categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Tài liệu chữa bệnh >>


TỰ CHỮA STRESS BẰNG PHƯƠNG PHÁP KHÔNG DÙNG THUỐC

Lương y VƠ HĂ

 

Nhiều người trong chúng ta có thể dễ dàng có được những bữa ăn ngon, những giấc ngủ sâu, những phút giây thoải mái thả hồn theo tiếng nhạc, hoặc ḥa ḿnh vào thiên nhiên hùng vĩ. Nhưng không phải ai cũng được như thế. Có người luôn bị căng thẳng bởi áp lực công việc. Có người bị ám ảnh bởi những ư tưởng sợ hải, lo âu hay hận thù không dứt bỏ được. Cũng có người luôn có cảm giác khó chịu hoặc đau nhức ở nơi nào đó trong cơ thể mà bác sĩ không t́m ra được bất cứ tổn thương thực thể nào.

Trong cuộc sống hàng ngày không ai là không có những cảm xúc buồn, thương, giận, ghét... tuy nhiên khi một hoặc nhiều cảm xúc nầy được lập đi lập lại nhiều lần và lâu dài sẽ ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh và dẫn đến bệnh tật. Những trường hợp nầy khoa học gọi là stress. Stress có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau như mệt mơi, hay cáu gắt, mất ngủ, nhức đầu, đau gáy, kém ăn, rối loạn kinh nguyệt... Thời gian đầu, những triệu chứng do stress gây ra chỉ là rối loạn thần kinh, rối loạn khí hóa. Lâu dài stress có thể gây ra những tổn thương thực sự như viêm xoang, loét dạ dày... Ngoài ra stress c̣n làm giảm sức đề kháng của cơ thể và làm trầm trọng thêm các chứng bịnh đang tiềm ẩn. Theo một nghiên cứu của Trung Tâm Y Khoa pḥng ngừa ở Atlanta Mỹ, những người dưới 60 tuổi có tính nóng nảy có nguy cơ bị tai biến mạch năo ba lần cao hơn những người b́nh thường. Ngược lại việc hoá giải được stress sẽ tác động tốt đến quá tŕnh điều trị các bệnh măn tính. Về điều nầy, một cuộc nghiên cứu do Tiến sĩ Richard Surwit thuộc Trung Tâm Y khoa Đại học DUKE (Mỹ) và các cộng sự thực hiện trên 108 bệnh nhân tiểu đường type II đă cho biết việc loại bỏ stress bằng cách thư giăn và những phương pháp hô hấp có kết quả tương đương hoặc hơn so với việc dùng thuốc trong việc hạn chế những tác hại của bệnh. Trong thí nghiệm nầy, tất cả bệnh nhân được phổ biến những kiến thức cần thiết về bệnh tiểu đường. Một nữa trong số họ được tham gia luyện tập chống stress. Sau một năm, 32% số người được tập luyện có lượng đường trong máu giảm hơn 1%. Trong khi chỉ có 12% bệnh nhân thuộc nhóm đối chứng dùng thuốc nhưng không luyện tập chống stress đạt được kết quả tương tự.

Theo y học, stress luôn đi đôi với cuộc sống công nghiệp. Công nghiệp tiến triễn đă tạo ra nhiều nhu cầu mới và đa dạng, thúc đẩy con người phải suy nghĩ, lo toan và làm việc căng thẳng để gia tăng khả năng chiếm hữu và thỏa măn nhu cầu. Cơ chế thị trường với mức độ cạnh tranh cao càng làm cho con người phải chật vật và toan tính nhiều hơn, dễ dẫn đến stress hơn.

Mới đây Công ty Hoffman La Roche đă thực hiện một cuộc khảo sát về t́nh trạng stress tại Việt Nam. Kết quả đă cho thấy tỉ lệ số người bị stress b́nh quân là 52%. Ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh tỉ lệ nầy là 55%. Thực tế nầy cho thấy việc nhận thức về tầm nguy hại của stress để chủ động pḥng chống nó là điều cần thiết cho việc giữ ǵn sức khỏe

Từ lâu, các nhà khoa học đă biết được sự liên quan chặt chẽ giữa hoạt động của hệ thần kinh và hoạt động cơ bắp. Khi tâm tư lo lắng hoặc tinh thần rối loạn th́ hoạt động sinh lư, nội tạng bị xáo trộn và trương lực cơ bắp cũng gia tăng. Ngược lại, nếu điều hoà được trương lực cơ bắp ở mức độ thư giăn th́ thần kinh cũng sẽ được ổn định. Đặc biệt ở những người bị stress, suy nhược thần kinh hoặc mất ngủ lâu ngày, trương lực cơ bắp của những người này thường ở trong t́nh trạng căng cứng hơn b́nh thường, và chính điều nầy đă tác động nghịch trở lại làm rối lọan thêm họat động của hệ thần kinh.

Từ những phân tích trên, chúng tôi đă hướng dẫn việc tự chữa bệnh cho nhiều người bằng một phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả qua sự phối hợp giữa việc kiểm soát hơi thở và việc day, ấn một số huyệt vị và vùng đặc trị của y học cổ truyền nhằm đạt đến hai yêu cầu thư giăn và an thần. Phương pháp được tiến hành tuần tự qua các động tác sau:

Vuốt ấm vành tai: Dùng ngón tay trỏ và ngón tay cái vuốt dọc vành tai cùng bên từ trên xuống dưới. Vuốt chậm và nhẹ. Vuốt khoản 21 lần. Những nghiên cứu của y học hiện đại và y học cổ truyền đều đưa đến những kết quả thống nhất về những vùng quy chiếu ở phần ngoài của cơ thể có liên quan với những cơ quan nội tạng nằm sâu ở bên trong. Một trong những vùng quy chiếu quan trọng với một hệ thống thần kinh dày đặc và tinh tế là vành tai, mà khi tác động vào có thể tái lập được cân bằng nội môi, điều ḥa được hệ thần kinh trung ương. Do đó việc vuốt cho hai vành tai ấm lên có tác dụng điều hoà thần kinh giao cảm, thúc đẩy khí huyết lưu thông và thư giản toàn thân.

Vuốt dọc xương chân mày: Dùng hai ngón tay trỏ và giữa vuốt từ đầu chân mày dọc theo xương chân mày ra đến chân tóc phía ngoài đuôi mắt. Vuốt chậm và nhẹ. Vuốt khoản 21 lần. Vùng chân mày và cánh tay có những điểm phản xạ tương ứng nhau. Do đó động tác này tạo được sự thư giăn cơ bắp giữa vùng cánh tay và bàn tay. Hai bàn tay là hai bộ phận quy chiếu khác ứng với toàn cơ thể nên thư giăn được ở hai bàn tay sẽ ảnh hưởng đến thư giăn chung của toàn thân.

Vuốt dọc hai bên mũi: Dùng ngón trỏ của một bàn tay vuốt một bên mũi. Dùng hai bàn tay vuốt cùng lúc cả hai bên. Vuốt dọc từ điểm giữa hai chân mày (huyệt Ấn đường) dài theo hai bên thân mũi qua khoé miệng đến tận góc cằm. Vuốt chậm và nhẹ. Vuốt khoảng 21 lần. Theo học thuyết kinh lạc của y học cổ truyền, kinh Dương minh được phân bố dọc theo hai bên mũi và miệng, là một kinh đa khí, đa huyết có chức năng quan trọng nhất trong phần "vệ khí" nên động tác này giúp khí huyết lưu thông ra bên ngoài, làm gia tăng tác dụng thư giăn.

Day ấn huyệt Ấn đường: Dùng ngón trỏ của bàn tay phải ấn nhẹ vào điểm giữa hai chân mày trong vài giây, day thành ṿng tṛn chung quanh điểm này khoản 21 ṿng. Khi tác động vào huyệt Ấn đường, cơ thể sẽ tiết ra chất Endorphine nội sinh, có tác dụng làm giảm đau, giáng khí và an thần.

Kích thích vùng sau đầu: Đặt nguyên hai bàn tay vào hai vùng gáy ở sau đầu, sát cạnh phía sau của tai. Vuốt nhẹ từ trên xuống dưới phía sau hai vành tai. Vuốt khoảng 21 lần. Động tác này vừa tác động vào hai kinh Túc Thiếu Dương Đởm và Túc Thái Dương Bàng Quang, vừa kích thích hai huyệt An miên và Thiên trụ, có tác dụng chống khí nghịch, điều trị thần kinh suy nhược và làm thanh sảng vùng đầu năo.

Quan sát hơi thở : Sau khi thực hành 5 động tác trên hăy ngồi thoải mái trên một cái ghế có chỗ tựa lưng, hai tay đặt nhẹ trên đùi hoặc nằm xuống nghĩ ở một nơi yên tĩnh, thoáng mát. Trong thời gian này hăy chú ư quan sát hơi thở bằng cách tập trung tư tưởng ở vùng bụng dưới, hoặc tại một điểm mà các nhà khí công hoặc đạo gia gọi là Đơn điền (dưới rốn khoảng 3 phân). Lúc hít vào, bụng dưới hơi phồng lên. Lúc thở ra, bụng dưới hơi xẹp xuống. Thoạt đầu có thể bạn chưa quen với lối thở bụng. Điều này không ảnh hưởng ǵ. Nên nhớ là chúng ta cần thư giăn, nên không cần quan tâm đến hơi thở sâu hay cạn, nhiều hơi hay ít hơi. Chỉ cần thở nhẹ, thở b́nh thường là đủ. Điều quan trọng là phải chú ư quan sát bằng tất cả tâm ư để biết rơ là chúng ta đang hít vào hay đang thở ra thông qua chuyển động phồng lên hay xẹp xuống của làn da bụng:

Phồng lên (biết rơ ta đang hít vào) Xẹp xuống (biết rơ ta đang thở ra)

Phồng lên (biết rơ ta đang hít vào) Xẹp xuống (biết rơ ta đang thở ra)

Phồng lên (biết rơ ta đang hít vào) Xẹp xuống (biết rơ ta đang thở ra)

Đừng lo ngại khi tâm bạn tản mạn với các ư nghĩa khác nhau. Điều quan trọng là khi chợt nhớ chúng ta đang luyện tập để thư giăn th́ tiếp tục tập trung tư tưởng quan sát lại chuyển động phồng lên xẹp xuống của da bụng.

LƯU Ư :

Chú tâm quan sát sự lên xuống của da bụng cũng như chú tâm vào việc thực hành từng động tác ở 5 phần trước là một phương pháp thay thế, để khi tập trung vào những ư niệm này ta sẽ không c̣n những cảm xúc âu lo hoặc căng thẳng trước đó. Điều này cũng là nguyên tắc dùng sự ức chế thần kinh ở một điểm hoặc ở một vùng nhỏ, gây ra quá tŕnh ức chế lan tỏa khắp vùng dưới vỏ năo để tạo ra hiệu ứng thư giăn, nhập tĩnh.

Chú tâm quan sát sự phồng lên, xẹp xuống ở bụng dưới c̣n tạo nên quán tính thở sâu của cơ thể, sẽ hữu ích cho việc dưỡng sinh, tăng cường sức khỏe về lâu về dài sau này.

Theo y học cổ truyền,"thần đâu, khí đó". Do đó việc tập trung tư tưởng ở vùng bụng dưới c̣n làm cho ư và khí lưu chuyển về phía dưới của cơ thể giúp giáng khí và làm nhẹ áp lực ở vùng đầu, năo, dẫn đến thư giăn.

Phần quan sát hơi thở có thể thực hành cùng lúc trong một lần tập tiếp sau các động tác từ 1 đến 5 hoặc cũng có thể tập riêng lẽ tùy theo ư thích và điều kiện thời gian của mỗi người.

Tất cả 5 động tác đầu kéo dài khoảng vài phút. Nếu thực hành đúng, tập trung cao, sự thư giăn đồng bộ giữa cơ bắp và thần kinh sẽ xảy ra. Một số người có khả năng tập trung tốt có thể dần dần rơi vào giấc ngủ sau khoảng vài chục hơi thở ở giai đoạn quan sát hơi thở.

Những nghiên cứu về hiệu ứng stress của 2 Bác sĩ H.S. Liddell và A.V. Moore đă đưa đến kết luận nếu những cảm xúc khó chịu có điều kiện ngắt khoảng tức không xảy ra liên tục - dù chỉ trong chốc lát - th́ những cảm xúc nầy sẽ không dẫn đến bệnh tật. Do đó việc thực hành thư giăn - dù chỉ trong vài phút mỗi lần - cũng sẽ rất hữu ích cho việc duy tŕ một điều kiện tâm lư tốt đủ hóa giải những căng thẳng do cuộc sống gây ra.