categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo

CDS - KHẮC PHỤC BỆNH LẪN CỦA NGƯỜI GIÀ


1. NGUYÊN NHÂN CỦA BỆNH LẪN


Trí năng phát triển tới một giới hạn nào đó thì vì bệnh hoạn hay tuổi tác có thể bị suy thoái. Không phải chỉ riêng lý trí mà tình cảm và cảm giác đồng thời cũng thoái hóa theo.

Phần đông chúng ta khi đến tuổi già, về mặt sinh lý, thì dù nhiều hay ít, cơ thể và tinh thần cùng đều thoái hóa. Cho nên người già thường mau quên và lẫn lộn. Nhưng nếu sự suy thoái này có cường độ mạnh hơn thì người ta gọi là bị lẫn hay chứng lú lẫn của người già. Chừng đó trí nhớ không còn, sự phán đoán và mọi lý giải sai lệch. Ngần ấy sự kiện khiến cho người già trông có vẻ khù khờ hơn trạng thái bình thường lúc còn trẻ.

Ngoài ra chứng bịnh lẫn của ngưòi già còn do bởi những nguyên nhân xuất phát từ bên ngoài như uống rượu nhiều, sử dụng thuốc men lâu ngày mà không có sự hướng dẫn đúngđắn của bác sĩ và dược sĩ, hoặc do ảnh huởng hậu chứng của bệnh xuất huyết não.

Gần đây Alzheimer là chứng lẫn trầm trọng của người già, càng ngày càng gia tăng trong dân chúng, là một vấn nạn lớùn cho thế giới. Tuy nhiên các phương pháp và thuốc men để chữa trị đối phó với căn bệnh này cũng gia tăng không ít.

Chứng bệnh này thường xảy ra cho con người trong khoảng ngoài hai mươi cho tới năm mươi. Ðôi khi con người khỏe mạnh nhưng một ngày nào đó tế bào não đột nhiên phân hủy. Lý trí bất toàn và chứng lãng quên trầm trọng xuất hiện. Người bệnh không phân biệt được phải trái và có khi đi ra ngoài rồi không nhớ đường về nhà.

Tại sao con người khi về già lại hay mắc phải bệnh này? Y khoa thế giới hiện nay vẫn chưa giải đáp thỏa đáng nguyên do, và phương pháp chữa trị vẫn chưa được rõ ràng. Theo tôi thì vấn đề này có thể giải thích một cách đơn giản như sau. Tế bào thần kinh liên lạc giữa não bộ và tiểu não nửa chừng bị gián đoạn hoặc không còn ăn nhịp với nhau nữa. Khi giải phẫu não bộ, người ta thấy những đường vi điện trên não bộ cũng vận hành một cách bình thường. Nhưng tại sao con người lại bị bệnh bất thường như vậy? Nguyên do vì tế bào não và tế bào thần kinh hấp thụ nhiều calcium và chất béo động vật. Những chất này đọng lạĩi và làm cản trở sự truyền sóng. Cho nên chúng sẽ phản ứng lại và sinh ra bệnh lú lẫn. Trường hợp nặng hơn thì được gọi là bệnh Alzheimer.

Thực ra bệảnh Alzheimer là hậu quả của việc dùng thuốc men lâu dài. Một số thuốc tuy được nói là không có hại, nhưng sử dụng lâu ngày, ít nhiều cũng ảnh hưởng đến sức khỏe, nhất là những loại thuốc trợ tim và trị bệnh cao huyết áp. Ðồng thời chúng ta cũng cần lưu ý là

không nên lạm dụng thuốc hoặc thực phẩm đặc chế để bồi bổ sức khỏe. Vì vậy khi mua những thực phẩm hoặc thuốc men, chúng ta nên đọc kỹ công thức chế biến.

Ngoài ra, nguyên nhân quan trọng đã gây ra chứng Alzheimer là do thành kiến sai lầm trong vấn đề dinh dưỡng. Khi cơ thể của người mẹ hấp thụ chất đạm beta khá nhiều thì có khuynh hướng hạn chế sự phát triển các tế bào não. Cho nên khi còn trong bụng me, mặc dù bào thai vẫn tiếp tục hình thành về mặt cơ thể và tiếp tục tạo ra các cơ tạng, nhưng tế bào não ít nhiều gì cũng bị tổn thương. Khi chào đời, thai nhi vốn đã bị kềm kẹp từ trước, vẫn còn bị ảnh hưởng tai hại. Người ta đã lưu ý khá nhiều bệnh nhân mắc bệnh Alzheimer thì thấy chất đạm beta tăng nhiều và làm phân hủy các tế bào thần kinh não bộ. Nguyên do chỉ vì sự ăn uống và lạm dụng thuốc men như đã nói ở trên mà ra.

2. SỮA VÀ THỊT ÐÃ ÐƯỢC BIẾN CHẾ SẴN CÓ THỂ GÂY RA CHỨNG LÃNG QUÊN


Phần lớn những chất đạm trong thịt động vật, sữa bò và các sản phẩm biến chế từ sữa bò có thể làm sai lệch tính miễn dịch của cơ thể và tuổi thọ của con người. Những nguời chuyên ăn thịt gia súc có thể so sánh tuổi thọ của chúng một năm thì tương đương với tuổi thọ của con người là 5 năm. Tuổi thọ của gia súc 10 năm tương đương với tuổi thọ của con người là 50 năm. Hai chục năm thì tương đương với 100 năm.

Ngày nay có những thiếu niên mới hơn 10 tuổi mà tóc đã bạc, huyết áp cao, tiểu đường, thập nhỉ chỉ tràng và bao tử bị hư loét. Những chứng bệnh mà trước đây chỉ xuất hiện trong giới cao niên nay đa số lại thấy nơi những ngưòi trẻ tuổi. Có người mới ngoài hai mươi đã bị chứng lẫn của người già. Theo tôi chỉ vì những người này ăn quá nhiều thịt động vật và sữa bò trong tiến trình phát triển cơ thể và trí não của họ mà thôi.

3. CHẤT HÓA HỌC CÓ THỂ GÂY RA CHỨNG LẪN CỦA NGƯỜI GIÀ


Những người sử dụng trường kỳ các thực phẩm hay thức uống bằng hóa chất có nguy cơ bị bệnh lú lẫn. Qua các cuộc thí nghiệm trên cơ thể thú vật và trên tử thi con người, người ta phát giác ra thuốc men và hóa phẩm có quan hệ mật thiết với trí nhớ. Khi quan sát não bộ một tử thi, gồm cả mạch máu não và tế bào não thì thấy có các sắc tố của các hợp chất hóa học. Những chất liệu này có nguy cơ làm gián đoạn hay che khuất cơ năng của não, khến cho sự truyền đạt tin tức bị trở ngại.

Những người nghiện rượu và sử dụng thuốc men lâu ngày thường hay có phản ứng như tay chân run rẩy khi về già. Thậm chí còn gây ra chứng lú lẫn vì tế bào não bị thương hại bởi những yếu tố ngoại nhập này.


Giải phẫu tử thi của những người chết vì bệnh Alzheimer, sau khi khám nghiệm, người ta phát hiện nguyên do đưa đến cái chết phần đông là bởi các tế bào não bị tê liệt nên không còn chức năng điều hợp mọi sự vận hành của cơ thể.

Ðể đề phòng chứng lú lẫn và tê liệt thần kinh não bộ, một khi bị bệnh chỉ nên dùng đúng thuốc trị bệnh đó mà thôi, còn những bệnh thứ yếu khác, chúng ta không nên uống ngay lập tức và cùng một lúc. Thuốc men thường hay có tác dụng phụ của nó. Cho nên ở ngoại quốc người ta không xài thuốc một cách dồn dập như cách chữa bệnh ở Nhật Bản.

4. CANH DƯỠNG SINH CHỮA ÐƯỢC CHỨNG LÚ LẪN CỦA NGƯỜI GIÀ


Chứng lú lẫn của người già là một loại ác hóa, cho nên phải dùng đến thuốc trị bệnh tinh thần. Ðiều cần nhất không phải chỉ dùng thuốc men, mà phải tận tâm theo dõi bệnh trạng của họ tiến triển ra sao để giúp họ tiến bộ.

Ngoài ra chúng ta có thể chữa bệnh lú lẫn bằng canh dưỡng sinh. Mỗi ngày bệnh nhân phải uống từ 600cc trở lên. Canh dưỡng sinh chứa một số lượng chất lân khá lớn giúp ích cho tế bào tăng trưởng, cho nên đối với sự phòng ngừa bệnh lú lẫn và phục hồi chức năng của não bộ rất công hiệu.

Thêm vào đó, thân nhân của người bệnh nên úp bàn tay mạnh khỏe của mình lên bàn tay hoặc thân thể của bười bệnh và trò chuyện với ngườinày nhiều lần mỗi ngày, có thể đến hàng chục lần. Trong khi nói chuyện, mình có thể làm cho bệnh nhân hồi tưởng lại những sự việc xảy ra trước kia mà nay ký ức không còn ghi nhớ đầy đủ. Tuyệt đối không nên giận dữ với bệnh nhân, không dùng bạo lực và không bao giờ được xỉ vả họ là ngu ngốc. Chúng ta có thể dắt tay họ đi tản bộ, hoăc tự rửa tay cho bệnh nhân rồi dùng bàn tay của mình nắm lấy bàn tay phải của họ (giống như nắm tay trong lúc khiêu vũ). Trước khi bệnh nhân cất bước đi bộ, chúng ta hãy bước lên trước mặt họ và quay mình một vòng.

Phương pháp quan trọng để phòng ngừa bệnh lú lẫn là mỗi ngày cho ăn ba bữa đầy đủ với cơm gạo thay vì bánh mì, rồi tập luyện bằng cách đi bộ và cố gắng không xài thuốc.

5. THƯỜNG XÀI MÁY SUỞI ẤM PHÒNG CŨNG CÓ THỂ GÂY RA CHỨNG LÚ LẪN


Ngay nay phần đông gia đình nào cũng sử dụng máy điều hòa không khí. Ðây là một trong những nguyên do gây ra chứng phong thấp và bệnh lú lẫn. Vì cơ thể con người không thích ứng tự nhiên với việc sưởi ấm. Cũng giống như thức ăn sẽ mau bị thiu khi để ngoài nhiệt độ nóng. Không những phần trên đầu mà toàn thân con người mỗi ngày nếu cho sống trong phòng lạnh ở nhiệt từ -30 đến -40 độ C trong vòng hai hay ba phút, thì chứng lú lẫn của người già và phong thấp sẽ không còn nữa. Trên thực tế, phương pháp trị liệu này đã đạt được nhiều kết qua hữu hiệu. Bất luận thế nào chúng ta cũng phải để cho phần đầu của mình lạnh một chút thì tốt hơn là lúc nào cũng tiếp xúc với nhiệt độ nóng.

6. SỬ DỤNG QUÝ KIM GIA TĂNG TỶ LỆ BỆNH LÚ LẪN VÀ UNG THƯ NHŨ HOA


Theo tài liệu kiểm tra từ bệnh viện và cơ quan y tế của chnh phủ Nhật Bản, trong những năm gần đây, tỷ lệ số phụ nữ lớn tuổi bị lú lẫn gia tăng một cách đáng ngại. Vì thế tôi đã làm một cuộc kiểm chứng như sau. Chọn ra 140 bệnh nhân, rồi điều tra bệnh lý của họ trong quá khứ, thành phần gia tộc và thói quen trong nếp sống hàng ngày. Kết quả tôi được biết phần lớn những người này thuộc những gia tộc như tổ tông, cha mẹ, anh em không có liên hệ gì tới bệnh lú lẫn cả. Do đó bệnh lú lẫn của họ không có tính di truyền. Sau một năm nghiên cứu, tôi được biết những phụ nữ nào lúc còn thanh xuân hay đeo trang sức, có tỷ lệ tế bào não bộ bị thoái hóa nhiều hơn. Ở thời kỳ cuối cuộc đời, họ thường hay gánh chịu hậu quả là bệnh lú lận.

Những phụ nữ đeo trang sức nhiều so với những người không đeo thường có những hậu quả như sau:

  • Ðôi vai đau nhức vì thấp khớp

  • Rối loạn thính giác: ù tai, nặng tai hay không nghe được âm thanh nhỏ.

  • Thị giác bị chướng ngại: thị lực của mắt phải và mắt trái giảm cường độ, đôi khi sanh ra loạn thị, viễn thị hay cận thị. Ðôi khi còn trẻ tuổi nhưng có người đã bị cườm trong mắt rồi.

  • Có những người còn trẻ, mới ngoài hai mươi, nhưng đã bị bệnh về sinh lý, mất ngủ, đau lưng, nhức mỏi gân cốt và điều đáng ngại nhất là chứng ung thư nhũ hoa trong giới phụ nữ Nhật Bản gần đây đã gia tăng 70%.

  • Phản ứng và suy nghĩ chậm chạp, trí nhớ kém

  • Tính phản xạ của thần kinh kém

  • Bệnh mất ngủ, táo bón, cơ thể mất tính đàn hồi, bắp thịt không săn chắc.

  • Tinh thần nhu nhược, không ổn định.

Người đeo nhiều vòng vàng, thân thể thường hay bệnh hoạn, nhưng không rõ bệnh gì. Tôi đã từng thực hiện các thí nghiệm sau đây:

  • Thí nghiệm 1: Ðeo khoen với vàng 3 carat vào hai tai của con dơi, nó không thể bay lên được.

  • Thí nghiệm 2: Ðeo khoen vào tai con chuột, nó chạy vòng vòng không biết phương hướng khác.

  • Thí nghiệm 3: Ðeo khoen vào con rắn (như đã nói ở các chương trước), con rắn không thể bò thẳng tới, giống như khúc gỗ vậy.


  • Thí nghiệm 4: Ðeo khoen vào tai hoặc dây chuyền vào cổ con chó hoặc con mèo, không bao lâu con vật sẽ chết.

Từ những thí nghiệm trên, chúng ta thấy rằng các loài động vật sinh sống trong trạng thái thiên nhiên rất nhạy cảm với các chất kim loại, nên sanh ra các phản ứng tác hại. Cho nên đeo nhiều vòng vàng trên cơ thể không có ích lợi cho sức khỏe cả.

Nguyên do vì cơ thể con người thường phát ra một loại dòng điện rất thấp. Dòng điện này xuyên qua lớp da truyền đạt qua thần kinh, mang những mệnh lệnh phát ra từ não bộ phân phát đi khắp các cơ tạng trong cơ thể. Vì thế lớp da đóng vai trò truyền đạt điện từ của thần kinh rất quan trọng. Ðeo nhiều nữ trang sẽ gây cản trở đường chuyển vận dòng điện nên có thể xảy ra các truờng hợp phát điện bất thình lình và tùy thích lúc nào cũng được.

Một khi tế bào ác tính biến thành bướu ung thư, não bộ phát mệnh lệnh cho các bạch huyết cầu và tế bào lành hình chữ T tấn công các tế bào độc đó, nhưng vì cổ đeo nhiều vòng vàng quà, thành ra sự truyền lệnh phản công bị gián đoạn, nên thua trận và sinh bệnh. Vì thế những bệnh nan y như ung thư nhũ hoa, ung thư tử cung rất dễ xảy ra cho những phụ nữ thường đeo nhiều trang sức bằng kim loại. Tỷ số các bệnh nhân mắc phải bệnh này hàng năm gia tăng gấp hai lần nhiều hơn. Mặt khác những phụ nữ mắc bệnh lú lẫn cũng càng ngày càng gia tăng.

Con người thông thường khi ngoài 25 tuổi, mỗi ngày mất chừng một trăm ngàn tế bào não. Khi đeo nhiều nữ trang kim loại, số tế bào não bị hủy hoại tăng gấp ba lần, có nghĩa là ba trăm ngàn. Ðây cũng là nguyên do dễ dẫn tới chứng lú lẫn của người lớn tuổi.

7. CANH DƯỠNG SINH KHÔI PHỤC BỆNH TẬT CỦA NÃO


Bệnh ở não bộ có rất nhiều loại gồm các hậu chứng xuất huyết não, bướu não, chứng cứng động mạch, nghẽn mạch máu, tiểu đường gây ra xuất huyết não. Bệnh ở não bộ thường hay sinh ra các tật chứng như nói năng khó khăn, không kềm chế được đại hay tiểu tiện, không kềm chế được sự bộc lộ tình cảm như khóc hay cười bất chợt. Trong các trường hợp này, chúng ta dùng canh dưỡng sinh và nước gạo lức rang để điều trị rất có hiệu quả. Vì canh dưỡng sinh có khả năng hình thành và sửa chữa các khiếm khuyết của tế bào não bộ.

Trước hết mỗi ngày chúng ta uống canh dưỡng sinh và nước gạo lức mỗi thứ từ 600cc trở lên. Uống ba ngày liền thì liều lượng có thể bớt xuống. Uống được một tháng thì ta có thể tập bỏ dần các thuốc chữa trị từ từ. Nếu không có phản ứng bất lợi, chúng ta mới bỏ hẳn thuốc.

Nếu bệnh ở não bộ gây tê liệt phần nào đó của cơ thể, chúng ta có thể dùng thêm 600cc nước gạo lức rang mỗi ngày. Sau uống được ba ngày, chúng ta có thể thử nghiệm xem có nên bớt hay từ từ bỏ liều lượng của thuốc được không. Nếu không có gì phản ứng hay bệnh không tái phát thì chúng ta chỉ dùng canh dưỡng sinh không là đủ. Trên thực tế chưa có loại thuốc nào có khả năng hồi phục bệnh tật của não bộ một cách toàn vẹn.

Ðối với bệnh cao huyết áp, sau khi dùng canh dưỡng sinh, chúng ta có thể giảm dần liều lượng thuốc từ từ chớ không nên ngưng hẳn một cách đột ngột. Phải uống canh dưỡng sinh tối thiểu là ba tháng mới dứt hẳn thuốc chữa bệnh. Ðối với các máy do huyết áp tự động tân thời sử dụng một cách phổ thông trong gia đình, chúng ta giảm bớt 20 độ ở điểm huyết áp cao và gia tăng thêm 10 độ ở điểm huyết áp thấp mới chính xác.

Các cơ quan tôi trọng yếu của cơ thể là não bộ và cột xương sống. Trường hợp cột sống bị gẫy hay vì lý do bệnh tật có thể làm cho nửa phần dưới cơ thể bị tê liệt. Như vậy chúng ta lại càng không nên chữa trị bằng làn sóng điện, châm cứu hay điện từ. Kế đến là chúng ta không nên dùng các loại thuốc vô nghĩa. Thuốc mà trị bệnh nhiều năm không hết không kể là thuốc được. Nếu dùng thuốc lâu ngày có thể ngăn cản tiến trình hồi phục sức khỏe hơn là chữa lành bệnh. Trong quá trình kinh nghiệm, một bệnh nhân bị thương ở não bộ, bị tê liệt bốn năm liên tiếp, uống canh dưỡng sinh sáu tháng có thể đi đứng được. Tiếp tục uống thêm một năm nữa, người bệnh có thể nói chuyện lại bình thường và có thể tự mặc áo quần một mình, không cần ai trợ giúp. Trong trường hợp này, nếu cứ tiếp tục uống thuốc mà không đổi qua cách chữa trị bằng canh dưỡng sinh, tôi nghĩ rằng đương sự sẽ không bao giờ hoàn toàn lành bệnh và mau chóng như vậy. Theo ý tôi, những loại thuốc trị bệnh quá lâu năm không bình phục được thì không nên tiếp tục dùng nữa.

Những bệnh nhân ở não bộ, sau khi giải phẫu xong được đặt ống dẫn bằng chất liệu nhân tạo. Uống canh dưỡng sinh và nước gạo lức rang ba ngày, tế bào não sẽ sinh sôi nẩy nở có thể xâm nhập vào ống dẫn này. Tốt hơn hết nên lấy nó ra trước. Uống canh dưỡng sinh được sáu tháng, não bộ sẽ khôi phục bình thường. Ngoài ra những người bị bại liệt vì lý do ở não bô, điều cần nhất là làm sao cho họ phục hồi cử động. Cho nên trong tiến trình lành bệnh, phải tập cho họ có lòng tự tin và cố gắng. Cho nên nếu họ có té mà đứng dậy không nổi thì để cho họ tự phấn đấu ngồi dậy mà không cần đỡ họ. Một khi họ đã tự đứng hay ngồi dậy được rồi thì họ càng tự tin và tự chủ hơn, bệnh vì vậy sẽ mau hồi phục hơn. Sựĩ nâng đỡ hoài hoài cho bệnh nhân bị tê liệt xét ra không phải là một phương pháp tốt. Hãy để họ tự phấn đấu trước rồi mới phụ giúp sau thì công hiệu sẽ tiến bộ một cách thực tế và rõ rệt. Chúng ta không nên hấp tấp vì "dục tốc bất đạt", mà phải tuân thủ theo các hướng dẫn sau đây:

  • Bệnh nhân muốn gì không nên chiều theo nấy.
  • Không nên giận dữ với bệnh nhân.

  • Phải theo dõi bệnh trạng của bệnh nhân mỗi ngày để coi có sự thay đổi gì không?

  • Dùng trái banh nhỏ cho bệnh nhân luyện tập cử động của bàn tay.

  • Tập cử động chân, cổ chân và đầu gối.

  • Ngoài giấc ngủ cần thiết ra, không nên cho bệnh nhân ngủ và nghỉ ngơi nhiều. Khuyến khích họ hoạt động về thể lực nhiều hơn.


Những người bị xuất huyết não, nếu cần phải giải phẫu, nên thực hiện trong vòng 8 tiếng đồng hồ thì sự thành công có tỷ suất cao và những dị tật của hậu giải phẫu thấp. Vì thế tôi đề nghị ngày chủ nhật hay ngày nghỉ lễ, các bệnh viện nên có y sĩ chuyên khoa trực để giải quyết những trường hợp khẩn cấp được kịp thời và nhanh chóng.


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Tài liệu chữa bệnh >>