categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
......... .


 

 


Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập
Thích Tín Nghĩa
Tổ Đ́nh Từ Đàm Hải Ngoại
Ấn hành Phật lịch 2547 - TL: 2003
 

---o0o---

An Cư

Bài thơ Thứ Nhất của Tổ Giác Tiên

Bài Thứ Hai

Bài Thứ Ba

Báo Tin

Bồ Đề Đạo Tràng

Cảm Niệm Sư Phụ

Cảm Niệm Vu Lan

Chúc Tết 

Cảm Thán

Chú Ư

Cơi Vắng

Cố Nguyện

Cố Tập Tu

Dong Ruỗi

Đồng Tiền

Đông Về

Đón Xuân

Dứt Khổ

Giải Nghiệp 

Gởi Quư Pháp Lữ

Im Lặng

Hạnh Nguyện

Hoa Nào Cho Cha

Hoa Từ Bi

Học Phật

Thơ Thương Mẹ

Khóa Phật Pháp Âu Châu

Khuyến Tấn

Khuyến Tấn 2

Khuyến Tấn 3

Ḷng Thương Của Phật

Liễu nhiên kệ

Màu Hoa Con Cài

Mỗi Buổi Mai Tại Từ Đàm Hải Ngoại

Mong Xuân

Một Loài Hoa

Mơ Ước 

Mong ước

Ngậm Ngùi

Nghiệp

Nh́n trăng

Nghĩ Lại

Nguyện Cầu

Nhớ Huế

Nhớ Xuân

Niệm Phật

Niệm Phật

Niềm Ước Mơ

Phát  Nguyện

Sống Đạo

Sự Đời

Tâm Chuyên

Tạo Duyên

Tết Đầu Tiên Trên Đất Hoa Kỳ

Thân Chúc

Tháng Bảy Vu Lan

Thơ Gi Bạn Hiền

Thương Nước

Tiến  Tu

Tỉnh

T́nh Thương 

T́nh Thương Của Đạo

Tiếng chuông

Tôi Chỉ Thấy

Tŕ Kinh Giải Thâm Mật

Trưa Hè Vu Lan  

Trúc Lâm Cảm Tác

Tu

Tự  Biết

Tự Giác

Tu Hành

Tưởng

Tu Phật

Tự Thán

Tự Vịnh

Từ Đàm cảm niệm

Trào Phúng 1

Trào Phúng 2   

Ước Mơ

Vi diệu tâm

Vịnh TỪ ĐÀM

Vô Đề

Xuân tha hương

Ư Nghĩa sự sống

 

Hồi chuông (và,) ^

Mùi hương tịnh độ,

Trong thơ một nhà tu hành, mang tên tín nghĩa.

 

Càng lớn tuổi, tôi càng sinh ḷng cảm phục, ngưỡng mộ các tu sĩ -  những người chọn lựa tận hiến cuộc đời ḿnh, cho đạo pháp.

Ḷng cảm phục, ngưỡng mộ nơi tôi, càng lớn lao hơn, một khi, tôi được biết, đó là những tu sĩ, lên đường, bước vào nẻo Đạo, khi c̣n rất trẻ - - ở độ tuổi niên thiếu, thanh niên.

Ḷng cảm phục, ngưỡng mộ nơi tôi, càng lớn lao hơn nữa, một khi, tôi được biết, đó là những tu sĩ, chẳng những đi hết (hoặc sắp hết,) lộ tŕnh đạo pháp (mà,) c̣n vượt biên cương giáo lư một đạo pháp; để dung chấp giáo lư những đạo pháp, khác.

Tôi muốn gọi các tu sĩ đó, là những Hành-Giả-T́nh-Thương-Nhân-Loại-Mới - - Dù họ là sứ giả rao giảng chân lư cứu, độ trần gian của bất cứ tôn giáo nào. 

Đứng từ vị trí một kẻ tầm thường, ngă mạn một cách rồ dại, tối ám của ḿnh, hôm nay, tôi không thể không bày tỏ ḷng cảm phục, ngưỡng mộ của tôi, về Thượng Tọa Tín Nghĩa - - Vị tu sĩ đă tận hiến cuộc đời ḿnh cho đạo pháp - - Kẻ lên đường bước vào nẻo Đạo, giữa độ tuổi thiếu niên, xanh ngát...

Nh́n từ góc độ sân, si của một tâm đặc, cứng chấp thủ của ḿnh, hôm nay, tôi không thể không bày tỏ ḷng cảm phục, ngưỡng mộ của tôi, về Thượng Tọa Tín Nghĩa - - Vị tu sĩ chẳng những đang bước những bước cuối trên lộ tŕnh đạo pháp (mà,) ông c̣n cho thấy, ông đă bước qua khỏi những vạch phấn phân biệt, đố kỵ giữa giáo lư tôn giáo này, với giáo lư tôn giáo khác.     

Sau những tiếp xúc trực tiếp với Thượng Tọa Tín Nghĩa, cá nhân tôi, muốn gọi ông là một (trong hiếm hoi) những Hành-Giả-T́nh-Thương-Nhân-Loại-Mới. 

Tôi nhớ, đă đọc được đâu đó, lời dạy của Đức Thích Ca Mâu Ni, rằng, nếu con không làm lợi lạc được đến cho kẻ khác, th́, hăy cố rán đừng gây đau khổ, thiệt hại cho kẻ ấy.

Sự trực nhớ này, càng khiến tôi, hôm nay, không thể không bày tỏ ḷng cảm phục, ngưỡng mộ Thượng Tọa Tín Nghĩa - - Bởi v́, trong ghi nhận của tôi - - với thân, tâm một tu sĩ, ông chẳng những mang lợi lạc đến cho mọi người - - (Mà,) ông c̣n cho chúng ta những vần thơ - - Kết quả của những lao tác tinh thần trong phạm trù văn chương - - Như mặt khác của những hồi chuông (và,) mùi hương tinh độ.

Là kẻ tầm thường với tất cả sân, si, ngă mạn một cách rồ dại, tối ám, nhưng tôi vẫn thấy, tôi yêu biết bao, những câu thơ của tu sĩ / thi sĩ Tín Nghĩa, như: 

Thân này là giả huyễn

Cơi đời cũng tạm thôi

    Chuốt trau rồi cũng bỏ

    Trang điểm cũng tan đời. 

Hoặc:

Bạn nói vừa đủ nghe

   Để mọi người theo về

Trong phút giây tỉnh thức

Và thoát khỏi bờ mê. 

Hoặc nữa:

Chân bước nhẹ vào chùa

Đừng nói chuyện hơn thua

Thân và Tâm an trú

Trong chánh niệm Phật thừa.   

Tôi tin, tôi sẽ măi nhớ những câu thơ vừa trích dẫn của Thượng Tọa / Thi Sĩ Tín Nghĩa.

Bằng vào sự măi nhớ kia, tôi tin, nếu thân, tâm tôi, có những chuyển đổi nào đó, (th́,) cũng do nơi những câu thơ kể trên; và, những câu thơ, như vậy.

Du Tử Lê

(Calf. Feb. 2003)

 

Vài cảm nghĩ về Tín Nghĩa Thi Tập ^

 Nhà văn Vĩnh Hảo

Bàn về thơ, đối với tôi, không phải chuyện dễ. Bàn về thơ đạo lại càng khó bội phần. Vậy mà không thể không bàn nói một chút về tập thơ nầy. 

Tín Nghĩa Thi Tập gồm khoảng 80 bài do một nhà tu Phật giáo sáng tác. Tập thơ gom góp bề dày thời gian 20 năm sinh sống và hành đạo của tác giả nơi xứ người, với bao hoài vọng, hồi ức, kỷ niệm, ước vọng, hoài băo... và trên hết, nỗi tha thiết muốn đóng góp chút ǵ đó cho dân tộc và đạo pháp trong giai đoạn nhiễu nhương, thống khổ của quê hương. 

Người đọc có thể t́m thấy nơi đây tâm t́nh của một nhà tu chay tịnh nơi cửa Thiền, những nỗi niềm thật gần gũi, mật thiết với đời sống, qua những bài nói về thế thái nhân t́nh, ḷng hoài vọng cố hương, hoặc tư duy về vận nước:

Mai cười đùa gió lạnh,

Đào nở đón xuân về,

Tin xuân đưa tới niềm hy vọng,

Trông ngóng trời xa đượm t́nh quê.

(Báo Tin)

 

Ḷng xao xuyến thu vàng đổ lá,

Xa quê hương mấy độ thu về,

Thu về ḷng những nhớ quê,

Ơn thầy, t́nh bạn năo nề vắng xa.

(Cảm Niệm Vu Lan)

 

 Một phần nào nghĩ suốt thâu canh,

Ngồi đứng, vào ra vẫn một ḿnh,

Nhớ nước đau ḷng thân sầu thảm,

Thương nhà xót ruột dạ buồn tênh.

(Cảm Thán) 

Nhưng đồng thời bạn đọc cũng sẽ nhận ra, qua hầu hết những bài thơ khác, niềm tin mănh liệt vào sự vi diệu của Phật Pháp được tỏa sáng trong từng chữ, từng lời, từng đoạn thơ của tác giả:

Thậm thâm vi diệu pháp,

Là lục tự Di Đà,

Chí tâm vô biệt niệm,

Thẳng đến cửu liên hoa.

      (Chú ư)

Khổ càng tu học, khổ mới tiêu,

Nếu khổ không tu, khổ càng nhiều,

Nghiệp chướng vương mang thêm sầu lụy,

Oan khiên trừ diệt hết đăm chiêu.

(Dứt Khổ) 

Xuất gia từ thuở bé, với gần nửa thế kỷ tụng đọc và thâm nhập kinh điển cũng như các thiền kệ của nhà Thiền, tác giả đă sáng tác thơ trong một phong thái và tâm cảnh rất tự nhiên, dễ dàng, không gượng ép. Cảm nhận một điều ǵ, liền ghi xuống, theo vần điệu nhập tâm quen thuộc, vậy là thành thơ. Hơi thơ đi nhẹ với chút cẩn trọng như của một thiền gia nắm giữ hơi thở trong chánh niệm. Lời thơ giản dị, trong sáng, không cố ư dùng nhiều điển tích hoặc từ ngữ khúc mắc, cầu kỳ. Cấu trúc thơ vẫn giữ nguyên vẻ cổ điển, không cố t́nh phá thể hoặc cách tân như nhiều nhà thơ hiện đại khác, mà lại nhịp nhàng một cách khéo léo trong khuôn khổ. 

Có thể nói, tác giả chú trọng chuyên chở ư đạo, biểu đạt tư tưởng, hơn là dấn ḿnh trọn vẹn vào thế giới của ngôn ngữ và thi ca. Nhưng cũng nhờ sự thâm sâu, tha thiết trong thệ nguyện và sự hành tŕ tu tập, ngôn ngữ đạo nở hoa. Và sự thành công của tác giả về mặt văn chương, chính là ở điểm nầy. 

Bàng bạc trong mấy chục bài thơ là chân t́nh của một người tu, yêu đạo, thương đời, luôn ưu tư đến khổ nạn của người khác, cảm thông và chia xẻ với mọi người về kinh nghiệm sống cũng như kinh nghiệm tu tập. Với kiến giải minh bạch và niềm tin kiên cố nơi Chánh Pháp, tác giả, như một hậu duệ chí hiếu, thừa tự di sản quư báu của Thầy Tổ, thắp sáng ngọn đuốc từ bi và giác ngộ qua ngôn ngữ thơ của thời đại. Và đây cũng là mặt thành công khác của tác giả. 

Đối với văn chương cũng như đối với tông môn, tác giả không đảm nhận vai tṛ của một người khai phá, mở đường, t́m cầu cái mới; mà âm thầm tự khiêm, chọn lấy sứ mệnh của một kẻ bảo tŕ, ǵn giữ giềng mối cao đẹp cổ kính của tiền nhân. Cái đẹp của thi phong và tuệ học ở đây, vô t́nh lại tỏa ngát hương vị thâm trầm dài lâu của Chân, Thiện, Mỹ. 

Xin cám ơn tác giả và xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. 

California, ngày 12 tháng 4 năm 2003,

Vĩnh Hảo
 

 

NHÀ THƠ ÁO NÂU ^


Lam Nguyên

Nếu ngược ḍng lịch sử th́ ta sẽ thấy Thiền tông Việt nam thời Lư Trần rất thịnh đạt, Thiền sư đă đóng góp trong cuộc phục hưng Tổ quốc trên phương diện chính trị và phát triển văn hóa dân tộc. Những nhà thơ thời Lư Trần vừa là thi sĩ, y sĩ và vừa là giáo sư ... Thời đó, thơ thiền chiếm một số lượng rất lớn. Đặc sắc Thiền tông Việt nam thời Lư Trần ngoài tông chỉ “phá chấp” (cởi bỏ mọi sự vướng mắc), “đốùn ngộ” và “tâm truyền”, Thiền sư c̣n phục vụ cho đất nước khi tổ quốc lâm nguy; giúp người dân trên nhiều phương diện làm cho xă hội mỗi ngày một tốt hơn. Tiêu biểu cho tinh thần nói trên, vua Trần Nhân Tông (1258-1308) và cũng là Sơ tổ của Trúc lâm Thiền phái đă diễn ư trong bốn câu kệ ở bài phú Cư Trần Lạc Đạo như sau:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tác xan hề, khốn tắc miên,

Gia trung hữu bảo, hưu tầm nịch,

Đối cảnh vô tâm, mạc vấn Thiền. 

 Trần Nhân Tông

Lam Nguyên dịch: 

Đời cứ tùy duyên vui sống đạo,

Mệt th́ nằm ngủ, đói ăn liền,

Trong nhà của quư, t́m đâu nữa,

Trước cảnh tâm yên, chớ hỏi Thiền. 

Và, nay tôi xin giới thiệu với quư độc giả nhà thơ Áo Nâu và cũng là Thiền sư thuộc phái thiền Trúc Lâm.

Thơ. Nói về thơ, định nghĩa về thơ thật là khó. Nhưng chúng ta cũng có thể nh́n thơ như cây đàn muôn điệu, cây cọ muôn màu. Thơ là tiếng ḷng thổn thức v́ cảnh sắc bên ngoài hay sự rung động sâu xa trong hồn người mà hôm nay xin độc giả cùng tôi thưởng thức bài thơ của nhà thơ Áo Nâu. Nhắc về Huế th́ những ai đă từng đến Huế đều công nhận là phong cảnh hữu t́nh đầy thơ và mộng. Huế với sông Hương núi Ngự, với chiếc cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp, với Từ Nhẫn tháp Linh Mụ cao bảy tầng đứng soi bóng bên gịng Hương giang, hay đứng nh́n gịng Hương giang uốn quanh Thành nội rồi bao quanh Cồn hến để trở về biển cả. Ai ra xứ Huế mà không ít nhiều mộng mơ tiếc nhớ, nhất là người bản xứ khi mang tâm trạng xa quê như nhà thơ Áo Nâu mà thi nhân đă gởi tâm sự ḿnh qua bài thơ Nhớ Huế như sau:

Đă bao lần tôi muốn về thăm Huế,

Lặng ngắm nh́n cảnh cũ của đế đô,

Huế yêu thương, Huế đẹp, Huế mộng mơ...

Phú Văn Lâu đứng ngắm mấy chuyến đ̣,

Đưa áo Trắng sang sông trường Đồng Khánh,

Thuyền sông Hương ngược ḍng lên Văn Thánh,

Cầu Tràng Tiền in bóng nước Hương giang,

Chợ Đông Ba đón khách nắng ... mơ màng,

Ngâm câu hát Nam B́nh về An Cựu,

Vĩ Dạ đ̣ trăng nhớ ai mộng ảo,

Tịnh Tâm buồn áo năo nhớ tích xưa,

Sen nở, hoa cười, gió mát, hương đưa,

Người câu cá đâu có c̣n ngồi đó ?

Hoàng thành ơi ! Bây giờ c̣n nhớ rơ ?

Cồn Hến chừ bắp đă trổ bông chưa ?

Đỉnh Ngự thông reo với mấy câu ḥ,

Bến Thương Bạc trông qua đ̣ Âm Phủ,

Cầu Thanh Long ngóng lên cầu Bạch Hổ,

Tháp bảy từng Thiên Mụ vẫn đứng yên,

Lặng ngắm nh́n về Phường Đúc, Tràng Tiền,

Hồi chuông đổ trong màng sương chiều xuống.

Ai lên Từ Đàm, ai trèo Kim Phụng,

Ai xuống Đ̣ Cồn, ai nghe tiếng trống,

Ở Tam Ṭa liên tiếp đổ từng hồi,

Giữ khuya buồn với giọng hát đầy vơi,

Ḷng nhớ Huế, trong tôi dài bất tận,

Là dân Huế, ai mà không oán hận,

Chuyện sáu ba, chôn Phật tử thảm thương?

Để ḷng dân than khóc suốt đêm trường,

Do chế độ nhà Ngô gây áo năo,

Mắt mọi người lệ chảy hoài chưa ráo,

Rồi tiếp theo sáu tám, tết Mậu Thân,

Lập mồ chôn tập thể khắp xa gần,

Làm dân Huế, lại càng thêm điêu đứng,

Tuy như thế, Huế măi c̣n đứng vững,

Từ ngàn xưa đến tận suốt ngàn sau,

Xin mọi người, ta hăy đứng cùng nhau,

Đừng quên Huế, Huế muôn đời bất diệt.

Tín Nghĩa – Nov. 21, 1998 

Ngồi đọc bài thơ Nhớ Huế của nhà thơ Áo Nâu giữa đêm thu mưa buồn nơi đất khách ḷng tôi như chùng lại, nhớ quê nhà ray rứt. Bài thơ Nhớ Huế không những chỉ nhắc lại những địa danh mà c̣n nhắc lại những chứng tích lịch sử, chẳng hạng như câu:

 “Người câu cá đâu có c̣n ngồi đó ?”  Đă gợi lại cho chúng ta nhớ những lúc nhà cách mạng Trần Cao Vân gặp vua Duy Tân ở hồ Tịnh Tâm trong Thành nội để bàn chuyện chống Pháp. Nào là tiếng trống Tam ṭa, hoặc Phật giáo Pháp nạn 1963 của nhà Ngô, hoặc tết Mậu thân. Từ đó làm cho tôi nhớ lại lời phát biểu về thơ của Vương Quốc Duy đời nhà Thanh bên Trung hoa:

“Thi nhân đối vũ trụ nhân sinh tu nhập hồ kỳ nội, hựu tu xuất hồ kỳ ngoại. Nhập hồ kỳ nội, cố năng tả chi. Xuất hồ kỳ ngoại, cố hữu cao chí.” Nghĩa là: Nếu là nhà thơ th́ đối với vũ trụ nhân sinh ta nên bước vào bên trong nhưng lại nên quay ra bên ngoài. Cho nên, khi bước vào bên trong ta mới có thể quan sát được. Rồi lại khi bước vào bên trong ta mới có thể thêm sinh khí mà ra bên ngoài th́ lại được cao siêu.

Có lẽ nhà thơ Áo Nâu khi sáng tác bài thơ Nhớ Huế theo quan điểm trong Luận ngữ:

“Tử viết: Tiểu từ hà mạc học phù thi? Thi khả dĩ hứng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán”.  Nghĩa là:  Các tṛ nhỏ ơi, sao không học Kinh thi? Thi có thể giúp cho việc tạo hứng khởi, giúp cho việc xem xét, việc hợp quần, việc đáng ghét.

Và để khép lại bài viết nầy, tôi xin mời độc giả thưởng thức hương thiền qua bài Kệ của nhà thơ Áo Nâu để theo đó, Phật tử chúng ta dùng làm kim chỉ nam cho việc hành và tu theo đạo Phật: 

Liễu Nhiên kệ

Ngă thân thiền môn tại,

Ngă nguyện cực lạc quy,

Dục đắc niết bàn lộ,

Nhất hướng niệm vô vi.

           Tín Nghĩa

Tác giả dịch là:

Thân tôi nương náu cửa thiền,

Tâm tôi nguyện hướng về miền Lạc bang.

Muốn cho thẳng đến niết bàn,

Một ḷng nguyện hướng con đường vô vi. 

Thi nhân Áo Nâu đă dùng hai chữ Vô vi hàm chứa hai ư nghĩa:

Ư thứ nhất theo triết lư Lăo tử là ta sống theo lẽ tự nhiên, không có ǵ g̣ bó cả, nên không bị cột chặt để làm mất đi cái chân chính của ḿnh.

Ư thứ hai, Vô vi là Vô vi pháp của nhà Phật là những cảnh giới bất biến, thường hằng, không sanh diệt, ... Vô vi pháp là pháp xa ĺa nhân duyên tạo tác, xa ĺa mộng tưởng điên đảo, đó là Chân như vô vi, tức Niết bàn. Hay ta có thể nói Niết bàn là tối thắng của Vô vi pháp vậy. Đọc bài kệ Liễu Nhiên của nhà thơ Áo Nâu, tôi chợt nhớ hai câu cuối bài kệ Cảm Hoài của Thiền sư Chân Không (1046-1100) đời nhà Lư như sau:

Nhân nhân tận thức vô vi lạc,

Nhược đặc vô vi thủy thị gia.

Nghĩa là:

Cái cảnh “vô vi” ai chẳng thích,

Được vào cảnh ấy mới là nhà. 

Cả hai bài kệ khi đọc xong vẫn c̣n thấy dư âm vang vọng trong tâm hồn độc giả.

 

Lam Nguyên

Seattle Thu Kỷ Măo - 1999

 

Đôi Lời Bộc Bạch  ^

Thơ là một vườn hoa, một bức tranh họa, muôn màu, muôn sắc và có nhiều góc độ khác nhau tùy theo người đọc và nh́n vào nó. 

Thuở nhỏ đi học, rất thích thơ và học thuộc nhiều thơ của những bậc cổ đức cũng như những bài thơ mới về sau nầy của các thi hào: Lưu trọng Lư, Thanh Tịnh, Vũ hoàng Chương, Du Tử Lê và nhiều lắm, không nhớ hết. Tuy nhiên thích nhất là loại thơ Đường luật, Tứ tuyệt, Ngũ ngôn và loại thơ mới tám chữ.  

Khi học thơ ở nhà trường, các thầy văn chương cũng hay ra đề cho học sinh, th́ tôi cũng thuộc loại khá của lớp. Gần trọn cuộc đời tu niệm trong chốn thiền môn, chịu ảnh hưởng nhiều về những bài Thi kệ, những bài Thiền kệ của chư Tổ và Thiền sư.

Chân dung tác giả

Khi c̣n ở quê nhà, tôi có làm một tập thơ, viết tay rất cẩn trọng, nhưng chưa có dịp để xuất hiện th́ tết Mậu thân đưa nó thành tro bụi với tủ sách một thể. Rồi hoàn cảnh chiến tranh triền miên, đưa đẩy làm thân nổi trôi đó đây nơi hải ngoại. Cái may mắn là mỗi lần đi thuyết giảng Phật pháp đó đây ở Hoa kỳ, Canada và Âu châu, khi trà đàm, tôi có tŕnh làng với chư Tăng một vài bài Thi kệ, được chư Tôn Đức khích lệ và khuyến tấn nên tiếp tục, đặc biệt là Cố Ḥa thượng Thích Đức Niệm khuyến tấn nhiều nhất; đồng thời, quư Ngài nói: “Thầy Tín Nghĩa làm sao gom góp lại những bài của các Vị tiền bối trong môn phái để có một tập thơ của Trúc Lâm Thiền Phái, mặc dầu, thơ của Thầy chiếm hết tác phẩm.”. 

Với sự khuyến khích nhiệt t́nh ấy, nên tôi cố gắng mỗi khi thấy cơi ḷng thanh thoát, tức cảnh viết vài chữ để dành theo những thể điệu đă được học từ nhỏ, tuy không hay ho ǵ cho mấy, nhưng  đây cũng là một kỷ niệm nho nhỏ rất quư giá đối với cá nhân tôi. Hơn hai mươi năm, mỗi khi làm một ít, góp nhặt lại mới có được tập thơ nầy với tựa đề Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập.

Tập thơ nầy, phần đầu là những bài của Tổ Khai sơn Trúc Lâm Đại Thánh Tự – Cố đô Huế và một số của các ngài vai vế Sư phụ, Sư thúc, ... Trong tập thơ nầy, tôi không sắp theo thứ tự về năm tháng mà sắp theo vần mẫu tự ABC.

Hôm nay, nhân duyên vừa đủ cho những ǵ mà tôi có được, tôi xin được tŕnh làng và mong được hướng dẫn. Các bậc Thi hào cao minh nhận thấy những ǵ trong tập nầy không được hoàn chỉnh, cũng xin hoan hỷ thương t́nh chỉ giáo để trong tương lai, nếu được th́ sẽ phong phú hơn.

Nhơn đây, tôi xin chân thành ghi ơn và thâm tạ chư liệt vị: 

_Cố Giác linh Ḥa thượng Thích Đức Niệm, Chánh Văn pḥng Hội Đồng Đại Diện của Giáo hội. 

_Ḥa thượng Thích Hộ Giác, Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành GHPGVNTNHN – Hoa Kỳ, 

_Thượng tọa Thích Tịnh Từ, Viện trưởng Tu viện Kim sơn, 

_Thượng tọa Thích Viên Lư, Tổng Thư kư Hội đồng Điều Hành GHPGVNTNHN – Hoa kỳ,  

_Thi hào Du Tử Lê,

_Nhà văn Vĩnh Hảo, 

_Nhà b́nh thơ Lam Nguyên, 

Đồng thời, riêng tặng và (Rất) cám ơn Sư cô Thích Nữ Hạnh Thanh, Một vị phụ tá đă tận tâm, tận t́nh hỗ trợ cho những Đại Phật sự trọng yếu trong suốt hơn mười năm qua, để Thầy yên tâm tu niệm và hành đạo, nhất là về phần thừa hành Phật sự của Giáo hội được hanh thông và tác phẩm Trúc Lâm Thiền Phái Thi Tập ra đời một cách mỹ măn. 

Sau cùng xin cám ơn một số bằng hữu trong và ngoài nước đă chân t́nh khích lệ, hướng dẫn cũng như tạo cơ duyên để Thi tập được h́nh thành và được tŕnh diện đến quư vị và quư đôïc giả. 

Tỳ kheo THÍCH TÍN NGHĨA 

Hoa Kỳ, mùa Đản sanh Quư mùi 2547 - 2003

 

An Cư  ^

 

Nhâm ngọ năm nay chúng an cư,

Tăng, Ni câu hội ngoại tháng tư,

Bắc, Nam tông phái đều đầy đủ,

Cúng ngọ, quá đường chúng hữu dư,

 

Hữu dư thất chúng đă tựu về,

Tu học cùng nhau đủ mọi bề,

Niệm Phật, hô canh, tọa thiền có,

Trú dạ lục thời chẳng bỏ bê,

 

Chẳng bỏ bê về chuyện tiến tu,

Chư Tăng tịnh niệm với công phu,

Bát kỉnh Ni lưu nương cầu học,

Đàn tràng ḥa ái, tuyệt nhất như.

 

Nhất như đại chúng tại Từ Đàm,

Đàn hạ chu toàn, vạn sự an,

Hải chúng đồng ban lời pháp nhũ,

Đạo tràng hiển hiện vạn hỷ hoan,

 

Hỷ hoan tu học suốt hai tuần,

Phật tử tóm thâu được bội phần,

Phân bố: Chư Tăng tuyên giáo pháp,

Hỷ hoan: Phật tử nhận phước ân.

 

Phước ân đón nhận chúng đại từ,

Phước ở nơi đây: phước hữu dư,

Ân ấy: gieo duyên do tu tập,

Nhâm ngọ năm nay chúng an cư.

     

    Trọng hạ  Nhâm ngọ  - 2002

Bài Thứ Nhất ^

 

Âm: 

Tứ bích tiêu sơ tế vũ nan,

Tùng phong thôi xúc lậu tăng hàn,

Bồ lan tâm ư hoành thu sắc,

Thức đắc lô trung cá đẳng nhàn.

Tổ Giác Tiên

 

Dịch:

 

Bốn vách tiêu sơ khó ngăn mưa,

Gió tùng thấm lọt mănh y thưa,

Bồ đoàn quyết ư thu tâm tưởng,

Biết được trong lư, mặt mũi xưa. 

 

 

Dịch theo vần Lục bát:

 

Mưa bay bốn vách khó ngăn,

Gió tùng thấm lọt, bần tăng lạnh vừa.

Bồ đoàn tâm ư tóm thu,

Trong lư, mặt mũi ngày xưa hiện h́nh.

Bài Thứ Ba ^

 

Âm: 

Sơ lâm vũ quá tịch dương th́,

Khe bạn hoành tương trúc địch xuy,

Nhứt khúc tự ngu sơn thủy lục,

Thử t́nh bất dự bạch vân phi.

Tổ Giác Tiên

 

 

Dịch:

 

Rừng thưa đêm vắng gió mưa bay,

Yến văn bên khe, thúc thổi hay,

Khúc nhạc thiên thu nghe tự đủ,

T́nh nầy chẳng ngại đám mây bay.

 

 

Dịch theo vần Lục bát:

 

Rừng thưa đêm vắng, mưa bay,

Nghe chim yết hót, trúc gài am mây.

Thiên thu khúc nhạc đủ đầy,

Mây bay chẳng ngại, t́nh nầy quản chi.

Bài Thứ Hai ^

 

Âm: 

Giác mộng tàn tinh điểm bán không,

Trường thiên cô nhạn ảnh vô tung,

Sơ minh nguyệt sắc tà lan ư,

Ấn nhập thiền thâm tiêu tức trung.

Tổ Giác Tiên

 

 

Dịch:

 

Tỉnh mộng tàn canh thấy tánh không,

Dưới trời chim nhạn vốn không tung,

Vầng trăng chiếu rọi ngoài hiên vắng,

Ấn nhập thiền tâm, tiêu tức trung.  

 

 

Dịch theo vần Lục bát:

 

Tàn canh thấy mộng trống không,

Dưới trời chim nhạn vốn không tông (tích) loài.

Vầng trăng chiếu rọi hiên ngoài,

Thiền tăng chứng nhập, trong ngoài tiêu tan.

 Báo Tin  ^     

 

Đông đến hoa đào nở,

Hơi lạnh với cành mai,

Báo tin xuân đến nhiều hương sắc,

Vạn vật, nhân sinh rộn ră cười.

 

Cành đào vừa hé nở,

Nụ mai mỉm miệng cười,

Tin xuân đưa đến cùng nhân loại,

Hương sắc điểm tô đến cho đời.

 

Mai cười đùa gió lạnh,

Đào nở đón xuân về,

Tin xuân đưa tới niềm hy vọng,

Trông ngóng trời xa đượm t́nh quê.

 

    

    Trọng đông Kỷ măo - 1998

Mơ Ước ^

 

Đă ngoại lục tuần, tuổi có dư,

Nhớ dân thương nước măi đậm đà,

Hoa kỳ chích bóng sầu cô quạnh,

Quốc nội thâm t́nh nhớ thiết tha.

Mong ước một ngày về thăm lại,

Xuyến xao mấy độ vẫn c̣n xa.

Bao giờ mới được về quê cũ,

Hay vẫn chốn nầy ta với ta?

 

 Trọng thu Tân tỵ - 2001

 

 

Cảm Niệm Vu Lan^          

 

  

Ḷng xao xuyến thu vàng đổ lá,

Xa quê hương mấy độ thu về,

Thu về ḷng những nhớ quê,

Ơn thầy, t́nh bạn năo nề vắng xa.

Chốn phát văng, vào ra đơn bóng,

Nhớ Mẹ già, xế bóng tóc sương,

Hai hàng lệ nhỏ trào tuôn,

Mấy mùa lá rụng, mấy lần xa quê...

Mùa Báo hiếu lại về, về nữa...,

Phận làm con lần lữa đáp đền,

 

Nguyện cầu tất cả b́nh yên,

Thất thế phụ mẫu hưởng miền an vui.

Lúc c̣n sống, người người hạnh phúc,

Thác hóa rồi, xả tục siêu thăng,

Vu lan tỏ ánh trăng rằm,

Chúng sanh độ tận muôn vàn khổ đau.

Con dân Việt sớm mau giải thoát,

Khỏi gông cùm lũ ác, cuồng nhơn,

Cơm no, áo ấm vẹn toàn,

Việt Nam – Phật Giáo huy hoàng bền lâu.

 

Vu lan 2534 – Oct. 07, 1990

Bồ Đề Đạo Tràng  ^

 

 

Bồ đề Đạo tràng,

Ḷng ước ao, thao thức tự xưa nay,

Bầu khí thiêng ngút tỏa ngất trời mây,

Bầu tụ khí đong đầy xua trần tục,

Cội Bồ đề năm xưa cao chất ngất,

Tỏa lá cành xanh mát cho trần gian,

Con đứng đây với tâm trí nhẹ nhàng,

Bái nhận lấy bản chơn kinh của Phật,

Đây khung cảnh suốt bảy tuần thường nhật,

 

Đức Thế tôn thành đạo chuyển pháp luân,

Khắp thế gian hàng con Phật xa gần,

Vân tập về đây cúi đầu đảnh lễ.

Tụ hội về đây là điều không dễ,

Nếu không tu th́ không thể bước vào,

Bồ đề Đạo tràng thanh tịnh biết bao,

Tăng hay tục đều thấm sâu chơn lư:

Giải thoát t́nh trần, xa rời ích kỷ,

Hiện tâm từ, liễu ngộ lư vô sanh,

Đến đây rồi, hưởng không khí mát lành,

Không phiền muộn, được thanh b́nh an lạc.

Vào đến đó (*), đầy an vui giải thoát,

Ra khỏi đây (*), lắm đau khổ muộn phiền,

Hởi người con Phật xa gần.

 

Quư thu Canh th́n – 2000

 

 

(*) tức khuôn viên của Bồ đề Đạo tràng.

Cảm Niệm Sư Phụ (1) ^

 

Giạ lê, đất Hương thủy,

Đầu thế kỷ hai mươi,

Họ Nguyễn duy hoan hỷ,

Sanh hạ được một người.

           

Xuất gia sáu tuổi rưởi,

Đầu sư tổ Giác tiên,

Trúc lâm bước dơng mănh,

Xả thân để cầu hiền.

 

Thông minh từ tấm bé,

Đĩnh ngộ trang nghiêm đời,

Hoa từ bi vừa hé,

Giới định huệ tuyệt vời.

Tăng già măi cầm cân,

Giáo hội măi góp phần,

Luôn để tâm chấn chỉnh,

An ḥa Chúng trung tôn.

 

Vượt thời gian, không gian,

Trách nhiệm với Tăng đoàn,

Trong dụng tâm Bồ tát,

Ngoài hiện tướng Thanh văn.

 

Húy thượng Tâm hạ Hương,

Pháp giới đă phổ huân,

Đạo hiệu là Mật Hiển,

Rải tâm diệu cát tường,

 

Cát tường, cát tường thùy,

Giới hạnh tuyệt uy nghi,

Suốt đời cho Giáo hội,

Tăng chúng bất xả ly.

 

Oai đức th́ trác tuyệt,

Bổn sư cũng vừa ḷng,

Liền phú chúc diệu kệ,

Tự tại và thong dong.

 

Kệ rằng:

 

Tâm Hương pháp giới huân,

Xứ xứ kết tường vân,

Phú nhữ tâm hương tánh,

Cừ kim chánh thị quân”. (2)

 

Ngoại tám lăm năm lẻ,

Uy  đức rải bốn phương,

Đă dày công hóa độ,

Cho đạo pháp, quê hương.

 

Thế rồi, ngày Phật đản,

Giữa tháng tư vui mừng,

An nhiên nh́n Thất chúng,

Từ giả thật ung dung.

 

Khắp Việt nam đây đó,

Về Trúc lâm giả từ,

Chúc Ngài về cơi Phật,

Đạt cảnh giới Nhất như.

 

Quê hương và Giáo hội,

Nh́n lương đóng vắng Ngài,

Trúc lâm chừ vắng bóng,

Bi quyện, lệ chảy hoài.

 

Từ nay Ngài quảy gót,

Đạo cốt vẫn trường tồn,

Thừa thiên lưu di ảnh,

Cho Đại chúng Trung tôn.

 

 

Phật đản Nhâm thân – 1992.

 

(1) Ngài húy thượng Tâm hạ Hương, đạo hiệu Mật Hiển. Là thành viên Hội đồng Giám luật Viện Tăng Thống GHPGVNTN, tọa chủ Tổ đ́nh Trúc Lâm – Cố đô Huế, Phó Pháp chủ GHPGVN. Ngài xả báo thân đúng ngày Rằm tháng Tư, Đản sanh 2536, sau khi Giáo hội PGVNTN Thừa Thiên - Huế đă tổ chức xong lễ Phóng sanh đăng trên ḍng Hương giang; Thất chúng đều đứng chung quanh Ngài, ngài nh́n từng vị một và từ từ quảy gót đăng tŕnh có sự hiện diện của HT. Thiện Siêu, Sư bà Diệu Không và chư Tôn thiền đức cùng nam, nữ Phật tử.

(2) Bài kệ đắc pháp do bổn sư của Ngài là tổ Giác Tiên đă phú chúc.

 

Chúc Tết ^ 

 

Chúc tết, chúc nhau vạn sự lành,

Chúc người, chúc bạn sống phân minh,

Quê hương dân tộc cần gắng sức,

Hải ngoại kiều bào chớ phân tranh.

Hy vọng tương lai trời bừng sáng,

Mong chờ vận hội ánh b́nh minh.

Việt nam dân tộc bừng bừng dậy,

Hạnh phúc ấm no mọi gia đ́nh.

 

           Trọng xuân Tân dậu - 1981

Cảm Thán ^

 

Đêm nằm trằn trọc suốt canh thâu,

Hết đứng rồi đi bởi v́ đâu?

Nhớ đến Quê hương đang khổ lụy,

Trông về Giáo hội thấy lao đao.

Càng thương càng nhớ tâm chua xót,

C̣n ước c̣n mong ư xuyến xao.

Cầu nguyện quê hương và đạo pháp,

Tự do, khương thái một phần nào.

 

Một phần nào nghĩ suốt thâu canh,

Ngồi đứng, vào ra vẫn một ḿnh,

Nhớ nước đau ḷng thân sầu thảm,

Thương nhà xót ruột dạ buồn tênh,

Việt nam thống nhất nào hạnh phúc,

Giáo hội phân ly chẳng quang vinh,

Cầu nguyện cho nhau cùng tâm huyết,

Việt nam - Phật giáo sớm an b́nh.

  Trọng xuân Nhâm tuất - 1982

Chú Ư ^

     

Cố lọc thân và tâm,

Chớ để bị hôn trầm

Di Đà luôn biệt niệm,

Đạt diệu lư thậm thâm.

 

Thậm thâm vi diệu pháp,

Là lục tự Di Đà,

Chí tâm vô biệt niệm,

Thẳng đến cửu liên hoa.

 

Cửu liên hoa khai mở,

Chắc chắn đón ta về,

Nếu bây giờ tu tập,

Sẽ vượt thoát bờ mê.

 

Bờ mê không c̣n nữa,

Đời sống sẽ thăng hoa,

Thân tâm trừ loạn động,

Tự tại ta với ta.

 

           Trọng hạ Đinh măo - 1987

Cơi Vắng (*) ^

 

 

Một ḿnh đứng giữa chốn hoang vu,  

Khói quyện chân mây tỏa mịt mờ,

Tuyết phủ bốn bề thân buốt giá,

Gió lùa tứ phía miệng cứng đơ.

Kêu ai chẳng được thôi đành chịu,

Gọi bạn không quen cũng đợi chờ.    

Từng phút ngóng trông, từng phút mất,

Quay qua, nh́n lại chỉ ḿnh ta.

 

Trọng đông Canh thân  -  1980

 

 (*) Kỷ niệm ngày đi học anh văn ESL tại Đại học CCD Denver, chưa quen đường đi lạc ra ngoại ô, xe hư bị nằm giữa  đường.

Cố Nguyện ^  

 

 

Phát nguyện đường tu ngoại mười ba,

Đi tu đâu luận trẻ với già,

Câu kinh, tiếng kệ: đầy an lạc,

Tiếng mơ, hồi chuông: chẳng phôi pha,

Giải thoát ḷng trần: tâm dứt khổ,

An nhiên cảnh tịnh: ư chẳng nḥa,

Đă là cát bụi, về cát bụi,

Cơi Phật nương về, sẽ có ta.

 

   Trọng xuân Giáp tư - 1994

 

Dong Ruỗi ^

 

Lang thang,

Từ độ luân hồi,

Tử sinh nào biết:

Đất trời tiêu hao.

Hết ra,

rồi lại đi vào,...

Nào ai,

Tính sổ đâu nào,

Mà lo?...

   

        Trọng đông Giáp tư  -  1984

Cố Tập Tu ^

 

Đời có khổ Phật khuyên dứt khổ,

Cố tập tu, bớt khổ thêm vui,

Phật dạy răn cố giữ ai ơi!

Sống như thế th́ đời tươi đẹp,

Vâng lời Phật, ḷng không chật hẹp,

Xả bỏ đi những chuyện thế gian,

Tâm không c̣n ḷng dạ tiểu nhân,

Cố giữ được tinh thần Phật giáo,

Lời Phật dạy, thâm sâu uyên áo,

Tâm thảnh thơi bất cứ ở đâu,

T́nh yêu thương ban rải cho nhau,

Không phân biệt kẻ giàu, người mọn,

Phát tâm tu phải đi cho trọn:

Với những ǵ kinh điển khắc ghi,

 

Cố hành tŕ: Hỷ xả từ bi,

Hướng dẫn nhau cùng đi tới đích,

Tham sân si, khi tu phải dứt,

Tiến tu th́ biến thức thành chơn,

Tu làm sao thoát khỏi phàm trần,

Lúc tịnh niệm: Thân tâm buông xả,

Tu giải thoát, con đường cao cả,

Càng tiến tu, Phật hóa càng mau,

Chín phẩm hoa sen, sớm được vào,

Vô minh diệt, trần lao cũng diệt,

Trên đây là những lời tha thiết,

Nhắc mọi người để biết hành tŕ,

Thở ra là miệng niệm tức th́,

Di Đà Phật, đứng đi cũng niệm,

Niệm thế nào đến lúc vô niệm,

Chánh giác thời sẽ đến với ta,

Dù thân nầy đang ở Ta bà,

Tâm ta vẫn đang là Tịnh độ,

Xin mọi người cần chuyên, nhớ rơ:

Cố tập tu, dù khó cũng thành,

A Di Đà Phật tâm kinh,

Nhất tâm tŕ niệm, phước phần có ngay.

 

Mạnh hạ  Kỷ tỵ  -  1989

Im Lặng ^

        

Một phút giây im lặng,

Là phút giây b́nh yên,

Một phút giây im lặng,

Là trút hết ưu phiền.

 

Nếu im lặng tịnh tu,

Đạt cảnh giới nhất như,

Nếu im lặng mộng tưởng,

Th́ khổ báo chẳng chừa.

 

Nếu biết dùng im lặng,

Để quán tưởng chướng duyên,

Đưa thân tâm an trú,

Vào cảnh giới tịch nhiên.

 

Nếu dụng tâm im lặng,

Vào cảnh giới tham thiền,

Thân tâm không loạn động,

Được giải thoát an nhiên.

   Trọng hạ Ất hợi  -  1995

 

Đông Về ^  

 

Trời mùa đông, xứ cờ hoa đầy tuyết,

Lá xa cành cây đứng lạnh cô đơn,

Chung quanh ta là màu trắng khăn tang,

Phủ tất cả cây cành cùng đường sá,

Một ḿnh ta với khung trời xa lạ,

Ngọn gió lùa buốt giá tận tâm can,

C̣n ǵ đâu chuyện hứng thú mơ màng,

Tất cả đó ch́m vào cơn giá rét,

Gió đông về lại mang thêm hơi tết,

Tết ở đây chẳng giống tết quê nhà, 

 

Tết ở đây vui chỉ có ḿnh ta,

Hàng Phật tử, nhà nhà lo bấm thẻ (*),

Chiều ba mươi, một cửa chùa nhỏ bé,

Đếm loanh quanh chưa tới được dăm người,

Đây cũng là tết mới với riêng tôi,

Không thân thích bà con cùng thầy bạn,

Ai mới qua đây, cái ǵ cũng chán,

Ở lâu rồi cố bám chẳng muốn về.

Mặc dầu trời buốt giá, cảnh lê thê

Nhưng tất cả mải mê cùng xứ lạ,

Dù bên ngoài gió mưa rơi lả chả,

Nhưng ai ai cũng hỷ hả vui ḷng,

Mưa về gió lạnh đêm đông,

Cơm no áo ấm, đẹp ḷng bên nhau.

  

Đêm đông Denver - 1980

 

 

(*) Bấm thẻ: Tức mọi người phải đi làm, không được nghỉ theo ư như ở quê nhà, dù là tết hay những ngày lễ lớn như: Phật đản, Vu lan, Rằm tháng mười.

Kỷ niệm những ngày làm Trú tŕ chùa Việt nam và lănh đạo tinh thần Cộng đồng Phật giáo Việt nam tại Denver, tiểu bang Colorado.

 

 

 

Đón Xuân ^

 

Đón xuân đất khách chẳng quen ai,

Xuân đến lần nầy, lần thứ hai,

Ngó tới nh́n lui như muốn khóc,

Quanh đi quẩn lại cũng biếng cười.

Đào mai vài cụm, hoa vừa héo, (1)

Tùng cúc đôi cành, lá chẳng tươi. (2)

Kiếm pháo đốt chơi, cần giấy phép, (3)

Ra vào lui tới cái thân côi.

 

 

          Quư đông Tân dậu  -  1981

 

 

( 1) và (2)  Mùa đông ở xứ Hoa kỳ tuyết phủ, nên tất cả hoa đều héo lá và bị hư.

(3) Ở xứ nầy, muốn đốt pháo phải xin phép hẳn hoi, nhưng cũng chưa chắc đă được; ngoại trừ những cộng đồng lớn.

 

Đồng Tiền^

      

Trên đời quư nhất lại là tiền,

Tiền nói, tiền kêu để thành tiên,

Chồng vợ, anh em đều rút tỉa,

Mẹ cha, bè bạn cũng đua chen.

Nghĩa t́nh tiền thiếu, t́nh cũng bớt,

Hiếu sự tiền dư, hiếu vẫn bền.

Suy gẫm cho cùng rồi cũng vậy,

Té ra, đời chỉ ngán đồng tiền.

*

*  *

Đồng tiền chỉ đạo mọi hướng đi,

Tiền thiếu, đời ta sẽ bị khi, (1)

Đạo đức tốt lành khi tiền đến,

Ân t́nh hời hợt lúc tiền đi.

Nghèo hèn giữa chợ không người mến, (*)

Giàu có trong non có khách v́. (2)

Hờn giận, thương yêu do tiền hết,

Biết tu mới khỏi bị cu li... (3)

Cu li, tiền thiếu mới khổ thân,

Nói được làm sao chuyện an bần? (4)

Giờ trước vui vầy v́ chưa mó,

Phút sau hờn giận bị chia phân.

Mắt mờ tiền đủ nên thiếu trí,

Dạ tối tiền thưa lại hóa sân.

Nông nỗi v́ tiền, sinh đủ thứ,...

Chi bằng tu niệm mới an thân.

 

*

*   *

An thân chớ lụy với đồng tiền,

Chớ luận có tiền mua được tiên,

Giá trị không tiền mà an lạc,

Hư danh lắm của vẫn ưu phiền.

Trên đời sung sướng là tu học,

Dưới thế âu lo ấy đảo điên,

Phật dạy tu thân nên khắc kỷ,

May ra bén gót bậc thánh hiền.

Thánh hiền tu được bởi có nh́n:

Họa phước sinh ra cũng do tiền,

Dân tộc điêu linh v́ tham nhũng,

Quốc gia khốn đốn lắm đảo điên.

Thầy tṛ đạo bạn không thành thật,

T́nh nghĩa thân sơ vẫn quàng xiên.

Quư nhất trên đời là tu niệm,

May ra cuộc sống mới an nhiên.

An nhiên cảnh tịnh, vượt ưu phiền,

Xa cảnh trần ai khổ triền miên,

Túi đựng bạc tiền, nhiều kẻ hót,

Thân không manh áo, chẳng người vin.

Tiền làm tôi tớ, là vinh dự, (5)

Tiền hóa chủ nhân, sẽ khuynh nghiên.

Tâm sự đôi lời xin đừng giận,

Tại sao chỉ trích chuyện đồng tiền?

 

           Trọng đông Giáp tư  -  1984

 

(*) Hai câu 6 và 7 phỏng theo câu đối ngạn ngữ là:

Bần cư trung thị vô nhân vấn,

Phú tại thâm sơn hữu khách tầm.

(1) Khi tức khi dễ.  (2) V́ tức nể v́. (3) Cu li tức bị làm tôi tớ, bị  lệ thuộc. (4) An bần tức an bần lạc đạo nghĩa là vui vẻ với đời sống nghèo khó, nhưng thanh tao, nhàn hạ; không bị đồng tiền xui khiến mất lư trí, mất cả t́nh nghĩa. (5) Đồng tiền là người đầy tớ tốt, nhưng lại là một chủ nhân ông rất xấu.

 Dứt Khổ ^

 

   

Khổ càng tu học, khổ mới tiêu,

Nếu khổ không tu, khổ càng nhiều,

Nghiệp chướng vương mang thêm sầu lụy,

Oan khiên trừ diệt hết đăm chiêu.

Điều lành phát khởi thêm thoải mái,

Thói xấu rời xa bớt tiêu điều.

Tu tập, ai ơi nên cố gắng!

Thân nầy nhàn hạ chốn tịch liêu. 

 

Trọng hạ Giáp tư  -  1984

 

 

 

 

 Gởi Quư Pháp Lữ (1) ^

   

Tôi ở Hoa kỳ, một phương xa,

Gởi chư Pháp lữ (*) ở quê nhà,

Cố công diễn xướng phần Phật pháp,

Gắng sức lưu truyền chuyện Đạo ca,

Đuốc tuệ rạng soi khắp thiên hạ,

Đèn từ chiếu sáng đến bá gia,

Đôi lời tâm huyết xin gởi đến,

Đệ huynh Pháp lữ họ Thích già (2).

 

    Trọng thu Quư dậu – 1993

(1) Pháp lữ: Những bạn bè cùng tu học.

(2) Thích già: tức đức Phật Thích ca.

Nam Mô A Di Đà Phật

 

 Giải Nghiệp  ^

 

Đời có khổ nên tu trừ khổ,

Đừng phàn nàn nầy nọ ai ơi!

Đă tiến tu phước báo đến thôi,

Đừng suy tính và ngồi mong đợi.

Tu làm sao cho đời khỏi tội,

Tu làm sao tăng phước, họa tiêu,

Tu làm sao tâm tịnh, tội tiêu,

Được như thế là điều may mắn.

Muốn giải khổ, tự thân cố gắng,

Muốn giải khổ, đừng đắm dục trần,

Muốn giải khổ, khỏi họa vào thân,

Phải nhất quyết để tâm khỏi động,

Lúc tiến tu tâm đừng trông ngóng,

Được cái nầy, cái nọ: huyễn thôi,

Muốn an tâm, ích lợi cho đời,

Lời Phật dạy, tu thời chu đáo,

Để không c̣n luân hồi lục đạo,

Nếu không tu khổ báo theo hoài,

Muốn dứt nghiệp, ra khỏi trần ai,

Di Đà Phật, sáu thời tŕ niệm,

Đă tiến tu, tâm cần phục thiện,

Để an vui, tinh tiến đường tu,

Hết khổ thời thấy ánh chơn như,

Không c̣n lún sâu trong kiếp tới,

Phật, Bồ tát: Các ngài mong đợi,

Đón ta về Cực lạc tây phương,

Và từ đây dứt hết tham sân,

Tâm nhẹ nhỏm lên lần bờ Giác,

Đă đến đích con đường Giải thoát,

Dứt khổ rồi, an lạc chẳng xa,

Dù thân c̣n trú xứ Ta bà,

Tâm ta vẫn đang là Tịnh độ,

Đă đến đây, tâm không c̣n khổ,

Tiếp tục tu, mục đổ Như lai,

Di Đà sáu chữ niệm hoài,

Cho tâm an lạc, cho đời nở hoa.

Mai nầy hoàn đáo Ta bà,

Chúng sanh độ tận, liên hoa ngập tràng.            

 

Trọng xuân Tân dậu - 1981

 

Hạnh Nguyện ^

 

Tu hành quyết chí diệt niệm tà,

Không diệt được tà chính thị ma,

Muốn được thảnh thơi, lo tu niệm,

Mai nầy nhẹ gót đến liên hoa.

 

Liên hoa muốn đến niệm: Di Đà,

Sáu chữ đêm ngày chớ phôi pha,

Trú dạ lục thời chuyên tŕ niệm,

Không c̣n lo ngại: Khó dứt tà.

 

Dứt tà, tâm măi dụng công phu,

Tŕ niệm hồng danh phải nhất như,

Chớ để chướng duyên xen lẫn lộn,

Cuối cùng uổng phí, nhọc đường tu.

 

Đường tu giải quyết ở Ta bà,

Tịnh độ đây rồi, chẳng đâu xa,

Vọng động cho nên tâm chẳng thấy,

Tu hành quyết chí diệt niệm tà.

 

Quư hạ Quư hợi  -  1983

Hoa Từ Bi ^

      

Phát nguyện tu th́ mở rộng t́nh thương,

Có t́nh thương: th́ thương người, thương vật,   

Thương rộng lớn th́ không c̣n ngăn cách,

Thân hay sơ đều đối xử như nhau,

Thương chân thật không có ư mưu cầu,

Già hay trẻ, nghèo hay giàu cũng thế.

Thương rộng lớn có nguồn vui mát mẻ,

Là t́nh thương như của mẹ thương con.

Thương rộng lớn là thương thật vuông tṛn,

Không phân biệt nữ, nam hay quư tiện.

Người con Phật lúc nào cũng hiển hiện,

Tâm từ bi ban rải khắp sanh linh,

Thương rộng lớn không ích kỷ cho ḿnh,

Thương như thế là t́nh thương của Phật.

Thương rộng lớn là t́nh thương chân thật,

Vượt thời gian và lẫn cả không gian,

Thương của Phật thật cao rộng ngút ngàn,

Đưa nhân loại ra khỏi ṿng đau khổ,

Thương rộng lớn th́ không c̣n tật đố,

Cho riêng ḿnh và cũng chẳng riêng ai,

Mà bao dung cho tất cả muôn loài,

Được như thế, Hoa Từ Bi nở rộ.

 

  Trọng hạ Ất hợi - 1995

Hoa Nào Cho Cha   ^

 

Mỗi mùa Báo hiếu, đóa hoa tươi,

Màu đỏ xinh xinh, miệng mỉm cười,

Đỏ thắm, biết rằng ta c̣n Mẹ,

Bao niềm rộn ră măi không thôi.

 

Vu lan trở lại, con cài hoa,

Tháng bảy năm nay, lệ chảy nḥa,

Màu trắng hoa hồng cài ngực áo,

Mẹ đă xa rồi, dạ xót xa.

 

Vu lan mười mấy năm về trước,

Tháng bảy cài hoa, bố ra đi,

Mất Mẹ, ngực cài hoa hồng trắng,

Không Cha, ta niệm đóa hoa ǵ?

Tưởng niệm cho Cha đóa hoa tươi,

Tức lời Người dạy: “có thân  người,

Mai nầy xử thế trên vạn nẻo,

Đời đạo làm sao phải song đôi”.

 

Nhớ lời nghiêm phụ dạy cho tôi:

Đời đạo làm sao sống cả hai,

Sống đạo, đẹp đời th́ mới quư,

Lời xưa c̣n đó măi trong tôi.

 

Nguyện cầu nghiêm phụ được b́nh an,

Măi măi vui tươi cảnh lạc bang,

Thấm nhuần pháp vị và giải thoát,

Cơi ḷng con mới thấy hỷ hoan,...

 

Từ nay mỗi độ Vu lan đến,

Chỉ biết khóc thầm, nguyện cầu thôi,...

Cầu cho tất cả đều an lạc,

Tất cả an vui dưới Phật đài.

 

Cầu cho cha mẹ siêu thăng hết,

Với cùng thất thế mẹ cha ta,

Nương theo chánh pháp lên bờ giác,

Thuyền từ vượt thoát chốn ái hà.

 

           Quư hạ Nhâm ngọ - 2002

 

Thơ Thương Mẹ ^

Nguyên Giác

Một sớm mai thức dậy,

Nh́n sương phủ xứ người,

Gởi hồn về quê Mẹ,

Nơi tôi khóc chào đời.

 

Huế ơi ! Sao nhớ quá,

Thuở ấu thơ qua rồi,

Tuổi măng tơ Mẹ dạy,

Trỗi dậy trong ḷng tôi.

 

Nhớ về ngày tháng cũ,

Mẹ nuôi nấng đàn con,

Với bao nhiêu lam lũ,

Để tuổi Mẹ hao ṃn.

 

Nay khôn lớn thành người,

Lời Mẹ trong ḷng tôi,

Mỗi ngày một ghi đậm,

Khi mang kiếp lưu đày.

 

Giờ nầy nơi đất khách,

Nhớ lời Mẹ năm xưa,

Dạy cho con tất cả,

Biết nói sao cho vừa ?

 

Hôm nay ngồi bên Mẹ,

Thủ thỉ chuyện năm xưa,

Mẹ vui cười khẽ bảo:

Con tôi lớn từng giờ.

 

Lời Mẹ thật ngọt ngào,

Ḷng tôi lại nao nao,

Nh́n tóc Mẹ đă bạc,

Tôi biết tính thế nào ?

 

Chỉ chấp tay cầu nguyện,

Trời, Phật ở trên cao,

Gia hộ cho đời Mẹ,

Thôi hết chuyện lao đao.

 

Khi tôi ngồi bên Mẹ,

Thấy ấm cả cơi ḷng,

Tôi biết tôi c̣n Mẹ,

C̣n bầu trời mênh mông.

 

Học Phật ^

 

 

Học Phật phải vâng chuyện Phật làm,

Đă vâng lời Phật, chớ tham lam,

Sữa thân để khỏi ṿng tục lụy,

Luyện trí vượt qua cảnh uế phàm.

Bờ giác tiến tu ắt giải thoát,

Sông mê biết lội sẽ an nhàn.

Ai ơi học Phật nên tấn phát,

Nhất đờn chỉ khoảnh đến lạc bang. 

 

 Trọng thu Giáp th́n  - 1977     

 

Khuyến Tấn^ 

          

Thân nầy là giả huyễn,

Cơi đời cũng tạm thôi,

Chuốt trau rồi cũng bỏ,

Trang điểm cũng tan đời.

Biết vọng đừng theo đuổi,

Dục lạc cố xa rời.

Nh́n dă tràng xe cát,

Cuối cùng cũng đùa trôi.

Càng nh́n, tâm càng nghĩ:

Biết tu quư nhất đời.

Nếu chuyển tâm an lạc,

Sẽ được giải thoát thôi.

Sáu chữ Di Đà Phật,

Phát tâm cố niệm hoài,

Muốn cho giải thoát trần ai,

A Di Đà Phật lâu dài tŕ danh.

Niệm cho đúng nghĩa rành rành,

Cho thân an lạc, cho ḿnh yên vui,

Niết bàn sẽ được lên ngồi,

Tây phương Thánh cảnh ta thời có tên.

Mạnh xuân Bính tư  -  1996

 

Khóa Phật Pháp Âu Châu (*) ^ 

 

Đă mấy lần bước đến Âu châu,

Đan Mạch, lần nầy ở hơi lâu,

Giảng dạy, tham gia phần giáo lư,

Mọi người hoan hỷ đến dự tu.

 

Dự tu khóa học thật là đông,

Nam nữ, trẻ già cố hết ḷng,

Lo học, chuyên tu hai tuần lễ,

Chư Tăng cố gắng dạy phân công,

 

Phân công hướng dẫn suốt hai tuần,

Bố giáo chương tŕnh đại chúng tuân:

Niệm Phật, hành thiền kiêm bái sám,

Công phu tu niệm thuộc nằm ḷng.

 

 

Ḷng trần xả bỏ để về đây,

Nhờ ở nhất tâm ư vơi đầy,

Tín nữ, thiện nam đều nương học,

Chư Tăng hoan hỷ nguyện đắp xây.

 

 

Đắp xây chánh pháp ở xứ người,

Thắm đượm tâm từ đă tốt tươi,

Thất Chúng tiến tu lời Phật dạy,

Cùng nhau dựng đạo để đẹp đời.

 

Mạnh hạ Quư dậu - 1993

 

Khuyến Tấn 2^ 

 

Bạn nói vừa đủ nghe,

Để mọi người theo về,

Trong phút giây tỉnh thức,

Và thoát khỏi bờ mê.

 

Trọng xuân Đinh sửu  -  1997

 

 

 

Khuyến Tấn 3^ 

  

Chân bước nhẹ vào chùa,

Đừng nói chuyện hơn thua,

Thân và Tâm an trú,

Trong chánh niệm Phật thừa

 

       Trọng đông Đinh sửu  -  1997

 

Ḷng Thương Của Phật ^ 

         

 

Ḷng thương của Phật,

như bể rộng sông dài,

Phật thương ta, cứu vớt khỏi trần ai,

Thương của Phật, cứu người lên bờ Giác,

Ḷng thương của Phật, bao la bát ngát,

Không riêng tư, không chật hẹp như ḿnh,

Ḷng Ngài thương là hóa độ sinh linh,

 

Ra khỏi cảnh dục t́nh và triền phược.

Thương của Phật, ai ai cũng đều được:

Thấm từ bi và đượm nét hỷ hoan,

Ngài muốn ai cũng thẳng đến Lạc bang,

Để dứt hết những muôn vàn khổ lụy,

Ḷng thương của Phật luôn luôn hoan hỷ:

Thấy chúng sanh xả kỷ để tiến tu,

Xóa sân si, để khỏi vướng mịt mù,

Mong tất cả hướng đường tu giải thoát,

Thương của Phật là hoa Ưu đàm hương ngát,

Tỏa cho đời những vẽ đẹp t́nh người,

Ngài thương từ địa ngục đến cơi trời,

Đâu đâu cũng về nơi đầy an lạc,

Ḷng của Phật là bóng cây tươi mát,

Không khổ đau, mà giải thoát như nhau,

Ḷng thương của Phật trước cũng như sau:

Muốn lục đạo được thấm màu pháp vị.

 

     Quư đông Kỷ tỵ  -  1989

Liễu Nhiên Kệ  ^ 

Ngă thân thiền môn tại,

Ngă nguyện cực lạc quy,

Dục đắc niết bàn lộ,

Nhất hướng niệm vô vi.

 

Tạm dịch:

 

Thân tôi nương náu cửa thiền,

Tâm tôi nguyện hướng về miền lạc bang.

Muốn cho thẳng đến niết bàn,

Một ḷng nguyện hướng con đường vô vi.

 

Trọng hạ Đinh sửu-1997

 

 

Mong Xuân ^

 

Mong xuân an lạc khắp gần xa,

Xuân đến tươi vui với mọi nhà,

Tổ quốc nhân dân đều hạnh phúc,

Tăng ni Phật tử được thái ḥa.

Đạo đời hai lẽ đều như một,

Nam bắc chung cùng chẳng phân ra.

Xuân đến, xuân đi trong tự tại,

Xuân là như vậy với bá gia.

 

        Quư đông Ất hợi  -  1994

Màu Hoa Con Cài ^

 

Năm xưa Mẹ dắt con đi,

Lên chùa lạy Phật, quy y theo Thầy.

Những lời khấn nguyện ở đây,

Cho con đủ đầy nghị lực tấn tu.

Những lời Mẹ dạy kính yêu,

Khuyên con tu tập như điều Mẹ mong.

Bao năm con thuộc nằm ḷng,

Cần chuyên tinh tấn ở trong cửa thiền.

Trúc lâm pháp phái triền miên,

Sớm chuông, chiều mơ cửa thiền trao thân.

Những ǵ Mẹ dạy ân cần,

Cố tâm tu sữa phước phần mai sau.

Từ đây cho đến bạc đầu,

Vâng lời pháp Phật ngơ hầu tâm an.

Ḷng con luống những mơ màng,

Nào ngờ Tân tỵ Vu lan đưa về...

Hung tin: Mẹ đă ra đi,

Về miền lạc cảnh là quê Phật đà.

Thế mà con vẫn xót xa,

Vắng bóng Mẹ già, con ở với ai?

Rồi đây vạn dặm đường dài,

Cô thân, chích bóng lạc loài một thân.

Con nguyền đi trọn đường trần,

Gian nan, khổ cực vẫn không sờn ḷng.

Vu lan Tân tỵ đau ḷng,

Hoa hồng màu trắng bao ḍng lệ rơi.

Vu Lan Tân tỵ - 2545 - 2001

Mỗi Buổi Mai Tại Từ Đàm Hải Ngoại ^

 

Vừa tỉnh thức, đồng hồ cùng điểm báo,

Đúng sáu giờ, mặc áo đi kinh hành,

Ḷng lâng lâng, chân bước nhẹ chung quanh

Chánh điện, mở mắt nh́n hào quang Phật,

Tay lần chuổi, bước khoang thai thường nhật,

Nghe âm thanh trong gió ngát hương thiền,

Khói hương bay đến tận Đâu la miên,

Nhưng vạn vật cứ im ĺm giấc điệp,

Sau kinh hành mơ rơi rơi từng nhịp,

Tiếng kinh cầu, tụng niệm của thiền tăng,

 

Âm vang xa, tận thế giới ba ngàn,

Ru nhân loại vơi dần bao khổ lụy,

Tâm từ bi lúc nào cũng xả kỷ,

Cầu cho người không riêng chỉ cho ḿnh,

Hết khổ đau cho tất cả sinh linh,

Người c̣n sống: được an b́nh, hạnh phúc,

Thác hóa rồi: sẽ xả tục quy chơn,

Từ Đàm là hoa đẹp với hương thơm,

Dung nhị đế cùng tam thừa thánh quả,

Hướng dẫn quần sanh tin vào nhơn quả,

Lư nhiệm mầu cao cả của Phật đà,

Cố tập tu để khỏi lụy ái hà,

Cố niệm Phật Di Đà, về Lạc quốc,

Nguyện tất cả đều nương về cơi Phật,

Giải thoát rồi, chuyện phát nguyện tính sau,

Nguyện chúng sanh tất cả đều như nhau,

Đưa Phật tánh hiển bày như đức Phật.

 

    Trọng đông Kỷ măo - Oct. 10, 1999

Một Loài Hoa ^ 

 

Mỗi độ hè về, phượng nở hoa,

Ve kêu réo gọi khắp sơn hà,     

Hân hoan chào đón ngày giáng thế,

Thác chất hoàng cung Phật Thích Ca. 

 

Hoa đàm chiếu rọi khắp đó đây,

Tỏa ngát mùi hương ư vơi đầy,

Hỷ xả từ bi đều có đủ,

Ngàn năm chỉ một, chứ không hai.

 

Hằng năm vào tiết giữa tháng tư,

Dân chúng hân hoan rộn đùa nô,

Vui đón đóa hoa tưng bừng nở,

Hương thơm tỏa ngát chốn đế đô. 

 

Hoàng hậu Ma gia vừa ứng hiện,

Cho đời một đóa hoa lừng danh,

Ngàn năm và măi về sau nữa,...

Tỏa ngát hương thơm ư Vô sanh, ... 

 

Ư Vô sanh nhẫn là bất diệt,

Giáng hạ độ sanh cơi Ta bà,

Độ tận chúng sanh, tâm bất thoái,

Đóa hoa ấy chính đức Thích già.

 

           Phật đản  Giáp tư - 1984

MONG ƯỚC ^

Hạnh Thanh

 

Hương Điền, Lănh Thủy quê tôi,

Con ông Hồng Luật (*), mẹ tôi họ Trần,

Sinh ra năm gái cân phân,

Tôi là út nữ, chọn đường xuất gia.

Học Phật từ tuổimười ba,

Hăm lăm vượt biển, đi ra xứ người.

Mang thân lưu lạc nổi trôi,

Thân ở xứ người, Phật sự cưu mang.

Ra đi bỏ xóm, bỏ làng,

Xa cha, xa mẹ, họ hàng cũng xa.

Tuy nhiên tâm vẫn đệm đà,

T́nh đời nghĩa đạo cố mà giữ nguyên,

Làm sao cho trọn lời nguyền:
Giữ ǵn đạo hạnh, cần chuyên tu tŕ.

Cho dù hoàn cảnh đổi dời,

Biến chuyển, đổi dời tâm vẫn an nhiên.

Nguyện cầu Đời, Đạo b́nh yên,

Tâm tôi măn nguyện ... về miền Lạc bang.

 

 Trọng đông Bính tư-1996

 

(*) Hồng Luật là pháp danh của thân phụ tôi.

 

Kính tặng Ḥa Thượng Tín Nghĩa

 

Ḥa âm thi tứ phùng kinh kệ,

Thượng ấn trùng quang Lâm tế tông,

Tín đạo thường hằng truyền chánh pháp,

Nghĩa từ phổ độ chúng giai đồng.

 

Seattle, Sept. 28, 2003
"

Ngậm Ngùi ^

 

C̣n ǵ nữa, chiều nay tôi đi măi!

T́nh quê hương xin gác lại từ đây,

Ḍng lệ rơi trên g̣ má đong đầy,

Âm thầm bước không một lời giả biệt,

Chân vừa đi, miệng niệm thầm tha thiết,

Giây phút nầy chỉ biết bước xuống thuyền,

Tự thấy ḿnh như thiếu những phước duyên,

Bỏ tất cả đi về miền đất lạ,

Xa bà con, ông bà và mồ mả,

Xa mái chùa, xa tất cả t́nh thâm,

Hoàng hôn ơi, ta tiến bước âm thầm,

Trong bóng tối, với một thân đơn chiết,

Bước xuống thuyền lệ rơi rơi từ biệt,

Ḷng xuyến xao đầy thi thiết không lời,

Trước mặt tôi toàn sóng nước chơi vơi,

Tim se thắt và càng thêm tủi hỗ,

Tự xem ḿnh là người con xấu số,

Không quê hương, không tất cả từ đây,

Thuyền ra khơi cùng sóng gió trời mây,

Thuyền vô định chưa biết ngày nào đến,

Chung quanh tôi bầy hải âu thân mến,

Quyện từng ṿng như muốn nhắn điều chi,

Rồi cuối cùng cũng chẳng được những ǵ ?

Đành gạc lệ đang tâm rời cố quốc.

 

Mạnh xuân Kỷ mùi  -  1979

Nghiệp ^

 

Tâm mờ mịt chưa vào ṿng giải thoát,

Bao nhiêu năm tu tập chẳng ra ǵ,

Măi chạy theo những vọng tưởng, sầu bi,...

C̣n lẩn quẩn với bùn mê, nước đục,

Bởi v́ lẻ quay cuồng trong lục dục,

Chẳng lo tu cứ buông thả theo ḍng,

Do sáu căn không phân biệt đục trong,

Không cố gắng vâng lời Phật chỉ dạy:

Không tiến tu th́ làm sao mà thấy?

Phải tự ḿnh nổ lực lấy chính ḿnh,

Măi ôm vào những vọng nghiệp ba sinh,...

Không phân biệt chánh, tà khi hành xử.

Tâm và thân luôn luôn đều vẫn cứ,...

Ôm lấy hoài khổ lụy của trần gian, 

Chưa thấy đạo nên măi cứ than van,

Sao ta măi với muôn vàn khổ lụy ?

Than như thế là không dùng lư trí,

Đi vào đường giải thoát của Phật đà,

Cứ măi mê triền phược với ái hà,

Cứ rong ruổi tâm tà mà bỏ chánh,

Không nhất tâm bước lên bờ đất Thánh,

Chưa bao giờ thần tĩnh với mộ khang,

Bây giờ đây cố thức tĩnh tâm can,

Hướng về Phật để dứt đường vọng nghiệp,

Giờ phút nầy với một ḷng chí thiết,

Sám hối về ba nghiệp: miệng ư thân,

Cố nhất tâm và nhất trí chuyên cần,

Dứt sạch nghiệp lực: Miệng, thân và ư.

     Trọng đông Canh th́n - Oct. 20, 2000

 

Nh́n Trăng ^ 

 

Hôm qua,

trăng sáng cả rừng Thông (*)

Thử hỏi v́ sao:

Nay lại không?

Hay bởi:

đám mây làm chướng ngại,

Để người trường dạ

luống ngồi trông.

Sư bà Thích Nữ Diệu Không

 

Họa nguyên vận

 

Nh́n trăng,

trực nhận thể viên thông,

Vạn pháp:

Không ngoài lư diệu không,

Ai dám bảo rằng:

Không với Có?

Có, không, không, có:

Bởi người trông.

Ḥa thượng Thích Mật Hiển

(*) Thông tức là Pháp tự của Tổ Giác Tiên. Khi quư Huynh đệ xây tháp để thờ Ngài, Sư bà nhớ ân sư, tức cảnh thành thơ và Ḥa thượng Bổn sư chúng tôi họa lại nguyên vận như vậy.

 

Nghĩ Lại ^ 

 

Ác càng chồng chất khổ càng nhiều,

Làm ác bao nhiêu khổ bấy nhiêu,

Đau khổ cực h́nh do tham kết,

Quay cuồng địa ngục tại ác chiêu.

Vụng tu nên chẳng mong giải thoát,

Giải đải làm sao được tiêu diêu?

Cố gắng công phu đường tu niệm,

Khuyên người nghĩ lại, chớ làm liều.

 

Mạnh đông Canh thân  -  1980      

 

 

 Nguyện Cầu ^

 

Mấy chục năm dư sống xa nhà,

Đường tu c̣n vụng với thân ta,

Vận may thuận ư chưa vươn tới,4

Cơ hội về quê cứ thấy xa,

Giáo hội bên ngoài luôn gần gũi,

Tăng Ni trong nước chẵng cách xa, ...

Cầu mong Tam bảo hằng che chở,

Đạo pháp quê hương được đậm đà.

 

 

           Trọng xuân Bính tư  - 1996

 

Nhớ Huế ^

 

Đă bao lần tôi muốn về thăm Huế,

Lặng ngắm nh́n cảnh cũ của Huế đô,

Huế yêu thương, Huế đẹp, Huế mộng mơ,

Phú Văn Lâu đứng ngắm mấy chuyến đ̣,

Đưa áo trắng sang sông trường Đồng Khánh,

Thuyền sông Hương ngược ḍng lên Văn Thánh,

Cầu Tràng Tiền in bóng nước Hương giang,

Chợ Đông Ba đón khách nắng,... mơ màng,

Ngâm câu hát Nam B́nh về An Cựu,

Vỹ Dạ đ̣ trăng nhớ ai mộng ảo,

Tịnh Tâm buồn áo năo nhớ tích xưa,

Sen nở, hoa cười, gió mát, hương đưa,

Người câu cá đâu có c̣n ngồi đó?

Hoàng thành ơi bây giờ c̣n nhờ rơ:

Cồn Hến chừ bắp đă trổ bông chưa?

Đỉnh Ngự thông reo với mấy câu ḥ,

Bến Thương Bạc trông qua đ̣ Âm Phủ,

Cầu Thanh Long ngóng lên cầu Bạch Hỗ,

Tháp bảy từng Thiên Mụ vẫn đứng yên,

Lặng ngắm nh́n về Phường Đúc, Tràng Tiền,

Hồi chuông đổ trong màng sương chiều xuống,

Ai lên Từ Đàm, ai trèo Kim Phụng,

Ai xuống Đ̣ Cồn, ai nghe tiếng trống,

Ở Tam Ṭa liên tiếp đổ từng hồi,

Giữa khuya buồn với giọng hát đầy vơi,

Ḷng nhớ Huế, trong tôi dài bất tận,

Là dân Huế, ai mà không oán hận,

Chuyện sáu ba, chôn Phật Tử thảm thương,

Để ḷng dân than khóc suốt đêm trường,

Do chế độ nhà Ngô gây áo năo,

Mắt mọi người, lệ chảy hoài chưa ráo,

Rồi tiếp theo sáu tám, tết Mậu Thân,

Lập mồ chôn tập thể khắp xa gần,

Làm dân Huế lại càng thêm điêu đứng,

Tuy như thế, Huế vẫn c̣n đứng vững,

Từ ngàn xưa đến suốt tận ngàn sau,

Xin mọi người, ta hăy đứng cùng nhau,

Đừng quên Huế, Huế muôn đời bất diệt.

 

    Nov. 21, 1998

 

 

Nhớ Xuân^

  

Đón xuân nầy, ta nhớ xuân xưa,

Nhớ cánh mai vàng, nhớ mái chùa,

Nhớ pháo nổ vang, nêu vừa dựng,

Nhớ bầy chim én lượn nô đùa.

 

Đón xuân đất khách, nhớ xuân quê,

Nhớ bánh chưng xanh, nhớ hội hè,

Nhớ cúc hoa vàng, tùng xanh lá,

Nhớ chùm khế ngọt với hàng me.

Đón xuân lớn tuổi, nhớ thiếu thời,

Nhớ cổng đầu làng tối ba mươi,

Nhớ áo đỏ, xanh, vàng đủ thứ,

Nhớ từng tiếng nói lẫn tiếng cười.

 

Đón xuân hải ngoại, nhớ xuân nhà,

Nhớ ánh trăng rằm, nhớ cây đa,

Nhớ tuổi măng tơ ôm sách vở,

Nhớ đàn em nhỏ chạy quanh nhà.

 

Đón xuân nầy, đă ngoại lục tuần,

Nhớ làm ǵ nữa chuyện của xuân,

Gác chuyện thế gian, lo tu niệm,

Thoát ṿng tục lụy, được an thân.

 

Xuân nầy xin khép chuyện nhớ nhung,

Tất cả nhất tâm thuộc nằm ḷng:

Cố niệm Di Đà về lạc quốc,

Để đời thôi hết chuyện long đong.

 

Trọng xuân Nhâm ngọ - 2002

 

 

 

Niệm  Phật ^

           

 

Mấy chữ Di Đà Phật,

Nhất tâm cứ niệm hoài,

Nhất tâm không thấy tịnh,

Mười niệm vẫn cứ lơi,

Đốn ngộ không một lư,

Thiền tịnh chẳng hai lời,

Giữ tâm cho thanh tịnh,

An lạc sẽ đến thôi.

         

Mạnh thu Đinh sửu - 1985 

 

 

Niệm Phật ^

Viên Đốn

 

Tất cả pháp, Pháp môn niệm Phật:

A Di Đà đệ nhất (1), tự xưa nay,

Niệm làm sao cho tâm ư hiển bày:

Chân diện mục đến ngày giải thoát.

 

Tín tại ư trung, tâm vô trước,

Nghĩa duyên tướng ngoại, thể vô thù.

Thể và tâm niệm phải nhất như,

Đạt chơn lư nương về chánh quả,

Tham phải xả, chẳng vướng sân, si thời cũng diệt,

Niệm vô niệm, niệm thời chí thiết,

A Di Đà Phật: Quyền, Thiệt (2) đều như,

Chuyên tâm đạt đến Vô dư,

Tây phương Thánh cảnh, thuyền từ thảnh thơi.

Tiến tu, cố gắng ai ơi!

 

  Trọng đông Đinh măo – 1987 

 

1. Di Đà đệ nhất: Bài Sám tụng trong mỗi thời kinh, đa phần là công phu chiều.

2. Quyền: là Quyền giáo (như giáo lư Tam thừa: Thanh Văn, Duyên giác và Bồ tát). Thiệt: C̣n gọi là Thật, tức thật giáo. Trong hai tông Hoa nghiêm và Thiên thai tức là chỉ cho Phật thừa hay Nhất thừa.

 

Niềm Ước Mơ (*) ^

 

Chân bước vào chùa đă ước mơ,

Làm sao về được ở bến bờ:

Ấn độ Đạo tràng Bồ đề thọ,

Hào quang tắm gội: Phật ban cho.

 

Tâm trí ngày đêm vẫn nguyện cầu,

Tín tâm ḷng măi cứ in sâu,

Một ngày nào đó về Ấn độ:

Chiêm bái lời vàng có từ lâu.

 

Măi đến cuối năm của hai ngàn,

Thầy tṛ lần đến chốn đạo tràng,

Mấy năm khổ hạnh c̣n dấu tích,

Bái lạy, khấn nguyền trước Tôn nhan.

 

Dưới cội Bồ đề con bái chiêm,

Ḷng con rộn ră với bao niềm,

Hoa đàm nở tỏa mùi hương quư,

Tắm gội hương từ chốn tịch nhiên.

 

Hai tuần lễ chẵn, trí thảnh thơi,

Thắm đượm gió từ dạ yên vui,

Đón nhận khí thiêng cùng nhân loại,

Hỷ hoan an lạc đến cùng tôi.

Quư thu Canh th́n – 2000

 

 

(*) Năm 2000, chúng tôi hướng dẫn phái đoàn xuất gia lẫn tại gia gần 45 vị đi chiêm bái Phật tích ở Ấn độ. Đây là niềm ước mơ khi c̣n là chú tiểu và đón đọc cuốn Đường Về Xứ Phật của HT. Minh Châu. Sau khi đi chiêm bái về, làm bài thơ nầy để lưu niệm.

Phát  Nguyện ^

 

Tu thân chẵng luận trẻ với già,

Tịnh độ nương về chẳng bao xa,

Tiếng mơ hồi chuông, tâm an lạc,

Câu kinh tiếng kệ, ư hài ḥa.

An nhiên cảnh tịnh xa bể khổ,

Giải thoát ḷng trần đến liên hoa.

Phát nguyện tiến tu lời Phật dạy,

Hoàn lai hóa độ sẽ có ta.

 

 Trọng hạ Nhâm ngọ - July  20th , 2002

 Sống Đạo  ^       

       

Sống đạo quyết tu lư nhất tâm,

Nhất tâm th́ nhớ: chớ sai lầm,

Sai lầm cố gắng nên tu sữa,

Tu sữa để rồi được an thân. 

 

An thân th́ phải cố tiến tu,

Tiến tu nên phải luyện công phu,

Công phu chưa đạt, chưa thành tựu,

Thành tựu được rồi, khỏi bị mù. 

 

Bị mù nên học đạo Thích Ca,

Thích Ca ngài giáo chủ Ta bà,

Ta bà phát nguyện về Tịnh độ,

Tịnh độ tây phương ấy Di Đà.  

 

Di Đà cực lạc nguyện văng sanh,

Văng sanh về đó, được an lành,

An lành nên mới không đọa lạc,

Đọa lạc nên t́m đến Vô sanh. 

 

Mạnh hạ Giáp tư - 1984

 

Sự Đời ^

 

Đời vốn sinh ra đă cô đơn,

Có nghĩa ǵ đâu chuyện thiệt hơn,

Tấm thân bèo bọt lo trau chuốc,

Trí tánh ngu si tưởng vuông tṛn.

Gần Phật, gần chùa không tu niệm,

Xa thầy, xa bạn chỉ bon chen.

Ai ơi, biết khổ xin nghĩ lại,

Tu tỉnh cho đời ấy mới ngoan.

 

 Trọng đông Giáp tư  -  1984

 

Tâm Chuyên ^

  

Tâm tịnh Phật độ tịnh,

Tâm loạn nghiệp chướng sanh,

Chuyên tâm trừ loạn động,

Giải hoặc nghiệp vô minh. 

 

Tạm dịch:

                Chuyên Tâm

         

Tâm yên cảnh Phật cũng yên,

Nếu tâm nhơ nhớp, nghiệp liền theo ngay.

Chuyên tâm trừ nghiệp cho tày,

Nghiệp chướng bao đời, loạn hoặc cũng tiêu. 

   Quư hạ Tân dậu  -  1981

Tạo Duyên ^

 

Kiếp nầy không tu, kiếp nào tu được?

Cố gắng tu, tiến bước bà con ơi!

Tạo Phật duyên th́ phước rải lâu dài,

Cố dứt khổ, để rồi không c̣n khổ.

Cố dứt khổ, cố t́m về Phật độ,

Đừng dừng chân mà chịu khổ trầm luân.

Nếu kiếp nầy không chuyển bước lên đường:

Bát chánh đạo mà nương về bờ giác,

Người con Phật đă mong cầu giải thoát,

Th́ tạo duyên để đạt đến chơn tâm,

 

Đă tạo duyên th́ Phật lư chuyên cần,

Và thật sự thực hành lời Phật dạy,

Vào Phật lư là tự ḿnh đứng dậy,

Nương thuyền từ mà tự thấy bản lai (*),

Tạo Phật duyên th́ đừng cậy vào ai,

Tạo Phật duyên th́ tiến hoài đừng nhác,

Nếu khổ công th́ có ngày sẽ đắc,

Giống núi cao ta đục măi cũng thông,

Lời Phật dạy cố thực tập nằm ḷng,

Thoát triền phược để không c̣n đau khổ,

Đă tiến tu th́ chính ḿnh tự độ,

Đừng ngồi chờ và đừng đợi bên ngoài,

Cố tiến tu, xa khổ lụy trần ai,

Được như vậy là cuộc đời hoan lạc,

Tạo Phật duyên để t́m về bờ Giác,

Tạo Phật duyên là giải thoát luân hồi,

Mất thân người khó gặp được ai ơi!

Cố niệm Phật hằng ngày cho tinh tấn,

Tạo Phật duyên là xóa tan sầu hận,

Xin mọi người cố gắng khi phát tâm,

Khuyên người cố giữ nằm ḷng,

A Di Đà Phật, chuyên tâm hành tŕ.

 

 

    Quư thu Tân dậu – 1981

 

(*) Bản lai: Tức bản lai diện mục, tức bộ mặt thật của ḿnh.

Tiến  Tu ^ 

 

Thân khó được nên tu mới phải,

Tu làm sao để diệt hết tham,

Tu là ta chuyển thánh bỏ phàm,

Tu như vậy mới mong giải thoát,

Phát tâm tu th́ ĺa khổ, ác,

Để thân tâm không vướng sầu bi,          

Vận tâm tu, cố diệt sân si,

Cố diệt khổ, tức th́ khỏi khổ,

Phát tâm tu, tâm không tật đố,

Cố vươn lên, khỏi nghiệp trầm luân,

Đừng gây nên thêm nghiệp vào thân,

Quán chiếu để: Thoát ṿng lục đạo,

Tu là quán: Luân hồi, khổ báo,

Tâm luôn duyên lời dạy kinh văn,

Đầu tiên ta chuyển nghiệp: thân tâm,

Rồi từ đó: Bước lần vào trí,

Đă tiến tu, tức là xả kỷ,

Thân và tâm cùng trí thảnh thơi,

Niệm Di Đà liên tục không lơi,

Bỏ tục đế, duyên về chơn đế,

Nói th́ dễ, thực hành không dễ,

Lúc ban đầu lần bước tiệm tu,

Tâm dơng mănh theo lư chơn như,

Rồi từ đó: Đốn tu mới thuận,

Trên đường tu nghịch nhiều hơn thuận,

Không vững tâm sẽ thoái chí ngay,

Cố tiến tu, phải nguyện từ đây:

Vượt tất cả chướng duyên..., bước tới,

Có như thế vượt qua khổ ải,

Nương Thuyền từ, giải đăi sao đang,

Đă tiến tu, ư chẳng mơ màng,

Đứng núi nầy trông về núi nọ,

Tâm tiến tu, Chánh c̣n xả bỏ,

Tà pháp thời ôm lấy mà chi?

Đă tiến tu, xin nhớ khắc ghi:

Miệng niệm Phật, tâm duyên cảnh Phật,

Trú dạ lục thời đều ghi khắc,

Để hành tŕ chuyên nhất mà đi,

Xin người cố gắng lấy ai ơi!

 

Trọng hạ Mậu dần - 1986

Tết Đầu Tiên Trên Đất Hoa Kỳ ^   

           

 

Bốn bề tuyết trắng đổ như bông,

Tết đến đây rồi ai biết không?

Tổ quốc trông về thêm xót dạ,

Quê hương nh́n lại thấy đau ḷng.

Mấy mùa tết đến mừng xuân ấm,

Bao độ hè sang thấy phượng hồng,

Đất khách bây chừ, vui đơn độc,

Mẹ cha, thầy bạn: có như không.

           

   Mạnh đông Canh thân  -  1980     

 

Thân Chúc ^         

   

Xuân đến xin chúc khắp xa gần,

Nhà nhà hưởng được cảnh tân xuân,

Việt nam tổ quốc mong thịnh vượng,

Phật giáo Tăng Ni  được an b́nh.

Đoàn kết đắp xây ḥa tổ quốc,

Mưu cầu tạo dựng hợp toàn dân.

Việt nam - Phật giáo cùng phấn chấn,

Răng lạnh ĺa môi bị qua phân. 

      

    Mạnh xuân Tân tỵ - 2001

 

Tháng Bảy Vu Lan ^ 

 

Tháng bảy vui đón Vu lan,

Tháng bảy mọi người hân hoan,

Học hạnh đức Mục Kiền Liên,

Cố t́m cho ra Mẹ hiền,

 

Tháng bảy tưng bừng hoan ca,

Tháng bảy cầu chúc Mẹ Cha,

Vui sống một đời tràn trề,

Trong niềm Phật đạo từ bi.

 

Tháng bảy em có nhớ không?

Con Phật: em thuộc nằm ḷng,

Lời Phật dạy em từ bi,

Xa rời tất cả sân si.

 

Tháng bảy ta quỳ bên nhau,

Dâng lên tâm hương nhiệm mầu,

Phật đạo ta cùng tiến lên,

Noi theo đức Mục Kiền Liên.

 

Tháng bảy Vu lan ngày rằm,

Ba tháng an cư chư Tăng:

Giữ ǵn giới thể viên minh,

Ḷng từ phổ độ chúng sinh.

 

          Trọng hạ Ất hợi - 1995

Thơ gởi bạn hiền (*)^   

        

Nằm ngủ, nhưng ḷng nhớ bạn hiền,

Cho nên muốn ngủ, ngủ chẳng yên,

Trao thơ vài chữ về bạn rơ,

Gợi ư đôi câu để ḿnh t́m.

Cách trở ngàn trùng không liên lạc,

Biền biệt mù khơi khó biết tin.

Phước (*) ở quê nhà chắc an ổn,

Tâm nầy quyết định cố gắng t́m.

 

         Quư đông Kỷ tỵ  -  1989

 

(*)  Bạn hiền tức là anh  Vơ Phước, tức thầy Thích Huệ Trí, đệ tử của Ôn Từ đàm, một người bạn cố tri từ thời niên thiếu, có một không hai trong đời tôi. Mất liên lạc của nhau từ ngày tác giả bước chân xuống thuyền t́m về vùng tự do, tính đến nay cũng trên mười năm tṛn.

Thương Nước ^

 

Kiều bào yêu nước tự nhiên thôi,

Nước đục dân lo dĩ nhiên rồi,

Nước cạn dân không c̣n chỗ đứng,

Nước bồi dân chẳng hiếm chỗ ngồi.

Nước trong dân sẽ mừng tha thiết,

Nước đục dân không chút an vui.

Thương nước toàn dân nên lưu ư,

Chung lo xây đắp sớm rạng ngời.

 

Rạng ngời đất nước dân mới an,

Bổn phận toàn dân phải chu toàn,

Hạnh phúc tự do cần phát triển,

Ḥa b́nh thịnh vượng phải an bang.

T́nh thương ban bố t́nh ṇi giống,

Nghĩa hiệp d́u nhau nghĩa xóm làng.

Dân Việt trong, ngoài xin ghi nhớ:

Đồng bào ruột thịt phải lo toan.

           

           Mạnh thu Mậu dần – 1998

Ư Nghĩa Sự Sống ^ 

 

Đời sống con người lắm đảo điên,   

Sống sao để khỏi gặp truân chuyên,

Cố gieo hạt giống không thù hận,

Ráng giữ tâm linh khỏi lụy phiền,

Phước họa do ḿnh: vui hay khổ,

Nghĩa nhân do đức: thánh hoặc hiền,

Ai ơi giữ lấy mầm đức hạnh,

Tự tại, thong dong sướng như tiên.

 

     Quư đông Giáp tuất  -  1994

 

 

 

 

Tỉnh ^    

 

Thân đang,...

lạc bước Ta bà,

Bước đi khấp khểnh,

biết là về đâu?

Đưa tay,...

lần chuổi kinh cầu,

Lời kinh huyền nhiệm,

thấm sâu tâm hồn.

Giờ th́:...

thấu đạt nguồn chơn,

Đục trong chẳng ngại,

Chẳng sờn đường tu.

 

      Trọng hạ Kỷ tỵ – 1997

T́nh Thương ^ 

 

Thương nhau vâng lời Phật,

T́nh thương mới dài lâu,

Ân oán không nối kết,

Thân thù không hại nhau,

Giúp người lời chân thật,

Với tâm ư nhiệm mầu,

Lợi người ḿnh tính trước,

Phần ta, sẽ tính sau.

        Trọng xuân Tân dậu - 1981

T́nh Thương Của Đạo ^

 

Người thương ta, ta cũng thương người,

T́nh thương đạo, đời hai lẽ khác nhau,

Đời thương: tính trước, tính sau,

Đạo thương: thương cả như nhau không lườn.

Đạo thương với một t́nh thương:

Từ, bi, hỷ, xả muôn vàn thắm tươi.

T́nh thương của đạo cao vời,

Thương già, thương trẻ, thương người, thương ta.

T́nh thương của đạo bao la,

Thương hết mọi nhà không lựa, không phân.

T́nh thương của đạo xa gần,

Thương cảnh hồng trần nhân loại khổ đau,

T́nh thương của đạo nhiệm mầu,

Cho vui, bớt khổ, không sầu, không bi.

T́nh thương của đạo vô vi,

Nhân loại nhất th́ giải thoát như nhau.

 

       Trọng thu Nhâm thân - 1992

Tôi Chỉ Thấy ^

 

Tôi ngồi nh́n đức Phật,

Xuyên suốt tận đêm thâu,

Thân và tâm an trú,

Nhưng chẳng thấy ǵ đâu?

Rồi ngồi yên quán chiếu,

Vào chân lư nhiệm mầu,

Giữ ǵn từng hơi thở,

Cũng chẳng thấy ǵ đâu?

Tư duy vào chánh niệm,

Để dứt nghiệp khổ đau,

Nhất tâm không loạn động,

Cũng chẳng thấy ǵ đâu?

 

Kế đó, tôi thầm niệm:

Danh hiệu A Di Đà,

Hít vào tôi cũng niệm,

Niệm luôn khi thở ra.

Nhất tâm tŕ danh hiệu,

Đi đứng và ngồi nằm,

Tuy phương pháp đơn giản,

Mà vẫn thấy an tâm.

Cho nên chư Tổ dạy:

Không tịnh mà có thiền,

Th́ có thể đi lạc,

Vào cảnh giới ma thiên.

Không thiền mà có tịnh,

Tức tŕ niệm Di Đà,

Sẽ được về cực lạc,

Và vượt khỏi ái hà.

Ái hà là sóng khổ,

Như hụp lặn sông mê,

Lục tự Di Đà niệm,

Cực lạc bước chân về. 

 

      Trọng thu Mậu dần – 1998

 

Tŕ Kinh Giải Thâm Mật ^

 

 

Trưa mùa hạ, ngồi tŕ kinh Thâm mật,

Ḷng lâng lâng, lắng đọng những ưu tư,

Cố làm sao để có thể nhất như,

Xoáy vào những trang kinh rất vi diệu!

Giải thâm mật: bộ kinh thật bí yếu,

Thắng nghĩa các hành, siêu việt biết bao!

Đưa Tự tánh tỏ ngộ ra làm sao,

Rồi từ đó đi vào: Chính thắng nghĩa?

Hành tŕ kinh nầy là điều không dễ,

Phải bỏ ngay: Tăng thượng mạn, u mê, 

 

Dùng Chơn tâm thức, để cố hướng về:
Thức đàn na, thật vô cùng vi tế,

Tŕ kinh nầy, phải dùng vào Chơn huệ,

V́ Như lai không nói cho phàm ngu,

V́ chúng sanh khó nhận để mà tu,

Sợ phân biệt, sẽ chấp làm bản ngă.

Về Sự tướng, nếu ta không biết rơ,

Tạp nhiễm rồi không thể diệt được đâu,

Trú, động pháp (1) là hai mặt khác nhau,

Bởi lư tạp nhiễm chưa hề hủy diệt,

Cố lắng tâm tư để mà suy xét,

Sự chứng đắc về thanh tịnh sẽ không,

Tŕ kinh nầy, phải nhớ kỷ nằm ḷng,

Tất cả pháp đều toàn là không cả,

Nhưng ở đây phải suy tư thật rơ:

Tự tánh pháp (2) vốn có niết bàn thường.

Đức Như lai đă dạy với t́nh thương,

Nêu mật ư đưa đến đường giải thoát.

Có hai nghĩa đó là: Thường và Lạc,

Chứng nhập rồi bước đến lư Vô sanh

 

       Trọng hạ Nhâm ngọ – 2002

 

 (1) Trú, động pháp tức là trú pháp và động pháp, có nghĩa là niết bàn thường trú mà sinh tử th́ biến động.

(2) Tự tánh các pháp vốn thường tịch tịnh, niết bàn.

TU ^

 

Tu là tu,

Là phát tâm hướng Phật,

Là phát tâm hướng đến cả muôn loài,

Là phát tâm tŕ niệm suốt cuộc đời,

Là phát nguyện cho một ngày về bờ giác,

Tu như thế mới mong ngày giải thoát,

Trong hiện đời an lạc với chính ta,

Dù thân nầy đang nương náu Ta bà,

Tâm tự tại như đang là tịnh độ,

Tu như thế mới vơi đi sầu khổ,

Đă tự tu là chính ḿnh tự độ,

Niết bàn đâu mà t́m măi bên ngoài.

Không vướng tục tức là tiên cảnh,

Đă xa trần ấy thế bồng lai.

Tự ḿnh gắng lấy ai ơi!.

 

    Trọng thu Kỷ măo – 1999

 

Tự  Biết ^

 

Có thân rồi cũng phải bỏ thân,

Phú quư giàu sang cũng một lần,

Thần thức tiêu diêu nên hoan hỷ,

Linh hồn đọa lạc mới phân vân,

An nhiên tự tại là cơi Phật,

Vinh nhục đắm say ấy t́nh trần.

Tự biết thân người là như huyễn,

Xin đừng suy nghĩ chuyện xa gần.

 

   Trọng thu Mậu dần – 1998

 

Trưa Hè Vu Lan ^

 

Trưa mùa hạ, trời oi bức khủng khiếp,

Tấm thân già mải miết đứng tưới hoa,

Miệng lâm râm câu niệm Phật Di Đà,

Cầu thất thế mẹ cha và vạn loại,

Cùng nhất tâm đều hướng về một cơi,

Nương Thuyền từ để vượt khỏi ái hà, (*)

Về đây rồi th́ bờ Giác không xa, (*)

Ở chi măi Ta Bà thêm khổ lụy,

Nếu ḿnh là: Một ḷng v́ xả kỷ,

Th́ ở đâu cũng hoan hỷ như nhau,

Ngặt thân này chưa thoát khỏi khổ đau, 

Nên không thể: nói Không như đức Phật,

C̣n tham đắm, đam mê cùng vật chất,

Th́ tiệm tu, câu niệm Phật làm đầu,

Mỗi phút giây, ta cố niệm từng câu,

Miệng ta niệm, tâm ta luôn hướng Phật,

Dù bên ngoài, khí trời đang oi bức,

Nhưng giữ tâm cho vững, để tiến tu,

Nương bóng Phật, tắm gội ánh Chơn như,

Và thể hiện tâm: từ, bi, hỷ, xả,

Trong đường tu cũng gặp nhiều vất vả,

Cố vươn lên đạo cả đấng Chí tôn,

Dù cho ta thân xác có mỏi ṃn,

Đạt chánh quả là con đường tối hậu.

Chúc mọi người đều ở trong ánh đạo,

Giải thoát rồi hoàn đáo chốn Ta Bà,

Để hóa độ: nhà nhà đều hoan lạc.

  

         Trọng hạ Nhâm ngọ – 2002

 

(*) Văn của bài Sám Nguyện “Đệ tử chúng con từ vô thỉ”             

 

 Trúc Lâm Cảm Tác (*)^

              

Trúc lâm vang vọng chốn đế đô,

Suối chảy, thông reo ngát hương từ,

Trước mặt, ḍng khe kêu róc rách,

Sau lưng, hàng liễu đứng nhấp nhô.

Thầy tṛ tương đắc truyền Tổ ấn,

Huynh đệ gần xa nhận Phật thừa.

Gốc đạo vun bồi ngày thêm tốt,

Xây nền thiền tịnh tự ban sơ.

 

          Trọng thu Bính th́n – 1976

 

(*)  Trúc lâm là Tổ đ́nh Trúc lâm tại Cố đô Huế. Nơi tác giả tu niệm suốt cuộc đời cho đến ngày xa xứ. Tổ đ́nh Trúc lâm do tổ Giác Tiên khai sơn. Tổ viên tịch,  HT. Mật Hiển bổn sư của chúng tôi, Ngài làm chủ và  trụ thế 86 năm..

 

 Tu Hành  ^           

 

Tu hành nghiêm tịnh giới,

Tội lỗi sẽ không c̣n,

Con đường ta đi tới,

Luôn được mọi hỷ hoan,

Không tu mà ngồi đợi,

Lúc nào tâm được an?

Muốn được tâm bất thoái,

Để thẳng đến Lạc bang,

Không ǵ hơn giữ giới,

Trong ngoài được vẹn toàn,

Thân tâm hết tội lỗi,

Th́ đó là niết bàn.

 

Mạnh hạ Giáp tuất  -  1994

 

Tự Giác ^

 

Có học có tu mới thấy tâm,

Không tu nói thấy, thấy sai lầm,

Phật pháp nhiệm mầu đâu dễ được,

Ngày đêm vọng tưởng chỉ khổ tâm.

 

Khổ tâm uổng phí tháng ngày trôi,

Có học, không tu cũng uổng thôi,

Không học, có tu là điều quư,

Có tu, có học quư nhất đời.

 

Đời người quư trọng ở đường tu,

Không học mà tu, chỉ tu mù,

Có học, không tu thêm mọt sách,

Học, tu kiêm lợi ấy công phu.

 

Công phu tu niệm phải chuyên cần,

Có học, có tu phải thực hành,

Thiếu một th́ không tṛn công quả,

Có tu, có học mới thấy tâm.

 

 Trọng xuân Nhâm ngọ - 2002

 

 

Tưởng ^

 

Tưởng rằng trẻ măi giống như xuân,

Ngoảnh lại th́ ra ngoại lục tuần,

Răng cỏ rung rinh, tai ù điếc,

Chân tay bủn rủn, ư khật khùng.

Tụng kinh bái sám th́ biêÙng nhác,

Niệm Phật tŕ danh lại buông lung.

Uổng phí thời gian cho trôi măi,

Để rồi hối tiếc cũng như không.

 

      Mạnh xuân Tân ty - 2001

 

Tu Phật ^

 

Tu Phật th́ ta phải cần chuyên,

Tu sao đức tánh giống Thánh hiền,        

Tâm mê cố diệt cho khỏi nghiệp,

Trí sáng nên làm để hết phiền.

Tu để lánh xa tâm tục lụy,

Tu sao khỏi vướng cảnh oan khiên.

Tu đời sửa tánh cho ngay thật,

Tu Phật chuyên tŕ giới luật nghiêm.

 

   Trọng thu Mậu dần – 1998

 

 Tự Thán ^

 

Thiên hạ đua chen chuyện hơn thua,

Tu hành sao chẳng ở trong chùa?

Thâu đêm tụng niệm noi Tổ ư,

Chầy tháng tŕ kinh học Phật thừa.

Danh lợi cạnh tranh, lo bơi chải,

Công danh t́m kiếm, dụng mưu mô.

Đời người thấm thoắt là mấy chốc,

Lạy Phật, tŕ kinh thủ phận nhà (1).

 

  Trọng thu Mậu dần – 1998

 

(1) Thủ phận nhà là giữ măi cái tâm xuất gia ngay từ đầu. 

 

 

 Tự Vịnh ^

       

Thiên hạ đua chen chuyện hơn thua,

Riêng tôi quanh quẩn với cảnh chùa,

Trưa trưa cúng ngọ, chiều chấp tác,

Sớm sớm tŕ kinh, tối công phu.

Mỏi gối hành thiền, sức chẳng thiếu,

Ṃn tay lần chuổi, nguyện vẫn thừa.

Mấy chục năm rồi chưa thấy Phật,

Té ra nghĩ lại: vụng đường tu.

           

   Trọng hạ Đinh tỵ -  1977

Từ Đàm Cảm Niệm ^ 

 

Nhà thơ Lam Nguyên Kim phổ theo Ngũ ngôn

 

Tiếp nối ánh từ quang,

Truyền diệu pháp huy hoàng,

Quán Âm đài hiển hiện,

Trước sân chùa nghiêm trang.

Từ bi và trí tuệ,

Phát đại nguyện độ sanh,

Tiêu trừ muôn bệnh khổ,

Tạo thánh địa an lành.

Từ Đàm Hải Ngoại nầy,

Hương thiền ngút trời Tây,

Tuyên thừa câu mật ngữ,

Thiên môn phụng Như lai.

Khó phai t́nh Pháp lữ,

Cứu chúng sanh muôn loài.

Seattle, 10th 02, 2003

 

 

 

Vi Diệu Tâm ^

         

Tâm tán tức ma hiện,

Tâm tịnh thị Phật sanh.

Tâm duyên vi diệu pháp,

Phật quả tự viên thành.

 

Tạm dịch:

 

Tâm Vi Diệu

Tu hành tâm tán là ma,

Tịnh tâm Phật cảnh sanh ra hiện tiền,

Hành tŕ diệu pháp cần chuyên,

Phật quả viên thành đạt ngộ một khi.

 

Quư hạ Tân dậu  -  1981

 

 

 Ước Mơ   ^

 

Nơi hải ngoại đêm nằm thao thức,

Thương Việt Nam thống nhất từ lâu,

Nhưng mà chẳng được ǵ đâu,

Tự do, hạnh phúc được nào cho dân?

Mấy chuyện ấy xoay vần đầu óc,

Suốt năm canh thao thức không an,

Đêm nào cũng vẫn mơ màng:

Cơm no áo ấm dân làng yên vui.

Càng suy nghĩ, bồi hồi tấc dạ,

Chuyện quê hương, mồ mả cha ông,

Hai hàng lệ nhỏ ṛng ṛng,

Chư tôn Giáo phẩm long đong suốt đời,

 

Nén tâm hương, dâng lời cầu nguyện,

Ḷng thiết tha, khói quyện bay cao,

Mong cho đất nước làm sao,

Tăng ni, Giáo hội khỏi tao nạn hoài,

Việt nam ta đời đời hào kiệt,

Nữ hay nam đều quyết ra tay,

Chung ḷng, chung sức đắp xây,

Danh đề sử sách xưa nay c̣n truyền.

Về phái nữ thuyền quyên có đủ:

Trưng, Triệu vương đuổi lũ giặc Tàu,

Nam nhi lịch sử đứng đầu:

Quang Trung, Hưng Đạo vị nào cũng oai.

Trang sử Việt c̣n dài dài lắm,

Thời đại nào cũng thắm máu đào,

Không nề cực khổ gian lao,

Nhân dân no ấm mới vào nghĩ ngơi.

C̣n Phật giáo nhiều ngài: Khuôn Việt,

Vạn Hạnh và c̣n biết bao nhiêu,

Các Ngài thể hiện t́nh yêu,

Yêu dân, yêu nước mọi điều tṛn vuông.

Khi đất nước chưa an, chưa ổn,

Đem thân ra đỡ nạn cho dân,

Khi ḥa b́nh đến thật gần,

Thiền môn trở gót lo phần tịnh tu.

 

Trọng xuân Quư Dậu - 1993

 

Vịnh TỪ ĐÀM ^

 

Từ Đàm Hải Ngoại,

Bước chân vào

bên phải Đại hồng chung,

Nh́n bên kia

là Đại cổ oai hùng,

Cùng cất tiếng

đưa âm vang vi diệu,

Trong chánh điện

lời kinh cầu huyền nhiệm,

Của thiền tăng

và Phật tử cùng tu,

Lời kinh vang

xa, xóa tảng mây mù,

Trên bảo tọa

uy nghi ngôi Tam Thánh,

Nh́n lên Phật

hào quang đang lấp lánh,

Tỏa năm màu

chói ánh sáng độ sanh,

Nh́n ra xa

với cây cảnh vươn thành,

Hàng tùng, cúc

với bon-sai (1)  xanh mướt,

Chung quanh chùa

hàng trúc cài tha thướt,

Tỏa lá cành

phô màu lục xanh xanh,

Mỗi khi nghe

gió nhẹ thổi qua mành,

Ḷng vơi bớt

duyên trần, tâm nhẹ nhỏm,

Trước sân chùa

đôi kỳ lân thấp thỏm,

Ngước nh́n lên

đức Bồ tát Quán Âm,

Tay Ngài đang

phất nhẹ cành dương râm, (2)

Nước cam lộ

từ từ rơi thắm đượm,

Trên nóc chùa

một cặp long uốn lượn,

Miệng nhả châu,

để nói pháp vô sanh,

Lượn trong mây

với tâm ư yên lành,

Ḥa trong gió,

đem thanh b́nh trở lại,

Pháp của Phật

là từ bi vô ngại,

Độ quần sanh

đến giải thoát niết bàn,

Bước vào chùa

là đă thấy tâm an,

Đôi lục bát

dạy cho đời để ư:

Đến chùa niệm Phật, tụng kinh,

Đừng bàn thế sự, tâm ḿnh bất an”. (3) 

           

    Trọng hạ Canh th́n  – 2000

 

Chú thích:

(1)  Bon-sai: Loại cây cảnh uốn, tỉa của Nhật bản,Râm: tức là mát mẻ.

 (3) Hai câu nầy được treo ở vách tường cho Phật  tử xem mỗi khi đến chùa lạy Phật, viếng cảnh.

 Vô Đề ^

 

Hơn mấy chục năm qua,

Loanh quanh với ngôi chùa,

Thân và tâm an trú:

Trong Diệu Pháp Liên Hoa,

 

Rồi mấy chục năm qua,

Một ḿnh ta với ta,

Sống vào nguồn chơn lư,

Của Phật tổ Thích Ca.

 

Mấy chục năm đi qua,

Sống trong một mái nhà,

Hành tŕ theo chơn lư:

Của giáo nghĩa Lăng già (*).

 

Nhớ về thuở xa xưa,

Để không c̣n phôi pha,

Nhất tâm luôn tŕ niệm:

Nam mô A Di Đà.

  

     Mạnh thu Giáp tuất - 1994

 

(*) Lăng già: Kinh Lăng già Tâm ấn.

 

 

 

 

 

 

XUÂN THA HƯƠNG ^

 

Xuân đến xuân đi vẫn là xuân,

Đón xuân đất khách đă bao lần,

Mai đào hứng gió nào đâu thấy,

Tùng cúc phơi sương chẳng dự phần,

Tuyết đổ liên hồi đầy trước ngơ,

Lá bay từng chiếc phủ ngoài sân,

Khắp vườn cây cỏ đều trơ trụi,

Riêng chỉ ḿnh ta vọng cố nhân. 

 

      Trọng đông Giáp tư  -  1984

 

 

Trào Phúng  1

Nhắn Nhủ (*)^ 

 

Ai oi !     

Hút thuốc liệng tàn,

Thuốc hút đàng hoàng,

Tàn liệng có nơi.

Hút rồi,

Đừng liệng lôi thôi,

Để Thầy,

Cong lưng lượm,

Buồn ơi !

Là buồn !

Mạnh hạ  Kỷ tỵ  -  1989

 

(*)  Mỗi lần Phật tử đến chùa hút thuốc, tàn liệng lung tung, nên tác giả nhắn nhủ cần chú ư và cẩn trọng cho sự hỏa hoạn, không tốt.

 

 

Trào Phúng 2   ^ 

Vịnh Hút Thuốc

 

Là người Phật tử,

Hút thuốc đàng hoàng,

Nếu có liệng tàn,

Th́ phải có nơi,

Nếu liệng lôi thôi,

Để Thầy cúi lượm,

Th́ thật khó coi.

 

       Trọng đông Đinh sửu  -  1997

Từ Đàm Hải Ngoại Cảm Tác  ^ 

 

Tổ ấn trùng quang diệu pháp khai,

Đ́nh tiền hiển hiện Quán âm đài,

Từ năng tế độ thiên sanh bệnh,

Đàm xuất tiệu trừ vạn kiếp tai,

Hải nội đạo tràng tuyên mật ngữ,

Ngoại viên thiền viện phụng Như lai,

Cảm tương Tăng lữ nan tư nghị,

Tác hóa quần sanh tuyệt bất nhai.

 

 Trọng đông Canh ngọ-1990

 

Tạm dịch:

 

Tổ ấn mở pháp diệu vời,

Trước sân hiển hiện linh đài Quán âm,

Từ hay tế độ xa gần,

Đàm hoa trị liệu muôn phần kiếp tai,

Hải nội mật ngữ an bài,

Ngoài vườn phụng thỉnh Như Lai độ đời,

Cảm thông tôn đức khó b́,

Giáo dưỡng quần chúng muôn đời truyền lưu.

Kham Nhẫn (*) ^ 

 

Mai hoa hàn trung khai,

Thành công khổ trung lai,

Tiên niệm Di Đà Phật,

Hậu đáo cửu liên đài.

 

Tạm dịch:

 

Chịu Khó

 

Hoa mai nhờ lạnh nở ra,

Thành công từ khổ để mà tiến thân,

Di Đà trước niệm chuyên cần,

Rồi sau đạt đến chín tầng liên hoa.

 

 Mạnh xuân Tân tỵ – 2001

 

(*) Kham năng nhẫn khổ:

 Tức là hay chịu đựng những khổ cực, khó khăn.

 tức là hay chịu đựng những khổ cực, khó khăn.

 

Tiếng Chuông ^ 

 

Trăng mới mọc

Sau khi trời vừa tạnh,

Ngoài hiên,

Văng vẳng tiếng chuông đưa,

Tiếng chuông ngân ngợi,

Trong đêm vắng,

Thử hỏi hồn ai,

Đă tỉnh chưa?

 

Thiền sư Mật Thể.

 

 

 Liễu Đạo ^ 

 

Tín tự chơn tâm, tín vô vi,

Nghĩa duyên Phật pháp, nghĩa từ bi,

Thiền môn tịnh khiết, tâm vô lụy,

Sư đệ đồng tâm, Phật chứng tri.

 

Tạm dịch:

 

Tín tự cơi ḷng, tín vô vi,

Nghĩa nương Phật pháp, nghĩa từ bi,

Thiền môn sáng sạch, tâm chẳng lụy,

Sư đệ cùng tu, Phật chứng tri.

 

Trọng đông Tân dậu-1981

 

 

Lam Nguyên

Phiên âm và dịch bài Vô Đề 1

 

Vô Đề 1^ 

 

Chung thanh điểm tam hồi,

Ngư ông điểm sổ bôi,

Thiền sư nhập đại định,

Oanh đề liễu thượng khai.

 

Tạm dịch:

Chuông khuya vừa điểm ba hồi,

Ngư ông ngồi uống một vài ba chum,

Thiền sư nhập định vừa xong,

Trên cây dương liễu chim oanh hát ḥ.

 

Seattle, Sept. 28th, 2003

Tín Nghĩa

Phiên âm:

 

Vô Đề2 ^ 

 

Tạc triêu ngô hà xứ ?

Kim nhựt ngă hà lai ?

Nhược năng như thị kiến,

Nhị độ lưỡng vô sai.

 

Tạm dịch:

Ngày qua ta đến từ đâu ?

Bây giờ chẳng biết nơi nao ta về.

Nếu hay kiến giả́ thế nầy,

Ta bà,Tịnh độ có ǵ khác đâu ?

 

 

---o0o---

Tŕnh bày: Linh Thoại

Cập nhật : 01-02-04


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>