôi không dám làm quý Ngài phải bận lòng vì một sự nhỏ nhen đó”. Hoàng tử dạy tùy tùng thắng bánh vàng và dắt tượng ra tức tốc. Tay trái Ngài bưng nước rửa tay cho các vị Bà la môn, tay mặt dắt voi cho quý khách. Vừa được voi bạch, tám ông Bà la môn liền ca tụng “Bồ đề tâm” và cảm tạ Đông cung, lộ vẻ hân hoan và vội vã lên đường. Đông cung lại còn nói với: “Xin quý Ngài hãy đi cho chóng, kẻo Hoàng phụ tôi biết lại cho người theo bắt voi”. Trong nháy mắt, tám ông Bà la môn biệt dạng.

Vừa nghe Hoàng tử cho kẻ nghịch tượng báu, các quan văn võ đều sửng sốt, lo sợ rằng: Nước ta nhờ có voi ấy mà dẹp nạn can qua”. Quần thần liền vào tâu với vua: Muôn tâu Bệ hạ, Đông cung đã đem voi báu cho kẻ thù nhà, Bệ hạ dựng nên bờ cõi cũng nhờ có voi ấy oai phong lẫm liệt, một mình có thể chống cự sáu chục thớt voi khác như chơi, nay Đông cung lại cho kẻ nghịch, chúng hạ thần cho đó là điềm mất nước. Chúng tôi tâm hồn rối loạn, cúi xin Hoàng thượng định đoạt, bố thí như ý của Đông cung theo thiển kiến của chúng tôi thì chẳng kíp thì chầy, Hoàng tử chẳng những vét sạch cả của cải trong kho tàng mà thôi, lại chúng tôi sợ e Ngài còn cho luôn cả nước và vợ con Ngài nữa”.

Vua nghe tâu không vừa lòng, liền cho đòi một vị Đại thượng thơ đến hỏi: Khanh cho Trẫm biết có phải Thái tử bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?”.

- Muôn tâu Bệ hạ, quả thật như lời.

Vua hội nghị cả thảy đình thần để thẩm án Đông cung. Một quan Thượng thơ tâu: “Kẻ nào vào chuồng tượng thì chặt chân, kẻ nào dắt tượng thì cắt tay, kẻ nào thấy dắt tượng thì móc mắt”. Một quan Thượng thơ khác lại tâu: “Xin Hoàng thượng cộng án tử hình cho cả thảy thủ phạm và đồng lõa”. Thấy quần thần phân vân và ý kiến không đồng, vua lại thêm tha thiết và phán với triều đình: “Con Trẫm chẳng những ham tu huệ mà thôi, lại còn mộ đường phước thiện. Đối với mấy điều ấy Trẫm không thể ngăn cản, huống chi nay Trẫm nỡ đành bắt buộc hành hình cùng địa ngục”. Một vị đại Thượng thơ bác bẻ ý kiến cả thảy triều thần, rồi quỳ xuống tâu: “Theo thiển kiến của tôi, Ngài nên đuổi Thái tử ra khỏi nước và đày người ở chốn lâm sơn 12 năm hòng người ăn năn hối ngộ”. Vua theo ý kiến ấy, dạy đòi Đông cung vào hỏi: có phải ngươi bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?”.

- Muôn tâu Hoàng phụ, quả thật như vậy.

Vua lại hỏi: “Sao ngươi lại dám bắt bạch tượng cho kẻ nghịch mà không trình cho ta hãy trước?”.

- Thưa Hoàng phụ, trước kia Hoàng phụ cho phép con bố thí như ý và không ngăn cấm một việc chi. Bởi thế con không tâu lại với Hoàng phụ việc con làm phước.

Thánh Hoàng nói: “Lệnh ta ban thuộc về đồ ngọc ngà châu báu, chớ không can hệ đến tượng bạch”.

Thái tử đáp: “Muôn tâu Hoàng phụ, các vật ấy đều là của cải của Hoàng phụ tất cả, con không ngờ phải trừ bạch tượng”.

Hoàng thượng phán: “Ngươi phải tức tốc ra khỏi nước này, ta đày ngươi tại núi Đàn Đặc (Danta) 12 năm”.

Thái tử tâu: “Con không dám cải lệnh Hoàng phụ song con xin Hoàng phụ cho phép con ở lại thêm bảy ngày đang bố thí thêm cho mãn nguyện”.

Thiên tử đáp: “Ta dạy đuổi ngươi cũng vì sự bố thí của ngươi thái quá, chẳng những làm tiêu tan kho báu của ta lại làm cho nước mất một linh vật, ngươi không được ở lại đây thêm bảy ngày, hãy ra khỏi nước bây giờ, ta không cho phép đâu”.

Thái tử tâu: “Con không dám trái lệnh Hoàng phụ, nhưng vì con còn chút của cải riêng, muốn đem bố thí cho trọn vẹn, chớ con không đám đá động đến kho tàng của nước nữa ...”

Hai muôn cung phi đồng xin vua để cho Hoàng tử ở lại bảy ngày rồi sẽ đi cũng chẳng muộn. Vua nhận lời.

Thái tử dạy gia dịch truyền cho thập phương hay, ai muốn của cải, thì đến ngài cung cấp cho. Nhân dân ở bốn phương trời nghe đồn đều tới cửa đền. Hoàng tử rất ân cần thiết đãi thức ăn, chăm nom phân phát của cải, mọi người đều được vui vẻ. Trong bảy ngày, được bố thí cho của cải, người hàn vi trở nên phú quý, cả muôn người nhờ đó được no ấm hân hoan.

Đông cung vào từ tạ Công chúa Mạn Trà nói rằng: “Vì tôi bố thí thái quá, đã vét sạch kho tàng lại cho kẻ nghịch tượng bạch kỳ tài, nên Hoang phụ và triều đình đày tôi mười hai năm lên núi Đàn Đặc”.

Bà Mạn Trà nói: “Muốn nước thịnh nhà an, tôi xin cầu chúc Đức Thánh Hoàng, các thượng quan cùng quân dân lớn nhỏ trong nước, thảy đều được giầu sang, an vui vĩnh viễn. Còn tôi thì tôi nguyện theo Thái tử vào chốn thâm sơn mà tu hành pháp Bát nhã”.

Đông cung nói: “Người nam tử ở núi non hiểm địa còn khó giữ được bình tĩnh với cọp hùm cùng các thú dữ khác, Vương phi đã quen thanh nhàn, làm sao chịu nổi với cảnh khó khăn và đời vô vị. Công chúa ở thì đài các nguy nga, mặc ròng tơ lụa, nghỉ toàn nệm gối, ăn uống toàn đồ mỹ vị. Còn trên sơn lâm, nghỉ ngoài màn trời chiếu đất, nệm gối bỏng cỏ rơm, thức ăn toàn là hoa quả. Lại thêm mưa gió sấm, sét, sương, tuyết làm cho vỡ mặt kinh tâm. Khi lạnh thì lạnh thấu xương, khi nóng thì nóng phỏng trán. Nơi cây cối không bề nương dựa, dưới đất thì là cỏ gái đá sỏi cùng loài sâu bọ độc địa, làm sao phu nhân lại chịu nổi cảnh khổ ấy?”.

Bà Mạn Trà đáp: “Nếu thiếp xa cách Hoàng tứ thì cần gì nệm thúy gối loan, sơn hào hải vị. Hôm nay đứng trước hoàn cảnh này, thì lẽ đương nhiên chàng đâu thiếp đó cho trọn đao vợ chồng. Nước lấy cờ làm biểu hiện, khói thì có lửa, vợ thì có chồng. Thiếp chỉ biết gởi thân cho lang quân, mặc dầu mưa tối nắng chiều. Thiếp tưởng: lang quân, chẳng khác chi thần thức của thiếp, nếu xa lìa thì thân kia tan rã. Vả lại, lúc lang quan lập đàn bố thí thiếp cũng dự vào, khi lang quân lìa quê hương nếu có người đến xin thọ thí, thiếp biết nói làm sa  với họ? Lúc thiếp nghe ai khẩn cầu với thí chủ, thiếp quá cảm động có thể chết đặng vậy”.

Đông cung nói: “Tôi mở đường bố thí, không từ chối một ai, nếu có người đến xin hai con, tôi rất hoan hỷ nhận lời. Khi ấy Công chúa không vui lòng hưởng ứng, có phải là làm rối loạn tâm thiện của tôi không? Tốt hơn Công chúa đừng đi theo tôi làm chi”.

Mạn Trà đáp: “Hoàng tử chớ quá lo xa, tôi xin tán thành mọi việc phước thiện. Lang quân ôi! Trong trời đất không có ai nhơn đức hơn lang quân!”.

Đông cung nói: “Nếu quả Vương phi đồng tình thì không gì quý hóa bằng!”.

Đông cung dắt vợ con vào viếng mẹ và từ giã lên đường. Thái tử thưa: “Cúi xin Mẫu hậu hãy năng nhắc nhở Thánh hoàng lấy luật chân chính trị nước chăn dân, chớ để tà đạo sang nhập nước nhà”.

Nghe lời Đông cung, Hoàng hậu bồi hồi cảm động âu sầu. Bà nói giữa cung phi: “Ta đem thân cứng cỏi như sắt đá, lấy lòng bền bỉ hơn gang thép mà phò Hoàng thượng không chút chi lỗi lầm. Nay có một mụn con vỏn vẹn, nó lại bỏ ta mà đi, tưởng tới chừng nào thì tâm bào ta đứt từng đoạn! Nhớ khi con còn trong bụng mẹ, chẳng khác chi lá trên nhành, càng ngày càng lớn ta nuôi con đến trưởng thành, nó lại đi xa, bỏ ta hiu quạnh! Các Vương phi khác sẽ được hưởng thú vui chơi, còn ta thì Hoàng thượng sẽ hết yêu vì ta nữa. Ta xin thành tâm chú nguyện cùng cao xanh cho con ta được mau trở về xứ sở”.

Đông cung cùng vợ con đồng lạy mẹ rồi lui ra.

Hai muôn quý phi mỗi bà đều đem ngọc trân châu đặng biếu cho ông cung; bốn ngàn Thượng thơ đem tràng hoa và bảy báu dâng cho Hoàng tử.

Thái tử ra cửa thành hướng Bắc. Ngài lấy cả thảy bảy vật báu, ngọc và bông hoa bố thí cho mọi người. Cả thảy quan dân lớn nhỏ vô số đến đưa đón chật đường, chen nhau đưa lễ vật cùng chúc từ cho hoàng tử. Họ bàn luận cùng với nhau và nói: “Đông cung Thái tử là người trọn lành, là bậc vĩ nhân trong nước. Vì sao Hoàng thượng lại xua đuổi một vị Hoàng tứ quý nhất và hiếm có trong đời này?”. Cả thảy mọi người đều hoài tâm thương tiếc.

Ra khỏi thành. Hoàng tử xin thần dân trở gót đặng Ngài lên đường. Lúc quay lưng, quan dân lớn nhỏ đều bi cảm và khóc than nức nở.

Thái tử lên xe với vợ con, tự cầm cương dục ngựa. Đi một khoảng đường xa xa, Thái tử dừng xe dưới bóng cây nghỉ mát. Bỗng có một người Bà la môn đến xin ngài con ngựa. Thái tử mở ngửa ra cho, rồi để hai con lên xe, tự mang gọng xe vào vai kéo thế cho ngựa, Công chúa thì ở sau xe đẩy tới. Đi thêm được một khúc đường, lại gặp một vị Bà là môn đón xin cái xe, Đông cung liền nhận lời. Đi một khúc xa hơn nữa lại gặp một người Bà la môn xin bố thí. Thái tử nói: “Tôi không muốn từ chối, song của cải tôi đã hết cả”. Người Bà la môn đáp: “Nếu Ngài không có của cái gì khác, nhờ Ngài cho tôi y phục của Ngài đang mặc trong mình”. Đông cung lấy quần áo tốt của mình mà cho, rồi mặc đồ cũ. Đi một đỗi xa nữa. gặp một người Bà la môn khác đến xin bố thí, Đông cung cho quần áo của vợ. Một đỗi xa hơn nữa, lại gặp một người Bà la môn đến thọ thí, Ngài cho quần áo của hai con. Đông cung đã bố thí cả xe, ngựa, của cải và quần áo mà không buồn không tiếc chút nào. Bây giờ, Đông cung thì cõng con trai, Công chúa thì bồng con gái, đi bộ lên đường. Cả thảy vợ chồng con cái đều hân hoan, nhắm non cao thẳng dặm.

Núi Đàn Đặc ở xa lắm, cách châu thành hơn 6.000 dặm. Muốn đi đến nơi, phải trải qua không biết bao nhiêu hầm hố bùn lầy, phải nhịn đói chịu khát nữa.

Cứ ngày đi đêm nghỉ, Xuân qua Thu lại, Hè mãn Đông sang, tội nhân đã đến núi Đàn Đặc. Hoàng tử khám xem phong cảnh thấy núi cao chơm chởm oai nghi, cây cỏ sầm uất thịnh mầu. Các thứ chim ca hót với giọng véo von, hồ trong hoa nở, nước ngon trái ngọt với vô số ngỗng, hạc, vịt, chài cùng các loại chim ăn dưới nước.

Hoàng tứ nói với vợ: “Ở đây cây mọc thẳng bằng cao sừng sựng tận trời xanh mà không cây nào lay động. Chúng ta sẽ được uống nước trái ngọt ở hang đá; chúng ta sẽ hành pháp Bát nhã”. Đông cung vô núi, cả thảy thượng cầm hạ thú đều vui mừng đến nghinh tiếp Ngài.

Trên chóp núi có một vị tu hành tên là A Châu Đà. Ngài được 5000 tuổi và đức hạnh dung thông: Đông cung đến thi lễ rồi lui ra đứng dậy mà nói: “Bạch ngài, hiện giờ chúng tôi chưa biết phải ở nơi nào có thức ăn uống?”.

Ông A Châu Đà đáp: “Toàn núi này là cảnh thiên thai, Ngài ở đâu lại không được? Núi này chỗ nào cũng tinh sạch và thanh tịnh, Ngài muốn hành pháp Bát nhã lại còn đem vợ con theo làm chi?”.

Hoàng tử chưa kịp trả lời, bà Mạn Trà chặn hỏi: Ngài tu ở núi này đã bao lâu?

- Tôi ở núi này được đâu 400 hay là 500 năm.

- Một người như tôi ước tu bao nhiêu năm mới đắc huệ? Giả tỷ tôi ở núi này lâu hơn cổ thọ cũng khó tính cho ra đến chừng nào đạt được đạo Bồ đề.

Ông tiên đáp: “Kỳ thật mấy câu chuyện ấy, tôi cũng không biết được”.

Đông cung hỏi: “Ngài có nghe nói đến tên Thái tử Tu Đại Noa, con của vua nước Diệp Ba chăng?”.

Vị tu sĩ đáp: “Tôi thường nghe nói đến, song không biết mặt”.

Thái tử nói: “Đông cung ấy là tôi đây vậy”.

Vị tu sĩ hỏi: “Ngài muốn tu pháp môn nào?”

Thái tứ đáp: “Tôi muốn tu theo Đại thừa”.

Vị tu sĩ nói: “Đối với công đức của Ngài, tôi tưởng chẳng bao lâu Ngài đạt mục đích một cách viên mãn. Chừng ngài đắc đạo vô thượng, hoàn toàn sáng suốt, tôi sẽ là đệ tứ thứ nhất của Ngài có phép siêu phàm nhập thánh”.

Rồi ông lại chỉ cho Thái tử một chỗ ở. Thái tử bắt chước ông trồng cương vào đầu và vấn tóc, lượm nhánh và lá cây cất bốn lều tranh cho mình, vợ và con.

Con trai tên là Da Lị (Jali) 7 tuổi, mặc quần áo bằng cỏ rơm theo cha, con gái tên là Kê Na Diên (Krnâjinâ) mặc quần áo da nai theo mẹ.

Trên núi chim chóc và cầm thú vui cười, tỏ lòng tín ngưỡng và sùng bái Hoàng tử. Khi Thái tứ ở đêm tới đâu thì ở đó hang hốc đều nổi mạch nước, cây khô lại đơm bông trổ lá, loại sâu bọ và ác thú thảy đều trốn mất, loài thú ăn thịt trở lại ăn cỏ, cây sai trái, chim đồng tình kêu hót. Bà Mạn Trà lo hái trái cho hoàng tử và cho con ăn. Còn hai trẻ khi thì đi chơi với cầm thú nơi mé rạch, khi thì ở đó suốt đêm. Lần kia đuổi thú chơi, con trai Da Lị cưỡi sư tử, sư tử nhảy. Da Lị té xuống đất trầy mặt chảy máu. Một con khỉ thấy, leo lấy lá cây chùi máu, rồi đặt lại bờ ao rửa. Hoàng tử thấy tấn tuồng ấy, thầm nói: “Loài cầm thú cũng có lòng thương như nhân loại vậy”.

Trong thời kỳ ấy, tại xứ Câu Lưu có một người Bà là môn nghèo khó, bốn mươi tuổi, không con, vợ chàng thì yểu điệu đẹp đẽ, phương phi, còn chàng thì xấu xa, mình mẩy đen đúa, diện mạo quá dị tướng, chẳng khác chi yêu ma quỷ mị. Vợ chàng gớm ghét mong sao chàng chết phứt cho rồi. Ngày kia cô ta đi múc nước gặp một đám trai tráng nhạo báng chồng nàng và nói: “Bà thì ví tợ thiên kim, cớ sao lại làm vợ một người như thế?”.

Cô ta trả lời: “Cái đầu già nua ấy bạc trắng như sương, sớm tối tôi hằng trù rủa cho nó chết, chẳng biết sao nó không nhúc nhích”. Đáp rồi tự than thân tủi phận, về nhà khóc nói với chồng: “Thiếp đi múc nước gặp một lũ trai tơ xúm nhau giễu cợt. Vậy chàng phải kiếm cho thiếp một đứa ở, chừng nào có đứa ở, thiếp khỏi đi xách nước, bọn ấy mới hết chọc ghẹo thiếp”.

Người chồng trả lời: “Tôi nghèo xác da xác chiếu, nàng lại muốn kiếm tôi mọi ở đâu?”

Vợ đáp nếu không có, tôi tình nguyện bỏ nhà ra đi. Nàng lại tiếp lời: “Tôi có nghe Hoàng tử Tu Đại Noa, vì bố thí thái quá nên bị vua cha đày tại núi Đàn Đặc. Ngài có một trai một gái, chàng nên thân hành đến đó xin hai trẻ.

Chồng bác lời rằng: “Núi Đàn Đặc xa hơn 6,000 dặm, khó đi đến nơi, huống nữa là xin Thái tử một việc mà Ngài không thể nào cho!”.

Vợ lên tiếng: “Nếu chàng còn do dự, tôi sẽ mượn con dao tự tử ngay”.

Chồng xuống giọng: “Thôi đừng vội giận, nàng coi sắm cho tôi đồ hành lý”.

Vợ nói: “Đi thì đi đi, nhà ta thiếu trước hụt sau, còn đòi đồ hành lý gì?

Người Bà la môn cụ bị ít món ăn rồi lên đường. Đến xứ Diệp Ba đi ngay lại cửa thành, chàng ta mới hỏi người giữ cửa: “Xin ông thí ân cho tôi biết Hoàng tử Đông cung Tu Đại Noa ở đâu hiện giờ?”.

Người giữ cửa không dám trả lời vào báo Hoàng thượng hay, vua nghe tức giận mà phán rằng: “Cũng vì lũ này mà ta đày Thái tử , sao chúng nó lại đến đây làm chi?.

Người Ba là môn được đi vào quỳ lâu: “Muốn tâu Thánh hoàng tôi ớ xứ xa lại, vì cái thanh danh của Hoàng tử Đông cung đâu đâu đều biết, trên thấu tứ thiên, dưới tận cửu tuyền. Đông cung có lòng bác ái không hề để một ai thất vọng. Bởi vậy nên ở xa, tôi cũng lặn lội đến đây chú ý thành tâm yêu cầu một đôi việc cùng hoàng tử”.

Vua nói: “Đông cung ở chốn quạnh hiu, trong thâm sơn vì quá nghèo khổ, người còn có vật chi nữa mà bố thí”.

Người Bà la môn tâu: “Muôn tâu Hoàng thượng, tuy biết Đông cung khiếm khuyết mọi vật, song tôi cũng chí nguyện đến tận nơi ra mắt Ngài. Vua dạy người đi chỉ đường.

Người Bà la môn nhắm núi Đàn Đặc thẳng dặm băng ngàn. Chàng vào núi gặp một người thợ săn đón hỏi: “Xin ông thi ân cho tôi biết Hoàng tử Tu Đại Noa có ở trên núi này không?

Thợ săn tuy biết Đông cung bị đày ở đây cũng vì bố thí cho dòng Bà la môn, song không chỉ chỗ lại còn bắt chàng trói vào gốc cây đánh một trận nhừ tử. mắng nhiếc quá lời và nói: “Ta muốn cho ngươi vài mùi tên và ăn thịt ngươi, ngươi còn thiếu vật chi mà đến đây hỏi thăm Thái tử”.

Người Bà la môn nghĩ: "Ta sẽ bị tay người này giết, vậy ta phải thiết kế đánh lừa người mới mong còn tánh mạng”. Nghĩ rồi liền nói: “Theo lẽ phải thì Ngài nên hỏi tôi nguyên nhân trước khi hành phạt tôi cho đáng”.

Thợ săn đáp: “Ngươi muốn nói việc chi?”.

Người Bà la môn nói: “Thưa ngài, đức Thánh hoàng hồi tâm thương nhớ Thái tử Đông cung, dạy tôi đi tìm Hoàng tử đặng thỉnh về nước”.

Nghe vậy thợ săn hối hận liền mở trói thả ra nhận lỗi và nói: “Tôi thật vô lễ, xin ông miễn chấp, cũng bởi không hay không biết có chỉ Thánh hoàng nên mới có lỗi lầm như hôm nay”. Nói rồi chỉ chỗ ở của Đông cung.

Người Bà la môn đi thẳng đến lều tranh của Đông cung, Hoàng tử thấy đặng rất đỗi vui mừng, ra tiếp rước thi lễ hỏi thăm: “Ông ở đâu lại, có lẽ ông đi đường xa mệt nhọc thì phải? Ông đến tôi có việc chi chẳng?”.

Người Bà la môn thưa: “Tôi ở xa lắm, thân tôi khốn đốn khôn cùng, hiện giờ tôi đói khát nữa”.

Hoàng tử lật đật mời vào cốc, mời ngồi, đem trà nước và trái cây cho người Bà la môn dùng. Khi no rồi người Bà la môn nói: “Thưa Đông cung Thái tử, tôi gốc ở nước Câu. Lưu đã lâu tôi nghe lòng từ thiện của Ngài, thập phương thế giới đều mến danh thơm và đức hạnh của Ngài. Tôi quá nghèo khổ mong Ngài thương tưởng tôi, cho tôi một vài vật”.

Thái tứ đáp: “Kính ông, chẳng có việc gì tôi từ chối nhưng rủi cho ông, hiện giờ tôi không còn món gì”.

Người Bà la môn nói: “Thưa Đông cung, nếu Ngài không có gì, xin Ngài cho tôi hai trẻ con của ngài để phụng dưỡng tôi lúc trở về già”.

Hoàng tử suy nghĩ một hồi rồi đáp: “Ông ở xa lại chú tâm xin hai đứa con tôi, tôi không lẽ từ chối”.

Lúc đó hai trẻ đi chơi. Thái tử kêu lại và nói: “Có một người Bà la môn ở xa đến xin hai con, cha đã hứa lời ưng chịu hai con hãy đi với người”.

Hai trẻ chạy đến bên cha khóc rằng: “Chúng con đã từng biết nhiều người Bà la môn, song chúng con không hề thấy người nào dị tướng như thế. Chắc người này không phải trong họ của Bà la môn đâu, người ấy là quỷ yêu! Nay mẹ con đi hái trái chưa về, cha lại bắt con cho yêu tinh ăn thịt, chúng con phải chết mất. Đến chừng mẹ con về, kêu con chẳng thấy, chẳng khác gì bò mẹ kiếm con, người sẽ bi lụy, than vãn, đau khổ”.

Thái tử nói: “Hai con chớ quá bịn rịn, cha đã hứa lời không thể thất tín. Người Bà la môn này không phải tà ma quỷ mị, không ăn thịt con đâu mà ngại, hai con hãy đi đi”.

Hoàng tử lấy nước rửa tay cho người Bà la môn, rồi kéo tay con cho người Bà la môn dắt đi.

Hai trẻ không chịu đi, chúng trở lại trước mắt cha, quỳ xuống và nói: “Thưa cha chẳng hay chúng con phạm tội gì những kiếp trước mà ngày nay chúng con phải chịu lắm điều thống khổ. Chúng con là dòng vua nay phải làm tôi tớ cho kẻ phàm phu. Trước mặt cha, chúng con xin sám hối các tội lỗi, có lẽ nhờ đó sự phiền não và nghiệp chướng của chúng con sẽ được tiêu trừ và hạnh phúc lại được phát khởi, mong sao đời này sang đời khác chúng con không còn gặp phải bước gian truân như thế nữa”.

Đông cung nói với hai con: “Cả thảy ái tình đều là ảo mộng, một ngày kia phải hủy hoại; vạn vật đều vô thường mấy ai giữ trọn vẹn một vật chi nơi trần thế”. Hai con hãy đi, chẳng nên dùng dằng nữa, chừng nào cha đắc đạo cha sẽ độ hai con”.

Hai trẻ, mắt đỏ ngầu nói với cha: “Xin cha trao lời vĩnh biệt của hai con lại cho mẹ con, chúng con quá đau lòng vì nghĩa mẹ con xa cách đời đời, lại không giáp mặt tỏ phân một lời trong khi mẹ bắc con nam. Chẳng còn nghi gì nữa, cùng bởi tiền căn nghiệp báo của chúng con, nên này chúng con phải chịu vậy. Chúng con nghĩ đến khi mẹ chúng con về thấy mất hai con, người sẽ khổ tâm, đau đớn, sầu nào chẳng cùng, lo cho thân chúng con phải chịu đói rách, phiêu lưu nơi đất khách”.

Người Bà la môn nói: “Tôi giá yếu, hai trẻ bỏ tôi chạy theo mẹ chúng nó, tôi lụm cụm theo bắt chúng nó sao được. Xin Đông cung trói nó giùm tôi”.

Thái tử liền trói hai con giao cho người Bà la môn dắt đi, nhưng hai đứa nhỏ cưỡng lại chẳng chịu, người Bà la môn mới đánh chảy máu. Đau đớn thay cho Đông cung, thấy tình cảnh như vậy động lòng, sa nước mắt. Cả trái đất đều rung động. Hoàng tử và cầm thú theo sau đưa tiễn hai trẻ, tới chừng biệt dạng mới trở về.

Các loại lục súc trở lại chỗ cũ hai trẻ thường chơi, thấy cảnh chẳng thấy người xúc động rên than thảm thiết, lăn lộn dưới đất.

Người Ba la môn dẫn hai đứa nhỏ đi được xa xa, dọc đường đứa trai vấn dây trói vào cây không chịu đi, chủ ý chờ mẹ nó đến cứu. Người Bà la môn nổi giận lấy cây đánh nhừ tử, đến chừng chúng nó xin thôi đánh, chịu đi, mới nới tay.

Hai đứa nhỏ ngước mặt lên trời vái rằng:

Thần linh ôi ! Hỡi thần linh ôi!

Hoan hỷ mách nước mẹ chúng tôi.

Xót dạ con đi, sầu chất chứa,

Đau lòng mẹ ở, lụy quên thôi.

Chạnh tình nuôi dưỡng chưa thù đáp,

Đoái nghĩa cứu mang chẳng đáp bồi.

Ở biết bao giờ cho rãnh nghiệp?

Cuộc đời thiết tưởng bạc hơn vôi.

Cũng ngay lúc đó. Công chúa ở trên núi nháy mắt khó chịu, bà lấy làm lạ và nghĩ: Thuở giờ tôi chẳng hề có cảm động thái quá như hôm nay, chắc hai trẻ mắc phải tai nạn rồi. Bà liền để giỏ trái cây lại đó, hối hả ra về.

Khi Công chúa về, thấy Đông cung ngồi một mình không có hai con, bà vô lều tranh kiếm không có, bà lại trở ra mé rạch, chỗ chúng hay chơi giỡn, cũng không thấy. Bà chỉ thấy nai, sư tử, khỉ, mấy thứ thường chơi với nó mà thôi. Bà Mạn Trà trở lại chỗ Thái tử ngồi và hỏi hai con ở đâu? Thái tử không nói.

Bà lại hỏi nữa: “Khi hai con ở xa thấy tôi đem trái về chúng nó chạy nhào lăn dưới đất, rồi lồm cồm chổi dậy nhảy nhót reo ‘mẹ về’. Khi chúng nó thấy tôi ngồi ở đâu thì đến ngồi kề một bên, thấy bụi bặm dính mình tôi liền phủi. Bây giờ tôi không thấy con tôi và chúng nó không lại gần tôi, nó ở đâu, ai bắt nó? Không thấy con tôi, lòng tôi đứt từng đoạn! Chỉ cho tôi biết con tôi đi đâu và đừng làm cho tôi phải cuồng tâm”.

Bà nói đi nói lại ba lần. Hoàng tử vẫn điềm nhiên không thốt một lời. Bà càng đau đớn hơn nữa, bà nói chua cay như vầy: “Mất con tôi còn chịu được, song sự lặng thinh của lang quân làm cho tôi thêm rối loạn”.

Đông cung nói: “Có người Bà la môn ở xứ Câu Lưu đến xin hai con và tôi đã cho rồi”.

Công chúa thoạt nghe quá xúc động, té xỉu xuống đất đau đớn khôn cùng.

Đông cung nói: “Xin Công chúa hãy nguôi lòng. Phu nhân hãy nhớ lại việc xưa, hồi thuở Phật Để Hoà Kiệt La ra đời. Lúc đó tôi là một người Bà là môn, tên là Ba Sô Vệ, còn Công chúa phu nhân là con gái Bà la môn tên là Tu La Đà, công chúa cầm bảy liên hoa, còn tôi thì nắm trong tay 100 bạc. Tôi mua năm bông sen của Công chúa đặng cúng dường Phật, còn Vương phi thì đem thêm hai bông khác cho tôi dâng cúng Phật. Phu nhân lại lập nguyện như vầy: “Tôi nguyện cầu sao trong những kiếp vị lai tôi cứ được làm vợ chàng, dầu lịch sự, dầu xấu xa tôi không hề xa chàng”.

Tôi có nói với Công chúa rằng: “Nếu nàng muốn làm vợ tôi thì phải tuân theo chánh lý tôi, tôi sẽ đem hết tâm lực hành pháp bố thí, không hề thoái chuyến cùng làm trái ý một ai. Trừ cha mẹ tôi, ai xin vật chi tôi đều hoan hỷ. Công chúa ưng chịu bằng lời. Nay tôi cho hai con; Vương phi lại làm rối loạn đến mối từ tâm của tôi.

Nghe Đông cung nói, bà liền tỉnh ngộ; bà nhớ lại trong kiếp quá khứ, bà có hứa hẹn và nhận các việc bố thí của Thái tử.

Đế Thích thấy Thái tử hành pháp bố thí Ba la mặt đa, có ý thử lòng Thái tử. Ngài hóa thân làm người Bà la môn xấu xa và cũng dị tướng như người trước, đến trước mặt Thái tử và thốt rằng: “Đông cung ơi! Tôi hằng nghe Đông cung rất hoan hỷ làm các việc phước thiện và không hề từ chối việc chi. Vậy tôi đến đây xin bà Vương nữ, vợ Đông cung”.

Hoàng tử đáp: “Công chúa là người của Ngài”.

Công chúa nói: Nếu Thái tử cho tôi đi, lấy ai mà giúp đỡ Thái tử”.

Đông cung nói: “Nếu tôi không cho Công chúa thì tôi không đạt được đạo vô thượng Ba la mật đa”.

Thái tử múc nước rửa tay cho người Bà la môn và dắt vợ cho người.

Đế Thích đã nhận rõ được lòng Thái tử không còn tiếc việc chi. Các thiên thần lại ca tụng lòng từ bi của Đông cung, tức thì trời đất tối tăm, thế giới đều rung động.

Người Bà la môn dắt Công chúa ra đi, được bảy bước, trở lại trả Công chúa cho Thái tử.

Thái tử hỏi: “Sao Ngài không giữ Công chúa cho ngài? Công chúa thiếu nết na, tánh hạnh xấu chăng? Trong cả Hoàng nữ, Công chúa là cực phẩm phu nhân, nàng là Công chúa của một nhà vua kim thời. Cũng vì tôi mà nàng phải nhảy vào vạc dầu sôi, trong đống lửa đỏ, phải chịu ăn uống kham khổ, không hề than thở, vì đau khổ phong trần; trong mỗi sự hành động, nàng rất ân cần chú ý và gương mặt vẫn thư thái tươi cười. Ngài nên đem nàng đi, tôi mới được an vui”.

Người Bà la môn nói với Đông cung: “Ta không phải là Bà la môn, ta là Thiên Đế Thích. Ta đến thử lòng ngài. Vậy bổn nguyện của hai ngươi là chi, ta sẽ cho được toại nguyện?. Nói xong Đế Thích hoàn nguyên hình diện mạo oai nghi, dung nhan tuyệt mỹ.

Công chúa đảnh lễ Ngài và cầu xin ba điều: “Trước nhất xin ngài làm sao cho người Bà là môn đem hai con về bản tại bổn xứ, sau xin đừng cho chúng đói khát, sau nữa cho chúng được về nước cho chóng”.

Đế Thích đáp: “Ba sẽ được như nguyện”.

Đông cung nói: Kính ngài, tôi nguyện sao cho cả thảy chúng sinh đều được giải thoát và hết khổ về sự sinh, lão, bệnh, tử”.

Đế Thích đáp: “Lời nguyện của Ngài thật vĩ đại cao thượng không chi hơn. Nếu Ngài muốn sinh cõi trời, làm vua Thượng thiên, làm Đại Hoàng đế tại cõi trần trường thọ như bá như tùng, thì tôi có thể làm được như ý, chớ cái oai linh tối yếu trong ba giới ra ngoài bản năng của tôi”.

Đông cung tiếp: “Tôi tạm xin cho được giàu có muôn xe đặng bố thí hơn xưa. Tôi mong sao cho Hoàng phụ cùng các quan Đại thần, hồi tâm sum hiệp cùng tôi”.

Trong khi ấy, người Bà la môn dẫn mấy đứa nhỏ về tới nhà, Vợ chàng ra đón và nhiếc rằng: “Thật chàng quá lớn to gan mới đem mấy trẻ này về đây. Nó là dòng dõi vua chúa, sao chàng lại tàn nhẫn đánh đập đến nỗi vết tích máu mủ đầy mình. Hãy tức khắc đem bán đi và kiếm đứa khác cho tôi”. Chồng nghe lời vợ đem bán hai đứa trẻ.

Đế Thích thể theo lời nguyện của Công chúa, liền đổi ý cho người Ba la môn đưa qua nước Diệp Ba.

Đến xứ ấy, các quan và dân nhìn biết con của Đông cung, cháu nội của Đức Kim Thượng, lớn nhỏ đều đồng lòng, thương sót liền vào tâu vua.

Vua nghe nói lấy làm ngạc nhiên, cho đòi vào. Xa xa vừa chợt thấy Hoàng tôn, Thiên tử, Hoàng hậu, quân thần và cung phi đều khóc nức nở. Vua hỏi người Bà la môn làm sao có mấy trẻ này? Nó tâu: “Tôi xin Đông cung Thái tử”.

Vua kêu cháu đến và muốn ôm, nhưng nó khóc không chịu lại gần. Vua hỏi giá cả. Người Bà là môn chưa kịp trả lời. Hoàng tôn nam tâu: “Trai định giá một ngàn bạc với một trăm bò cái, gái thì hai ngàn bạc với hai trăm bò cái”.

Vua nói rằng: “Lẽ thường thì người ta yêu chuộng con trai hơn gái, sao trai lại rẻ giá hơn gái?”

Hoàng tôn nói: “Tâu Bệ hạ, những cung phi mỹ nữ của Bệ hạ không là quyến thuộc của Ngài, người thì hèn hạ, kẻ lại hoa đòi; nhưng ai được Hoàng thượng yêu thì được tặng phẩm tước, trang điểm mỹ lệ, ăn uống sung sướng? Ngài chỉ có một mụn con trai mà ngài đày chốn non cao rừng rậm, còn Ngài thì sớm tối sung sướng với cung phi, chẳng chút đoái hoài tới nghĩa cha con. Đó rõ ràng biểu thị trai ít có giá trị hơn gái”.

Thoạt nghe, vua liền tỉnh ngộ, khóc than rằng: “Ta có tội cùng cháu, lẽ nào cháu chẳng chịu lại gần ta? Ghét ta hay sợ người Bà la môn?”. Hoàng tôn vội tâu: “Chúng con đâu dám tự phép ghét Hoàng thượng và chúng con tuy là con vua chúa, nay lại tôi tớ kẻ phàm phu. Làm sao đứa nô bộc lại dám lòn dưới tay Hoàng thượng? Bởi vậy nên chúng con không thể tự tiện làm việc ấy”.

Hoàng tôn dứt lời, vua thêm sầu muộn. Liền đó Thánh hoàng trả theo giá định của người Bà la môn, rồi kêu cháu, hai trẻ chạy vào lòng Ngài. Vua ôm cháu vuốt ve và hỏi: “Cha con ăn mặc những gì trên núi?”.

Hai cháu nói: “Cha con ăn toàn lê hoắc, mễ cốc, mặc áo vải quần nâu, có trăm thứ chim làm cho cha con được giải khuây và không chút chi phiền” .

Vua cho người Bà la môn về.

Hoàng tôn tâu: “Người Bà la môn đói khát, xin Thánh hoàng cho người một bữa cơm”.

Vua nói: “Vậy chớ không giận nó sao, lại còn lo cho nó ăn uống nữa?”.

Hoàng tôn tâu: “Cha con ham tu phước huệ, đến đổi không còn vật chi bố thí nên đem hai con cho người, người là chủ của con, chúng con rất tiếc chưa làm nô lệ cho người, để khỏi phụ lòng bác ái của cha con. Chúng con sao đành để người đói khát. Cha chúng con còn cho chúng con được thay, huống chi bố thí một bữa cơm có lẽ nào Hoàng thượng từ chối”.

Vua lại cho sứ giả đi triệu Đông cung về. Được lệnh sứ thần đi tìm Hoàng tử; tới núi Đàn Đặc liền tuyên đọc Thành chỉ và xin Đông cung lập tức về cung.

Đông cung đáp: “Hoàng thượng đã đày ta ở núi này 12 năm và còn một nửa mới mãn hạn, chừng nào khâm kỳ viên mãn ta sẽ về chẳng muộn”.

Sứ giả về tâu lại cho vua nghe, rồi Thánh hoàng tự tay hạ bút đề thơ cho Thái tử như vầy: “Con thật đáng vị hiền nhân, nên lấy dạ khoan hồng quên chuyện đã qua. Con giận dữ có ích lợi gì, mà không trở về tổ quốc? Cha đợi con về đặng đoàn viên cộng hưởng sự an vui”.

Khâm sứ mạng bức thư đem đưa cho Đông cung.

Tiếp chiếu, hoàng tử liền quỳ lạy trước mật chiếu, đoạn lui lại, đì vòng mật chiếu bảy vòng rồi mới khai thơ ra đọc.

Hay tin Hoàng tử sắp hồi trào, các loài cầm thú nhảy nhót cảm động, kêu gào tha thiết, suối khe bỗng cạn, thú cái dứt sữa, chim chóc hót tiếng như thảm như sầu. Hy hữu thay cho loại cầm thú cũng biết đau thương trong khi vĩnh biệt.

Đông cung và Công chúa đổi y phục lên đường.

Nghe tin Đông cung về nước, vua nước địch dạy thám tử bắt bành vàng cho bạch tượng, lại đem theo một ô vàng đựng bạc, một ô bạc đựng vàng đón mừng Thái tử xin trả lại và tỏ dấu ăn năn hối ngộ cùng Hoàng tử như vậy: “Trước kia mê muội, tôi cố ý xin ngài voi báu; vì tôi nên Ngài phải bị đày ở chốn thâm sâu rừng rậm, nay nghe tin Ngài về nước, tôi rất vui mừng cho khâm sứ đưa bạch tượng trả lại cho Ngài cùng dưng chút lễ bạc vàng, trông mong được Ngài hạ cố và thứ lỗi cho tôi.

Đông cung nói: “Giá như một người kia sắm sửa các thức ăn đủ mùi và dưng cho ai dùng, người ấy ăn vô rồi nhả ra, thức ăn đó còn hương vị tinh khiết chăng? Họ lượm ăn lại đặng chăng? Các việc bố thí của tôi khác chi đồ ăn kia, thế thì tôi không thể bắt voi lại. Các quan hãy lên tượng mà về và nói có lời cảm tạ nhà vua”.

Thám tử lên voi về lâu lại nhà vua. Cũng nhờ câu chuyện con voi mà vua nước địch được tỉnh ngộ, trở nên người hiền, thành bậc trượng phu. Vua quan và dân lại tín ngưỡng đạo Bồ đề và bắt đầu hành pháp vô thượng Ba la mật đa.

Hoàng thượng, cha Đông cung, ngồi voi đón con. Hoàng từ chợt thấy, vội trổi bước, đánh lễ sát đất rồi theo vua cha.

Cả thảy văn quan võ tướng và lê dân rất hoan hỷ đồng rải bông đốt hương trầm, treo cờ lọng, rưới nước thơm dưới đất, làm lễ tiếp rước Đông cung một cách long trọng linh đình.

Đông cung đã về tới thành liền vào lạy và vấn an Hoàng hậu.

Hoàng thượng giao cho Đông cung hết thảy kho tàng trong nước. Thái tử đem ra bố thí cho thập phương và còn nhân đức hơn xưa. Sự bố thí cho ngài viên mãn nên sau này Ngài sẽ chứng quả niết bàn.

Đức Chánh đẳng nói với ông A Nan: Đó là cách ta hành pháp bố thí trong một tiền kiếp của ta.

Đông cung Tu Đại Noa (Sudâna) là ta đó vậy.

Cha Đông cung lúc đó là cha của ta bây giờ, tức là Hoàng đế Tịnh Phạn (Subdhodana).

Mẹ Đông cung khi ấy hiện giờ là bà Ma Da (Mâyâ).

Công chúa khi trước hiện nay là Da Du Đà La.

Ông A Châu Đà bây giờ là Mục Kiền Liên (Mabâmaudgalyâyana).

Đế Thích là Xá Lợi Phất (Cariputra).

Thợ săn lúc ấy hiện nay là A Nan (Ananda).

Con trai Da Lị (Jali) hiện giờ là con trai ta La Hầu La.

Con gái Kê Na Diên (Krsnâjinâ) bây giờ là mẹ của La hán Mật Lị (Mô li).

Người Bà la môn xin hai trẻ bây giờ là Đề Bà Đạt Đa (Devadatta).

Vợ của Bà la môn ấy là Chiên Đà Ma Na (Cincamâmnavika).

Đó là sự phiền não và đau đớn, ta chịu trong vồ lượng kiếp và cũng trong vô số kiếp ta lại làm luôn luôn như thế”.

Phật nói cùng ông A Nan: “A Nan, ngươi hãy luôn luôn gìn giữ kinh này đặng diễn giải cho Tăng chúng nghe”.

Đó là cách của Bồ tát hành Bố thí Ba la mật độ.

Phỏng theo “Kinh Đông cung Tu Đại Noa” trong quyển “6 phép Ba la mật”.

2. CON SƯ TỬ TRỌNG PHÁP

Đầu đời mạt pháp về thời Đức Phật Tỳ Ba Thi, tại núi Ba La Nại có một hòn núi tên là Tiên Thánh Sơn. Trong núi thường có các vị Sa môn Bích Chi Phật tu hành. Thường thường có các loài cầm thú hay đến gần gũi để nghe thuyết pháp. Có một con sư tử tên là Kiên Thệ, lông ánh sắc vàng, sức mạnh địch trên 1.000 con, mỗi khi rống lên, thời chim bay phải rớt xuống, loài thú thì ẩn núp sợ hãi. Một hôm sư tử Kiên Thệ gặp một vị Sa môn Bích Chi Phật rất oai nghiêm thanh tịnh tâm sinh hoan hỷ, nên thường ngày đến thân cận nghe tụng kinh thuyết pháp. Lúc bấy giờ có một người thợ săn thấy sư tử có lông ánh sóc vàng muốn mưu giết, lột da dâng vua để lãnh thưởng.

Người thợ săn nghĩ rằng: “Con sư tử này là vua các loài thú, không thể dùng cung tên và sập bẫy hại được, chỉ có cách là giả dạng vị Sa môn, chờ sư tử nghe quen đến gần, thời lấy tên độc mà bắn”. Nghĩ vậy liền cạo đầu, mạo hành vi Sa môn, vào núi ngồi dưới gốc cây. Lúc ấy con sư tử Kiên Thệ thấy vị Sa môn liền vui mừng đến liếm chân quấn quít một bên để nghe pháp. Người thợ săn liền dùng tên độc nhắm bắn. Con sư tử bị trúng tên đau quá rống ngược lên, muốn nhảy tới vồ giết vị Sa môn giả hiệu kia, nhưng lại nghĩ rằng: Người này đã mặc áo cà sa, tức là biểu hiện các Đức Phật hiện thân trong ba đời; nay ta sát hại thời không khó gì, nhưng tức là ta đã sát hại biểu tượng của các Đức Phật”. Nghĩ vậy, bèn vuốt giận chịu đau. Một lát sau, thuốc độc ngấm dần, đau đớn quá, lại muốn nhảy tới vồ nát người thợ săn, nhưng lại nghĩ rằng: “Nay ta muốn giết thời không khó gì, nhưng ta sẽ bị các Đức Phật quở trách, và từ bỏ không khác gì kẻ ác. Người thợ sâu độc ác âm mưu hại, ta không nhẫn thì có khác gì người ấy. Người không tu nhẫn thời mê mờ, nhiễu loạn tăng trưởng, không được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Vậy ta quyết không khởi ác tâm”. Nghĩ vậy bèn nói bài kệ rằng:

Nguyện tự chịu bỏ thân mạng

Trọn đời không khởi ác tâm

Hại vị mặc áo hoại sắc (các bậc  xuất gia)”.

Nói bài kệ xong, sư tử liền ngã xuống chết. Người thợ săn lột da đem dâng vua, nhưng khi vua nghe xong câu chuyện, thấy rõ ác tâm của người thợ săn, rất cảm động trước lòng trọng Tam bảo của con sư tử, bèn sai chém người thợ săn, và đem xác con sư tử làm lễ trà tỳ thiêu thân, xem như là một vị Sa môn vậy, sư tử Kiên Thệ là một tiền thân của Đức Phật Thích Ca.

Phỏng dịch kinh Đại Phương tiện Phật báo ân.

3. QUẢ BÁO LÀM MẸ ĐAU KHỔ

Khi chàng Mê Tra Ca Ny Ca đến tuổi trưởng thành, chàng hỏi mẹ rằng: “Thưa mẹ thuở trước cha con làm nghề gì?”. Bà mẹ đáp: “Hồi trước cha con làm nghề đi buôn trong nước”. Sự thật, cha chẳng làm nghề hàng hải, đi buôn ngoài biển cả sau bị chết đắm, bà sợ con theo nghề cha nên phải nói dối. Chàng liền đi buôn và ngày đầu chàng lời được bốn đồng. Chúng đem bốn đồng giao mẹ và thưa rằng: “Mẹ ơi! Mẹ hãy giữ lấy số tiền này mà giúp đỡ các vị Sa môn, các vị Bà là môn, mấy người nghèo khổ và các người ăn xin”.

Nhưng có người nói với chàng rằng: “Thuở xưa ông thân chàng làm nghề bán dầu thơm”. Chàng liền bán dầu thơm và bán lời được tám đồng. Chàng giao hẳn số tiền ấy cho mẹ. Sau có người nói ông thân chàng trước kia bán đồ nữ trang. Chàng bèn bỏ tiệm dầu thơm lập tiệm bán đồ nữ trang, ngày đầu bán lời được 16 đồng, ngày thứ hai bán lời được 32 đồng. Chàng cũng đưa hết số tiền ấy cho mẹ, nhưng mấy chủ tiệm bán nữ trang sợ chàng giành nghề của họ, bèn tới nói với chàng rằng: “Sao chàng lại không làm nghề hàng hải như ông thân chàng, lại đi làm nghề hèn mọn bán đồ nữ trang như thế này?”.

Chàng liền về thưa mẹ rằng: “Thưa mẹ có phải là cha con làm nghề hàng hải không? Mẹ cho con theo nghiệp cha, đi buôn ngoài bể cả như cha vậy”. Bà mẹ phải thú thật rằng: “Phải, cha con trước làm nghề hàng hải, nhưng bị nạn chết đắm ngoài bể khơi. Mẹ nay chỉ có một mình con, con nỡ nào bỏ mẹ cô độc ra ngoài bể cả sao”. Nhưng chàng không nghĩ đến nỗi đau khổ của người mẹ, sai người đánh chuông rao trong thành Ba La Nại rằng: “Này các thương gia đáng tôn kính! Chàng Métracanyca sắp đi buôn xa. Vậy ai muốn đem hàng ra hải ngoại bán thì cứ đi chung với người, khỏi phải đóng thuế gì hết”.

Chàng ra đi vớ 500 người lái buôn, có đem theo hàng hóa thú vật rất nhiều. Bà mẹ quá thương con, ôm lấy chân con và khóc rằng: “Con ơi! Con hãy thương mẹ đừng có bỏ mẹ đi ra ngoài bể cả". Bà hết lời cầu xin, nhưng chàng đã quyết định rồi, nên bước ngang trên đầu mẹ mà đi với các người lái buôn. Bà mẹ khóc và nói rằng: “Mẹ cầu cho con khỏi bị quả báo đã làm cho mẹ đau khổ và bước qua đầu của mẹ…”

Chàng ra biển đi buôn, nhưng bị đắm thuyền, sau nhờ đeo trên một tấm ván vào được đất liền. Chàng đi dấn một thành tên là Ramamaka, liền có bốn nàng tiên đẹp đẽ đến chào mời rằng: “Chào chàng Métracanyca, đây là đền đài của chúng em, đủ tất cả những sự khoái lạc ở đội. Chàng vào đây chung vui với chúng em”. Chàng ở đó trong một vài năm hưởng thụ những sự sung sướng về vật chất, tuồng như đã làm một việc công đức nên được ban thưởng sự vui sướng ấy. Sau chàng lấy làm buồn ý, bỏ xuống miền Nam.

Chàng đến thành Sadamaham, ở đó có tám tiên nữ đứng đón chàng, đẹp đẽ sắc sảo hơn mấy cô trước, và mời chàng vào hưởng những sự khoái lạc trong thành. Chàng ở đó một vài năm, hưởng thụ những sự sung sướng về vật chất, tuồng như đã làm một việc công đức nên được ban thưởng sự vui sướng ấy. Sau chàng thấy buồn ý, bỏ đi xuống miền Nam.

Chàng đến thành Nandana. Ở đó, có 16 nàng tiên đứng đón chàng, đẹp đẽ sắc sảo hơn mấy cô trước, và mời chàng vào hưởng tất cả những sự khoái lạc trong thành. Chàng ở đó một vài năm, hưởng thụ những sự sung sướng về vật chất, tuồng như đã làm việc công đức nên được ban thưởng sự vui sướng. Sau chàng lấy làm buồn ý, bỏ đi xuống miền Nam.

Chàng đến thành Bramottora. Ở đó có 32 nàng tiên đứng đón chàng, đẹp đẽ sắc sảo hơn mấy cô trước, và mời chàng vào hưởng những sự khoái lạc trong thành. Chàng ở đó một vài năm, hưởng thụ những sự sung sướng và vật chất, tuồng như đã làm một vài việc công đức nên được ban thưởng sự vui sướng ấy. Sau mặc dù những lời khuyên can của mấy nàng tiên chàng vẫn lấy làm buồn ý, bỏ đi xuống miền Nam.

Càng đi về phía trăm, chàng càng muốn đi. Đi mãi gặp một cái thành bằng sắt. Chàng vừa bước vào thì cửa thành tự đóng lại. Chàng bước tới. Thời gặp một người to lớn trên đầu đội một vành sắt, cháy đỏ, lửa phun sáng ngời. Máu mủ trên đầu chạy tràn xuống miệng, người ấy liếm lấy và nuốt luôn.

Chàng hỏi rằng: nhà ngươi là ai mà bị hình phạt đau khổ dữ dội như vậy. Người chịu khổ như thế này bao lâu? Người ấy đáp: “Tôi là người đã làm cho mẹ tôi đau khổ, nên nay chịu khổ báo cho đến khi có một người khác cũng đã tạo nghiệp nhân làm mẹ đau khổ đi ngang đây và thay thế cho tôi”.

Chàng Métracacnyca liền nghĩ rằng: “Chính ta đã làm cho mẹ ta phải khổ và chính sức mạnh của nghiệp nhân dắt dẫn ta đến đây. Nay ta phải vui lòng chịu quả báo này”. Chẳng nghĩ xong, thời vành lửa sắt kia bay qua đội trên đầu chàng.  Người kia liền hỏi rằng: “Chàng đã hưởng sự khoái lạc trong bốn cảnh đền đài kia, sao chàng đến đây làm gì?”. Chàng đáp: “Tôi được hưởng hạnh phúc trong bốn cảnh đền đài ấy là vì trước kia tôi đã tạo nghiệp nhân đem số tiền 4 đồng, 8 đồng, 16 đồng và 32 đồng dâng cho mẹ để làm việc thiện. Tôi phải đến đây là vì trước kia tôi đã làm mẹ tôi đau khổ; tôi đã bước ngang trên đầu mẹ tôi để ra đi biển cả, mặc dầu mẹ tôi ôm chân tôi năn nỉ khóc lóc. Chính sức mạnh của nghiệp nhân ấy đưa tôi đến đây và tôi bắt buộc đội vành lửa này bao lâu? Người kia đáp: “Chàng phải đội vành lửa này 60 ngàn và 60 lần 100 năm. Rồi sẽ có người phạm tội như chàng, cũng đã làm cho mẹ phải đau khổ sẽ đến mà chịu khổ thay cho chàng”. Chàng Métracanyca tuy bị đau khổ vô cùng, nhưng lòng chàng tràn đầy lòng thương yêu chúng sinh vô lượng, chàng phát nguyện rằng: “Này người ơi! Tôi xin nguyện đội vành này vì chúng sinh. Tôi nguyện tất cả chúng sinh không một ai còn manh tâm làm cho mẹ mình phải chịu đau khổ và nếu có ai làm cho nước mắt bà mẹ tuôn chảy vì  mình, thì tôi xin nguyện khổ thế cho người ấy!”.

Chàng phát nguyện xong, thời vành lửa rời khỏi đầu chàng và bay lên hư không, chàng liền mệnh chung và được sinh lên cõi trời Đâu Suất.

Phỏng theo kinh Avadana Calaka, theo tài liệu trong  quyển “Triết 1ý đạo Phật” của Đoàn Trung Còn.

 

Được học hiểu đôi chút mà tự cao khinh người không khác người mù cầm đuốc soi sáng người mà không tự soi sáng minh.

Kinh PHÁP CÚ THÍ DỤ.

 

 

C. BẬC TRUNG THIỆN

1.- SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT DI LẶC

2.- SỰ TÍCH NGÀI VĂN THÙ SƯ LỢI

3.- SỰ TÍCH CHÙA QUỐC ÂN

4.- SỰ TÍCH CHÙA THUYỀN TÔN

5. LÝ NHÂN DUYÊN SINH

6. LÝ NHÂN QUẢ

7.- LÝ LUÂN HỒI

8.- NĂM GIỚI

9.- MƯỜI ĐIỀU THIỆN

10.- BỐN ÂN

11.- BỐN NHIẾP PHÁP

12.- TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

13.- AN CƯ KIẾT HẠ

14.- LỊCH SỬ ĐẠO PHÂT VIỆT NAM TỪ THỜI ĐẠI DU NHẬP ĐẾN ĐỜI LÝ

15.- BIẾT NĂM MẨU CHUYỆN ĐẠO.

 

ĐỨC PHẬT DI LẶC

i. THÂN THẾ VÀ Ý NGHĨA TÊN NGÀI

Ngài là người dòng Bà La Môn ở Nam Thiên Trúc; thân sinh tên là Ba Bà Lợi, họ A Dật Đa, tên là Di Lặc. A Dật Đa nghĩa là Vô năng thắng, hạnh tu và lòng từ bi của Ngài không ai sánh kịp. Di Lặc dịch là Từ Thị là vì khi mẹ Ngài chưa thọ thai thì từ tâm rất kém, khi thọ thai Ngài thì phát tâm từ bi. Lại trong một kiếp trước, Ngài làm vị tiên tên là Nhất Thế Trí Quang, nhờ Đức Phật dạy pháp tu Từ tâm tam muội, Ngài tu pháp ấy đến khi thành Phật, nên gọi Ngài là Từ Thị.

ii. TIỀN THÂN CỦA NGÀI

Trong một tiền kiếp thời Đức Phật Đại Thông Trí Thắng, Ngài cùng Đức Phật Thích Ca đồng thời phát Bồ đề tâm tu các pháp lành. Đến đới Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng, Ngài cũng xuất gia tu hành, nhưng Ngài có lòng từ bi, lại thiếu hạnh tinh tấn, nên khi Đức Phật Thích Ca thành Phật, Ngài mới lên địa vị Bồ tát bổ xứ, nghĩa là sẽ thành Phật, trong một đời sau. Ngài được Đức Phật Thích Ca thọ ký sẽ thành Phật Di Lặc sau này tại hội Long Hoa.

iii. HẠNH TU, HẠNH NGUYỆN CỦA NGÀI

a/ Hạnh tu.- Ngài nhờ Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng dạy pháp tu Duy Thức mà ngộ nhập được viên thông. Chúng sinh đều chấp trước các pháp, các danh tướng của thế gian là thực có (kiến kế), nên bị danh tướng ràng buộc, sự thật các pháp đều y nơi nhân duyên giả hợp mà in tuồng có sinh, có diệt (y tha). Chung quy các pháp không ra ngoài một chân tánh viên mãn thành tụ (viên thành thật).

b/ Hạnh nguyện.- Hiện nay Ngài ở trên cõi Đâu Suất nội viện, độ thoát cho vô số chúng sinh, Ngài thường ngồi trên pháp tọa sư tử, thân thể trang nghiêm, trí hạnh đầy đủ. Do lòng từ bi và hạnh nguyện rộng lớn của Ngài, nên những ai sinh lên cõi Đâu Suất nội viện thì không còn thoái đọa; vì tất cả những hiện tượng trên thế giới ấy đều là tiếng thuyết pháp khuyến tu, nhất là được sự hộ trợ của Ngài. Đến khi nhân loại sống lâu trên tám vạn tuổi, Ngài mới hiện sinh và thành Phật dưới cây Long Hoa.

iv. MỘT HÓA THÂN CỦA NGÀI

Một thời kia, sau khi Đức Phật Thích Ca nhập diệt, Ngài hiện thân làm một vị Hòa thượng tại đất Minh Châu huyện Phụng Hóa tên là Khê Thử. Mình Ngài rất to lớn, tánh tình hoan hỷ nói năng khác thường quảy đãy vãi đi khất thực, đem về nuôi trẻ con, và thường làm những việc rất ly kỳ, mắt phàm không thể hiểu được. Người đời thường gọi là Bố Đại Hòa thượng (Vị Hòa thượng mang đãy vãi). Trước khi thị tịch. Ngài có di chúc bài kệ:

Di Lặc thiệt là ta,

Phân thân như hằng sa,

Thường hiện làm thường dân,

Mắt phàm không thấy ta”.

Hiện nay, người ta thờ Ngài tại chùa Nhạc Lâm ở Trung Hoa.

v. BIỂU TƯỚNG VÀ LÒNG QUY NGƯỠNG CỦA PHẬT TỬ

Hiện nay các chùa thờ tượng: Đức Phật Thích Ca là Đức Phật hiện tại, ngồi ở giữa, A Di Đà là Đức Phật quá khứ ngồi bên tả Đức Thích Ca, Đức Di Lặc là Đức Phật vị lai, ngồi bên hữu Đức Thích Ca. Tượng Ngài Di Lặc cũng giống như các Đức Phật khác. Có chỗ tạc hình Ngài thân thể to lớn, mặt mày vui vẻ hoan hỷ vô cùng, để thị hiện từ tâm hoan hỷ của Ngài. Lại có sáu đứa con nít lên lên mình chọc Ngài. Ngài vẫn hoan hỷ tự tại, vui vẻ như thường. Sáu đứa con nít là biểu hiện cho sáu thức luôn luôn quấy rầy phá rối Ngài, nhưng Ngài đã tu pháp quán Duy Thức, cho nên dầu bị quấy rầy Ngài cũng như không, tự tại vui vẻ như thường. Tượng này là phỏng theo sự tích Ngài Bố Đại Hòa thượng.

Đức Phật Di Lặc là vị Bồ tát bổ xứ, ssẽ thành Phật trong một kiếp sau. Ngài tượng trưng cho lòng từ, hoan hỷ, cho vui, nên Phật tử luôn luôn tôn thờ.

Niệm hiệu Ngài tức là:

- Niệm hạnh hoan hỷ, luôn luôn vui vẻ tự tại không bị hoàn cảnh chung quanh chi phối.

- Cầu mong Ngài trở về hóa độ và hộ trì cho lòng thành kính của mình.

- Kết duyên với Ngài mong sau này dự vào hội Long Hoa được Ngài giáo hóa.

NGÀI VĂN THÙ SƯ LỢI BỒ TÁT

i. Ý NGHĨA TÊN NGÀI

Văn Thù: Diệu. Sư Lợi: Cát tường, thủ, đức, ý nói  trí tuệ của Ngài tối thắng, không ai sánh kịp, không thể ước lượng được.

I. HÀNH TƯỚNG VÀ ĐỊA VỊ NGÀI

1. Ngài là vị Phật trợ hóa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nên hiện thân làm vị Tỳ kheo.

2. Ngài thường đứng bên tay trái Đức Phật Thích Ca đối diện với Ngài Phổ Hiền, để biểu thị Ngài là bậc Pháp vương tử, là thượng thủ trong chúng hội, và trí huệ là hạnh tối thắng nhất.

Ngài là biểu thị trí huệ tối thắng cho các hạnh Bồ tát, khác với Ngài Xá Lợi Phất là trí huệ bậc nhất đối với Thanh văn thừa, cũng nêu rõ địa vị tối cao của trí huệ đạo Phật.

Ngài là mẹ của các Đức Phật, để nêu căn bản trí huệ là mẹ của các Đức Phật, các Đức Phật thành Phật là nhờ ở trí huệ ấy.

iii. BIỂU TƯỚNG CỦA NGÀI

1. Trên đầu có năm nhục kế biểu thị năm tướng hay năm đức của Phật.

2. Tay mặt Ngài vầm kiếm sắc bén để biểu thị cho trí huệ sắc bén chém đứt các sợi dây phiền não.

3. Tay trái Ngài cầm hoa sen xanh để biểu thị:

a/ Trí huệ thanh tịnh không nhiễm trước chứng nhập vào chỗ vô tướng.

b/ Đầu hoa sen có kim cang ấn để biểu thị trí kim cang uốn dẹp tất cả phiền não.

4. Ngài cưỡi sư tử xanh, sư tử là chúa của muôn thú mỗi khi gầm thét thời tất cả đều run sợ, trí huệ của Ngài một khi chiếu tỏa ánh sáng, thời màn đen tối của mê mờ bị uốn dẹp tan rã.

5. Con sư tử Ngài cưỡi sắc xanh, và hoa sen Ngài cầm cũng sắc xanh, sắc xanh là màu của phương Đông, phương mặt trời mọc; ý nói ánh sáng trí huệ chiếu tan sương mù của đêm tối.

iv. TIỀN THÂN CỦA NGÀI

Kinh Pháp Hoa chép: Trước khi Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh thành Phật, Ngài là một ông vua có 8 người con, sau Ngài xuất gia tu hành chứng quả thành Phật, khi Ngài nhập Niết bàn, 8 người con đều phát tâm xuất gia tôn Ngài Bồ tát Diệu Quang làm thầy và dần dần đều chứng được đạo quả. Người thành Phật sau cùng hiệu là Nhiên Đăng. Như vậy Ngài là thầy của Đức Phật Thích Ca, Ngài Bồ tát Diệu Quang là tiền thân Ngài Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.

v. MỘT CÂU CHUYỆN TRỢ HÓA CỦA NGÀI.- NGÀI VĂN THÙ CẦM KIẾM HẠI ĐỨC PHẬT

Trong thời Đức Phật ra đời, có 500 vị La hán chứng được Túc mạng thông, thấy tội lỗi tự thân quá nhiều, liền sinh tâm thoái thất. Ngài Văn Thù Bồ tát đứng hầu Đức Phật thấu rõ tâm ý các vị La hán, liền cầm kiếm sấn đến trước như muốn nghịch hại Phật. Đức Phật thản nhiên nói rằng: “Ta đã chứng vô ngã, vô pháp, không còn thấy ta bị sát, không thấy có người đến sát hại, làm sao người sát hại ta được”. 500 vị La hán hiểu ngay sự giả dối của pháp, sự không thật của tội ác chứng được vô sinh pháp nhẫn.

vi. LÒNG QUY NGƯỠNG CỦA PHẬT TỬ VÀ KẾT LUẬN

1. Tưởng nhớ đến trí huệ cùng tột của Ngài.

2. Cầu sự hộ trì của Ngài cho trí huệ được minh mẫn sáng suốt.

3. Tự nhận hiểu trí huệ là món tư lương cần thiết của người Phật tử trên con đường đạo.

4. Trí huệ của Ngài Văn Thù tượng trưng là mẹ của Đức Phật.

5. Đạo Phật là đạo của trí huệ, chỉ có trí huệ mới uốn dẹp được tất cả phiền não mê lầm.

 

LỊCH SỬ CHÙA QUỐC ÂN

i. VỊ TRÍ GIỚI HẠN

Chùa Quốc Ân thuộc làng Trường Cửu huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố chừng ba bốn cây số. Chùa dựng trên một khoảng đất cao, hướng mặt về phía Tây đối chiếu với núi Kim Phụng, phía trái tiếp giáp với núi Ngự Bình, và phía phải kế cận với bãi đất Ba Đồn chỗ chôn rất nhiều mồ mả. Phía trước là con đường ăn thông về núi Ngự Bình. Phía sau tiếp giáp với những bãi đất hoang và xa hơn nữa là đường thông về An Cựu.

ii. CẢNH TRÍ

Vào chùa phải đi ngang qua bốn cột trụ lớn, qua khỏi cửa chùa là cả một cái sân rộng. Tục truyền, chỗ sân ấy là chỗ dựng ngọn tháp Phổ Đồng của Ngài Nguyên Thiều; nhưng sau bị quân Tây Sơn phá hủy (khoảng 1528-1802) nên bây giờ chỉ còn đám đất không. Chùa Quốc Ân xây kiểu chữ khẩu, theo kiến trúc xưa của người Trung Hoa, ở giữa là một cái sân nhỏ, chung quanh bốn gian nhà tiếp giáp nhau, cùng các vị khai sơn. Hai bên có hai liêu lớn là chỗ ở của vị Trụ trì và Tăng chúng. Gian bên phải là nhà Thuyền, gian bên trái là nhà khác, và gian sau là nơi thờ các vị Tổ truyền thừa, cùng bốn chúng Tăng già và bổn đạo trong chùa.

iii. CÁCH THỜ TỰ TRONG CHÙA

Chánh điện ba căn chia làm hai phần: Mặt trước thờ Phật và các vị Bồ tát. Mặt sau thờ các vị Tổ sư và bổn chúng Tăng quá cố, Cách bài trí đại khái như sau: Mặt trước gian giữa và trên hết, thờ Đức Phật Thích Ca (ngồi giữa), Đức Phật A Di Đà (ngồi bên tay trái Đức Phật Thích Ca), Đức Phật Di Lặc (ngồi bên tay phải). Tầng thứ hai ở giữa thờ Đức Phật Thích Ca thuyết pháp, bên hữu thờ tượng Bồ tát Phổ Hiền, bên tả thờ tượng Bồ tát Văn Thù. Tầng thứ ba cũng thờ tượng Bồ tát Địa Tạng và ngoài hết là bàn kinh.

Căn bên trái đứng trong nhìn ra, thờ Ngài Đạt Ma Tổ sư, căn bên phải thờ Đức Quan Thánh. Hai dãy thờ đối chiếu 10 vị Thập Điện, tiếp theo đó về bên trái thờ thập loại cô hồn và hai bên thờ Ngài Giám Trai. Mặt sau cùng, căn chính thờ vị Tổ khai sơn: Ngài Nguyên Thiều. Kế cận theo đó là bài vị các vị Tổ truyền thừa. Căn bên phải thờ bổn chúng Tăng và bên trái thờ các nhà thí chủ quá cố nhà chùa.

iv. LỊCH SỬ

Chùa Quốc Ân dựng lên từ đời vua Lê Huyền Tôn, niên hiệu Cảnh Trị năm thứ ba (tức năm Ất Tỵ, thứ 17 chúa Nguyễn Phúc Tần, 1665 sau Tây lịch) do Ngài Thọ Tôn Hòa thượng húy Nguyên Thiều khai sáng. Lần đầu mới sang Việt Nam, Ngài ghé tại phủ Quy Ninh (Bình Định) lập chùa Thập Tháp Di Đà để làm nơi căn cứ tu hành và truyền giáo. Sau ra Thuận Hóa lập chùa Hà Trung thuộc huyện Phú lộc bây giờ, rồi trải qua một khoảng thời gian cũng 10 năm. Ngài lại rời chùa Hà Trung lên kinh đô Huế tạo chùa Quốc Ân và dựng tháp Phổ Đồng (tháp này sau bị quân Tây Sơn phá). Đến năm Bảo Thái thứ 10, tháng 10 ngày 19, Ngài viên tịch. Hiện nay tháp Ngài dựng ở một ngôi đồi nhỏ trong địa hạt Thuận Hóa, làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, và lấy hiệu tháp là Hóa Môn. Vua Hiển Tôn Hoàng đế có ban thụy hiệu Ngài là HẠNH ĐOAN THIỀN SƯ, rồi từ đấy, sự truyền thừa vận nói tiếp từ đời này qua đời khác, cho đến đời Ngài Đắc Quang, năm 1931 Ngài đứng lên sùng tu ngôi chùa ấy (năm Giáp Thân). Từ Ngài Nguyên Thiều đến Ngài Đắc Quang, tính lại đã được tám đời tất cả.

Ngài Tăng cang Đắc Quang ngoài công hạnh lớn trên, lại còn là một vị tu hành danh đức. Ngài viên tịch vào ngày mồng 2 tháng Giêng (năm Nhâm Tuất 1945). Tháp Ngài hiện nay dựng ở cạnh chùa về phía tay phải.

 

LỊCH SỬ CHÙA THUYỀN TÔN

i. VỊ TRÍ GIỚI HẠN

 Chùa Thuyền Tôn thuộc xóm Ngũ Tây, làng An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, cách thành phố Huế chừng 6, 7  cây số. Chùa dựng trên một ngọn đồi cao, hướng mặt về phía Tây Bắc, bên phải giáp núi Thiên Thai, bên trái tiếp giáp những ngọn đồi con và sau lưng sát với đầu ngọn núi.

ii. CẢNH TRÍ

Chùa Thuyền Tôn không có cửa Tam quan, vào chùa phải đi quanh co theo những thoải đồi con, và khi đến chùa chỉ cần leo những bậc cấp nhỏ. Tiếp đấy là cái sân rộng, trồng đủ các thứ hoa. Chùa xây theo kiểu chữ Khẩu ba căn, hai chái, sau lưng là nhà hậu.

iii. CÁCH THỜ TỰ TRONG CHÙA

Chánh điện ba căn, phân làm hai: mặt trước thờ Phật và các vị Bồ tát, mặt sau thờ các vị Tổ sư cùng Tăng chúng quá cố. Các bài trí đại khái như sau: mặt trước căn giữa và cao hơn hết là thờ ba vị Tam thế: Đức Thích Ca Mâu Ni (ngồi giữa), Đức A Di Đà (bên tay trái), Đức Phật Di Lặc (bên tay phải). Tầng thứ hai thờ riêng Đức Phật Thích Ca. Tầng thứ ba, bên phải vẽ tượng Ngài Văn Thù ngồi trên con sư tử xanh, bên trái là tượng Ngài Phổ Hiền ngồi trên con voi trắng.

Căn bên tay phải (ở trong nhìn ra) thờ tượng Đức Quán Thế Âm, tiếp đó hai bên thờ đối chiếu 10 vị Thập Điện và tượng Thánh Quan cùng tượng Đế Thích. Căn giữa chánh điện, có treo bức biển đề mấy chữ “Thiên Thai Thuyền Tôn Tự” bên cạnh có giòng chữ nhỏ: Cảnh Hưng bát niên (Cảnh Hưng năm thứ tám).

Phía sau cùng căn giữa thờ long vị Ngài Liễu Quán, vị Tổ sư khai sơn chùa Thuyền Tôn cùng các vị Tổ thừa kế. Bàn bên phải thờ các vị Trụ trì và bên trái thờ bổn chúng. Ngoài nơi thờ tự ra, gian bên phải là liêu chúng Tăng ở và gian bên trái là tịnh liêu của Ngài Hòa thượng.

iv. LỊCH SỬ

Chùa Thuyền Tôn do Ngài Liễu Quán Hòa thượng làm khai sơn. Ngài họ Lê, húy Thiệt Diệu, người làng Bạc Mãi, huyện Đạo Xuân, tỉnh Phú Yên (Sông Cầu). Hiện nay không biết chùa dựng lên từ năm nào, chỉ thấy bức biểu chùa và đại hồng chung có đề Cảnh Hưng năm thứ 8, nhưng xét ra năm ấy không phải là năm bắt đầu dựng chùa Thuyền Tôn, có lẽ là đầu khoảng năm Vĩnh Thạnh thứ tư (Lê Dục Tôn 1708). Sau khi Ngài ra Long Sơn (Từ Đàm Huế) cầu Hòa thượng Tử Dung ấn chứng rồi mới lập chùa này. Lúc bấy giờ chỉ mới là một chiếc am tranh, vừa để Ngài ẩn náu tu hành, rồi từ đấy về sau, dần dần mới trở nên một ngôi chùa đồ sộ và có lẽ đại hồng chung cùng biểu sắc tứ mới có vào lúc này. Vả lại Ngài Liễu Quán Hòa thượng đã viên tịch vào năm Cảnh Hưng thứ ba (1742). Như vậy chùa Thuyền Tôn không phải mới làm từ năm Cảnh Hưng thứ tư.

Chùa Thuyền Tôn là một ngôi Tổ đình lớn ở Thừa Thiên mà cũng là nơi căn nguyên của phái Liễu Quán. Phái Liễu Quán này, một nhánh của phái Lâm Tế, hiện nay Tăng đồ, tín đồ từ Trung đến Nam Trung Việt phần nhiều đều thuộc về phái Lâm Tế. Lại Ngài Liễu Quán là một vị danh Tăng Việt Nam đầu tiên ở Trung Việt được thừa truyền Tổ đạo. Cho nên ngôi chùa Thuyền Tôn cũng là nơi đánh dấu ảnh hưởng sự nghiệp tốt đẹp của người Việt Nam trong sự nghiệp truyền giáo.

Đến năm Quý Mùi (1943) vì ngôi chùa lâu ngày bị đổ nát nên Giáo hội Tăng già Thừa Thiên có đứng ra kêu gọi trùng tu lại ngôi Tổ đình này, và từ đó ngôi chùa Thuyền Tôn lại được nguy nga tráng lệ như xưa. Hiện nay Ngài Hòa thượng Giác Nhiên là tọa chủ.

 

LÝ NHÂN DUYÊN SINH

i. ĐỊNH NGHĨA

Nhân là những món có năng lực phát sinh; Duyên là những món bổ trợ giúp nhân phát sinh. Nhân Duyên là một định lý nêu rõ mọi sự vật ở đời đều do các nhân duyên hội họp mà hình thành phát sinh.

ii. VÍ DỤ

 Như cái bàn do gổ làm làm nhân và công thợ đinh đóng ghép làm nhân duyên hội họp thành cái bàn. Như cây lúa do hột lúa làm nhân và công cày bừa gieo tưới làm duyên, hội họp thành cây lúa.

iii. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA LÝ NHÂN DUYÊN SINH

1. Lý nhân duyên sinh là một định lý hiện thật nêu rõ sự hình thành phát sinh các pháp là do các nhân duyên hội họp. Định lý này Đức Phật căn cứ trên cảnh thực tại để thuyết minh trình bày.

2. Lý nhân duyên sinh chi phối tất cả. Tất cả sự vật sai khác đều do các nhân duyên hội họp hình thành phát sinh; lý nhân duyên sinh phối tất cả, không một vật gì cần thiết thoát khỏi sự chi phối của lý này.

iv. SỰ ỨNG DỤNG LÝ NHÂN DUYÊN SINH

Nếu chúng ta đã hiểu rõ lý nhân duyên sinh, chúng ta sẽ có được nhiều sự ứng dụng rất thiết thực.

1. Lý nhân duyên sinh cho chúng ta rõ chỉ có các nhân duyên, chớ không thấy thật có một sự vật nào, mà có nhân duyên kia cũng chỉ là sự vật, cũng chỉ vì nhân duyên hòa hợp mà thành, chớ cũng không thật.

2. Lý nhân duyên sinh nêu rõ sự tương quan của các pháp, các pháp hình thành toàn nhờ sự tương quan, tương duyên giữa các pháp. Trong các nhân duyên hội họp hình thành một pháp, nếu có một nhân hay một duyên thay đổi thời pháp ấy cũng thay đổi.

3. Lý nhân duyên sinh cho chúng ta rõ mọi vật đều do nhân duyên giả dối hợp thành, chớ không phải tự nhiên mà có, và cũng không phải do một vị Thượng đế sáng tạo ra.

4. Lý nhân duyên cho chúng ta rõ chúng ta tự chủ đời chúng ta, tương lai nằm trong tay chúng ta, bởi vì đời chúng ta đẹp hay xấu, thiện hay ác, hoàn toàn do những nhân duyên chúng ta tự tạo tác.

v. KẾT LUẬN

Lý nhân duyên sinh cho chúng ta rõ mọi vật chỉ là hình thành của các nhân duyên hội họp và nhờ vậy chúng ta hiểu được sự vật là như huyễn không chắc thật, một khi đã hiểu được các pháp; trái lại có thể xây dựng an lạc hạnh phúc cho mình, cho mọi loài được sống tự tại và giải thoát.

 

Người lấy trộm của người bị hai quả báo: một là nghèo hèn, cơm áo thiếu thốn; hai là thường bị các nạn giặc, nước, lửa, hình phạt cướp đoạt.

 

NHÂN QUẢ

i. ĐỊNH NGHĨA CHỮ NHÂN QUẢ

Nhân là nguyên nhân, quả là kết quả. Nhân là năng lực phát động, quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân quả là một định luật tất nhiên, nêu rõ sự tương quan tương duyên giữa nhân và quả: phàm đã có nguyên nhân tác động, tất nhiên có kết quả hình thành, phản ứng nguyên nhân ấy. Ví dụ: Có học thì biết chữ, đánh trống thì có tiếng vang dội. Như vậy chúng ta biết rằng tất cả sự vật hiện tại đều là kết quả trực tiếp hoặc gián tiếp của nghiệp nhân, không phải có ai sinh, cũng không phải tự nhiên sinh.

ii. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ LÝ NHÂN QUẢ.

1. Nhân quả là định luật hiện thực: Đức Phật không phải là người sáng chế đạo lý  nhân quả. Ngài chỉ là người đã giác ngộ sự tương quan, tương duyên giữa nguyên nhân và kết quả của sự vật. Đức Phật căn cứ trên hiện cảnh thực tại để thuyết nhân quả cho chúng ta hiểu.

2. Nhân quả chi phối tất cả: Tất cả sự vật, tất cả các sự hưởng thọ dù có sai khác chênh lệch nhau, nhưng cũng đều là sự hình thành sai biệt của nghiệp nhân bất đồng. Bởi thế định luật  nhân quả chi phối tất cả sự vật, không ai có thể phủ nhận đạo lý nhân quả, nếu muốn hiểu biết đúng với sự thật.

3. Nhân quả là một định luật rất phức tạp: Lý  nhân quả không phải giản dị như chúng ta thường hiểu. Sự liên lạc, tương quan, tương duyên, tương phản giữa nhân và quả, nhiều khi làm đạo lý  nhân quả trở thành phức tạp khó nhận. Cũng bởi thế những người trí thức nông nổi tầm thường, khó nhận thức đúng với sự thật, với đạo lý nhân quả được.

iii. SỰ TƯƠNG QUAN GIỮA NHÂN VÀ QUẢ

Đức Phật dùng đạo lý  nhân quả để giải thích trình bày sự tương quan, tương duyên giữa nhân và quả. Sự tương quan ấy rất mật thiết, nhưng cũng rất phức tạp khó nhận.

1. Một nhân không thể sinh ra quả: Sự vật giữa vũ trụ đều là tổ hợp của nhiều nhân duyên. Cho nên không có một nhân nào có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều nhân khác. Ví dụ cây lúa không những chỉ do hạt lúa mà cần phải có các nhân khác giúp vào hạt lúa mới nảy mầm thành cây và cây phát triển tồn tại.

2. Nhân nào quả ấy, mảy mún không sai: Nhân thế nào thì kết quả cũng như vậy, chứ không bao giơ  nhân quả tương phản, mâu thuẫn nhau. Người học đàn chỉ biết đàn, chứ không thể biết vẽ, người làm việc lợi ích thì bao giờ cũng được kết quả tốt, chứ không thể có kết quả xấu.

3. Trong nhân có quả, trong quả có nhân: Chính trong nhân hiện tại, chúng ta thấy quả vị lai và chính trong quả hiện tại, chúng ta đã tìm được nhân của quá khứ. Ngay trong sự hưởng thọ của kiếp người, chúng ta thấy rằng, sở dĩ hiện tại chịu mọi điều thống khổ là vì nghiệp nhân bất thiện của chúng ta đã tạo. Ngược lại chúng ta có: nếu hành động hiện tại là tốt đẹp, tất nhiên kết quả tương lai sẽ sáng tươi. Trong người Phật tử chân chính hiện tại, chúng ta có thể thấy rõ rằng nguyên nhân tốt đẹp của người ấy đã gieo ở thời quá khứ và cũng thấy rõ quả báo tốt đẹp của người ấy sẽ được hưởng thọ ở đời vị lai.

4. Nhân có năng lực tạo thành hình tướng: Có vôi gạch đất đá và nhân công hợp lại thì thành cái nhà, nếu những dụng cụ ấy rã rời, ly gián hay biến hoại thì hình tướng của cái nhà không còn.

iv. SỰ LIÊN LẠC GIỮA NHÂN QUẢ QUA THỜI GIAN

a/ Nhân quả một thời: Nhân quả nối liền nhau vừa tạo nhân, quả liền phát khởi. Như đánh chuông liền nghe tiếng. Quả theo liền với nhân, chứ không cần chờ đợi một thời gian quả mới thuần thục.

b/ Nhân quả trong hiện tại: Tạo nhân đời này thì kết quả cũng trong đời này, như trồng lúa thì chừng sáu tháng đã có lúa, không cần phải đợi một thời gian lâu xa.

c/ Nhân quả có hai đời: Nhân tạo đời trước, đời này mới kết quả. Nhân tạo đời này đến đời sau mới kết quả, nghĩa là cần đợi một thời gian khá lâu, quả mới thuần thục.

d/ Nhân quả trong nhiều đời: Nhân tạo từ các đời trước đến đời này mới kết quả. Nhân tạo trong đời này, đến các đời sau mới kết quả.

v. NHỮNG VÍ DỤ VỀ LÝ NHÂN QUẢ

Nhân quả là một sự thật, một định luật tất nhiên của sự vật vì thế không có sự vật nào thoát ngoài sự chi phối của định lý nhân quả.

1. Nhân quả hiện nơi hiện cảnh: Núi rừng là kết quả của nhiều cây hợp lại, cây được sinh tồn phát triển là nhờ sự nuôi dưỡng của các thứ hóa chất, thán khí, sinh tố v.v... Nắng lâu ngày thì đại hạn, mưa nhiều thì cây cối tàn hại, nạn nước dâng trào.

2. Nhân quả nơi tự thân: Thân thể là nơi kết hợp của các tế bào, bốn đại và năm uẩn; người béo tốt là bởi sinh lực dồi dào, huyết quản lưu thông và sống hợp vệ sinh điều độ.

3. Nhân quả tự nơi tâm: Tánh tình tư tưởng và trí thức con người cũng chịu sự điều khiển chi phối của định lý nhân quả. Làm điều độc ác thì trí tưởng thấp hèn, nghĩ điều lành thì tánh tình thuần thục, học nhiều nhớ rộng thì kiến thức mở mang, thông thái uyên bác.

vi. SỰ ỨNG DỤNG LÝ NHÂN QUẢ

Nếu chúng ta có hiểu định lý nhân quả và cố gắng thực hành thì có rất nhiều sự lợi ích:

1. Lý nhân quả làm cho chúng ta thấy sự thật: Trong lý nhân quả, Đức Phật đã giải thích rõ ràng sự tương quan giữa nhân và quả, nghĩa là sự liên lạc mật thiết giữa vũ trụ vạn hữu. Nhờ vậy chúng ta có thể hiểu thấu thực trạng của sự vật, như sự thật mà hiểu biết, chứ không vọng tưởng sai lầm.

2. Căn cứ định lý nhân quả, đạo Phật không chấp thuận thuyết vũ trụ do một đấng Thượng đế sinh ra và có uy quyền thưởng phạt muôn loài.

3. Người hiểu nhân quả đặt lòng tin tưởng ở chính mình: Đã biết cuộc đời của mình do nghiệp nhân của chính mình tác thành, như thế thì tự mình là chúa tể và có đặc quyền cải tạo  đời sống của mình hiện tại, trở thành trong đẹp thanh cao.

4. Người tin lý nhân quả không chán nản không trách móc: Đã rõ tất cả hoàn cảnh hưởng thọ do chính mình tác động, người hiểu nhân quả, dù gặp thất bại, nghịch cảnh cũng không chán nản trách móc ai. Chỉ lo tự mình cải tạo lấy nghiệp nhân bất thiện, để được hưởng kết quả chân chính thanh tịnh mà thôi.

5. Người hiểu biết nhân quả chỉ lo tạo nhân lành và bất cứ làm một việc gì cũng nghĩ đến  kết quả trước: Đã hiểu những sự hưởng thọ hiện tại đều do nghiệp nhân quá khứ tác động, nếu muốn được kết quả tốt đẹp, cần phải siêng tạo những nghiệp nhân thuần lương, và trong lúc tạo nhân lại cần nghĩ những kết quả sẽ thành tựu, có tốt đẹp không, mới chịu làm.

vii. KẾT LUẬN

Lý nhân quả là một định lý tất nhiên: chi phối tất cả sự và lý ấy cho chúng ta thấy rõ rằng mọi sự hưởng thọ dù tốt đẹp hay xấu xa của kiếp người hiện tại cũng là sự trình bày khách quan của nghiệp nhân ở quá khứ. Cho nên con người là đấng chúa tể, con người tự định đoạt, tự tác thành  đời sống của mình chứ không ai có quyền can thiệp thưởng phạt. Định lý nhân quả của đạo Phật đem lại cho chúng ta một đức tính mạnh mẽ sáng suốt, và mở rộng chân trời giải thoát giác ngộ cho mọi loài chúng sinh.

 

LÝ LUÂN HỒI

i. LỜI NÓI ĐẦU

Con người do ai sinh ra? Sinh ra rồi làm gì và sẽ đi đâu? Ba câu hỏi này làm nhân loại luôn luôn thắc mắc băn khoăn, và tất cả tôn giáo triết học chủ nghĩa từ trước đến nay cũng đã tìm tòi trình bày rất nhiều giải đáp, nhưng hiện tại, con người vẫn chưa được thấy thỏa mãn, và vấn đề nhân sinh quan vẫn còn đè nặng trên trí óc con người. Với đạo lý luân hồi, đạo Phật đã trả lời những câu hỏi trên, và chúng ta sẽ thấy rõ địa vị con người trong đạo Phật như thế nào.

ii. NHỮNG SỰ HIỂU LẦM VỀ NHÂN SINH

Vấn đề nhân sinh quan có rất nhiều giải đáp không giống nhau của các tôn giáo triết học và chủ nghĩa.Những lời giải đáp ấy không ra ngoài bốn món kiến chấp sau này:

a/ Chấp đoạn: Con người  chỉ có với hiện tại, trong khoảng mấy mươi năm sống, đến khi chết thân thể tan ra tro bụi, kiến văn giác tri không còn, chết rồi thì mất hẳn, nhưng chúng ta thấy ở đời này, không có vật gì là mất hẳn. Cho đến một hạt cát, một mảy lông cũng không thể mất hẳn, huống nữa là cái thân hay biết nơi một con người.

b/ Chấp thường: Có người cho rằng, sau khi chúng ta chết tuy thân thể tiêu tan, nhưng vẫn có một linh hồn bất tử, linh hồn ấy sẽ được lên cõi thiên đường luôn luôn hưởng những sự an vui khoái lạc (nếu trồng nhân lành hiện tại), hay sẽ bị đọa vào cõi địa ngục chịu khổ mãi mãi (nếu tạo các nhân ác). Chúng ta thử hỏi linh hồn bất tử có cảm giác như con người sống, và có thân thể hay không thân thể? Nếu đã có thân thời như người sống rồi, sao gọi là chết? Nếu không có thân thì biết lấy gì để cảm xúc với ngoại cảnh để biết đau buồn vui sướng? Lại nhân có hạn lượng thì quả phải có hạn lượng, lẽ đâu lại có những điều bất công như vậy. Hơn nữa với sự nhận xét thông thường chúng ta thấy rằng mọi vật đều biến đổi xê dịch, nào có cái gì trường tồn, không sinh không diệt đâu?

c/ Chấp thân trước không can hệ đến thân sau: Có người cho rằng dầu thân này chết sinh ra thân sau, nhưng thân sau ấy không liên can gì với thân trước, nhưng thân sau ấy vẫn là mình nghĩa là vẫn tự chấp có cái là vui buồn đau khổ, sao lại không liên can? Lại một thân sinh ra đâu phải không chịu những ảnh hưởng của những nghiệp nhân đạo từ nhiều đời, thời sao lại không liên can được.

d/ Chấp luân hồi theo luật tiến hóa: Có người công nhận rằng: sự vật đều có luân hồi theo luật tiến hóa, nghĩa là loài thực vật có thể luân hồi thành loài hạ đẳng động vật, loài hạ đẳng động vật luân hồi thành loài cao đẳng động vật. Như loài khỉ có thể tiến hóa, nhưng cũng có thoái hóa rõ ràng bằng chứng vào đâu và mà nói rằng nhất định chỉ có tiến hóa.

iii. NGHĨA CHỮ LUÂN HỒI TRONG ĐẠO PHẬT VÀ MỤC ĐÍCH ĐẠO PHẬT

a/ Các cõi trong đạo Phật: Đạo Phật có chia ra các cõi, các loại ra làm sáu cõi phàm và bốn bậc Thánh. Sáu cõi phàm là địa ngục, ngạ quỹ, súc sinh, thiên, nhân, A tu la. Bốn bậc Thánh là Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật.

b/ Định nghĩa: Luân là bánh xe. Hồi là quy tròn; con người sống rồi chết, chết rồi đầu thai vào một trong sáu cõi phàm, rồi lại sống, để rồi chết và cũng đầu thai một trong sáu cõi phàm ấy; luôn luôn như vậy không bao giờ ra khỏi, không bao giờ dừng nghỉ như chiếc bánh xe chạy tròn không dừng.

c/ Mục đích đạo Phật: Mục đích đạo Phật là giải thoát con người ra ngoài vòng sinh tử luân hồi, nghĩa là giúp con người chứng được trong bốn bậc Thánh, tức là đã ra khỏi ngoài vòng sinh tử luân hồi, chứng được vô sinh.

iv. SỰ LUÂN HỒI CỦA MỌI VẬT

Lý luân hồi là một luật chung lưu hành của tất cả sự vật, không riêng gì cho loài hữu tình.

1. Các loài thực vật: như cây vải, do hột cây vải gieo xuống đất, mọc thành cây vải, rồi có trái có hột, đem hột ấy trồng thành cây vải khác mãi mãi như vậy không bao giờ dừng nghỉ.

2. Mưa: Nước biển do khí nóng mặt trời bốc hơi lên, hơi gặp khí lạnh đọng thành mây, rồi rơi xuống thành mưa, nước mưa lại chảy về sông, biển. Nước sông, biển, bốc hơi lên, làm mây, làm mưa, mãi mãi như vậy mà nước vẫn là nước, không bao giờ mất hẳn.

3. Sức nóng: Sức nóng chứa trong cây, tìm chẳng gặp, trông chẳng thấy, song lấy hai cây chà xát, hồi lâu có lửa bật cháy. Lửa ấy đốt cây tạo thành thán khí, các cây khác hút lấy thán khí để chứa lại sức nóng như trước hoặc lửa chuyền sức nóng cho các vật khác, chứ chưa bao giờ cùng tận.

v. NGUYÊN NHÂN CỦA LUÂN HỒI

Sự sinh tử luân hồi của con người do những nguyên nhân sau này:

1. Sức mạnh của nghiệp: Con người sống ở đời là luôn luôn tạo các nghiệp về thân, về miệng, về ý nghĩ, những nghiệp này tiếp nối nhau luôn, tạo thành những sức mạnh dắt dẫn con người sau khi chết rồi phải đầu thai để sống một kiếp khác. Sức mạnh của nghiệp đó càng ngày càng được tăng cường nối tiếp, nên con người luôn luôn phải sống trong sinh tử luân hồi. Có bốn thứ nghiệp thường hay dẫn dắt con người đi đầu thai là:

Tích lũy nghiệp: là những nghiệp tạo tác trong nhiều đời trước chất chứa lại.

Tập quán nghiệp: là những nghiệp tạo trong đời hiện tại, luôn luôn tiếp diễn nên thành thói quen, thành tập quán.

Cực trọng nghiệp: là những nghiệp quan trọng có năng lực tác động mãnh liệt hơn cả, nên chi phối tất cả.

Cận tử nghiệp: là những nghiệp lực gần lâm chung cũng rất mãnh liệt và dắt dẫn con người đi đầu thai.

2. Lòng tham sống sợ chết và sự luyến ái của con người: Không một ai không tham sống sợ chết, nên trong khi lâm chung cố hết sức bám víu vào sự sống, tìm hết cách để cho khỏi chết, lại thêm lòng tham lam dục lạc chưa được thỏa mãn, thành thử không lúc nào là không muốn sống để hưởng thọ những khoái lạc. Do lòng tham sống và lòng tham dục của con người nên khi phải bỏ xác thân này thời đi tìm một xác thân khác để thỏa mãn những sự ước vọng tham dục của mình.

3. Do sự mê mờ chấp trước: Tất cả chúng sinh huân tập theo chỗ tạo nghiệp, không trực nhận bản tánh chân như bao la của vũ trụ, lại nhận cái biết nhỏ hẹp làm tâm của mình, nhận cái sắc nhỏ hẹp làm thân của mình. Nào khác gì biển cả mênh mông không tự nhận, lại chỉ nhận một bọt nước nhỏ là mình và cho nước nhỏ là biển thì quyết định không còn biết gì là biển nữa, và do đó theo bọt nước mà bị biến diệt vô thường, khi chúng ta đã nhận lầm cái nhỏ hẹp là tâm, là thân, thì phải theo tâm theo thân nhỏ hẹp này mà chịu sinh tử luân hồi.

vi. HÀNH TƯỚNG LUÂN HỒI

Lối thọ sinh tùy theo hạnh nghiệp tác động sai khác không đồng nhau, tùy tâm sở thích, tùy hạnh nghiệp tạo tác mà thành những năng lực tác động rất mạnh dắt dẫn con người đi đầu thai, và dắt dẫn vào đường nào thì sinh vào đường ấy, cõi ấy. Như hạnh nghiệp thuần thiện thời được thác sinh vào cõi thiện. Nếu hạnh nghiệp thuần là ác, thì dắt dẫn thác sinh vào địa ngục v.v... Kinh nghiệm cho chúng ta rõ rằng: khi lâm chung nếu khắp thân đều lạnh, hơi nóng dồn vào chân thì sinh vào cõi súc sinh, ở nơi bụng thì sinh vào cõi ngạ qũy, ở quả tim thì sinh vào cõi người, ở nơi con mắt thì sinh lên cõi trời và ở trên đầu thì được sinh lên cõi Tịnh độ.

vii. SỰ CHỨNG NGHIỆM LÝ LUÂN HỒI

Lý luân hồi là một sự thực do Đức Phật đã trình bày, và sự thực này có nhiều bằng cớ, lý lẽ chứng minh một cách rõ ràng:

1. Chính trong từng tâm niệm, con người có thể trải qua trạng thái của sáu loài: Khi con người ôm lòng độc hại, thì cảnh Tu la hiện khởi: khi người niệm điều thiện, thì cảnh giới nhân thiên hiện khởi, không bao giờ sai chạy.

2. Cảnh giới của sáu loài nhiều khi không ở đâu xa, chính hiện tiền chung quanh cũng có thể thấy được: Trên cõi đất này, những ngục hình, những phòng ta tấn, những trại giam có những hình phạt như tra kẹp hành hình, chó táp, đổ nước sôi v.v... thì đó là cảnh giới địa ngục, chỗ nào bị chiến tranh tàn phá, bị chết dưới làn bom đạn thì đó là cảnh giới địa ngục. Lại đối với con cua bị bỏ vào nước sôi, con lươn bị lột da đều phải sống trong cảnh giới địa ngục cả.

3. Thần đồng: Pascal trên 8 tuổi đã thông kỷ hà học. Bạch Cư Dị mới 5 tuổi đã biết làm thơ, không thể là một sự ngẫu nhiên. Những vị gọi là thần đồng đều do những đời trước đã từng có khả năng chuyên nghiệp về những môn gì, nên mới sinh ra là đã có những biệt tài siêu việt hơn người.

4. Các chuyện tiền thân: Các chuyện tiền thân do Đức Phật, các vị Bồ tát thuật lại, một vài câu chuyện của một vài người nhớ lại kiếp trước, chứng tỏ rằng, đã có rất nhiều kiếp trước, nghĩa là con người đã từng sống qua nhiều trạng thái trong sáu đường, trước khi sống trong đời hiện tại.

5. Sự thông cảm giữa người và người: Có người, ta mới gặp liền sinh lòng thương yêu, có người mới gặp liền sinh tâm ghét bỏ, có lẽ đó là vì nhiều đời trước chúng ta chung sống với người ấy, hoặc đã thương nhau hoặc đã ghét nhau, nên đời này mới gặp, liền có những niềm thiện cảm hay ác cảm mãnh liệt như vậy.

vii. KẾT LUẬN

Với đạo lý luân hồi, Đức Phật đã nêu bày cho chúng ta rằng:

1. Nguyên nhân chính của sự đau khổ là mê mờ, vì mê mờ mà tác động các hạnh nghiệp; do những nghiệp nhân ấy là phải chịu sinh tử luân hồi.

2. Con người luân chuyển trong sáu đường, đều tùy theo nghiệp nhân mà thọ quả báo, trong sự luân chuyển ấy, con người đã trải qua trạng thái của sáu loài, khi lên khi xuống tùy theo nghiệp nhân. Như vậy con người không phải là thống trị cả muôn vật và rất có thể tùy theo từng tâm niệm mà giá trị con người khi cao khi thấp không nhất định.

3. Con người đã thọ sinh trong sáu đường, thời con người cùng với các loài đều có thể đắp đổi nhau làm cha mẹ. và như vậy mọi chúng sinh đều là bà con anh em với nhau trong đại gia đình chúng sinh.

4. Đạo Phật nói đến luân hồi là giúp con người giải thoát ra ngoài sự sinh tử luân hồi.

 

Ở đời ai nghèo đến nỗi không có thân. Thấy người làm phước, nên tự thân đến giúp, như vậy cũng gọi là thí chủ, cũng được phước đức.

Kinh ƯU BÀ TẮC

 

NĂM GIỚI

i. ĐỊNH NGHĨA

Giới là phòng bị răn cấm ngăn ngừa. Năm giới là năm điều luật Phật chế để đối trị và ngăn ngừa những hành động không thiện, những ý tưởng phi pháp (phòng phi chỉ ác). Giới lại có nghĩa là biệt biệt giải thoát; không phạm một điều luật tức giải thoát được một hình ngục và hưởng thọ công đức.

ii. CÔNG NĂNG BẢO GIỚI

Giới là căn bản của định và huệ, thiếu giới, định huệ không phát triển và Phật quả không viên thành, như thiếu một nét ngang, thì hình ba góc không thành. Giới lại là ngọc ma ni trang sức pháp thân huệ mạng, và cũng là hàng rào sắt ngăn cản tội lỗi.

iii. SỰ QUAN HỆ CỦA NĂM GIỚI

Năm giới là cấp bực đầu tiên của con người trong khi hướng về đường thiện. Muốn bảo tồn nhân cách, duy trì đức hạnh để xứng đáng với danh nghĩa làm người, cũng phải vâng giữ năm giới. Năm giới lại là cơ sở của đạo giác ngộ và giải thoát và năm giới này là chính do Đức Phật thân chế ra.

iv. HÀNH TƯỚNG NĂM GIỚI

Năm giới là không sát sinh, không trộm cắp, không vọng ngữ, không tà dâm và không uống rượu.

a/ KHÔNG SÁT SINH

không cắt đứt mạng sống của những động vật có tri giác cảm thọ, khác với thực vật và khoáng vật, nghĩa là không cố ý khi giết hại sinh vật, dù nhỏ nhiệm như côn trùng.

1. Phương tiện giết hại:

Tự mình giết: Chú tâm và tự giết hại chứ không phải vô ý giết lầm.

Bảo người giết: Dùng uy lực lời nói sai bảo khuyến khích kẻ khác giết hại.

Thấy giết tùy hỷ: Thấy người giết hại, sinh tâm tùy hỷ tán thành, không thương xót can gián.

2. Lý do Phật cấm sát hại:

Tôn trọng sự sống: Sinh vật dầu hình thể khác nhau, nhưng sự sống chỉ một nên không được sát hại.

Đồng thể: Tất cả chúng sinh đều tham sống sợ chết như nhau lại đồng chung một bản thể nên không được sát hại.

Hiến niệm: Chúng sinh chưa thoát khỏi luân hồi, nên có thể đầu thai trong ba đường dữ; muốn khỏi giết lầm thân nhân nên Phật cấm sát hại.

Quả báo: Sát hại người, sẽ bị sát hại lại.

3. Lợi ích của giới không sát:

An vui: Không sát hại, đời này tâm hồn được an vui, không ăn năn không hối hận.

Sống lâu: Đời này và đời sau được sống lâu, thân thể tráng kiện, ít tật bệnh, khỏi nạn đao binh được mọi người yêu mến.

Từ bi: Thọ trì không sát, tức là thật hành được một phần lòng từ bi không giới hạn của Đức Phật.

4. Thật hành giới không sát:

Không sát hại chưa đủ. Phật tử cần phải dùng mọi phương tiện khôn khéo để trả lại quyền sống, quyền tự do cho muôn loài khỏi bàn tay sát phạt của người. Ăn chay là phương tiện để thực hiện tình thương cao rộng ấy.

b/ KHÔNG TRỘM CẮP

Nghĩa là tất cả mọi vật trong thế gian dù quý báu như vàng ngọc, hay nhỏ nhiệm như cây kim ngọn cỏ, Phật tử không được manh tâm lấy dùng, khi chủ nhân không bằng lòng hay vắng mặt.

1. Hành tướng trộm cắp:

Đoạn thủ: Dùng uy thế sức mạnh chiếm đoạt tư hữu của người.

Thiết thủ: Dùng mánh khóe qủy quyệt trộm cắp của người.

Trá thủ: Dùng phương chước điêu ngoa dối gạt người. Cho đến bất cứ dùng phương thức nào, chiếm đoạt tư hữu của người một cách máy móc phi pháp, tức phạm tội này, cho đến trốn thuế đó cũng vậy.

2. Lý do Phật cấm trộm cắp:

Tôn trọng tư hữu: Của cải tư hữu là vật không nên xâm phạm của người, nên Phật cấm không được tự tiện lấy dùng.

Diệt trừ tham dục: Tham lam là sợi dây gút chặt chúng sinh trong đau khổ, muốn thoát ly cần phải diệt trừ tham lam.

Tương quan sinh tồn: Đức Phật dạy tất cả mọi loài chúng sinh đều cùng một bản thể. Nếu ta đem người vào cảnh lầm than sầu hận, tức tự gieo mình vào đau khổ thất vọng.

3. Lợi ích của giới không trộm cắp:

Hiện quả: Không gian tham trộm cắp thì  đời sống được tự do, không hồi hộp lo sợ.

Hậu quả: Đời sau được giàu sang đầy đủ, mọi người tín nhiệm không bị lường gạt.

Trực tâm: Đối lại với gian tham là trực tâm. Đạo Phật là chánh đạo nên người tu hành cần phải có trực tâm.

4. Phương tiện thực hành giới không trộm cắp:

Hoài bão cao quý của đạo Phật là nâng cao đường sinh hoạt của xã hội, cả tinh thần lẫn vật chất bằng phương tiện tài thí và pháp thí. Muốn hoàn thành giới không trộm cắp, Phật tử cần phải bố thí.

c/ KHÔNG TÀ DÂM

Không được sống  đời sống hoang đàng trác táng, ăn chơi. Kinh có câu: Cội gốc đường sinh tử, dâm dục là thứ nhất. Vì thế nên kẻ xuất gia nguyện đoạn tận gốc nguồn. Riêng về hàng tại gia vì nghiệp duyên và hoàn cảnh, nên Phật cho tùy nguyện, nhưng triệt để không được hành dâm trái với luân thường chánh đạo.

1. Phương tiện thực hành tà dâm:

Thân: Sống trác táng ăn chơi, đọc xem các tranh ảnh sách báo nói về tà dục.

Miệng: Nói những là tà dục bất chính.

Ý: Ý nghĩ tà dục trái luân thường đạo lý.

2. Lợi ích giữ tiết dục:

Tiết dục: Chỉ có tiết dục thân thể mới điều hòa, tâm hồn mới trong trắng, và do thế nên có thể siêng năng tinh tấn đạo nghiệp.

Giải thoát triền phước: Tà dục là sợi dây ràng buộc ta vào sinh tử, không tà dục tức đã cắt đứt được một phần nào sợi dây ấy.

Phạm hạnh: Không tà dục tức tiến tới tịnh hạnh.

3. Lợi ích của giới không tà dâm:

Hiệu quả: Nếu không tà dâm thì được người đời kính trọng tín cẩn, và thân thể cường tráng.

Hậu quả: Đời sau sẽ được sinh lên những cảnh giới thanh tịnh, khỏi bị đọa đày.

Thanh tịnh: Có thanh tịnh mới mong khỏi nhiễm ô. Trừ tà dục là phương tiện thực hành hạnh thanh tịnh của chư Phật.

d/ KHÔNG VỌNG NGỮ

Không nói dối, nghĩa là không phỉnh gạt lừa dối người, trái lại bao giờ cũng nói lời ngay thẳng thật thà.

1. Hành tướng của vọng ngữ:

Vọng ngôn: Lấy trái nói phải, lấy phải nói trái, không thấy nói thấy, thấy nói không thấy v.v...

Ỷ ngữ: Dùng lời nói hoa mỹ để xuyên tạc sự thật và khêu gợi lòng tham dục của người.

Ác khẩu: Nói lời thô lỗ ác độc như mắng chửi người v.v...

Hai lưỡi: Đến người này nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người này, khiến hai bên thù hằn ghét bỏ nhau. Tất cả những lời nói có hại mình và hại người ở hiện tại và tương lai, đều phạm tội vọng ngữ. Trừ khi nói chơi hay vì lợi người mà nói thì không phạm.

2. Sự nguy hại của vọng ngữ:

Hại của vọng ngôn: Vì nói dối nên không thấy được sự thật, làm ngăn che tri giác của và người  mình.

Hại của ỷ ngữ: Mê hoặc lòng người.

Hại của nói hai lưỡi: Gia đình tan nát, thân thích thù ghét nhau.

Hại của ác khẩu: Làm người đau khổ tức tối uất ức.

3. Lợi ích của giới không vọng ngữ:

Hiện quả: Được mọi người tín thọ thương yêu.

Hậu quả: Đời sau được tướng lưỡi viên mãn.

Hậu hỷ: Không nói dối người thì người được vui vẻ hòa thuận và tâm hồn mình cũng khỏi thắc mắc hối hận.

4. Thật hành giới không vọng ngữ:

Không nói dối là việc đáng quý, nhưng Phật tử cần phải dùng những lời chân ngôn thực ngữ (Pháp thí) để giảng dạy cho người, mong đem họ về con đường chánh, con đường giác ngộ hạnh phúc của chư Phật.

đ/ KHÔNG UỐNG RƯỢU

Rượu là một thứ làm con người ngu si tối tăm, hôn ám, mê say, cuồng loạn, nên Đức Phật chế cấm không được uống rượu.

1. Tai hại của rượu: Người uống rượu nhiều thì tâm thân rối loạn, ý niệm điên đảo, và thân thể hư mòn tiều tụy. Rượu là một thứ diệt mất giống trí huệ và mở đường cho tất cả tội lỗi.

2. Trường hợp có thể uống: Nếu có bệnh, thầy thuốc bảo dùng thì được uống, nhưng không uống nhiều và đừng dùng những thứ say người. Ngoài ra không được vô cớ tự dùng, cho đến cũng được bán rượu.

3. Lợi ích của giới không uống rượu:

Bình tĩnh: Không cuồng say, tức là bình tĩnh. Không uống rượu là phương tiện làm lòng người bình tĩnh và lạc quan.

Hiện quả: Đời sau khỏi đọa lạc vào nơi tối tăm thiếu ánh sáng Phật Pháp.

Trí huệ: Không uống rượu chính là để khai phát và làm tăng trưởng ánh sáng trí huệ, Phật tử thực hành giới này tức là sống đúng với hạnh trí huệ của chư Phật.

Tóm lại bốn giới đều thuộc về tánh giới, nghĩa là dù Đức Phật có cấm hay không, hễ đã phạm thì mắc tội, còn giới sau thuộc về giá giới, vì muốn phòng ngừa các tội nên Phật chế giới này, cho nên hễ phạm tức là trái với lời Phật dạy.

v. CÁCH THỨC GIỮ GIỚI

Chúng ta đã thấy giới là nền tảng của giải thoát và giác ngộ, cho nên muốn thân chứng Phật quả cần phải giữ giới, nhưng muốn giữ giới cho có kết quả, cần phải hiểu cách thức giữ giới.

a. CẦN PHẢI HIỂU RÕ NGHĨA CỦA GIỚI

Chúng ta cần phải hiểu rằng:

1. Giới là nguồn gốc: Là nền tảng của giác ngộ, của giải thoát. Không có giới thời không thể nào giác ngộ, không thể nào giải thoát được.

2. Giữ giới chỉ là cử chỉ thiện nguyện: Tùy theo khả năng của mình, có thể giữ nhiều ít, nhưng đã nguyện giữ thời phải triệt để tuân hành.

3. Giới là chính thân Đức Phật chế ra:

Các vị Bồ tát, các vị Tổ sư cũng không có quyền chế giới.

Đức Phật căn cứ nơi tự tánh thanh tịnh của chúng sinh và căn cứ nơi tánh tình căn cơ của chúng sinh mà chế ra.

4. Giới có năng lực giải thoát và giác ngộ rất mạnh: Tự thể của giới đã là một sức mạnh vô song rồi, mà người giữ giới cần phải có đại hùng đại lực mới giữ nổi, và vì vậy một người giữ giới tự thân tiềm tàng những sức mạnh vô hình làm mọi người cảm phục.

5. Cần phải hiểu rõ: Ý nghĩa lễ truyền giới và hành tướng của các giới hành trì.b

b. CẦN PHẢI THÀNH THẬT

Mình phải thành thật với chính mình. Có phạm hay không tự mình biết rõ. Có phạm không được che giấu, cũng không được đổ lỗi, tự bào chữa, tự tha thứ.

c. PHẢI CƯƠNG QUYẾT HÀNH TRÌ

Đã nguyện giữ giới thời phải cương quyết hành trì dầu gặp những trở lực lớn mấy cũng không được phế bỏ. Nếu tự sức không thể giữ được, thi có thể xin làm lễ bớt lại, điều cần thiết là đã nguyện giữ, thời phải cương quyết giữ.

d. PHẢI BIẾT LƯỢNG SỨC MÌNH

Tự mình phải biết lượng sức mình, giữ được giới nào thì nguyện giữ lấy giới ấy, không được nhắm mắt thọ giới một cách mù quáng vô ý thức.

đ. PHẢI BIẾT SÁM HỐI

Khi nào phạm giới, thì nên đứng trước Tam Bảo hoặc vị Bổn sư của mình mà phát lồ sám hối, chớ có ẩn tàng lừa mình, lừa người.

vi. KẾT LUẬN

Chúng ta thấy rõ giới là căn bản của giải thoát và giác ngộ. Những ai đã phát nguyện tiến mạnh trên đường đạo, cần phải hành trì giới luật, và cương quyết giữ năm giới, không vì một trở lực gì mà thoái thất, có vậy chúng ta mới hiểu đúng nghĩa của chữ giới và mới nhận thấy người giữ giới là người cương quyết, nhiều nghị lực nhất, và được thấy mình một ngày một tiến trên đường đạo.

 

 

MƯỜI ĐIỀU THIỆN

i. ĐỊNH NGHĨA

Mười điều thiện là mười việc lành, về thân (thân nghiệp), về lời nói (khẩu nghiệp), về ý nghĩ (ý nghiệp), có tính cách lợi mình lợi người ở hiện tại và tương lai. Mười điều này là căn bản làm người và là nấc thang đầu tiên để tiến đến quả Phật.

ii. HÀNH TƯỚNG MƯỜI ĐIỀU THIỆN

*. THÂN NGHIỆP

Những hành vi tác động về thân có ba:

a/ Không sát sinh: Nghĩa là không cắt đứt mạng sống các loại chúng sinh, từ loài người cho đến các loài sâu kiến nhỏ nhiệm; không tự mình giết hại, không sai người khác giết hại, không thấy kẻ khác giết hại mà sinh lòng vui mừng tán thành. Trái lại, người Phật tử phải tìm các phương tiện để cứu sống chúng sinh thoát khỏi các tai nạn.

b/ Không trộm cắp: Nghĩa là không chiếm đoạt về phần mình những vật thuộc về người khác, từ những vật lớn như ruộng vườn vàng bạc cho đến những thứ nhỏ nhiệm như cây kim ngọn cỏ. Người ta không thuận cho hoặc vắng mặt mà tự tiện lấy dùng, cũng thuộc về trộm cắp. Hoặc dùng sức mạnh cướp đoạt của người, trộm lén lấy của cải người, dùng phương kế xảo trá để lường gạt người cho đến tránh thuế trốn đồ cũng thuộc về tội trộm cắp, trái lại nên đem tư sản của mình để giúp đỡ chúng sinh.

c/ không tà dâm: Nghĩa là không sống trác táng ăn chơi. Trái lại, phải tu hạnh tiết dục thanh tịnh. Hàng tại gia chỉ cấm tà dục, còn người xuất gia thì cấm hẳn, vì tà dục là cội gốc sinh tử luân hồi.

** KHẨU NGHIỆP

Những lời nói phô có bốn cách:

1. Không nói lời dối trá: Nghĩa là không nói sai sự thật như:

- Không thấy nói thấy, thấy nói không thấy.

- Nghe nói không nghe, không nghe nói nghe.

- Biết nói không biết, không biết nói biết.

- Trái nói phải, phải nói trái.

Gặp trường hợp đặc biệt như cứu chúng sinh khỏi tai nạn, hoặc nói chơi thi có thể châm chước không phạm. Ví dụ gặp người thợ săn đuổi tìm con vật, kẻ ấy tới hỏi, có thấy không, người muốn cứu con vật nên không chỉ, không nói. Như vậy không những không phạm mà còn đúng với hạnh từ bi.

2. Không nói lời độc ác: Như chửi rủa mắng nhiếc v.v... trái lại nói lời hòa nhã êm dịu.

3. Không nói lời thêu dệt: Không nói lời trau chuốt cho văn hoa đẹp đẽ, khiến người mê loạn tâm trí, mất hẳn nhân cách. Trái lại cần phải nói lời chân trực.

4. Không nói hai lưỡi: Không nói lời phản gián, đến bên này nói xấu bên kia, đến bên kia nói xấu bên này, khiến bà con bạn bè sinh ác tâm, căm thù ghét lẫn nhau. Trái lại phải nói lời hòa nhã.

*** Ý NGHIỆP

Chỉ cho những tư tưởng ý nghĩ có ba:

1. Không tham lam: Không tham muốn năm món dục lạc ở đời là sạch đẹp, của cải, danh vọng, nghủ nghỉ, ăn uống. Trái lại phải tu hạnh tiết dục và tri túc, sống một  đời sống giản dị, thanh cao.

2. Không sân hận: Đối với nghịch cảnh không sinh lòng giận hờn. Trái lại phải tu hạnh từ bi, hoan hỷ, nhẫn nhục, tìm phương tiện làm chúng sinh được vui vẻ hòa hợp, dù đối với kẻ làm hại mình.

3. Không ngu si: Đối với sự lý, biết phán đoán, không cố chấp sự hiểu biết riêng của mình, không tin những lý thuyết không đúng chân lý, không mê tín dị đoan. Trái lại phải tu hạnh trí huệ để trừ vô minh và bao giờ cũng biết phục thiện.

iii. LỢI ÍCH SỰ TU MƯỜI ĐIỀU THIỆN

Nếu tu 10 điều thiện sẽ được những lợi ích như sau:

1- Thân không bị tật bệnh.

2- Thọ mạng lâu dài.

3- Thường được các hạng phi nhân ủng hộ.

4- Thường không có ác mộng.

5- Tiêu diệt những oán thù ngày trước.

6- Sau khi chết sinh lên Thiên giới hưởng các sự vui.

7- Được mọi người thương mến.

8- Không ai lường gạt.

9- Ở chỗ đông người không sinh lòng sợ hãi.

10- Tâm luôn luôn thanh tịnh.

11- Chồng vợ trinh tiết.

12- Người đời kính phục.

13- Lời nói không bị sai lầm.

14- Tiếng nói trong trẻo.

15- Trí huệ sáng suốt.

16- Bà con sum vầy.

17- Người dữ không hại.

18- Gặp nhiều bạn tốt.

19- Nói ra được nhiều người hưởng ứng.

20- Đầy đủ được các vật quý báu.

21- Muốn điều gì đều được như ý.

22- Ra đời được gặp chánh lý.

23- Không bị người dèm chê.

24- Tướng tốt đẹp.

25- Không bị các tai ương. Nếu đem công đức tu 10 điều thiện hồi hướng về đạo Bồ đề thì được thành tựu Phật quả.

iv. SỨC MẠNH MƯỜI ĐIỀU THIỆN

1. Cải tạo tự thân: Con người về sắc thân tánh tình trí thức đều do nghiệp nhân chi phối. Sự thiệt hành mười điều thiện sẽ hoán cải hoàn toàn tâm tánh, trí thức và sắc thân của mình. Ví như không sát sinh mà lại phóng sinh thời tánh tình sẽ từ bi và trí huệ sẽ sáng suốt.

2. Cải tạo hoàn cảnh: Mười điều thiện này sẽ hoán cải hoàn toàn mọi hoàn cảnh, ví dụ như một người không bao giờ sân hận, lại tu hành nhẫn nhục thì hoàn cảnh sẽ không có một sự oán thù chiến tranh giết hại nào, mà chỉ toàn là thiệt cảnh hoan hỷ, tương thân tương ái.

3. Chánh nhân thiên giới: Nếu thực hành mười điều thiện này thời mới sinh lên các cõi trời an vui đẹp đẽ hơn hẳn cõi người. Như  lên các cõi trời sự phước lợi sẽ rất dầy đủ, được nhe nhạc trời, cơm ăn áo mặc đầy đủ, sống thanh tịnh, sống lâu v.v...

4. Căn bản Phật quả: Mười phương Phật ba đời các vị Hiền Thánh thoát  khỏi sinh tử, chứng quả vô thượng đều lấy mười điều thiện làm căn bản, vì mười điều thiện này có công năng ngăn đón các hành vi độc ác, đối trị các điều không lành và là ba nghiệp thanh tịnh. Khi ba nghiệp được thanh tịnh thời được khỏi sinh tử, chứng quả Niết bàn, và đem mười điều thiện này hồi hướng cho toàn thể chúng sinh, tức thành tựu được Phật quả.

v. KẾT LUẬN

Mười điều thiện này giới thiệu cho chúng ta những việc làm rõ ràng thiết thực, để chúng ta theo đó mà thi hành. Mười điều thiện này nêu rõ chỉ có việc làm mới có giá trị, chứ nói suông không lợi ích gì. Mười điều thiện này lại giúp chúng ta cải thiện  đời sống của chúng ta và của mọi loài, hoán cải tự thân và xã hội trở thành thiện mỹ, và nhất là hướng dẫn chúng ta đến Phật quả rốt ráo hoàn toàn.

Vậy là Phật tử, chúng ta cần phải thiệt hành, cần phải bắt tay vào việc làm và nhất là y theo đúng mười điều thiện này mà hành động. Chỉ có vậy chúng ta mới tỏ là xứng đáng một Phật tử chân chính và mới thấy tất cả sự lợi ích thiết thực của đạo Phật.

 

Nếu vị Bồ tát không trụ tướng bố thí phước đức, sự bố thí ấy không thể lường được.

Kinh KIM CANG.

 

BỐN ÂN

i. LỜI NÓI ĐẦU

Làm người ở đời, được sống, được thành đạt chút gì toàn nhờ công ơn của mọi người, của xã hội, của chúng sinh. Nhất là người Phật tử lại có công ơn của Phật, Pháp, Tăng đã đem lại huệ mạng cho mình. Nên những ai muốn thành tựu nhân cách, muốn nhận rõ ý niệm của  đời sống tương quan, không thể không biết đến bốn ân và những phương cách đền đáp.

ii. HÀNH TƯỚNG BỐN ÂN

Bốn ân: Là ân cha mẹ, ân thầy bạn, ân quốc gia xã hội, ân Tam Bảo.

a. ÂN CHA MẸ:

1. Ân sinh sản: Chín tháng cưu mang, bà mẹ bỏ ăn mất ngủ, thân thể không an. Đến khi sinh sản đau đớn vô cùng khác gì đứt từng khúc ruột, còn cha phải chạy ngược chạy xuôi, lo sắm vật dụng để chu toàn cho mẹ con, và hồi hộp trông mong cho mẹ con được vuông tròn.

2. Ân nuôi nấng: Khi mới sinh, phải nhờ cha mẹ đổ sữa men cơm, bồng ẵm dắt dìu, cha mẹ phải luôn luôn săn sóc, không thể rời xa được một ngày.

3. Ân thuốc thang: Mỗi khi đau ốm thời cha mẹ quên ăn, bỏ ngủ, quanh quẩn bên giường bệnh, và lo săn sóc cơm cháo thuốc thang.

4. Ân dạy bảo: Đến khi khôn lớn, cha mẹ phải chăm sóc dạy bảo, trau giồi đức hạnh để con đủ tư cách làm người, và để tự nuôi nấng ở đời.

b. ÂN THẦY BẠN

1. Mở rộng kiến thức: Vì muốn nâng cao trình độ hiểu biết cho ta, nên thầy phải gia công dạy bảo, không kể hao tổn tinh thần.

2. Khuyến khích: Thầy bạn luôn ở bên cạnh mình để khuyến khích dắt dẫn,trong những lúc bị thất vọng chán nản, trong những trường hợp khó khăn, trong những lúc bị tai nạn bất ngờ.

3. Khai sáng trí thức: Bây giờ biết đọc biết viết, biết nhận xét sự lý, toàn nhờ công ơn của thầy bạn đã luôn luôn dạy bảo dắt dìu.

c. ÂN QUỐC GIA XÃ HỘI

1. Trị an: Nhờ những vị chưởng quản việc nước, lo sửa sang nước nhà, mở mang các công nghệ, dẹp trừ những kẻ tham lam bóc lột, đem lại thái bình thịnh trị cho dân chúng.

2. Giữ gìn biên giới: Nhờ ơn chính phủ lo bảo toàn biên giới, không cho giặc cướp xâm lăng, nên dân chúng mới được an toàn.

3. Cơm áo: Ta có cơm ăn áo mặc, toàn nhờ công ơn của người nông phu, kẻ dệt vải …

4. Thuốc thang: Các lương y hảo dược giúp chúng ta thoát khỏi đau ốm được sống lành mạnh vui vẻ.

5. Súc sinh: Trâu kéo cày, ngựa kéo xe, đều là công ơn thay thế sự mệt nhọc chúng ta.

d. ÂN TAM BẢO

1. Ân Phật Bảo:

- Xả quốc, thành thê tử: Vì muốn cứu độ chúng sinh, nên Đức Phật bỏ tất cả quốc thành, bửu vị, thê tử, quyến thuộc để xuất gia tìm đạo.

- Sáu năm khổ hạnh: Vì muốn chứng chân lý để giải thoát chúng sinh, nên Ngài đã quên đói rét, tu khổ hạnh sáu năm trời, rồi Ngài lại ngồi tham thuyền 49 ngày dưới gốc cây Tát ba la để thành đạo cứu độ chúng sinh.

- Thuyết pháp giáo hóa: Trong 49 năm, Ngài không quản những nỗi gian lao khổ nhọc đi khắp đó đây, để thuyết pháp giáo hóa chúng sinh, tùy theo hoàn cảnh, tùy theo căn cơ mà dạy dỗ, dẫn dắt chúng sinh, để chánh pháp được lưu truyền muôn thuở.

2. Ân Pháp Bảo

- Mở đường giải thoát: Nhờ Pháp Bảo, chúng ta mới biết đường lối tu hành, thoát ly sinh tử, chứng cảnh giới thanh tịnh an vui.

- Giản trạch tà chính: Nhờ Pháp Bảo, chúng ta nhận rõ được sự lý trong vũ trụ, phân biệt được các pháp tà chính.

- Diệt ác hưng thiện: Pháp Bảo có công năng dẹp trừ những ác pháp, bồi đắp, phát triển các thiện pháp.

3. Ân Tăng Bảo

- Duy trì chánh pháp: Các vị xuất gia tu hành, phiên dịch, diễn giảng ba tạng giáo điển, khiến Phật Pháp thường còn không mất.

- Thay Phật thuyết pháp: Sau khi Đức Phật nhập diệt, các vị Tăng già chịu lời phú chúc của Đức Phật, đem đạo mầu giáo hóa khắp nơi.

- Truyền trao giới pháp: Các vị tại gia cư sĩ muốn phát tâm cầu đạo giải thoát, đều nhờ các vị Tăng già truyền trao giới pháp nêu gương tu hành.

iii. PHƯƠNG TIỆN ĐỀN TRẢ BỐN ÂN

a. CÁCH BÁO ÂN CHA MẸ

1. Hiếu hạnh: Cung kính, vâng lời, hết lòng phụng sự cha mẹ.

2. Tôn trọng danh dự: Không làm phiền lòng cha mẹ bằng cách làm mất danh dự của gia tộc, mất tư cách con người.

3. Hiển danh cha mẹ: Tự mình tài đức hơn người thì cha mẹ được thơm lây, lưu tiếng nghìn thu.

4. Khuyến hóa: Khuyến khích cha mẹ cải tà quy chánh, quy y Tam Bảo, thật hành Phật Pháp. Như gương của Ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ ra khỏi ngạ qủy, như Đức Phật Thích Ca sau khi thành Phật lên cõi trời Đao Lợi giáo hóa cho mẫu hậu và về thành Ca Tỳ La Vệ giáo hóa cho Phụ vương.

b. CÁCH BÁO ÂN THẦY BẠN

1. Siêng năng học tập: Để khỏi phụ lòng dạy dỗ dắt dẫn của thầy bạn.

2. Cung kính lễ độ: Hết lòng cung kính thầy, thương mến chân thành với bạn.

3. Thiệt hành: Sống đúng theo lời thầy bạn khuyên nhủ.

4. Khuyến hóa: Khuyến hóa thầy bạn sống đúng theo lời Phật dạy.

c. CÁCH BÁO ÂN QUỐC GIA XÃ HỘI

1. Tròn bổn phận: Sống đúng theo quốc chế, biết đoàn kết, biết làm tròn hết bổn phận của mình.

2. Phát triển văn hóa: Làm cho nền văn hóa nước nhà được dồi dào, nâng cao trình độ của dân chúng, phát huy, đạo đức đưa dân chúng chúng đến con đường thiện mỹ.

3. Kinh doanh sự nghiệp: Kinh doanh buôn bán để nâng cao đời sống xã hội.

d. CÁCH BÁO ÂN PHẬT PHÁP TĂNG

1. Học và hành lời Phật dạy: Nghiên cứu học tập kinh điển Phật dạy, tập sống đúng theo như lời Đức Phật dạy.

2. Hộ trì Phật Pháp: Tổ chức các cơ quan Phật giáo thành tâm ủng hộ Phật Pháp và làm các Phật sự.

3. Cung kính cúng dường các vị tu hành giới đức thanh tịnh.

iv. KẾT LUẬN

Không luận người sang kẻ hèn, đã sống ở đời tức phải biết bốn ân và tìm tất cả phương tiện để trả. Riêng đối với người Phật tử, được nhận rõ công ơn của chúng sinh, của Phật Pháp Tăng nên cần phải luôn luôn cố gắng đền đáp bốn ân, và muốn vậy, người Phật tử phải nhận rõ rằng, chỉ có sống đúng theo lời Phật dạy, và khuyến hóa mọi người, mọi  loài đều sống theo lời Phật dạy, là cách đền ơn trả nghĩa quý hóa thiết thực nhất, và đúng với bản nguyện của chư Phật và các vị Bồ tát.

 

BỐN NHIẾP PHÁP

i. LỜI NÓI ĐẦU

Đức Phật ra đời với một ý niệm lợi sinh. Cho nên trong tất cả phương tiện giáo hóa khuyến tu của Ngài, không một pháp môn nào ra ngoài mục đích ấy.

Phật tử cũng vậy, học Phật không những riêng giác ngộ cho mình, còn giác ngộ cùng khắp tất cả, nghĩa là phải lợi sinh.

Song muốn thực hiện tinh thần lợi sinh của Đức Phật, Phật tử cần phải học hành bốn nhiếp pháp. Bốn nhiếp pháp là những phương tiện giản dị, căn cứ vào lòng từ bi để khuyến hóa chúng sinh bỏ tà theo chính.

ii. ĐỊNH NGHĨA

Bốn nhiếp pháp là bốn  phương pháp nhiếp hóa chúng sinh, nghĩa là bốn phương tiện này ứng dụng trong mọi trường hợp và hoàn cảnh, có công năng nhiếp phục và giác ngộ chúng sinh.

iii. HÀNH TƯỚNG BỐN NHIẾP PHÁP

Bốn nhiếp pháp là: Bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự.

1. Bố thí nhiếp: Nhiếp hóa bằng cách bố thí. Bố thí có ba phương diện:

* Tài thí: Cũng gọi là Tư sinh thí. Nghĩa đem của cải giúp đỡ  đời sống thiết thực cho chúng sinh. Tài có hai:

- Ngoại tài: Của cải ngoài tự thân như: Bố thí tiền bạc, ác cơm, nhà cửa, thuốc thang v.v...

- Nội tài: Của cải ngay trên thân như bố thí thân mạng, bố thí sức lực, bố thí lời nói, bố thí tư tưởng ý kiến v.v...

** Pháp thí: Đem giáo pháp chân chính bố thí. Pháp có:

Cúng dường chánh pháp: Thiệt hành, kính lễ, tụng đọc Phật Pháp, để hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh.

*** Vô úy thí: Bố thí vô úy nghĩa là dùng tất cả phương tiện bố thí để chúng sinh an tâm trước mọi sự nguy hiểm và biến cố. Vô úy thí có bốn:

- Gặp khi đói kém: Ta đem của cải áo cơm bố thí.

- Không làm ác gây hại chúng sinh: Không bao giờ làm các điều ác não hại chúng sinh, khiến chúng sinh, nghe tên thấy hình được khỏi các điều sợ hãi. Làm việc thiện mà lo sợ không thành, ta hãy bố thí bằng sức lực, ý kiến hay của cải để tán trợ cho thành tựu.

- Gặp tai nạn khủng khiếp ta hãy tìm phương giải cứu.

- Sợ khổ sinh tử luân hồi ta phải giáo hóa khuyến tu để cầu giải thoát.

2. Ái ngữ nhiếp: Dùng lới nói từ hòa thân mật và thành thật để nhiếp hóa. Ái ngữ có ba:

* Lời nói sáng suốt rõ ràng hợp chánh lý để cảm hóa hướng dẫn người.

** Lời nói hòa nhã, hiền dịu để cảm hóa khuyến khích và an ủi.

*** Lời nói thành thật ngay thẳng không xảo quyệt, để cảm hóa tăng trưởng lòng tin kính Phật, Pháp, Tăng.

3. Lợi hành nhiếp: Nhiếp hóa bằng tất cả hành động có lợi ích. Lợi hành có hai:

* Lợi hành trong công việc: Thật hành hạnh tài thí để tư trợ  đời sống vật chất cho mọi người, thật hành hạnh pháp thí để giáo hóa mọi người và thật hành hạnh vô úy thí để dung hòa những tư tưởng khiếp nhược cho chúng sinh.

** Lợi hành trong sự tấn tu: Giữ giới thanh tịnh siêng tu thuyền quán, diệt trừ tham dục và đào thải si mê v.v...

Lợi hành trong công việc là đem lại lợi ích trực tiếp cho chúng sinh, nhưng lợi hành trong sự tấn tu mới tích cực lợi ích chúng sinh một cách sâu rộng, nhiếp hóa chúng sinh một cách tự tại.

4. Đồng sự nhiếp: Cùng sống với chúng sinh trong một công việc và dung hòa trong mọi hoàn cảnh, tư tưởng địa vị để cảm hóa và nhiếp phục. Đồng sự có bốn:

* Cùng sống trong một công việc như: Học tập, chức vụ, thương mại v.v...

** Cùng sống trong một hoàn cảnh như: Giàu, nghèo, sang, hèn v.v...

*** Cùng sống trong một địa vị như: Chức tước, quyền vị v.v...

**** Cùng sống một tư tưởng khác như: Thượng tầng tư tưởng, trung tầng tư tưởng và hạ đẳng tư tưởng để cảm hóa và nhiếp phục.

iv. LỢI ÍCH CỦA BỐN NHIẾP PHÁP

Ngoài công năng hấp dẫn và nhiếp hóa, bốn nhiếp pháp còn có công năng đem lại thật lợi hoàn toàn cho chúng sinh:

1. Bố thí: Chúng sinh sẽ được ba món giải thoát:

- Giải thoát cảnh khổ bần cùng.

- Giải thoát tội chướng vô minh trong đời nay và nhiều đời.

- Giải thoát mọi nỗi lo sợ.

2. Ái ngữ: Chúng sinh sẽ được ba món tự tại:

- Tất cả giáo điển vi diệu sẽ được tự tại thấu nhập.

- Tất cả phiền não sầu khổ sẽ được tự tại an vui.

- Tất cả công đức thù thắng sẽ được tự tại tăng trưởng.

3. Lợi hành: Chúng sinh sẽ được hai món tăng tiến:

- Tăng tiến phước thiện trong tất cả hành vi.

- Tăng tiến đức độ trong tất cả ý niệm.

4. Đồng sự: Chúng sinh sẽ được hai món thành tựu:

- Cải thiện tất cả hạnh nghiệp bất chính để hoàn toàn thành tựu  hạnh nghiệp chân chính.

- Cải thiện tất cả ý niệm và tập quán bất chính để hoàn toàn thành tựu ý niệm tập quán thiện mỹ.

v. KẾT LUẬN

Bốn nhiếp pháp là một pháp môn rất cụ thể để “lợi sinh”. Căn cứ vào lòng từ bi vô lượng của Đức Phật, thì lợi sinh và hạnh chính trong tất cả hạnh của Đức Phật  là mục đích tối cao và duy nhất của Đức Phật ra đời, vì thế Bốn nhiếp pháp có một giá trị đẹp đẽ và tiêu biểu ý chí cao rộng của Đức Phật, cũng như có một giá trị siêu việt trong tất cả các phương pháp lợi sinh của Phật đà.

 

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA BẬC ĐẠI NHÂN

i. ĐỊNH NGHĨA ĐỀ KINH

a/ Kinh: Nói cho đủ là khế kinh có hai nghĩa:

Khế lý: hợp với chân lý, lẽ phải, không trái sự thật; khế cơ: Hợp trình độ căn cơ của mọi loài chúng sinh.

b/ Bát đại nhân giác: Là tám điều giác ngộ của bậc đại nhân.

1. Đại nhân: Chỉ cho các Đức Phật, các vị Bồ tát là những bậc tối thắng trong tất cả các hàng chúng sinh, tài trí đức hạnh đều siêu việt tất cả (1).

2. Giác: Hiểu đúng chân lý, giác là đối với mê. Chúng sinh mê tâm, chấp vạn hữu là thật có. Nhị thừa diệt trừ ngã chấp, nhưng chủng tử pháp chấp vẫn còn; hàng Đại thừa Bồ tát, ngã, pháp chấp đều đoạn, nhưng vi tế trần sa hoặc, vô minh hoặc vẫn còn. Đức Phật là bậc hoàn toàn giác ngộ, trí chiếu cùng khắp, nên gọi Ngài Giác giả.

ii. TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ

1. Điều giác ngộ thứ nhất: Hiểu vạn pháp trong thời gian là vô thường biến đổi. Thân năm ấm cho đến vọng tâm phân biệt đều là nguồn gốc của mọi sự thống khổ sinh tử. Người tu hành hiểu biết và quán sát như thế, thì sẽ khỏi phải sinh tử luân hồi.

2. Điều giác ngộ thứ hai: Hiểu mọi sự khổ não của đời, bất cứ hiện tại hay tương lai là do lòng tham dục ích kỷ, vậy nên muốn được tự tại an vui, người tu hành phải đoạn trừ tham dục.

3. Điều giác ngộ thứ ba: Hiều rằng nguồn gốc của tội ác chính là do lòng tham không nhàm chán. Người Phật tử có ánh sáng của trí huệ soi chiếu nên nguyện trừ tham dục, tu hành tri túc và kiên chí giữ đạo thanh bạch.

4. Điều giác ngộ thứ tư: Hiểu sụ lười biếng trễ nhác là cội gốc của mọi sự thiệt hại, thất bại. Chí nguyện hành của Phật tử là thoát ly sinh tử, xa lìa huyễn chất, vậy nên phải nguyện một mực tinh tấn tu hành và phá trừ các giặc phiền não oán thù.

5. Điều giác ngộ thứ năm: Hiểu sự ngu si là cội gốc của đường sinh tử, là căn bản của sầu khổ đọa đày, vậy nên người Phật tử tu hành quán huệ, học rộng nhr nhiều, để phát triển trí tuệ. Trí huệ có minh mẫn, sự giáo hóa mới tự tại và mới có nhiều kết quả tốt đẹp cho mình cũng như cho người. Trí huệ là tư lương của giải thoát Niết bàn.

6. Điều giác ngộ thứ sáu: Hiểu tham lam là căn nguyên của mọi sự đau khổ, oán hận, gian tà. Muốn tận trừ nguồn gốc của tham lam người Phật tử thật hành hạnh bố thí. Muốn bố thí được bình đẳng, tất nhiên phải xa lìa niệm tưởng oán thù cửu thù. Thương yêu mọi loài, không phân biệt người thân kẻ sơ.

7. Điều giác ngộ thứ bảy: Giải thoát tất cả sự ràng buộc của thế gian. Tuy lăn lộn trong cõi đời, mà không bị đời nhiễm trước, trái lại bao giờ cũng tu hành tịnh, hạnh, nguyện, giữ chí xuất gia, duy trì pháp chủng, lợi lạc hữu tình.

8. Điều giác ngộ thứ tám: Quán sát mọi sự thống não đau khổ của chúng sinh để phát lòng Bồ đề, nguyện cứu muôn loài ra khỏi cảnh đau khổ bằng cách lăn mình vào đau khổ để thay thế hay ban ân cho chúng sinh. Người Phật tử quán chúng sinh đồng chung một bản thể cho nên người Phật tử nguyện đem lại hạnh phúc cho mọi loài.

iii. KẾT LUẬN

Tám điều giác ngộ trên là tám điều giác ngộ của chư Phật và các vị bố thí. Do tám phương tiện trên tác động; nên sau khi công hạnh tu hành đã viên mãn, nghĩa là đã chứng được Niết bàn, các Đức Phật, các vị Bồ tát còn trở lại thế giới Ta ba đau khổ để hóa độ chúng sinh. Tám phương pháp giác ngộ này ngoài năng lực đem lại sự bình tĩnh an lạc cho tâm hồn ở đời hiện tại còn là phương tiện cắt đứt sợi dây ràng buộc chúng sinh vào cảnh sinh tử đau khổ, để chứng quả Niết bàn an tịnh. Một khi căn nguyên của sinh tử là tham lam, ái dục, ích kỷ, ngu si đã đoạn, trí huệ phát triển, lòng thương rộng mở; chánh đạo hiện tiền, Phật đạo không còn xa nữa.

Vậy nên người Phật tử muốn hưởng hạnh phúc chân chính, muốn khỏi bị dục vọng điều khiển, thì phải tu hạnh quán huệ. Quán huệ chiếu liễu, thì vô minh hoại diệt, vô minh hoại diệt thì chánh giác hiện tiền và đây mới thiệt là nguồn gốc của mọi an lạc, giải thoát, Niết bàn. Vây nên người Phật tử hàng ngày nên thật hành quán sát tám phương tiện giác ngộ trên này.

 

AN CƯ KIẾT HẠ

i. LỜI NÓI ĐẦU

An cư kiết hạ là pháp tu hành của các vị xuất gia trong tháng Hạ. Trong ba tháng ấy, Tăng chúng tập họp trong một ngôi chùa, trong một tòng lâm hay ở một chỗ thanh vắng để chuyên tu chuyên học, không làm một việc gì ngoài sự tu học để tinh tấn đạo nghiệp.

ii. NGUYÊN NHÂN CỦA PHÁP AN CƯ KIẾT HẠ

1. Ở Ấn Độ một năm chỉ có ba mùa: Xuân, Hạ và Đông. Mùa Hạ là mùa mưa nhiều nhất. Để tránh mưa gió nạn lụt cho các nhà truyền giáo. Đức Phật chế phép an cư kiết hạ trong ba tháng ấy.

2. Mùa hạ vì hay mưa gió nên cũng là mùa sinh sản các loài sâu bọ, vì thế muốn các nhà truyền giá khỏi phải dẫm đạp tàn hại các loài vi sinh trái hạnh từ bi, nên trong ba tháng ấy, các vị xuất gia tu không đi ra ngoài.

3. Người xuất gia là phải tu hành, nhưng muốn tu hành căp tìm chỗ an tịnh, chuyên tu thuyền quán mới mong có kết quả. Trong một năm phải để 9 tháng truyền bá chánh pháp rồi còn ba tháng phải hoàn toàn thiên trọng sự tu hành, tấn tu đạo nghiệp, không làm một việc vì ngoài sự tu học.

4. An cư kiết hạ còn có ý nghĩa là tụ hợp Tăng chúng ở chỗ thanh tịnh để cùng nhau sách tấn tu hành, kiểm điểm hành vi cử chỉ, y theo luật Phật mà hành trì.

5. An cư kiết hạ gồm cả tự lợi và lợi thành. Tự lợi: là Tăng chúng xuất gia được an tịnh tu hành, học hỏi, tăng trưởng trí đức; Lợi tha: là khỏi phải giết hại các loài sinh vật, tự tu hành có kết quả, thời mọi loài đều được lợi ích.

iii. Ý NGHĨA VÀ LỢI ÍCH CỦA AN CƯ KIẾT HẠ

1. Tôn trọng sự sống: Sự sống chỉ có một nên không thể xâm phạm sự sống, dù là sự sống của loài vi sinh. Đức Phật khuyến khích Tăng chúng an cư là muốn Tăng chúng không dẫm đạp giết hại các loài vi sinh sinh trưởng rất nhiều trong ba tháng mùa mưa ở Ấn Độ, tức là giúp Tăng chúng triệt để tôn trọng sự sống.

2. Thương tưởng đồ chúng: Vì thương tưởng đồ chúng, nên Đức Phật không muốn Tăng chúng phải dầm mưa gió trong ba tháng mưa, lại cũng vì thương tưởng đồ chúng nên Đức Phật chú trọng tăng trưởng phước đức trí huệ cho đồ chúng bằng cách bắt buộc Tăng chúng mỗi năm phải thanh tịnh tu hành trong ba tháng, có vậy sự học hành mới tăng tấn.

3. Chú trọng thật hành duy trì giới luật: Chỉ có sự thực hành mới thiết thực hiểu đạo và chứng đạo. Ba tháng an cư kiết hạ là ba tháng Tăng chúng triệt để tuân những cử chỉ oai nghi của một vị xuất gia đúng lời Phật dạy.

iv. AN CƯ KIẾT HẠ LÀ DỊP THỌ TUỔI CỦA CHÚNG TĂNG

Ở đời lấy năm sinh kà kể tuổi. Người xuất gia trong đạo Phật lấy số kiết hạ làm tuổi. Một người chưa kiết hạ là xem như chưa sinh ra, chưa có tuổi nào. Người kiết hạ hai lần thời được hai tuổi, và ngày Rằm tháng 7, ngày Tự Tứ là ngày thọ tuổi của người xuất gia. Người nào hạ lạp cao là được tôn trọng, được ngôi thứ cao trong Tăng chúng, được làm Pháp sư; được nuôi dạy đồ chúng, được truyền giao giới pháp.

v. KẾT LUẬN

Đức Phật dạy rằng bổn phận của người xuất gia là phải an cư kiết hạ mỗi năm một lần, cho đến 60 tuổi cũng vẫn phải kiết hạ an cư. Lời dạy này nêu rõ Đức Phật rất chú trọng đến sự thanh tịnh tu hành, sự hành trì giới luật oai nghi một cách rốt ráo.

 

LỊCH SỬ ĐẠO PHẬT Ở VIỆT NAM TỪ

THỜI ĐẠI DU NHẬP ĐẾN ĐỜI NHÀ LÝ

i. THỜI ĐẠI PHẬT GIÁO DU NHẬP

a. CON ĐƯỜNG TRUYỀN GIÁO CỦA ĐẠO PHẬT Ở ẤN ĐỘ

Phật Giáo khởi điểm từ Ấn Độ rồi truyền rộng ra các nưóc lân cận, do hai đường thủy và bộ: Về đường bộ thì qua miền Trung Á Tế Á như Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa rồi từ Trung Hoa truyền qua các nước Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Về đường thủy thì qua đảo Sri Lanca, Malaixia, Indonesia, Đông Dương và Trung Hoa.

b. ĐỊA THẾ NƯỚC VIỆT NAM

Cương vực nước Việt Nam hết bảy phần mười cõi Đông Dương, người thường gọi chung là Ấn Độ Chi Na, Ấn Độ Chi Na là một bán đảo ở giữa biển Trung Hoa và vịnh Bangale, cấu thành bởi mấy dãy núi, từ Tây Tạng chạy về miền Đông Nam đến biển thì xòa ra như hình rẽ quạt. Giữa những dãy núi ấy là những thung lũng, đầu thì hẹp rồi dần dần tỏa ta thành cao nguyên và bình nguyên. Những con sông lớn như Ménam, sông Khung hay sông Cửu Long và sông Hồng đều phát nguyên từ Tây Tạng chạy theo các thung lũng ấy, rồi bồi thành một dãy Trung Châu ở dọc bờ biển từ Bắc đến Nam quanh co như hình chữ S.

Cứ xét theo hình thể ấy, thì nước Việt Nam ta nằm giữa hai nước Ấn Độ nên đồng thời hấp thụ ảnh hưởng văn minh của cả hai nước láng giềng ấy, như vì sao ngày nay riêng nước Việt Nam lại chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, còn Lào và Campuchia lại hoàn toàn chịu ảnh hưởng Ấn Độ? Chính vì do hai nguyên nhân sau đây:

1. Về phương diện địa dư: Việt Nam kế cận với Trung Hoa, giữa hai nước ấy không có những trở ngại về địa thế; trái lại, đối với Ấn Độ, nước Việt Nam bị gián cách nhiều nước khác và đối với Lào, Campuchia, bị gián các cách bởi dãy núi Trường Sơn.

2. Về phương diện lịch sử: Nước Việt Nam thời bấy giờ do người Trung Hoa cai trị; trái lại, Lào, Campuchia chỉ trực tiếp chịu ảnh hưởng thừa truyền của Thái Lan mà Thái Lan lại là một nước hoàn toàn hấp thụ ảnh hưởng của Ấn Độ. Vả lại dân hai xứ Lào, Campuchia tuy chịu ảnh hưởng Ấn Độ nhiều hơn, nhưng vì dân hai xứ ấy không đủ khả năng truyền bá và khai hóa; trái lại, người Trung Hoa rất có khả năng thành thử hiện nay nước Việt Nam chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa nhiều hơn.

c. THỜI ĐẠI DU NHẬP

Thông thường người ta chỉ biết đạo Phật Việt Nam có từ đời Đinh, nhưng xét ra đời Đinh, Phật Giáo đã được nhận làm quốc giáo và triều chính một phần lớn do các Tăng sĩ đảm đương. Như thế Phật Giáo đến đời Đình hẳn đã được thịnh đạt lắm rồi.

Dưới đây là những sử liệu về thời đại Phật du nhập Việt Nam:

1. Những thiên truyện ký của các Tăng sĩ Việt Nam viết từ thế kỷ XIII và XIV có chép: “Chính đời nhà Hán thế kỷ thứ 2, thứ 3 đã có các đạo sĩ ở Bắc như Ngài Ma Ha Kỳ Vực (Marijivakạ), Khương Tăng Hội (K’ang Seng Houei) và Mâu Bác (Méou Pô), Ngài thì do đường thủy, Ngài thì do đường bộ, lần lượt đến truyền giáo ở Việt Nam.

2. Truyện Đàm Thuyền Pháp Sư có chép: Vua Cao Tổ nhà Tùy ngỏ ý cùng Pháp sư muốn dựng chùa xây tháp khắp đất Giao Châu (Quốc hiệu nước Việt Nam đời Bắc thuộc) để truyền bá đạo Phật, nhưng Pháp sư trả lời: “Cõi Giao Châu có đường thông sang Thiên Trúc gần hơn ta. Khi Phật Giáo chưa du nhập vào Giang Đông này (Phật Giáo tuy truyền vào Trung Quốc từ năm 67 sau Công nguyên, nhưng lâu về sau  mới phổ cập tới Giang Đông) mà cõi ấy đã xây được hơn 20 ngọn bảo tháp độ hơn 500 Tăng sĩ, dịch được hơn 15 bộ kinh rồi. Bây giờ có vị Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương và Mâu Bác đến truyền đạo … Nay Ngài muốn bố thí một cách bình đẳng, phái chư Tăng sang truyền đạo, nhưng họ đã có đủ rồi, ta không cần phải sang nữa”.

3. Sách Pháp vụ thực lục có chép: Vào hồi thế kỷ thứ III có một ông tên là Kaudra gốc ở Ấn Độ, dòng Brahmanes qua Giao Châu một lần với Ngài Ma Ha Kỳ Vực để truyền đạo.

Những sử liệu trên cho chúng ta rõ: đạo Phật Việt Nam không phải có từ đời nhà Đinh mà đã có từ đời Hán bên Trung Hoa (cuối thế kỷ thứ 2 và đầu thế kỷ thứ 3) và những vị đến truyền giáo đầu tiên ở nước Việt Nam ta là Ngài Ma Ha Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương và Mâu Bác. Trong số bốn Ngài chỉ có Ngài Mâu Bác là người Trung Hoa, còn ba Ngài kia đều là người Ấn Độ. Ngài Mâu Bác là người truyền Phật Giáo đầu tiên ở đất Giao Châu vào năm 189 sau Công nguyên. Vậy ta có thể kết luận rằng: Phật Giáo du nhập ở nước Việt Nam vào khoảng cuối thế kỷ thứ 2 vậy.

d. CÁC MÔN PHÁI ĐƯỢC DU NHẬP

Xét Phật Giáo ở Việt Nam sai thời đại du nhập, phần nhiều chịu ảnh hưởng Phật Giáo Trung Hoa nên bao nhiêu kinh điển tôn phái đều do Trung Hoa truyền đến. Những tôn phái được sùng chuộng hơn hết cả lúc bấy giờ là Thuyền Tôn (Tôn tu thuyền trực chỉ) tôn này lại được truyền vào Việt Nam trước hết, do Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) truyèn đến (580) và chính Ngài là Sư Tổ nước Việt Nam. Sau lại có Ngài Pháp Hiền Thuyền sư được kế truyền và thành lập một phái.

Đến đời Đường (820) lại có Ngài Vô Ngôn Thông ở Trung Quốc sang truyền giáo, lập thành phái Thuyền Tôn thứ hai, rồi kế đó phái Thảo Đường, Tào Động, Lâm Tế v.v... lần lượt truyền đến Việt Nam. Xem thế, trước sau chỉ có phái Thuyền Tôn là gây ảnh hưởng mạnh hơn cả.

ii. PHẬT GIÁO QUA CÁC TRIỀU ĐẠI

a. PHẬT GIÁO ĐỜI HẬU LÝ NAM ĐẾ (571-602) VÀ ĐỜI BẮC THUỘC THỨ BA (603-939)

Từ khi Phật Giáo truyền vào Việt Nam cho đến Tiền Lý Nam Đế kể ra trên 300 năm (189 đến 544-548) nhưng vẫn còn nằm trong thời kỳ phôi thai chưa có gì đáng gọi là thịnh hành lắm. Đến đời Hậu Lý Nam Đế (571 đến 602) và Bắc thuộc lần thứ ba (603 đến 939) Phật Giáo mới bắt đầu bước vào thời thịnh đạt, vì lúc bấy giờ có Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi ở Trung Hoa sang (580) đem Thuyền Tôn truyền bá và được người Việt Nam hết sức sùng mộ. Do đó, ảnh hưởng Phật Giáo được lan truyền rất mạnh ở nước Việt Nam lúc bấy giờ. Điều đáng chú ý hơn hết là ba đoàn truyền giáo ở nước Việt Nam trong đó hai đoàn trước hầu hết là người Trung Hoa, nhưng đoàn thứ ba lại hoàn toàn là sáu vị Pháp sư người Việt. Bốn Ngài ở Giao Châu: Vân Ký Thuyền sư, Mộc Xoa Đề Bà, Khuy Sung Pháp sư, Huệ Diệm Pháp sư và hai người Ái Châu: Trí Hạnh Thuyền sư, Đại Thặng Đăng Thuyền sư.

b. PHẬT GIÁO ĐỜI ĐINH (968 đến 980) VÀ ĐỜI TIỀN LÊ (980-1009)

Đến đời Đinh, Phật Giáo có thể là độc tôn, tất cả văn hóa, triều chính trong nước phần lớn đều thuộc hạng Tăng sĩ, cho nên đạo Phật được phổ cập dễ dàng trong quần chúng, mặc dầu Nho Giáo và Lão Giáo đã truyền vào từ lâu. Về triều chính thì có Ngài Ngô Chân Lưu làm đến chức Khuông Việt Thái sư, ngoài ra còn có Ngài Trương Ma Ni làm Tăng lục Đạo sĩ và Pháp sư Đặng Huyền Quang làm Sùng Châu uy nghi.

Đến khi nhà Đinh mất, nhà Tiền Lê (Lê Đại Hành) lên kế vị, chống lại quân nhà Tống (980). Trong giai đoạn này, các Tăng sĩ lại được biệt đãi hơn vì chính vua Đại Hành vẫn thường triệu thỉnh các Tăng thống vào triều để hỏi việc nước và việc truyền bá Phật Giáo.

Điều đáng chú ý hơn cả là trong khi nước ta đã hòa với nước Tống, vua Đại Hành liền cho sứ thần qua thỉnh kinh “Đại Tạng” và “Cửu kinh” để đem về truyền bá. Đấy là lần cầu kinh thứ nhất ở Việt Nam.

c. PHẬT GIÁO ĐỜI NHÀ LÝ (1010 đến 1225)

1.Lý Thái Tổ (1010 đến 1028)

Tên húy là Lý Uẩn con nuôi của sư Lý Khánh Vân ở chùa Cổ Pháp thọ giới với Ngài Vạn Hạnh Thuyền sư. Sau khi vua Lê Ngoạ Triều mất, Ngài lên kế vị lấy hiệu Thuận Thiên, đóng đô ở thành Thăng Long (Hà Nội). Lý Thái Tổ là một Phật tử thuần thành nên sau khi lên ngôi, Ngài hết sức chú trọng đến sự truyền bá Phật Giáo. Ngài đã dựng rất nhiều ngôi chùa và độ rất nhiều Tăng chúng. Đáng chú trọng hơn cả là đến năm thứ 9 (1019) Ngài sai sứ thần qua Trung Quốc thỉnh kinh đem về cất tại kinh viện Đại Hưng.

Triều đại này có thể nói rằng một triều đại hết sức thái bình, nói đến Phật Giáo thì xưa nay chưa bao giờ thịnh đạt như thế. Vả lại các vị Thuyền sư, lúc bấy giờ như  Ngài Vạn Hạnh Thuyền sư. Đa Bảo Thuyền sư, Sùng Phạm Thuyền sư là những bậc danh Tăng mà nhà vua rất tín trọng. Cho nên truyền giáo của các Ngài rất dễ dàng mau chóng. Những vị danh Tăng này đều ở trong hai phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Vô Ngôn Thông.

2. Lý Thái Tôn (1028-10540)

Lý Thái Tôn nối ngôi Thái Tổ lấy niên hiệu là Thiên Thành, Ngài cũng là người rất sùng mộ đạo Phật. Sau khi đánh dẹp giặc Chiêm ở đất Hoan Châu (Nghệ An) về, Thái Tôn sắc lập 95 ngôi chùa cử lễ khánh thành hạ chiếu miễn thuế cho dân trong nước một năm. Đến năm 1034 Thái Tôn đổi niên hiệu là Thông Thụy;  lúc bấy giờ nước Việt Nam được nhà Tống ban Đại Tạng Kinh và tự sai sứ đưa qua cho ta; thật là một ảnh hưởng khả quan cho Phật Giáo nước nhà, mà cũng là một vinh dự tốt đẹp của triều đình Việt Nam lúc bấy giờ.

Lại trong khoảng 1034-1038, vua thường đến hỏi đạo với Ngài Thuyền Lão Thuyền sư và tự xưng làm đệ tử. Sau vua được Ngài Thuyền Lão truyền tâm pháp tức là người thứ bảy, trong đời truyền thống thứ bảy của phái Vô Ngôn Thông.

Lúc bấy giờ có các vị Cao Tăng như Ngài Huệ Sinh Thuyền sư, Định Hương Trưởng lão, Thuyền Lão Thuyền sư là những bậc danh đức tu hành và có công truyền bá đạo Phật nhất trong triều đại Lý Thái Tôn này.

3. Lý Thánh Tôn (1054-1072)

Thánh Tôn nối ngôi Thái Tôn, đổi quốc hiệu là Đại Việt và lấy niên hiệu là Long Thụy Thái Bình. Ngài là một ông vua rất sùng mộ đạo Phật. Năm Long Thụy thứ 5 (1059) Ngài dựng chùa chùa xây tháp và đúc một quả chuông nặng 12.000 cân đồng. Tại làng Bảo Thiên thuộc tỉnh Hà Nội, quả chuông ấy hiện nay vẫn còn.

Đến năm Kỷ Dậu (1069) phái Thảo Đường lại xuất hiện ở Việt Nam, do Ngài Thảo Đường đệ tử Ngài Tuyết Đậu Minh Giác bên Trung Quốc truyền sang.

Kế đó Lý Thánh Tôn thọ giáo với Ngài. Sau được truyền tâm pháp làm đệ tử đầu tiên của phái Thảo Đường. Phái Thảo Đường tức là phái Thuyền tôn thứ ba ở nước ta vậy.

Lý Thánh Tôn là một tu sĩ Phật Giáo, lại được đắc truyền tâm pháp. Như vậy cũng thấy rõ ảnh hưởng lớn lao của Phật Giáo đối với dân chúng Việt Nam lúc bấy giờ.

4. Lý Nhân Tôn (1072 đến 1127)

Lý Nhân Tôn nối ngôi Lý Thánh Tôn lên làm vua, mặc dầu nhà vua tuổi còn nhỏ nhưng rất thông minh anh dũng. Ngài lại rất hâm mộ Phật Giáo. Cho nên ngoài công việc triều chính ra, Ngài còn luôn luôn lo truyền bá Phật Giáo. Vả lại lúc bấy giờ có nhiều vị danh Tăng lỗi lạc như Ngài Viên Chiếu Thuyền sư soạn quyển “Dược Sư Thập Nhị Nguyện Văn, Tán Thiện Giác Kinh v.v...)

Còn Ngài Ngộ Ấn Thuyền sư thì chuyên môn diễn giảng, do đó Phật Giáo rất được quần chúng hướng mộ và ảnh hưởng lan rộng khắp nơi.

5. Lý Thần Tôn (1128 đến 1138), Lý Anh Tôn (1138 đến 1175), Lý Cao Tôn (1176 đến 1210) và Lý Huệ Tôn (1211 đến 1225)

Trong bốn triều đại này, Phật Giáo vẫn được thịnh đạt, nhưng không có gì xuất sắc lắm. Có các vị cao Tăng như Ngài Minh Không Thuyền sư và Thông Biện Thuyền sư, thuộc đời Lý Thần Tôn, Ngài Bảo Giám Thuyền sư và Ngài Viên Thông Thuyền sư thuộc đời Lý Anh Tôn. Ngài Trương Tam Tạng Thuyền sư thuộc về đời Lý Cao Tôn. Qua đời Lý Huệ Tôn thì vận nước suy đồi, triều đình dấy loạn, dân sự không an. Nhà vua do đó sinh lòng chán nản. Nên vào năm Kiến Gia thứ mười bốn (1224) Ngài truyền ngôi cho con gái là Công chúa Phật Kim, tức Lý Chiêu Hoàng, rồi xuất gia tu ở chùa Chân Giáo tự xưng là Huệ Quang Đại sư.

Tóm lại, Phật Giáo được thịnh hành nhất ở Việt Nam chính đời nhà Lý, vì trong 215 năm trời, trải qua 8 đời truyền kế, vua nhà cũng sùng tín đạo Phật. Lại được rất nhiều vị danh Tăng ra đời tận tậm vì Phật sự, cho nên ảnh hưởng của đạo Phật trong nhân gian được lan rộng và lợi lạc rất nhiều.

 

NHỮNG MẨU CHUYỆN ĐẠO

i. NHỮNG NGƯỜI MÙ SỜ VOI

Có một ông vua bảo vị Đại thần rằng: “Khanh đem một con voi rồi để cho các người mù tới rờ xem thử thế nào”. Vị đại thần vâng lời tập hợp các người mù lại, đem voi ra, biểu người mù lấy tay rờ; mỗi người rờ một bộ phận của con voi. Vua bèn kêu các người mù mà hỏi rằng: “Con voi như thế nào?”. Người mù rờ tai nói con voi như cái quạt, người rờ đầu nói con voi như hòn đá, người rờ vòi nói con voi như cái gậy, người rờ chân nói con voi như cổ chày, người rờ lưng nói con voi như cái giường, người rờ bụng nói con voi như cái ghè, người rờ đuôi nói con như cái chổi.

Này thiện nam tử! Như các người mù kia không nói trúng toàn thể con voi. Các tướng trạng như vậy không phải là con voi, nhưng ngoài tướng trạng ấy thời không riêng có con voi. Này thiện nam tử! Vua ví dụ cho Đức Như Lai Chánh biến tri. Vị đại thần ví dụ cho kinh Đại Phương Đẳng, Đại Niết Bàn, con voi ví dụ cho Phật tánh. Các người mù rờ voi thí dụ cho hết thảy chúng sinh.

Kinh ĐẠI NIẾT BÀN

ii. TRÀNG HOA BONG BÓNG

Xưa có vị Công chúa được vua cưng quý hết sức. Một hôm trời mưa, thấy bong bóng nước nổi lên mặt hồ, lấy làm thích ý, liền đòi lấy bong bóng nước ấy là một tràng hoa để mang trên đầu. Vua đáp: “Bong bóng nước đâu có thể cầm bắt, làm sao có thể kết thành tràng hoa được”. Nàng Công chúa không chịu, dọa vua nếu không được thì sẽ tự tử. Vua lo lắng, cho người mời tất cả những người thợ tài giỏi nhất trong nước, nhưng ai cũng bó tay. Sau có người thợ già nói rằng: “Tôi có thể làm được, nhưng phải mời Công chúa đến chứng kiến”, và người thợ thưa với Công chúa rằng: “Tôi có tài kết bong nóng nước làm thành tràng hoa, nhưng không thể phân biệt bong bóng tốt xấu; vậy xin Công chúa tự thân lựa những bong bóng đẹp rồi đưa cho tôi kết thành tràng hoa”. Công chúa tự tay cúi xuống nắm bong bóng nhưng bắt cả buổi mà không được cái nào cả. Sau cùng mỏi mệt quá, nên phải bỏ đi. Nàng Công chúa mới hiểu bong bóng nước làm mê hoặc lòng người, tuy có hình chất, nhưng sinh ra rồi diệt ngay. Thân người là giả dối, vui ít khổ nhiều, sinh sinh diệt diệt, không thể tồn tại lâu dài.

Trích kinh THÚY THƯỢNG BẢO

 

iii. GẦN XA VỚI PHẬT

Một thời Đức Phật ở nước Xá Vệ, tại Tịnh xá Kỳ Hoàn thuyết pháp cho chư Thiên nghe. Lúc bấy giờ ở nước La Duyệt Kỳ có hai vị tân học Tỳ kheo muốn yết kiến Đức Phật. Giữa hai nước ấy có một khoảng đồng rộng, không có người ở, lại gặp thời nắng hạn, nên suối hồ đều cạn. Hai người đi ngang qua qua bị khát nước, chỉ gặp được vũng nước nhỏ thì thấy những loài trùng, không thể uống được. Hai người mới bàn với nhau: “Chúng ta tự xa lại cốt trông mong chiêm ngưỡng Đức Phật, không ngờ ngày nay bị chết khát ở giữa đường”. Một người nói rằng: “|Thôi ta hãy tạm uống cho khỏi chết có vậy mới gặp được Phật. Và lại uống cũng không ai biết cả”. Người kia đáp: “Giới luật Phật chế cấm không được uống nước có trùng, chính lấy nhân làm gốc. Nên giết hại chúng sinh để tự sống thì dầu thấy Phật cũng không ích gì. Thà rằng giữ giới chịu chết, chớ không phạm giới mà sống”. Người đầu theo ý riêng mình uống nước cho hết khát và đi đến chỗ Phật ở. Người thứ hai không chịu uống nên phải bị chết khát, nhưng lại được sinh lên cõi trời Đao Lợi. Nhờ suy nghĩ nên tự biết ở kiếp trước giữ giới không phãm nên được sinh lên cõi trời Đao Lợi, thật là do lòng tin mạnh nên phước báu chẳng xa vậy. Nghĩ đoạn, bèn đem hương hoa đến lễ Phật rồi đứng hầu một bên, còn người uống nước phải cực khổ trải qua nhiều ngày mới đến chỗ Phật ở. Thấy đấng Chí Tôn oai nghiêm, người liền cúi đầu đảnh lễ, khóc lóc bạch rằng: “ Con còn có người bạn cũng muốn đến yết kiến Phật, chẳng may giữa đường bị mệnh chung, dám mong Đức Thế Tôn biết cho”. Đức Phật trả lời: “Ta đã rõ rồi”, bèn lấy tay chỉ vị tiên nhân đứng một bên mà nói rằng: “Người tiên nhân này chính là bạn của ngươi đó. Người này vì giữ trọn giới luật nên được sinh lên cõi trời và được gặp ta trước ngươi. Lúc bấy giờ, Đức Thế Tôn lấy tay chỉ vào người kia bảo rằng: “Ngươi tuy thấy hình ta mà không giũ giới luật của ta, thời tuy ngươi thấy ta mà ta không thấy ngươi. Người kia tuy cách xa ta ngàn dặm nhưng vẫn giữ được giới luật, thời người ấy tất đứng trước mặt ta”. Lúc bấy giờ, Đức Phật nói bài kệ rằng:

“Học nhiều lại nghe nhiều

Hai đời được ngợi khen

Học ít lại nghe ít

Hai đời đau khổ

Phàm học nên nghe nhiều

Dầu gặp nhiều tai nạn

Trì giới không trái phạm

Chỗ sở nguyện được thành tựu

Giữ giới không chu toàn

Chỗ sở nguyện bị tan mất

Xét lý nhân yếu nghĩa

Không gì đáng can ngại”.

Lúc bấy giờ vị Tỳ kheo nghe xong bài kệ xong bèn tự xấu hổ cúi đầu xin sám hối, yên lặng suy nghĩ lời Phật dạy, còn vị Tiên nhân tâm hoan hỷ chứng được pháp nhãn, chúng hội hoan hỷ phụng hành.

iv. CON DAO TRONG TÂM

Một thời ở thành Xá Vệ nước Ấn Độ, Đức Phật đến hóa độ cho một gia đình kia, hai vợ chồng đều tham lam độc ác, không biết tôn trọng đạo đức. Ngài liền hóa một vị đạo nhân đến khất thực. Lúc ấy người chồng đi vắng, người vợ ở nhà thấy vị Đạo nhân liền mắng chửi ầm lên. Vị Đạo nhân nói:

“Tôi là người tu hành, chỉ xin ăn tự sống. Lòng chỉ mong gia chủ cho bát cơm để đỡ đói lòng, sao lại mắng chửi tôi đủ điều như vậy?”

Người vợ tức giận hét ngược lên thì vừa lúc người chồng về, trong tay cầm sẵn con dao, chẳng nói gì, người chồng xông tới định chém vị Đạo sĩ. Bỗng một bức thành pha lê hiện lên, bao bọc người Đạo sĩ, bức thành trong sáng kiên cố, không có cửa. Người chồng đến xô đạp đâm chém cũng không sao chuyển nổi.

Người chồng liền nói: “Ông mở cửa cho tôi vào với”. Vị Đạo sĩ trả lời: “Được, nhưng ông hãy quăng con dao đi đã”.

Người chồng tự nghĩ: “Mình to con như thế này, còn người Đạo sĩ bé nhỏ thế kia, mình dùng hai tay không, cũng đủ giết chết vị Đạo sĩ”. Nói đoạn người ấy liền quăng con dao đi xa; nhưng bức thành pha lê vẫn y nguyên như cũ. Người chồng tức giận hét lên: “Tôi đã quăng con dao đi rồi, sao không mở cửa cho tôi vào”.

Vị Đạo sĩ đáp: “Không, tôi không nói ông quăng con dao trong tay ông, tôi muốn ông quăng con dao trong tâm ông kia”.

Người chồng giật mình kinh sợ, nhận thấy vị Đạo sĩ hiểu rõ tâm ý thầm kín của mình, liền cúi xuống lạy ta, ăn năn hối lỗi. Bức thành bỗng biến mất, vị Đạo sĩ hiện thành Đức Phật hào quang chói sáng rực rỡ, và tiếp độ cho hai vợ chồng.

v. TẠI SAO PHẢI NIỆM PHẬT?

Thành Thất La Phiệt có một ông Hoàng tánh rất hung bạo. Thêm vào đó, quyền thế và địa vị của ông có thể giúp ông thủ tiêu tội ác trước pháp luật. Chưa một lời phải, một đạo giáo nào cảm hóa được ông. Một hôm ông gặp Phật khi Phật du hóa nước này. Mới thấy, lòng ông bỗng cảm phục như voi dữ trước quản tượng, Ngài có dạy ông vài lời sơ lược: “Hãy tưởng niệm Phật Đà, hãy từ bi thương người, hùng lực cứu người". Nhưng khi về đến nhà, vừa thấy người hành khát, ông liền đùng đùng nổi giận. Lời vàng của Phật không còn trong lòng ông nữa. Khi ông toan đánh đuổi người, bỗng sực nhớ lại hình dáng từ nghiêm của Phật, ông liền dịu dàng  lại nhưng không bố thí chút gì. Tối hôm đó vợ ông lấy làm lạ, gạn hỏi đầu đuôi. Ông bèn tuần tự thuật lại. Nhờ thuật lại, ông nhớ lại rõ ràng hình dung Đức Phật và lời Ngài dạy. Đêm hôm ấy ông suy nghĩ mông lung. Ông nghĩ: “Nhớ Phật, phải nhớ đến người nghèo khổ”. Rồi mới sáng ông liền đi tìm Phật. Giữa đường gặp một người hành khất ốm liệt bên vệ đường, ông suy nghĩ, ông đến ân cần hỏi han và dốt hết tiền trong túi ra cho. Người ấy e sợ cám ơn rối rít, nhưng ông chỉ bảo: “Vì tưởng nhớ Phật nên tôi giúp anh. Anh nhận tiền này khiến tôi được phước, thế là tôi ơn anh chớ nào anh ơn gì tôi”. Người hành khất nghe, lấy làm lạm vì không lạ gì tánh nết của ông và uy danh của Đức Phật nữa. Bỗng nhiên người ấy cất tiếng niệm “NAM MÔ PHẬT ĐÀ” (kính lễ đấng Giác ngộ). Ông Hoàng cũng bất giác niệm theo và đi mau tìm Phật. Khi gặp được Ngài, ông thuật rõ đầu đuôi mọi việc. Nghe xong, Đức Phật mỉm cười hiền từ bảo: “Khi niệm Phật ông hãy tưởng niệm người nghèo khổ. Tưởng niệm người nghèo khổ là tưởng niệm chư Phật đó”.

Kinh TẠP BẢO TẠNG. 

Giới là bậc đại sư của các người, nêu ta ở đời, cũng không khác giới vậy.

Kinh DI GIÁO.

 

 

 

(1) Những người đã phát tâm Bồ đề cũng gọi là đại nhân, vì đã xu hướng hạnh nguyện rộng lớn của Đại thừa.

 

---o0o---

Vi tính: Minh Trí. Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 12-2007


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Phật Học II>>