categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

NGUYỄN DU
ĐỌC KINH KIM CƯƠNG 

Trí Việt Phan Đông Bích
---o0o---


 

Kim Cương ngă độc thiên biến linh

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ

Chung tri vô tự thị chân kinh. 

 

Kim Cương đọc đến ngàn lần

Mà trong mờ ảo như gần như xa

Thạch Đài t́m đến hiểu ra

Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời.

Nguyễn Du (1765 - 1820) 

1.  Sơ lược tiểu sử  Nguyễn Du, tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, quán tại làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, con thứ bảy Cụ Hoàng Giáp Xuân Quận Công Nguyễn Nghiễm. Thân phụ Ông thi đỗ tiến sĩ và làm quan đến chức Tể Tướng thời Lê-Trịnh.

Nguyễn Du sinh năm Ất Dậu (1765) ở phường Bích Câu, thành Thăng Long (sau này là Hà Nội), niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 đời nhà Lê, khi thân phụ đang làm Tể Tướng.

Nguyễn Du đỗ tam trường thi Hương khi 19 tuổi, là người học rộng, tinh thông cả Phật học và sành các môn thi họa.  

Thân phụ Nguyễn Nghiễm qua đời lúc Nguyễn Du mới 10 tuổi (1775) và thân mẫu của Nguyễn Du là Bà Trần Thị Tần (1740-1778, sinh quán ở tỉnh Bắc Ninh) mất sớm lúc Nguyễn Du 13 tuổi nên Nguyễn Du về sống với người anh khác mẹ là Nguyễn Khản (hơn Nguyễn Du 31 tuổi, Hồng Lĩnh Hầu Nguyễn Khản, trấn thủ Sơn Tây-Hưng Hóa, làm quan Tả Tư Giảng cho thế tử Trịnh Tông) nuôi dưỡng và cho ăn học.   (2) (‘Trích giảng Truyện Kiều của Nguyễn Du’, Giáo Sư Hồ Đ́nh Chữ, Việt Luận xuất bản, Sydney, 1996) 

Năm 1784, v́ đỗ thấp, Nguyễn Du chỉ được thế chân người cha nuôi họ Hà vừa mới mất, làm một chức quan vơ ở Thái Nguyên.     (2) (sách đă dẫn, trang 5)

Năm 1786, tinh hinh chinh tri o mien Bac het suc roi ren, Nguyễn Huệ (nhà Tây Sơn), lấy nghĩa phù Lê diệt Trịnh, kéo quân chiếm thành Thăng Long rồi vào yết kiến vua Lê Hiển Tông, các quan triều thần chạy trốn cả.

Khi vua Lê Hiển Tông mất, Hoàng-tôn Lê Duy Kỳ lên nối ngôi, đặt niên hiệu là Chiêu Thống.

Vua Lê Chiêu Thống xin cầu viện với vua Càn Long nhà Thanh bên Trung Hoa và vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem quân sang xâm lăng nước ta năm mậu thân 1788.

Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế năm 1788 đặt niên hiệu là Quang Trung. Vua Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh năm kỷ dậu 1789 trong các trận Hà Hồi, Ngọc Hồi và Đống Đa. Nhà Lê làm vua, kể cả Tiền-Lê và Hậu-Lê, được 360 năm (1428 -1788).       (9)

Do ddo’ trong suốt mười năm từ 1786-1795, Nguyễn Du lưu lạc ở miền Bắc. 

Trong những năm 1796-1802, Nguyễn Du lui về ẩn cư ở quê nhà ở Tiên Điền, Hà Tĩnh, mặc dù sống rất nghèo nhưng an nhiên, tự tại v́ Nguyễn Du đọc kinh Phật, tu tập thiền định để t́m đạo giải thoát. 

Năm Gia Long nguyên niên (1802), Nguyễn Du được triệu ra làm quan, bắt đầu là Tri Huyện Phụ Dực, Thái B́nh; ít lâu sau làm Tri Phủ Thường Tín (nay thuộc Hà Đông).

Năm 1805, Nguyễn Du đă được phong tước là Du Đức Hầu.

Sau đó Nguyễn Du cáo bệnh xin lui về quê.

Năm Gia Long thứ năm (1806), Nguyễn Du được triệu vào kinh đô Huế giữ chức Đông Các Học Sĩ; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh Quảng B́nh.

Tháng 2 năm 1813, Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống đi Trung Hoa và tháng 4 năm Giáp Tuất (1814) ông trở về Kinh được thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri.

Năm Minh Mạng nguyên niên (1820), Nguyễn Du sắp sửa đi sứ Trung Hoa lần nữa, nhưng bị bệnh mất ngày 10 tháng 8 năm Canh Th́n, thọ 56 tuổi.

Thi văn chữ Hán của Nguyễn Du để lại gồm Thanh Hiên Tiền Hậu Tập, Bắc Hành Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm, Lê Quí Kỷ Sự.  

Về thơ Nôm, Nguyễn Du lưu lại trong kho tàng văn học Việt Nam thiên trường thi bất hủ Đoạn Trường Tân Thanh (ĐTTT), được truyền tụng trong dân gian và được liệt vào tài liệu giáo khoa dạy ở bậc trung học.  

ĐTTT là áng văn chương tuyệt tác, viết theo thể thơ lục bát gồm 3254 câu, dài nhất trong các thi phẩm xưa nay.

Ngoài ra, bài thơ chữ Nôm ‘Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh’ là một ngâm khúc gồm có 184 câu theo thể song thất lục bát, trong đó chứa đựng tấm ḷng từ bi của người Phật tử Nguyễn Du đối với cảnh khổ của muôn vạn sinh linh, cũng là một tác phẩm giá trị được nhiều học giả nghiên cứu, trích giảng.  

2. Hai thời kỳ lưu lạc (1786 - 1795) và ẩn cư (1796 - 1802) của Nguyễn Du: 

Từ trước tới nay, các nhà biên khảo văn học thường bàn luận và tŕnh bày nhiều về Nguyễn Du và tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh, mà ít khi nói tới hai giai đoạn quan trọng trong đời Nguyễn Du là thời kỳ sống lưu lạc ở miền Bắc và việc lui về ẩn cư ở quê nhà và trong thời gian này Nguyễn Du nghiên cứu kinh điển Phật giáo, tu học thiền tông để rồi hơn mười năm sau Nguyễn Du đă chứng ngộ khi đi sứ sang Trung Hoa (1813 - 1814)  (sẽ tŕnh bày rơ thêm trong những phần sau của bài viết). 

2.1  Thời kỳ lưu lạc từ 1786 - 1795: 

Trong suốt mười năm, Nguyễn Du lưu lạc ở miền Bắc, và Ông đă viết: ‘Thập tải phong trần khứ quốc xa’ (chuyển sang tiếng Việt: ‘Mười năm gió bụi cách xa quê’) v́ những lư do sau:                                                                      

- năm 1784,kiêu binh nổi dậy kéo đến nhà Nguyễn Khản và Ông trốn được lên Sơn Tây rồi về Hà Tĩnh, nhưng dinh cơ của Nguyễn Khản ở Thăng Long đều bị phá sạch.                                     

- người anh khác mẹ của Nguyễn Du là Nguyễn Quưnh, con của bà trắc thất Nguyễn Thị Xuyên, chống lại nhà Tây Sơn nên bị giết, và cũng v́ vậy mà Tây Sơn phá hết dinh cơ của họ Nguyễn ở Tiên Điền.

- năm 1786, Nguyễn Huệ (nhà Tây Sơn), lấy nghĩa phù Lê diệt Trịnh, kéo quân chiếm thành Thăng Long rồi vào yết kiến vua Lê Hiển Tông, các quan triều thần chạy trốn cả.

Nhà Lê làm vua, kể cả Tiền-Lê và Hậu-Lê, được 360 năm (1428 -1788).  (9)                                                                  

Trong bài thơ Quỳnh Hải Nguyên Tiêu có câu: ‘Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán’ (Hồng Lĩnh không nhà, anh em ly tán) cho ta thấy được lư do Nguyễn Du phải sống lưu lạc ở miền Bắc. 

‘Trong những bài thơ Xuân Nhật Ngẫu Hứng, Tự Thán, Bất Mị, Sơn Cư Mạn Hứng, U Cư,.. ta ‘bắt gặp được rất nhiều ư t́nh về cảnh sống xa quê hương, sầu thời thế, nghèo khổ, lưu lạc, ‘tan tác ...’ (2) (sách đă dẫn, trang 2-9).

2.2 Thời kỳ ẩn cư từ 1796 - 1802: Năm 1796, Nguyễn Du định rời Hà Tĩnh để vào Gia Định giúp Nguyễn Ánh nên bị tướng Nguyễn Thận của nhà Tây Sơn bắt giam. Nhưng Nguyễn Thận đă tha cho Nguyễn Du v́ nể t́nh bạn với Nguyễn Nễ, anh của Nguyễn Du.  

Sau đó Nguyễn Du lui về ẩn cư ở quê nhà. Sách có ghi là Nguyễn Du theo gót La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp (9) đi ngao du sơn thủy, đi khắp cả vùng 99 ngọn núi Hồng Lĩnh, dăy núi vùng Nghệ An - Hà Tĩnh, cách quê của Nguyễn Du khoảng 10 cây số. Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền chép ‘Ông trở về, lấy cảnh núi sông làm vui, tự gọi ḿnh là Hồng Sơn Liệp Hộ (người săn bắn núi Hồng) và Nam Hải Điếu Đồ’ (người chài lưới biển Nam).    

Về nhân vật lịch sử La Sơn Phu Tử, theo Trần Trọng Kim, là: ‘Ông Nguyễn Thiệp, tự là Khải Chuyên, hiệu là Nguyệt Úc, biệt hiệu là Hạnh Am. Ông làm nhà ở Lục Niên Thành, thuộc huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh bây giờ, cho nên người ta gọi là Lục Niên tiên sinh hay là La Sơn Phu Tử. Vua Quang Trung từ khi đem quân ra đánh Bắc Hà, biết tiếng Nguyễn Thiệp, đă mấy lần cho người đem lễ vật mời ông ra giúp, ông không nhận lễ và cũng từ chối không ra. Đến khi Ngài đă đăng cực, lại mấy lần cho người đón mời ông, ông có đến bái yết và khuyên vua nên lấy nhân nghĩa mà trị dân trị nước, rồi lại xin về. Vua Quang Trung tuy không dùng được ông, nhưng bao giờ cũng tôn kính ông như bậc thầy, và việc chính trị trong nước thường theo ư nghĩa của ông đă tŕnh bày.’ (9) (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, quyển 2, Bộ Giáo Dục xuất bản, Sài G̣n 1971, trang 140-141).

Trong thời gian ẩn cư này Nguyễn Du có gặp và học hỏi Phật pháp với một vị tăng là Huyền Hư Tử, rồi từ đó Nguyễn Du đọc và nghiên cứu kinh điển Phật Giáo. 

2.2.1 Nguyễn Du đă cho chúng ta thấy là ông đă chán ngán việc học hành, kiến thức thế    gian tầm thường ‘Suốt đời thơ phú ṛng vô bổ, Đầy giá sách đàn chất măi ngu.’ trong bài thơ sau:

Mạn Hứng 

 

Long Vĩ châu biên đa bạch âu,

Lam Giang đường thượng hữu hàn nho

Nhất sinh từ phú tri vô ích,

Măn giá cầm thư đồ tự ngu.

Bách tuế vi nhân b́ thuấn tức,

Mộ niên hành lạc tích tu du.

Ninh tri dị nhật tây lăng hạ, 

Năng ẩm trùng dương nhất trích vô

   

(Long Vĩ bờ bên một đám c̣, 

Sông Lam trên bến bác hàn nho.

Suốt đời thơ phú ṛng vô bổ,

Đầy giá sách đàn chất măi ngu.

Cuộc sống trăm năm coi mấy chốc,

Chuyện vui tuổi cả tiếc từng giờ.

Phiá tây băi cỏ khi nằm xuống,

Chén rượu trùng dương ai tưới cho.)

(Nguyễn Vũ My và Trần Thanh Mại dịch)   (2) (sách đă dẫn, trang 10-11)

2.2.2 Từ những chán ngán cái học tầm thường của thế gian, Nguyễn Du đă t́m đọc và nghiền ngẫm kinh điển Phật (nhất là kinh Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật) và tu tập thiền định nên dù sống nghèo mà ḷng vẫn an nhiên tự tại để ‘Lá rơi hoa nở việc trước mắt, Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng’, hay là ‘Đạt sĩ, cơi ḷng trăng sáng tỏ, Cao nhân, trước cửa núi bao la’ như trong hai bài thơ sau:  

Tạp Thi  II

 

Hồng Sơn nhất sắc lâm b́nh cừ

Thanh tịch khả vi hàn sĩ cư.

Thiên lư bạch vân sinh kỷ tịch,

Nhất song minh nguyệt thướng cầm thư

Tiếu đề tuẩn tục can qua tế,

Giam mặc tàng sinh lăo bệnh dư.

Diệp lạc hoa khai nhăn tiền sự,  

Tứ thời tâm kính tự như như. 

 

(Trên giải non Hồng dưới làn nước

Nho nghèo ở đó cũng thanh nhàn         

Ngh́n tầm mây bạc quanh giường chiếu,

Một mảnh trăng trong giọi sách đàn.

Cười khóc theo đời qua buổi loạn,

Trầm tiềm giữ miệng dưỡng thân tàn.

Lá rơi hoa nở việc trước mắt,

Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng.)

 

 

Tạp Ngâm  II

 

Long Vĩ giang đầu ốc nhất gian, 

U cư sầu cực hốt tri hoan.

Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt,

Xử sĩ môn tiền thanh giả san.

Chẩm bạn thúc thư phù bệnh cốt,

Đăng tiền đẩu tửu khởi suy nhan. 

Táo đầu chung nhật vô yên hỏa 

Song ngoại hoàng hoa tú khả xan.

 

(Đầu sông Long Vĩ một gian nhà,

Ở ẩn buồn teo bỗng thú a !

Đạt sĩ, cơi ḷng trăng sáng tỏ,

Cao nhân, trước cửa núi bao la.

Sách chồng cạnh gối đỡ thân mệt,

Rượu nhắp bên đèn đổi sắc da.

Trong bếp suốt ngày không khói lửa,

Ngoài song no với khóm hoàng hoa.) 

(Nguyễn Vũ My và Trần Thanh Mại dịch)   (2) (sách đă dẫn, trang 10-11)

2.2.3  Nhờ đọc và nghiên cứu kinh điển Phật Giáo, tu tập thiền định và thực hành sâu xa Trí Tuệ Bát Nhă của kinh Kim Cương, Nguyễn Du quán xét tất cả các pháp hữu vi đều không có tự tánh, vô thường sinh diệt. V́ buông xả các pháp và vọng tưởng nên Nguyễn Du cho chúng ta thấy Ông đă ‘hàng phục vọng tâm và an trụ chân tâm’ của ḿnh qua bài thơ ‘ Đạo Ư ’sau đây:    

Đạo Ư

 

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,

Tỉnh thủy vô ba đào.

Bất bị nhân khiên xả 

Thử tâm chung bất dao

Túng bị nhân khiên xả  

Nhất dao hoàn phục chỉ.

Trạm trạm nhất phiến tâm,

Minh nguyệt cổ tỉnh thủy.

 

(Trăng sáng giọi giếng xưa,

Nước giếng không gợn sóng.

Không ai người khuấy lên

Ḷng này không xao động.

Dù ai người khuấy lên

Động qua lặng rất chóng.

Trong vắt một tấm ḷng,

Giếng xưa trăng giọi bóng.)

(2)  (sách đă dẫn, trang 27-28)

2.2.4 Khi tâm an trụ không dính mắc 6 trần cảnh (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) nên tâm như như chẳng động. Chúng ta hăy đọc bài thơ ‘Đề Tam Thanh Động’ của Nguyễn Du để hiểu rơ ‘tâm’ của thi hào Tố Như  ‘thường định không rời cảnh thiền’ v́ Nguyễn Du đă học và hiểu kinh Kim Cương nên không c̣n chấp vào ‘ngă tướng’, ‘nhân tướng’, ‘chúng sinh tướng’ và ‘thọ giả tướng’ nên quán sát tất cả các cảnh giới đều không có tướng (vô tướng) (‘Măn cảnh giai không hà hữu tướng’, Khắp cảnh giới đều trống rỗng th́ làm ǵ c̣n sắc tướng):

Đề Tam Thanh Động

Vạn ban thủy thạch thiện đại xảo,

Nhất lạp kiền khôn khai tiểu thiên,

Măn cảnh giai không hà hữu tướng,

Thử  tâm thường định bất ly thiền

(người viết xin tạm chuyển sang tiếng Việt)

                                                                                   

Ngàn muôn đá, nước, xếp tự nhiên,

Hạt nhỏ đất trời đă mở nên,

Khắp cảnh rỗng không, c̣n đâu tướng,

Ḷng này thường định chẳng rời thiền.

 

 

Ngàn muôn thứ nào đá, nào nước, xếp đặt tự nhiên,nghệ thuật rất khéo,

Một hạt nhỏ trời đất mở ra một thế giới nhỏ nữa,

Khắp cảnh giới đều trống rỗng th́ làm ǵ c̣n sắc tướng,

Ḷng này thường định không rời cảnh thiền.

(Bài dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang 173) 

2.3 Sau này khi đi sứ sang Trung Hoa (1813 - 1814), Nguyễn Du đă viết trong bài thơ ‘Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài’ và cho ta thấy Nguyễn Du đă đọc kinh Kim Cương hàng ngàn lần trong những năm Nguyễn Du ở ẩn nơi quê nhà:

‘... Minh kính diệc phi đài,

Bồ đề bản vô thụ.

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh,

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh,

Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,

 Chung tri: vô tự thị chân kinh.’ 

Bài dịch của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục:

‘... Tấm gương trong không phải thật có đài gương,

Cây Bồ Đề cũng không phải cây thật.

Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần,

Ư nghĩa uyên thâm trong ấy phần nhiều không hiểu;

Tới nay đến dưới đài Phân Kinh này,

Mới biết rằng kinh không chữ mới thật là chân kinh.’

(4) (Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu, trang 173)

 2.4      Chúng ta ai cũng biết là kinh Kim Cương là kinh thường tụng đọc hằng ngày trong Thiền tông và những ai học và thực hành thiền đều đọc kinh này v́ Đức Phật đă dạy ông Tu Bồ Đề trong kinh này: 

 

Nếu lại có người nào đối với kinh này, lănh thọ và hành tŕ được, cho chí đến bốn câu kệ, và lại đem nói cho người nghe mà làm, th́ lại phúc hơn người kia. V́ cớ ǵ vậy? - Này ông Tu Bồ Đề, hết thảy chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Anuttara Samyak Sambodhi, tiếng Hán chuyển âm là A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề) của chư Phật, cũng đều bởi kinh này mà ra. Ông Tu Bồ Đề, cái pháp ta gọi là Phật pháp đó, tức không phải là Phật pháp’.   (3) (Kinh Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật, phận thứ 8, ‘Y pháp xuất sinh’, Nương theo pháp mà sinh ra, Thiều Chửu dịch và giảng giải,   trang 47-49).  

2.5 Chúng ta có thể hiểu là Nguyễn Du học Phật pháp và tu theo Thiền tông trong thời gian ở ẩn nơi quê nhà và Nguyễn Du cũng đọc cả ‘Pháp Bảo Đàn Kinh’ của Lục Tổ Huệ Năng khi Nguyễn Du đă trích dẫn hai câu trong bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng:

Minh kính diệc phi đài,

Bồ đề bản vô thụ.

(Gương sáng cũng không đài

Bồ đề chẳng có thân)

3.  Vào những năm cuối của đời ḿnh, Vũ Khắc Khoan (sinh ngày 27 tháng 2 năm 1917 tại Hà Nội và qua đời ngày 12 tháng 9 năm 1986 tại Minnesota, Hoa Kỳ) đă đọc và nghiên cứu kinh Phật do đó trong tác phẩm ‘Đọc Kinh’ (1) Vũ Khắc Khoan đă có viết về Nguyễn Du, tác giả của tuyệt tác Đoạn Trường Tân Thanh, như sau: 

" Khoảng đầu thế kỷ thứ 19, nhân một chuyến đi sứ sang Trung Quốc, Nguyễn Du có dịp đến tham Phân Kinh Thạch Đài. Bấy giờ - trên 1,000 năm đă qua - đá đài Phân Kinh đă ṃn. Rêu leo xanh mái, mưa cũ đọng chân tường, cỏ dại lấp lối đi, hoang vu hun hút hành lang vắng lặng. Trời ngả vào chiều. Nắng quái lung linh vách đá. Đâu rồi những vết kinh xưa. Lăng Già, Viên Giác, Bát Nhă, Kim Cương. Kim Cương... Ngă độc Kim Cương thiên biến linh.’   

‘Tôi nghe như vầy: Một hôm tại nước Xá Vệ, Phật và 1250 vị Đại Tỳ Kheo đều ở tịnh xá Kỳ Hoàn, trong vườn của thái tử  Kỳ Đà và ông trưởng giả Cấp Cô Độc. Sắp đến giờ ngọ trai, Phật và chúng tăng đều đắp y, mang  b́nh bát vào thành Xá Vệ, theo thứ lớp khất thực. Khất thực xong, Phật và chúng tăng đồng về tịnh xá để thọ trai. Sau khi thọ trai xong, Phật xếp y, cất b́nh bát và rửa chân, rồi trải tọa cụ, ngồi yên tịnh. Khi đó, ở trong đại chúng, ông trưởng lăo Tu Bồ Đề đứng dậy, vén tay áo bên hữu, gối bên hữu quỳ xuống, chắp tay cung kính bạch Phật rằng: - Hy hữu thay, đức Thế Tôn! Ngài thường nhớ nghĩ và bảo hộ các vị Bồ Tát, Ngài rất hay khéo dạy bảo các vị Bồ Tát. Bạch Thế Tôn, nếu có người phát tâm Bồ Đề muốn cầu quả Phật, th́:

Làm sao hàng phục vọng tâm?

Làm sao an trụ chân tâm?  ...’ 

(Kinh Kim Cương, phận Pháp Hội Nhân Do,và phận Ngài Tu Bồ Đề (Subhuti) thỉnh cầu Phật thuyết pháp). 

'Hàng phục vọng tâm, an trụ chân tâm, hai niềm thắc mắc không riêng của ông Tu Bồ Đề, mà của toàn thể đại chúng thuở đó, của chúng ta hôm nay, của Nguyễn Du, riêng Nguyễn Du một ḿnh.

 

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh

1,000 lần, hai niềm thắc mắc đó đặt ra. Và biết bao nhiêu lần nữa, khi cuốn kinh gấp lại ? Đôi khi, từ những ngôn từ tường-đồng-vách-sắt dựng lên trong kinh nghe cũng có vọng ra bên ngoài, lọt vào tâm thức Nguyễn Du một chút ǵ - như vậy, như vậy - tạm gọi là nghĩa của kinh. Nhưng nghĩa đó chắc đâu đă là ư của người nói kinh? Ư của đức Thế Tôn năm xưa đâu phải chỉ là như vậy, như vậy?

 Ngă độc Kim Cương thiên biến linh

Lần thứ 1,000 lẻ một, không có kinh. Chỉ có nắng chiều và đá tảng. Nắng dợn trên đá phân kinh. Và đá và nắng bỗng nhiên hội duyên nói pháp.

.... Thuở đó, xa rồi. Chấm dứt. Giờ đây nắng tắt, đá ṃn. Giờ đây chỉ c̣n một chút chập chờn.

Trong đêm nghe như đă bắt đầu, lời kinh âm u như vọng như chân, nghĩa kinh ẩn ẩn hiện hiện, ánh lửa chài le lói bên sông lạ, ư kinh tuyệt mù trong mộng và huyễn, là bọt nước mặt hồ trong cơn mưa ngâu, giọt sương chiều đọng lại, giọt sương mai tan đi. Vừa kịp thấy đó, chớp mắt không c̣n, mới nghe vang lên đă ch́m vào sâu lặng, hay, rồi lại lăng đăng, nhạt nḥe, biết mà nói lên th́ bất ... khả thuyết. Thấy-nghe-hay-biết chỉ là chập chờn cánh con bướm trắng trên luống cải xanh. Hay chỉ là một niệm khởi lên chập chờn sương khói, Nguyễn Du đă lọt vào một khoảng mù khơi tịch mịch?

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh  

Bài Phân Kinh Thạch Đài giữa ḷng đá vắng lặng không là một thú nhận nỗi bất lực của riêng Nguyễn Du trước những trang Kim Cương.

Bài kư Phân Kinh là một thú nhận nỗi bất lực của ngôn từ và văn tự con người khi muốn nắm bắt cái chập chờn ‘áo chỉ’ của cơi vô ngôn đó, bất khả tư ngh́.

Tôi gắng nhớ lại bài thơ, lơm bơm. Dừng lại ở hai câu:           

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh  

Khá lâu. Bâng khuâng nghĩ đến niềm khắc khoải của người xưa tầm đạo. Làm sao hàng phục vọng tâm? Làm sao an trụ chân tâm?           

Kim Cương đọc đến ngàn lần

Mà trong mờ ảo như gần như xa  

Như gần như xa nhưng vẫn ở đó, câu trả lời vẫn ở đó, nơi vườn Kỳ Thọ. Và bây giờ, vượt khỏi ngôn từ và văn tự, giữa Kim Lăng, vọng ra từ kẽ đá phân kinh, mờ mờ ảo ảo, như gần như xa, có mà không, không nhưng có, như mộng như ảo, như bọt nổi trên mặt nước, như chớp biển ngoài khơi, như bóng h́nh lăng đăng trong gương, như giọt sương đêm đọng lại, như giọt sương mai tan đi trên đầu ngọn cỏ, câu trả lời vẫn ở đó, câu trả lời đến thẳng với Nguyễn Du, trong hoang vu Phân Kinh Thạch Đài.

Này Tu Bồ Dề. Hăy nghe lời đá, lời đá nói rằng: 

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn, bào, ảnh,

Như lộ, diệc như điển

Ưng tác như thị quán 

Tất cả, cái ǵ gọi lên cũng chỉ là tạm gọi. Ngay cả hai chữ Kim Cương. Như Lai nói Kim Cương tức không phải Kim Cương, thế mới gọi là Kim Cương."  (1) (Đọc Kinh, Vũ Khắc Khoan, 1984, Bà Vũ Khắc Khoan tại Hoa Kỳ và An Tiêm xuất bản, 1988, trang 22 - 26) 

Khi Vũ Khắc Khoan viết quyển ‘Đọc Kinh’ th́ Ông chỉ trích dẫn có hai câu gần cuối bài thơ ‘Lương Chiêu Minh Thái Tử  Phân Kinh Thạch Đài’ của Nguyễn Du. 

4.  Bốn câu kệ dẫn ở trên là bốn câu kệ lấy từ phận thứ 32 của Kinh Kim Cương ‘Ứng Hóa Phi Chân’ (Ứng cơ hiện thân hóa độ không phải là thật) mà Thiều Chửu đă chuyển sang tiếng Việt như sau:    (3) (sách đă dẫn, trang 103-104)

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng huyễn, bào, ảnh

Như lộ, diệc như điển

Ưng tác như thị quán

 

(Hết thảy pháp hữu vi

Như mộng huyễn, bọt, bóng

Như móc, cũng như chớp

          Nên coi như thế này)               

Uyên Như Thiền trong bài ‘Vài lời giới thiệu Kinh Kim Cương’ đă giới thiệu bốn câu cuối của bài thơ Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài của Nguyễn Du và đă viết: ‘Ai cũng biết tác giả truyện Kim Vân Kiều là Cụ Nguyễn Du, nhưng nào có ai ngờ chính Cụ là nhà Phật học thâm thuư về Đại Thừa cho nên Cụ đă có làm bài thơ như sau: 

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài thị

Chung tri: vô tự  thị chân kinh. 

Đại ư nói rằng: Cụ đă tụng Kinh Kim Cương  hơn cả ngh́n lần mà chưa giác ngộ, sau đến Phẩm Thạch Đài, Cụ mới giác ngộ mà hiểu rằng Kinh thiệt là cuốn Kinh không có một chữ nào. Thảo nào thế nên Cụ đă lồng tư tưởng Phật Giáo vào truyện Kiều mà ít ai lưu ư.’  (3) (Vài lời giới thiệu Kinh Kim Cương, sách đă dẫn, trang 13).  

Uyên Như Thiền đă hiểu Nguyễn Du sâu sắc nhưng Uyên Như Thiền chỉ lầm một điểm duy nhất khi viết về ‘Phẩm Thạch Đài ’ như trên v́ trong Kinh Kim Cương (tất cả có 32 phận) không có phận nào tên là Phẩm Thạch Đài. 

Theo Thiều Chửu, dịch giả của quyển Kinh Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật (VAJRACCHEDIKÀ PRAJNA PARAMITA SUTRA) th́: "Kinh này nguyên không có chia ra chương mục ǵ cả, sau ngài Chiêu Minh Thái Tử nhà Lương chia làm 32 phận. Song, tuy chia làm 32 phận, mà nghĩa văn th́ vẫn một mạch liên quán nhau, không thể cắt đứt từng đoạn được. Chia ra từng phận cho người mới học dễ nhớ mà thôi, c̣n người học tinh th́ phải nghiên cứu cho tinh mà dung hóa cả làm một mới có thể hiểu được."   (3)  (sách đă dẫn, trang 27).                         

5. Hương Giang Thái Văn Kiểm trong bài khảo luận công phu ‘Lời Bạt: Đầu năm Quư Dậu 1813 Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc’ đă viết (bài này in trong ‘Trích giảng Truyện Kiều của Nguyễn Du’, Giáo Sư Hồ Đ́nh Chữ, Việt Luận xuất bản, Sydney, 1996, trang 305-329) (2): 

"Từ trước tới nay, các nhà biên khảo văn học thường bàn luận nhiều về Nguyễn Du và Truyện Kiều, mà ít khi nói tới một trạng thái khác trong đời Cụ là việc đi Sứ sang Trung Quốc." (2) 

Về việc Nguyễn Du đi sứ, Gia phả chép: ‘Tháng Hai năm Quư Dậu (1813), ông được thăng hàm Cần Chính Điện Học Sĩ, rồi có chỉ sai làm Chính Sứ tuế cống, cùng với các ông Phó Sứ là Đàm Ân Hầu, Thiêm Sự bộ Lại, và Phong Đăng Hầu, Thiêm Sự bộ Lễ, đi sứ Trung Quốc. Tháng tư năm Giáp Tuất (1814) ông trở về Kinh.’ (2) (sách đă dẫn, trang 315). 

Nguyễn Du về Kinh để phúc tŕnh sứ mạng lên nhà vua, đồng thời mang về nhiều quư thư dị vật. Theo Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện, ngoài bản phúc tŕnh thường lệ, Nguyễn Du c̣n sáng tác Bắc Hành Thi Tập Thuư Kiều Truyện. (Vưu trường ư thi, thiên quốc âm, Thanh sứ hoàn dĩ Bắc Hành Thi Tập cập Thuư Kiều Truyện hành thế).  (2) 

"Nguyễn Du đă t́m cách viếng thăm hầu hết những danh lam thắng cảnh, di tích văn chương và lịch sử, đền đài, lăng tẩm, miếu điện liên hệ những danh nhân, anh hùng, liệt nữ, nữ lưu mà Cụ đặc biệt có nhiều cảm t́nh nhất, như hai Bà Nữ Anh và Nga Hoàng mà vua Nghiêu đă gả cho vua Thuấn."  (2)

"Trên đường châu du Trung Quốc, Nguyễn Du đă viếng thăm miếu điện, đền đài, lăng mộ của hầu hết những danh nhân kỳ nữ nước bạn, mỗi nơi đều có cảm tác một vài bài thơ diễn tả tâm t́nh, cảm giác, và phê phán công minh, khen chê đúng mức. Nguyễn Du đă nhắc tới Mă Viện, Hoàng Sào, hai bà vợ vua Thuấn, Dương Quư Phi, Triệu Vũ Đế, Thái Văn Cơ, Trương Thị, Vi Ưng Vật, Tam Tạng Trần Huyền Trang, Liễu Tôn Nguyên, Khuất Nguyên, Giả Nghị, Đỗ Phủ mà Tiên Điền đặc biệt hâm mộ và tôn trọng như bậc thầy."  (2) 

Thái Văn Kiểm trong bài khảo luận cũng đă trích dẫn nhiều bài thơ trong tác phẩm Bắc Hành Thi Tập mà Nguyễn Du đă sáng tác suốt trong thời gian đi sứ sang Trung Quốc, nhưng tiếc thay Thái Văn Kiểm đă không trích dẫn bài thơ quan trọng của Nguyễn Du khi Nguyễn Du đến viếng cảnh hoang tàn đổ nát của một di tích lịch sử Trung Quốc: Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài.  

Nhưng Lương Chiêu Minh Thái Tử  là ai?

Lương Chiêu Minh Thái Tử chính là con của vua Lương Vơ Đế (Liang Wu Ti) ở Trung Hoa.

Vua Lương Vơ Đế đă có công xây dựng nhiều ngôi chùa Phật giáo, in nhiều kinh Phật và độ các Tăng, và cũng là vị vua Trung Hoa thỉnh mời Tổ Bồ Đề Đạt Ma (sau này là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa) về Kim Lăng để thưa hỏi Tổ Bồ Đề Đạt Ma về Phật pháp.

Ngoài việc Lương Chiêu Minh Thái Tử phân đoạn Kinh Kim Cương ra làm 32 phận (hay là đoạn v́ kinh này trước kia không có chia ra làm chương mục), Lương Chiêu Minh Thái Tử c̣n cho xây dựng Phân Kinh Thạch Đài (đầu thế kỷ thứ 6 dương lịch) để xử dụng như một thư viện quốc gia về Phật học, nơi tàng trữ, thu tập tất cả kinh, luật, luận Phật giáo đương thời và là trung tâm nghiên cứu Phật học. 

Cứ theo sách ghi chép th́ Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma) rời nước Quốc Hương, nam Thiên Trúc (Dekhan) để đi đến Việt Nam đầu tiên và có lẽ ngài ở đây một thời gian khá lâu, v́ Việt Nam khi đó được coi là trung tâm giao tiếp giữa Ấn Độ và Trung Hoa, nơi người ta có thể t́m được những người biết cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng Thiên Trúc. Sự kiện chỉ ghi rằng: Bồ Đề Đạt Ma trước đến Việt Nam sau vượt sông qua Ngụy (nguyên văn: "Sơ liên tống cảnh Nam Việt, mạt hựu tỷ độ chí Ngụy ", sách Tục Cao Tăng Truyện, chương 19, Đại Tạng Kinh, quyển 50).  (6)   (trích dẫn từ quyển ‘Bồ Đề Đạt Ma, Tuyệt Quán Luận’, Vũ Thế Ngọc dịch, EastWest Institute xuất bản, Hoa Kỳ, 1983).

"Theo sách Cảnh Đức Truyền Đăng Lục th́ khi Bồ Đề Đạt Ma đến Quảng Châu, Trung Hoa, vào khoảng thập niên 470, th́ thứ sử tỉnh này lấy lễ nghinh tiếp và dâng biểu về triều báo tin lên vua Lương Vơ Đế. Vua sai sứ thỉnh mời Tổ Bồ Đề Đạt Ma về Kim Lăng để thưa hỏi Tổ về Phật pháp. Truyền Đăng Lục ghi lại cuộc đối đáp này như sau:

‘-Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, xây chùa, in kinh, độ tăng rất nhiều. Vậy có công đức ǵ ‘chăng?

‘Tổ Đạt Ma đáp: - Đều không có công đức.

-         Tại sao không có công đức?

-         Bởi v́ đó chỉ là những tiểu quả của cơi người cơi trời mà thôi, là cái nhân hữu lậu như bóng theo h́nh, tuy có mà chẳng thật.

-         Vậy thế nào mới là thiệt công đức?

-         Trí hoàn toàn trong sạch. Thể phải tự nhiên trống vắng, như thế mới là Công Đức. Công Đức là nơi bổn tánh chứ chẳng phải do nơi công nghiệp thế gian (xây chùa, chép kinh...) mà cầu đổi cho được. 

Vua lại hỏi:  - Chân lư tối cao của bậc thánh là ǵ?

-         Khi tỉnh rơ thông suốt rồi th́ không có ǵ gọi là thánh cả.

-         Đối diện với trẫm là ai?

-         Không biết.

Vua Lương Vơ Đế không lănh hội được, lui về nghỉ. Tổ Đạt Ma biết căn cơ không hợp, ngài lưu lại vài hôm rồi qua Giang Bắc, ngài lên núi Tung Sơn, ở chùa Thiếu Lâm trọn ngày ngồi thiền đối vách im lặng trong chín năm".     (6)    (sách đă dẫn, trang 68-70)

Tổ Bồ Đề Đạt Ma là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa, đă ấn chứng và truyền y bát cho Huệ Khả là vị Tổ Thiền Tông thứ hai, rồi truyền xuống ngài Tăng Xán, Tổ thứ ba, ngài Đạo Tín, Tổ thứ tư, ngài Hoằng Nhẫn, Tổ thứ năm và sau cùng truyền đến Huệ Năng là Tổ thứ sáu. 

6.  Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, trong quyển ‘Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du’ (4) đă cho người đọc khám phá ra Nguyễn Du là một nhà học Phật, tinh thông Phật pháp qua bài thơ chữ Hán mà Nguyễn Du đă viết khi đến thăm ‘Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài’ trong thời gian đi sứ sang Trung Quốc năm 1813 - 1814:  

LƯƠNG CHIÊU MINH THÁI TỬ PHÂN KINH THẠCH ĐÀI

Ngô văn Thế Tôn tại Linh Sơn,

Thuyết pháp độ nhân hằng hà sa số.

Nhân liễu thử tâm, nhân tự độ,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Minh kính diệc phi đài,

Bồ đề bản vô thụ.

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh,

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh;

Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ,

Chung tri: vô tự thị chân kinh.

 

Ta nghe Thế Tôn tại Linh Sơn

Giảng pháp độ người nhiều vô số

Người hiểu tâm này, người tự độ

Linh Sơn chỉ ở tại tâm ḿnh

Gương sáng chẳng có đài

Bồ đề cũng không thân

Kim Cương đọc đến ngàn lần

Mà trong mờ ảo như gần như xa

Thạch Đài t́m đến hiểu ra

Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời

(người viết xin tạm chuyển sang tiếng Việt) 

Sau đây là bản dịch của Nguyễn Đăng Thục trong Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, trang 174  (4):

Ta nghe nói Thế Tôn ở Linh Sơn,

Thuyết pháp độ người như cát sông Hằng.

Người ta giải được tâm này ấy là ḿnh tự độ,

Linh Sơn chỉ ở tại ḷng ḿnh.

Tấm gương trong không phải thật có đài gương,

Cây Bồ Đề cũng không phải cây thật.

Ta đọc kinh Kim Cương có hơn ngàn lần,

Ư nghĩa uyên thâm trong ấy phần nhiều không hiểu;

Tới nay đến dưới đài Phân Kinh này,

Mới biết rằng kinh không chữ mới thật là chân kinh. 

Nguyễn Du là một thiên tài về thi ca với khả năng uyên bác về văn học thế mà khi đọc Kinh Kim Cương cả ngàn lần Nguyễn Du vẫn chưa hiểu trọn vẹn nghĩa của kinh như Nguyễn Du đă viết:

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

 

Kim Cương đọc đến ngàn lần

Mà trong mờ ảo như gần như xa 

Nhờ học Phật pháp, tu tập thiền định, nghiên cứu kinh điển Phật Giáo đă nhiều năm một cách hết sức tinh tấn nhất là kinh điển Đại Thừa trong đó có Kinh Kim Cương mà Nguyễn Du đă đọc hàng ngàn lần, do đó vào năm 1813, khi Nguyễn Du đến thăm Phân Kinh Thạch Đài (xây vào khoảng thế kỷ thứ 6) và sau hơn 12 thế kỷ đă trôi qua, kinh điển nào thấy đâu? bao người tụng tŕ, nghiên cứu đă đi về đâu? Bây giờ ở nơi đó chỉ c̣n di tích hoang tàn đổ nát của Thạch Đài khiến cho Tâm Chân Như của Nguyễn Du bừng sáng để Nguyễn Du chứng ngộ Tánh Không (Sunnyatta) của Kinh Kim Cương và Nguyễn Du đă thốt lên rằng Kinh Kim Cương chẳng qua không có chữ (vô tự):  

Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ

Chung tri: vô tự thị chân kinh

 

Thạch Đài t́m đến hiểu ra     

Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời. 

Nguyễn Du đă đọc kinh điển Phật để rồi quán sát thông suốt và nhận ra rằng lời kinh Phật nói ra đều là những pháp môn phương tiện dắt dẫn chúng sinh vào Đạo; như nước dùng để rửa bụi, như thuốc dùng để chữa bệnh.

Nay chứng được ‘thân không’, ‘tâm không’, ‘tánh không’ th́ tất cả các pháp đều không, kể cả Phật pháp trong đó có Kinh Kim Cương.

Bệnh khỏi th́ thuốc cũng trừ, gọi là chứng ngộ ‘Pháp không’.  

Đức Phật đă dạy: "Như Lai thường nói: Này Tỳ Kheo các ông nên biết ta nói pháp ví dụ như chiếc bè; pháp c̣n nên bỏ, huống là phi pháp" ("Như Lai thường thuyết: Nhữ đẳng Tỳ Kheo tri ngă thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.")

(10)   (‘Kinh Kim Cang Giảng Giải’, Thích Thanh Từ, phần thứ 6, trang 26-27). 

Bốn câu thơ sau cùng của bài thơ cho ta thấy Nguyễn Du đă chứng ngộ:

Ngă độc Kim Cương thiên biến linh  

Kỳ trung áo chỉ đa bất minh

Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ

Chung tri: vô tự  thị chân kinh.

 

Kim Cương đọc đến ngàn lần

Mà trong mờ ảo như gần như xa

Thạch Đài t́m đến hiểu ra

Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời

7.   Hai câu 5 và 6 trong bài thơ trên:   

Minh kính diệc phi đài, Bồ đề bản vô thụ (thọ).

là hai câu kệ mà Nguyễn Du trích từ bài kệ của Lục Tổ Huệ Năng (Hui Neng, 638 - 713, dương lịch) khi Lục Tổ c̣n học ở nơi Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (xin tạm chuyển sang tiếng Việt):  

Bồ đề bản vô thọ

Minh kính diệc phi đài

Bản lai vô nhất vật

Hà xứ nhá trần ai ?

 

(Bồ đề chẳng có thân

Gương sáng cũng không đài

Xưa nay không một vật

Nào chỗ vướng trần ai?) 

Bài kệ nói trên do Lục Tổ Huệ Năng viết sau khi nghe đọc bài kệ của Thượng Tọa Thần Tú, thầy Giáo Thọ và cũng là đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn. Thượng Tọa Thần Tú viết bài kệ như sau  (xin tạm chuyển sang tiếng Việt):

Thân thị bồ đề thọ

Tâm như minh cảnh đài

Thời thời cần phất thức

Vật sử nhá trần ai

(Thân như cây bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Giờ giờ cần phủi sạch

Chớ để vướng trần ai )  

(5)   (Pháp Bảo Đàn Kinh, Lục Tổ Huệ Năng, Thích Minh Trực dịch (Sài G̣n 1944), Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, Phật Lịch 2531, Hoa Kỳ, 1987, trang 25, 29) 

Chúng ta cũng không quên là Lục Tổ Huệ Năng đă chứng ngộ chân tánh khi Lục Tổ được nghe kinh Kim Cương: 

"" Huệ Năng nầy liền hiểu ư Tổ Sư, đến canh ba vào thất. Ngũ Tổ (Hoằng Nhẫn Đại Sư) lấy áo Ca Sa đắp cho ta; chẳng cho ai thấy, rồi nói kinh Kim Cang cho ta nghe, đến câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Nên không trụ vào chỗ nào mà sanh tâm ḿnh ". (Để cái tâm trống không, chẳng trụ  vào đâu cả) (nguyên văn chữ Hán ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’, câu này ở phận thứ 10 ‘Trang Nghiêm Tịnh Độ’, trang nghiêm cơi thanh tịnh, trong Kinh Kim Cương).

"Huệ Năng nầy nghe nói rồi liền rất tỏ sáng, biết rằng cả thảy muôn pháp chẳng ĺa tánh ḿnh, mới bạch với Tổ Sư rằng:

Nào dè tánh ḿnh vốn tự nhiên trong sạch

Nào dè tánh ḿnh chứa đầy đủ (muôn pháp)

Nào dè tánh ḿnh vốn không lay động

Nào dè tánh ḿnh có thể sanh ra muôn pháp.

Nếu chẳng biết Bổn Tâm, th́ học pháp vô ích. Bằng biết Bổn Tâm và thấy Bổn Tánh ḿnh, tức gọi là Trượng phu, là Phật, Thầy cơi trời và cơi người vậy ".      (5)   (sách đă dẫn, trang 32-33) 

8. Nguyễn Du đưa triết học và tư tưởng PHẬT GIÁO vào ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH:  

8.1 Trong Đoạn Trường Tân Thanh, Nguyễn Du đưa triết học và tư tưởng Phật giáo vào trong thi ca như nghiệp, thiện căn, tâm,... thí dụ như trong đoạn thơ sau :  

Đă mang lấy nghiệp vào thân               

Cũng đừng trách lẫn trời gần hay xa

Thiện căn ở tại ḷng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài 

 (câu thứ 3252, ĐTTT ) 

*Chữ tâm ở câu thứ 3252 trong ĐTTT: ‘Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài’ cũng là chữtâm’ mà Nguyễn Du viết ở trong bài thơ Đề Tam Thanh Động đă dẫn ở trên:

- Thử  tâm thường định bất ly thiền 

Ḷng này thường định chẳng rời thiền),  

- hay chữ tâm trong bài Lương Chiêu Minh Thái Tử Phân Kinh Thạch Đài: 

Nhân liễu thử tâm, nhân tự độ,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu.

Người hiểu tâm này, người tự độ,

Linh Sơn chỉ ở tại tâm ḿnh.

- hay chữ tâm như như trong bài thơ Tạp Thi  II đă dẫn ở trên: 

Tứ thời tâm kính tự như như.

Tâm trạng quanh năm vẫn nhẹ nhàng. 

Tâm như như mà Nguyễn Du nói đến là Tâm chân như‘tâm chơn như là thể, tâm sinh diệt là tướng dụng, tâm này không hư vọng nên gọi là ‘chơn’, không biến đổi nên gọi là ‘như ’. Thế nên trong Luận ( Đại Thừa Khởi Tín Luận * ) mỗi mỗi nói: ‘Tâm chơn như, tâm sanh diệt’. (7) (Nguồn Thiền, nguyên tác ‘Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự ‘, Thiền Sư Tông Mật, Hoà thượng Thích Thanh Từ dịch, Phật Lịch 2512, 1969, Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc).

Đại Thừa Khởi Tín Luận (Sraddhotpàda) của Bồ Tát Mă Minh viết vào thế kỷ thứ 1, tây lịch. 

8.2  Tác giả Mai Hiền Lương trong tác phẩm ‘Tiếng Ḷng của Nguyễn Du’ dầy gần 300 trang gồm 21 bài luận, đă dẫn nhiều đoạn thơ trong Đoạn Trường Tân Thanh để giải thích và chứng minh là về mặt tư tưởng Nguyễn Du đă đưa triết lư của đạo Phật vào ĐTTT.

(8) (Tiếng Ḷng của Nguyễn Du, Mai Hiền Lương, Nhân Duyên ấn hành 1997, Gia Nă Đại) . 

Một thí dụ dẫn chứng của tác giả Mai Hiền Lương: mở đầu Đoạn Trường Tân Thanh (ĐTTT), Nguyễn Du đă đề cập đến cái KHỔ của kiếp người v́ làm người là mặc nhiên chấp nhận KHỔ, và đây cũng là chân lư đầu tiên của Tứ Diệu Đế trong giáo lư nhà Phật: khổ, tập, diệt, đạo. Triết học Phật giáo được tŕnh bày rơ ràng trong hai chữ  cơi người v́ Đức Phật dạy rằng chúng sinh nếu không tu hành theo đạo giải thoát sẽ tái sinh trong chu kỳ luân hồi của sáu cơi (lục đạo): trời, người, atula, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục, và trong sáu cơi này chỉ có cơi người mới có những thuận duyên để tu hành con đường giải thoát như Đức Phật đă dạy.   

Trăm năm trong cơi người ta  (câu thứ 1, ĐTTT)

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu  

Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng  

Hai chữ tài và mệnh đă được Nguyễn Du cho rằng có sự tương khắc ‘ghét nhau’ đă khiến nhiều người kết luận đơn giản và đă từng giảng dạy là Nguyễn Du chủ trương thuyết ‘tài mệnh tương đố’.   (8) (sách đă dẫn, trang 37-38).  

9. Lược khảo về kinh Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật  (Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità Sùtra)  

9.1 Thiền Sư Thích Thanh Từ trong ‘Kinh Kim Cang Giảng Giải’ đă giảng như sau:

‘Kinh này do Đức Phật nói, nguyên văn bằng chữ Phạn (Sanskrit), sau truyền sang Trung Hoa được dịch ra chữ Hán.

A-     Những nhà phiên dịch Phạn-Hán gồm có: 

1.      Ngài Cưu Ma La Thập (Kumàrajiva): ở chùa tại Trường An (chùa Thảo Đường). Vào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ tư, tức là năm 401 dương lịch, thuộc đời Dao Tần. Ngài dịch tên kinh là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật. Đây là bản có giá trị nhất, được gọi là định bản, v́ sau khi dịch đến giờ đều được mọi người dùng để tŕ tụng. Bản này nằm trong bộ Tam Bảo tụng hằng ngày.

2.      Ngài Bồ Đề Lưu Chi (Bodhiruchi): đời Ngụy dịch tên kinh cũng đồng với bản trên tức là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật, vào khoảng 508 dương lịch.

3.      Ngài Ba la Mật Đa (Paramârtha) (Trung Hoa dịch Chân Đế): dịch vào đời Trần, khoảng giữa thế kỷ thứ sáu đề tên là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật.

4.      Ngài Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagupta) : đời Tùy, khoảng đầu thế kỷ thứ bảy, dịch tên cũng đồng là Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật.

5.      Ngài Huyền Trang (Hiouen-Thsang) : đời Đường, khoảng giữa thế kỷ thứ bảy, dịch chung trong bộ Đại Bát Nhă, 600 quyển, gồm 16 hội, ‘Kim Cang’ là hội thứ 9, quyển 577 trong bộ Đại Bát Nhă.

6.      Ngài Nghĩa Tịnh: đời Đường, đầu thế kỷ thứ tám, dịch tên là ‘Phật thuyết năng đoạn Bát Nhă Ba La Mật kinh’. Ngài có đi Ấn Độ mang chữ Phạn về.                                                                   

Sáu nhà dịch đồng một bàn kinh, nhưng về sau được chú ư nhất là các bản của ngài Cưu Ma La Thập, ngài Huyền Trang và ngài Nghĩa Tịnh. 

B-     Kinh Kim Cang rất được các Thiền Sư và Giảng Sư Trung Hoa chú ư sớ giải. Có cả thảy độ 10 nhà:

1.        Ngài Trí Khải đời Tùy đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhă kinh sớ’ gồm một quyển.

2.        Ngài Kiết Tạng đời Tùy đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhă sớ’ gồm 4 quyển.          

3.        Ngài Khuy Cơ đời Đường đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhă Tân Thuật’ gồm 2 quyển.

4.        Ngài Tông Mật tức ngài Khuê Phong cũng ở đời Đường, đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhă cương sớ luận toát yếu’ gồm 2 quyển.

5.        Ngài Trí Nghiêm cũng thuộc đời Đường, đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật kinh lược sớ ’ gồm 2 quyển.

6.        Ngài Tư Cừ đời Tống đề tên là ‘Kim Cang toát yếu đại san định kư’ gồm 7 quyển.

7.        Ngài Tông Lặc và Như Khôi đời Minh, đề tên là ‘Kim Cang Bát Nhă Ba La Mật chú giải’ gồm 1 quyển.

8.        ‘Kim Cang Chư Gia’ trích lời giảng của các Thiền Sư.

9.        Gần đây có ngài Thái Hư, đề tên là ‘Kim Cang Giảng Lục’. 

10.    Gần đây nhất là cư sĩ Giang Vị Nông. 

C-    Về phần dịch Hán-Việt gồm có:

1.        Thượng Tọa Trí Tịnh dịch trong bộ Tam Bảo tụng hằng ngày.

2.        Ḥa Thượng Thiện Hoa,dịch trong bộ Phật Học Phổ Thông (tức 12 nấc thang giáo lư).

3.        Thượng Tọa Huệ Hưng dịch quyển ‘Kim Cang Giảng Lục’ của ngài Thái Hư.

4.        Cư sĩ Đồ Nam dịch bản của ông Giang Vị Nông.

5.        Quyển ‘Kim Cang Chư Gia’ cũng được dịch. 

9.2 S_ LIÊN H_ GI_A KINH KIM CANG và THiỀN TÔNG 

Dĩ nhiên ai cũng biết đức Lục Tổ khi gánh củi vào khách điếm bán, thấy có người đang tụng kinh Kim Cang, đức Lục Tổ nghe, tâm liền khai ngộ mới hỏi thăm và được biết là Ngũ Tổ Huỳnh Mai dạy đồ đệ tŕ tụng Kim Cang, do đó Ngài t́m đến học đạo.

Trong Thiền tông, lúc ngài Bồ Đề Đạt Ma truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả, Ngài trao 4 quyển kinh Lăng Già (Lankàvatàra) để lấy đó làm tâm ấn.

Đến đời Ngũ Tổ, thấy Kim Cang là quyển kinh tối yếu trong nhà Thiền, Ngài dạy: chẳng những Tăng Ni mà cả cư sĩ đều nên tŕ tụng kinh Kim Cang để an tâm. Thế nên khi Lục Tổ đến học, vào trước giờ truyền y bát, Ngài đem kinh Kim Cang ra giảng. Khi giảng đến câu ‘Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm’, Lục Tổ hoàn toàn liễu ngộ. Như vậy Lục Tổ ngộ đạo và được truyền y bát làm Tổ cũng nhơn nơi Kim Cang. Do đó chúng ta thấy rơ tầm quan trọng của kinh Kim Cang đối với Thiền Tông.

Sau này trong các chùa và các thiền viện, bộ kinh này được xem như bộ kinh nhật tụng, và kinh Kim Cang được xem như tâm ấn trong nhà Thiền.

Ngái Khuê Phong cũng bảo Kim Cang là bộ kinh quí đáng để an tâm. Học kinh Kim Cang là học thẳng vào phương pháp tu Thiền."  (10) (sách đă dẫn,trang 1-3)  

9.3  Giáo Sư F. Max Muller đă dịch kinh Kim Cương (với phần giới thiệu viết tại đại học Oxford ngày 26 tháng Giêng 1894) trực tiếp từ chữ Phạn (Sanskrit) sang Anh ngữ với tên ‘The Vajracchedika or Diamond Cutter’ trong quyển ‘Buddhist Mahàyàna Texts’,trang 109-144, (quyển thứ 49 trong bộ sách ‘Sacred Books of the East Series’ gồm 50 quyển), do Oxford University Press in năm 1894, và nhà xuất bản Motilal Banarsidass ở Ấn Độ tái bản vào những năm 1965, 1968, 1972, 1978.                                                            

Bản dịch của Giáo Sư F. Max Muller không có phần giảng giải nên đọc khá khó hiểu. 

9.4    Ông Lu K’uan Yu (Charles Luk) đă dịch sang Anh ngữ bản Kinh Kim Cương và phần giảng giải viết bằng chữ Hán của Thiền Sư Te Ch’ing (hiệu là Han Shan, Việt dịch là Hám Sơn) viết vào năm 1616 tại Chùa Lục Tổ Huệ Năng ở Tào Khê, đời nhà Minh, Trung Hoa.

Thiền Sư Hám Sơn đă viết phần giảng giải kinh Kim Cương sau khi Ngài đă chứng ngộ và theo Ngài kinh chỉ nên chia ra làm hai phần: phần một để phá bỏ những kiến chấp c̣n thô sơ của những ai học Phật, phần hai để xóa bỏ những kiến chấp vi tế hơn mà những người học Phật vẫn c̣n giữ lấy nhưng không nhận biết.

Bản dịch Anh ngữ của Ông Lu K’uan Yu (1959) là ‘The Diamond Cutter of Doubts’, a Commentary on the Diamond Sùtra, Vajracchedikà-Prajnà-Pàramità Sùtra, by Ch’an Master Han Shan (from the Chin Kang Chueh I) được đăng trong bộ sách ‘Ch’an and Zen Teaching’ First Series (và Second Series, Third Series) do nhà xuất bản Century Hutchinson Australia Pty Ltd., 1987, trang 147-206.

Nhận thấy những lời giảng giải của Thiền Sư Hám Sơn (Te Ch’ing, hiệu là Han Shan, ‘Silly Mountain’, 1546-1623) hết sức lợi ích cho những ai muốn hiểu rơ thêm về kinh Kim Cương nên trong tương lai chúng tôi nguyện sẽ cố gắng chuyển bản Anh ngữ này sang Việt ngữ để tŕnh bày cùng đồng hương Việt Nam có thêm tài liệu để tham khảo.

Duyên lành bài viết vừa xong,

Quà Xuân Kỷ Măo, tỏ ḷng tri âm. 

Phan Quang Việt 

Khởi đầu viết đêm 30 tháng 12, 1998, viết xong bản thảo ngày 2 tháng 2, 1999, những ngày cuối năm trước Tết Nguyên Đán Kỷ Măo 1999, Sydney, Úc Đại Lợi, Nam Bán Cầu.

Sửa đổi và bổ túc trước Tết Nguyên Đán Tân Tỵ (24.1.2001) để thuyết tŕnh trong Ngày Văn Hóa Phật Giáo, 7 tháng 1, 2001 tại chùa Pháp Bảo, 148-154 Edensor Road, St JOHNS PARK, NSW 2176 AUSTRALIA.

 

TÀI LIỆU  HỌC  HỎI VÀ THAM KHẢO 

1.      Vũ Khắc Khoan, Đọc Kinh, Bà Vũ Khắc Khoan tại Hoa Kỳ và An Tiêm xuất bản, 1988.

2.      Giáo Sư Hồ Đ́nh Chữ, Trích giảng Truyện Kiều của Nguyễn Du, Việt Luận xuất bản, Sydney, 1996. Sách có in bài khảo cứu, trang 305, ‘Lời Bạt: Đầu năm Quư Dậu 1813 Nguyễn Du đi sứ Trung Quốc’ của Hương Giang Thái Văn Kiểm, Paris Chiêu Anh Các, Xuân Ất Hợi 1995.

3.      Thiều Chửu dịch, Kinh Kim Cương Bát Nhă Ba La Mật, Trung Tâm Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam tại Cộng Ḥa Liên Bang Đức, xuất bản năm 1984.

4.      Nguyễn Đăng Thục, Thế Giới Thi Ca Nguyễn Du, Xuân Thu xuất bản, Hoa Kỳ.

5.      Lục Tổ Huệ Năng, Pháp Bảo Đàn Kinh, Thích Minh Trực dịch, Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản, Phật Lịch 2531, Hoa Kỳ, 1987.

6.      Vũ Thế Ngọc dịch, Bồ Đề Đạt Ma Tuyệt Quán Luận, EastWest Institute, Hoa Kỳ, 1983.

7.      Thiền Sư Thích Thanh Từ dịch, Nguồn Thiền, nguyên tác ‘Thiền Nguyên Chư Thuyên Tập Đô Tự ‘, Thiền Sư Tông Mật, Phật Lịch 2512 (1969), Chùa Khánh Anh, Pháp Quốc.

8.      Mai Hiền Lương, Tiếng Ḷng của Nguyễn Du, Nhân Duyên ấn hành 1997, Gia Nă Đại.

9.      Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược (quyển 2), Bộ Giáo Dục xuất bản, Sài G̣n 1971.

10.  Thiền Sư Thích Thanh Từ, Kinh Kim Cang Giảng Giải, Phước Huệ Đạo Tràng, tái bản và ấn tống, Úc Đại Lợi, Phật Lịch 2531, 1987. 

11. Phụ chú : Nhà cách mạng Sào Nam Phan Bội Châu đă từng nghiên cứu kinh Kim Cương:  

Nhà cách mạng Sào Nam Phan Bội Châu cũng đă từng đọc và nghiên cứu kinh Kim Cương v́  Phan Bội Châu khi viết bộ sách Chu Dịch, Ông đă viết về quẻ Phong Địa Quán như sau:

‘Quán, quán nhi bất tiến, hữu phu, ngung nhược, hạ quan nhi hóa dă.

‘Theo như Soán từ, thời chỉ dùng một cách chí thành, nghiêm kính, khiến cho kẻ dưới ḍm ‘ḿnh mà cảm hóa vậy.

‘Phụ Chú - Ư nghĩa Soán từ đây, tượng như câu: thần vơ nhi bất sát. Nghĩa là: dùng uy vơ ‘bằng một cách thần diệu, mà không cần phải giết người.

‘Ṭng lai, việc vơ tất có giết người, vơ mà không giết người mới là thần vơ. Tế tất có tiến, tế ‘không dùng đồ tiến, mới là ư nghĩa thờ thần rất hay.

‘Kinh Phật có câu: ‘Nhược dĩ sắc kiến ngă, dĩ âm thanh cầu ngă, thị nhân hành tà đạo, bất ‘đắc kiến Như Lai.’ Nghĩa là: Phật lư chỉ ở bản tâm, vô thanh vô sắc, nếu ai lấy thanh âm ‘mà ‘cầu ta ở thanh âm, lấy h́nh sắc mà cầu ta ở h́nh sắc, người ấy rặt là làm đạo tà, không được ‘thấy Đức Phật Như Lai.

‘Câu kinh ấy ư tứ cũng như lời Soán đây. Lấy mâm cỗ mà cầu thần, có khác ǵ lấy thanh sắc ‘mà cầu Phật.’   (Sào Nam Phan Bội Châu, Chu Dịch, quyển thượng kinh, quẻ Phong Địa Quán, trang 414, nhà sách Khai Trí, Sài G̣n, 1969).   

Bốn câu kệ mà Phan Bội Châu trích dẫn ở trên lấy từ kinh Kim Cương, đoạn 26,

‘Pháp Thân phi tướng’, Pháp thân chẳng phải là tướng.  (10) (sách đă dẫn, trang 134).

Nhược dĩ sắc kiến ngă 

Dĩ âm thanh cầu ngă

Thị nhân hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai

 

 (Nếu do sắc thấy ta

Do âm thanh cầu ta

Người ấy hành đạo tà

Không thể thấy Như Lai.)

Phan Bội Châu đă viết hai bài thơ SỐNG và CHẾT được nhiều người biết đến: 

SỐNG

 

Sống tủi làm chi đứng chật trời? 

Sống nh́n thế giới hổ chăng ai?  

Sống làm nô lệ cho người khiến,

Sống chịu ngu si để chúng cười. 

Sống tưởng công danh, không tưởng nước,

Sống lo phú quư chẳng lo đời.

Sống mà như thế đừng nên sống,

Sống tủi làm chi đứng chật trời?  

 

CHẾT 

 

Chết mà v́ nước, chết v́ dân,

Chết đấng nam nhi trả nợ trần.

Chết buổi Đông Chu hồn thất quốc,

Chết như Tây Hán lúc tam phân.

Chết như Hưng Đạo hồn thành thánh,

Chết tựa Trưng Vương phách hóa thần.           

Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,

Chết mà v́ nước, chết v́ dân.

 

---o0o---

Tŕnh bày : Nhị Tường

Cập nhật : 01-05-02


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>