categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam

TP Hồ Chí Minh

Khóa III (1993-1997)

 

GIÁ TRỊ TRIẾT HỌC TÔN GIÁO

TRONG TRUYỆN KIỀU

(Luận văn tốt nghiệp)

 

GSHD: Minh Chi

Ni sinh: Thích Nữ Huệ Nguyệt

 

 

  

ĐÔI D̉NG TRI ÂN

 

“Ơn giáo dưỡng một đời nên huệ mạng

Nghĩa ân sư muôn kiếp khó đáp đền’ 

Bốn năm qua tại trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam chúng con đă được ban Giám Hiệu, Chư Tôn Đức và chư vị giảng sư trong Ban Giảng Huấn với tất cả thiện tâm thiện chí, đă tân tụy truyền trao kiến thức cho hàng hậu học chúng con.  Trí tuệ chúng con ngày thêm tỏa sáng th́ công ơn của chư vị ân sư càng thêm sâu nặng chẳng biết bao giờ có thể đền đáp được.

Tập tiểu luận này đánh dấu một bước trưởng thành của chúng con trong việc bắt đầu tập nghiên cứu một vấn đề liên quan Phật học, tuy rất đơn sơ nhưng gói trọn trong tâm tư, những thao thức của con về một kiếp người và hơn hết là gói trọn tấm chân t́nh và ḷng thành kính của con đối với quư Ngài.

Do khả năng có hạn nên những sơ sót không bao giờ tránh khỏi, con xin quư Ngài chỉ giáo cho con.

Hoàn thành tiểu luận này con xin thành kính tri ân Ban Giám hiệu, chư vị giáo sư và đặc biệt là giáo sư Minh Chi, người thầy khả kính với kiến thức Phật Học uyên thâm đă tận t́nh hướng dẫn con trong quá tŕnh thực hiện đề tài.  Cũng xin tri ân quư vị tác giả, dịch giả những tác phẩm mà người viết tham cứu, trích dẫn trong khi thực hiện tiểu luận này.  Xin cám ơn tất cả quư vị thiện hữu tri thức, các bạn đồng phạm hạnh đă có nhiều ư kiến trao đổi hữu ích trong suốt thời gian học tập.

Chân thành tri ân

T.P. Hồ Chí Minh

  

A.   DẪN NHẬP

Nếu như ‘Thơ là người’ th́ qua tác phẩm truyện Kiều, chúng ta có thể thấy được một Nguyễn Du đầy kinh nghiệm lịch lăm trên đường đời, một Nguyễn Du dồi dào t́nh thương và ư chí dù phải gặp bao nhiêu trở ngại, gian truân và thử thách.

Cái hay cái đẹp của truyện Kiều không những ở chỗ ngôn từ hoa lệ, văn chương thẩm mỹ, ư tứ thâm trầm phong phú, mà c̣n ở chỗ tác giả đă mượn cốt người trong truyện để miêu tả một cách khéo léo tài t́nh những thăng trầm vinh nhục của cuộc đời, những vui buồn thương ghét của con người, và những tan hợp bèo mây của thực trạng xă hội.  Cao xa hơn nữa, Nguyễn Du đă dùng truyện Kiều để diễn đạt một quan niệm triết lư nhân sinh, một giá trị triết học tôn giáo, theo ư của người viết điểm đặc sắc của truyện Kiều là ở đó, và có lẽ v́ thế nên quần chúng Việt Nam, nhất là các giới b́nh dân đă đón nhận truyện Kiều như một vật thương yêu nếu không phải là chính của ḷng ḿnh, đời ḿnh.

Cổ nhân nói: ‘Dĩ nhân tải đạo’ (lấy văn chương mà chở đạo lư).  Câu nói ấy rất thích hợp cho truyện Kiều.  V́ lẽ ấy nên người viết không đồng ư với quan điểm khe khắt của một số người đă phê b́nh: ‘Truyện Kiều là một tác phẩm khêu gợi ḷng tà dâm, dục vọng, là vi phạm đến luân lư đạo đức.’  Trái lại đọc truyện Kiều chúng ta thấy bàng bạc trong văn, trong lời, những đức tính hy sinh vô cùng, những kham nhẫn tột độ của kiếp nhân sinh thống khổ.

Khi đọc truyện Kiều dù tâm hồn có sắt đá bao nhiêu ta cũng không thể dằn ḷng rung cảm, thương cho nàng Kiều v́ ‘tài hoa bạc phận’, thương cho Nguyễn Du ‘sinh bất phùng thời’, thương cho ta, thương cho những người đă sinh ra trong cuộc đời phù du ảo mộng!  Ḷng thương ấy là ǵ? Nếu không phải là chữ ‘Nhân” của Khổng Tử, chữ ‘Kiêm ái’ của Mặc Tử, chữ ‘Bác ái’ của Đức Chúa, và chữ ‘Từ Bi’ của Đức Phật.

Tuy nhiên ở đây người viết không có ư đề cao giá trị văn chương nghệ thuật của truyện Kiều, cũng không có ư so sánh Nguyễn Du với những nhà đại văn hào của nhân loại.  Thiết nghĩ việc ấy coi như thừa, v́ chính tác phẩm và tác giả đă tự chứng minh cho giá trị của ḿnh trong quá tŕnh văn học sử Việt Nam và thế giới.

V́ vậy ở đây người viết chỉ có ư khai thác một khía cạnh triết học tôn giáo trong truyện Kiều, hầu góp một vài nhận xét về truyện Kiều trong văn đàn Việt Nam.  Đứng về khía cạnh triết học tôn giáo, chúng ta thấy : tư tưởng triết học tôn giáo nổi bật nhất trong truyện Kiều là tư tưởng triết học của Phật giáo.  Điều này cũng không lấy ǵ làm lạ, v́ như chúng ta đă biết Nguyễn Du là một nhà nho học uyên thâm và ở nước ta thời ấy từ Nho học bước qua Phật học rất gần, bởi lẽ hầu hết kinh điển của Phật giáo đều viết bằng chữ Hán.  Vả lại trong mảnh đất ’đất lành chim đậu’ với truyền thống ‘tam giáo đồng nguyên’ nầy, th́ không những một ḿnh Nguyễn Du mà đến cả  các nhà văn hóa đương thời hầu hết cũng đều ảnh hưởng bởi tinh thần nầy.

Tuy nhiên, riêng về truyện Kiều th́ chúng ta thấy, dù trong đó có nhiều đoạn đề cập đến những đạo nghĩa luân thường của Nho học và những ước vọng tiêu dao phóng khoáng của Lăo Trang, nhưng kỳ thật th́ ảnh hưởng của Phật giáo bao giờ cũng sâu đậm hơn cả.

Thật vậy, điểm độc đáo của triết học Phật giáo là ở chỗ coi nhân sinh và vũ trụ là vô thường, giả huyễn, hữu hạn và đau khổ để xây dựng cốt truyện và diễn đạt t́nh cảm cuộc đời của các nhân vật trong truyện.  Sau đây chúng ta sẽ cùng t́m hiểu rơ ràng về nỗi đau khổ của kiếp người theo quan điểm của nhà Phật.

1)Mục đích và ư nghĩa của đề tài:

Thi phẩm truyện Kiều là tác phẩm nổi tiếng nhất trong thi đàn Việt Nam vào thế kỷ thứ mười tám.  Thi phẩm đă chuyên chở nhiều tư tưởng Phật học có giá trị sâu sắc, nhưng thực tế trong các tài liệu nghiên cứu văn học Việt Nam đă có nhiều  cái nh́n khác nhau.  V́ thế người viết trong phần biên khảo luận văn này đă nổ lực đi t́m giá trị đích thực của triết học Phật giáo trong thi phẩm nói trên.

Giá trị triết học Phật giáo đă biểu hiện khác nhau qua các giai đoạn của cuộc sống mười lăm năm đoạn trường của Thúy Kiều.  Người viết cố gắng phân tích đạo Phật trong nhận thức của Nguyễn Du và ảnh hưởng của đạo Phật trong văn chương truyện Kiều.

2)Giới hạn phạm vi đề tài:

Trong phần biên soạn nầy, người viết chỉ đề cập đến một số nét nổi bật sau đây:

a) Các thuật ngữ Phật giáo được xử dụng trong truyện Kiều

b) Thuyết nghiệp báo biểu hiện trong thi phẩm

c) Giáo lư nhân quả

d) Ư nghĩa chữ tâm

e) Giáo lư Tứ Đế

f) Định luật vô thường hữu hạn của vũ trụ nhân sinh

g) Các triết lư khác bàng bạc qua thi phẩm

 

B.   NỘI DUNG

I-       CÁC THUẬT NGỮ ĐƯỢC XỬ DỤNG TRONG TRUYỆN KIỀU

Trong truyện Kiều có rất nhiều thuật ngữ liên hệ đến đạo Phật  được tác giả xử dụng với thâm ư chuyên chở một nội dung đạo vị.  Những thuật ngữ này phần nhiều xuất xứ từ các kinh Địa Tạng, Phổ Môn, Thủy Sám, Chẩn Tế khoa nghi ... Nhưng ở đây người viết chỉ bàn đến một số thuật ngữ ít được lưu ư.

1) Đoạn trường:  Có thể đă được rút từ kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân: ‘Như viên đề ái tử, thốn thốn đoạn can trường (như vượn khóc con yêu, đứt ra từng khúc ruột)’.  Lấy tích con vượn mẹ yêu con bị thương không nỡ rời, người ta bắn cả hai mẹ con về làm thịt.  Khi mổ bụng ra vượn con tuy bị thương mà ruột vẫn lành lặn, c̣n vượn mẹ v́ quá thương con nên ruột đă bị đứt ra từng khúc.

2) Trạc tuyền: là pháp danh của Thúy Kiều khi xuất gia.  Tên này lấy tích từ văn Thủy sám, bài tựa có câu: ‘Nhạn hạ hữu tuyền, minh đán trạc chi tức dũ’ (dưới núi có ḍng suối, sớm mai xuống rửa mụt ghẻ sẽ khỏi ngay).  Cụ Nguyễn Du  đặt cho Kiều cái pháp danh ấy, phải chăng dụng ư nói Kiều cũng có một oan hồn theo báo đời như kiểu oan hồn của Triệu Thố mười đời theo dơi Ngộ Đạt quốc sư để báo thù?  Và oan hồn theo báo nàng Kiều không ai khác hơn là Đạm Tiên vậy.  Cái suối giải oan cho Kiều chính là sông Tiền Đường, nơi nàng nhảy xuống từ trần, và hồn ma Đạm Tiên đă đến tỉ tê khi nàng vừa được vớt lên đang c̣n ‘mơ màng phách quế hồn mai’.

‘Rằng tôi đă có ḷng chờ

Mất công mười mấy năm thừa ở đây’

Rơ ràng là hồn ma Đạm Tiên vẫn theo báo Kiều cho đến bây giờ khi nàng sạch nghiệp mới chịu buông tha.  Nó c̣n muốn cho Kiều phải chết trong tủi nhục và sống trong đọa đày.  Lần đầu tiên khi Kiều toan tự sát bằng con dao để khỏi rơi vào tay tú bà, th́ hồn ma ấy lại hiện lên răn đe:

‘Số c̣n nặng nợ má đào

Người dù muốn thác trời nào đă cho

Hăy xin hết kiếp liễu bồ

Sông Tiền Đường sẽ hẹn ḥ về sau’

Nghĩa là khi Kiều đáng chết để khỏi nhục th́ hồn ma Đạm Tiên cản ngăn, làm cho nàng phải sống nhục.

3) Am mây: thường dùng trong truyện Kiều ‘am mây quen lối đi về đời hương’.  Do chữ trong Cao tăng truyện, thiền sư Nhất Biến cất am trên núi cao, tu thiền có để lại bốn câu thơ:

‘Thiên phong đănh thượng nhất gian ốc

Lăo tăng bán gian, vân bán gian

Tạc dạ vân tùng phong vũ khứ

Đáo đầu bất tợ lăo tăng nhân’

(Trên đỉnh núi cao cất một gian nhà, lăo tăng nửa gian, mây nửa gian.  Đêm qua mây theo mưa gió đi mất.  Rốt cuộc không bằng lăo tăng nhàn.)

4) Phiến mây:  khi Kiều ở Chiêu Ẩn am với Giác Duyên, Nguyễn Du  tả:

‘Sớm khuya lá bối phiến mây

Ngọn đèn khêu nguyệt, tiếng chày nện sương’

Hai chữ phiến mây thường được viết sai là phướng mây, chữ phướng giải thích là cái tràng phan treo trong, chứ không được giải thích.  Kỳ thực, phiến mây mới đúng hoặc đọc miếng mây theo tự dạng chữ Nôm.  Như ta biết lúc bấy giờ, Kiều đang ở chùa làm chú tiểu.  Công việc một chú tiểu vào buổi đại hồng chung.  Thứ tự công việc của chú tiểu được diễn tả đầy đủ trong câu thơ trên.  Ban ngày (sớm) th́ chép kinh trên lá bối, khuya dậy th́ đánh mộc bảng hay ‘mộc ngư’ (tấm bảng bằng gỗ mít thường khắc h́nh con cá tượng trưng sự tỉnh thức, v́ cá rất ít ngủ) để làm hiệu lệnh khi thức dậy, kế đến là khêu đèn cho sáng (ngọn đèn khêu nguyệt) rồi dóng đại hồng chung (tiếng chảy nện sương) không ai ṃ tới những tấm phướng làm ǵ vào giờ ấy. Bởi vậy, phiến mây chỉ có thể là tấm ‘mộc ngư’ hay tấm bảng bằng gỗ mít đánh lên để thức chúng dậy buổi khuya.  Chữ ‘mây’ rút từ bài tựa Kinh Địa Tạng và nhiều kinh khác.  Chư Bồ tát tụ hội đông như mây, nên có danh từ ‘vân tập’.  Tấm bảng bằng gỗ mít thường gọi chung là ‘ngọc bảng’, khi được dùng để đánh hiệu lệnh ở pḥng ăn gọi là ‘phạn bảng’, ở pḥng tắm gọi là ‘thủy bảng’, treo ở chánh điện triệu tập tăng chúng th́ gọi là ‘vân bảng’.  Chữ phiến mây xuất phát từ chữ ‘vân bảng’ nầy.  ‘Ngọn đèn khêu nguyệt’ rút từ khoa Mông sơn thí thực;

‘Kinh song lănh tống tam canh nguyệt

Thiền thất hư minh toán dạ đăng’

(Cửa kính trăng thảm lạnh lùng, nhà thiền leo lét đèn chong canh dài)

‘Tiếng chày nện sương’ xuất xứ từ bốn câu thơ của Trương Kế:

‘Nguyệt lạc ô đề sương măn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền’

Tản Đà dịch:

‘Trăng tà tiếng quạ kêu sương

Lửa chài cây bến sầu vương giấc hồ

Thuyền ai đậu bến Cô Tô

Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San’

5) Nhồi tâm hương:  Lúc ở Quan Âm Các nhà Hoạn Thư, công việc của nàng được Nguyễn Du  tả như sau:

‘Ngày phô thủ tự, đêm nhồi tâm hương’

‘Ngày phô thủ tự’ nghĩa là ban ngày bày ra chép kinh.‘đêm nhồi tâm hương’ thường đọc sai là ‘nồi’ giảng sai thành đồt ḷ hương trầm .. kỳ thực ‘tâm hương’ ở đây là ngũ phần hương, năm thứ hương của pháp thân là: giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến.  ‘nhồi tâm hương’ là ngồi thiền, tĩnh lự (làm lắng dịu những lo nghĩ) để tô bồi năm phần hương của pháp thân.

6) Giọt nước cành hương:  khi tả tâm trạng Kiều ở Quan âm các, Nguyễn Du  đă viết:

‘Cho hay giọt nước cành dương

Lửa ḷng rưới tắt mọi đường trần duyên’

Bốn chữ  ‘giọt nước cành dương’ rút từ khoa Mông sơn thí thực và khoa nghi chẩn tế:

‘Bồ tát liễu đầu cam lồ thủy

Năng linh nhất trích biến thập phương

Tinh chuyên cấu uế tạn quyên trừ

Phổ sái đạo tràng tất thanh tịnh’

(Nước cam lồ đầu cành dương của Bồ Tát có thể làm cho một giọt rưới khắp được cả mười phương có thể trừ sạch hết những nhiễm ô, rưới khắp cả đạo tràng được thanh tịnh)

7) Quan pḥng: cuối cùng hai chữ bí hiểm chưa ai giải đúng là hai chữ ‘quan pḥng’ trong câu:

‘Quan pḥng then nhặt lưới mao

Nói lời trước mặt rơi châu vắng người’

Đây là giai đoạn Kiều tu ở Quan âm các: ‘Tam quy ngũ giới cho nàng xuất gia’.  Thật ra tam quy thập giới mới đúng.  Có lẽ những người sao chép không rành giới luật trong đạo Phật mà chỉ quen danh từ tam quy ngũ giới nên đă tự tay sửa lại tưởng cụ Nguyễn Du  viết lầm, nhưng ông, một người am tường Phật giáo sâu sắc, một người đă từng đọc kinh Kim Cang cả ngàn lần (xem thơ chữ Hán Nguyễn Du ) và khi chết đă chết tỉnh giác như một thiền sư th́ không thể nào không biết đến giới luật sơ đẳng của người xuất gia là tam quy thập giới.  Chính chữ Quan Pḥng chỉ cho mười giới ấy.  Chữ Quan có nghĩa là quan bế (đóng cửa) có thể t́m thấy trong từ ngữ Bát quan trai giới (giới để đóng tám cửa) ’Pḥng’ là pḥng phi chỉ ác, tức là đề pḥng việc sai trái, dứt hẳn điều ác, chỉ cho luật.  Như vậy chữ ‘quan’ chỉ cho bốn giới trọng trong mười giới Sa di, được ví như cửa phải đóng, không thể khai mở được.  Đó là bốn giới ‘sát, đạo, dâm, vọng’. ‘Pḥng’ chỉ cho sáu giới khinh tiếp theo.  ‘Then nhặt’ (then cài kỹ đóng chốt) là bổ túc cho ư nghĩa chữ ‘quan’, bốn giới không thể vi phạm.  ‘Lưới mao’ (mao là lông, nhẹ như lông). Đọc ‘mau’ là sai, bổ nghĩa cho chữ pḥng chỉ sáu giới nhẹ, có thể du di, chẳng hạn giới không ăn chiều.

II. ĐỊNH LUẬT VÔ THƯỜNG, HỮU HẠN CỦA VŨ TRỤ NHÂN SINH:

Theo triết học Phật giáo th́ vũ trụ nhân sinh đều là do nhân duyên ḥa hợp với nhau mà sanh, không có một vật nào thật có cả.  Nhân duyên ḥa hợp ở đây là chỉ cho trạng thái ḥa đồng tương hợp giữa hai phần thể chất và tinh thần (con người) vật thể và h́nh thể (sự vật) hay nói đúng theo danh từ của Phật giáo là tứ đại và ngũ uẩn.  V́ vũ trụ nhân sinh là do tứ đại và ngũ uẩn ḥa hợp lại thành, nên tất cả đều là vô thường, giả huyễn, hữu hạn và đau khổ.

Dựa vào quan điểm này của Phật giáo, nên cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều, cũng được gọi là ‘Đoạn Trường Tân Thanh’ đă mở đầu cho cuốn truyện của ḿnh bằng bốn câu thơ sau:

‘Trăm năm trong cơi người ta

Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

Trải qua một cuộc bể dâu

Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng’

Trong bốn câu thơ mở đầu này, chúng ta thấy tác giả đă phác họa ra trước mắt ta một cảnh đời đau thương áo năo của những vô thường biến đổi,những thăng trầm vinh nhục, những băi bể nương dâu của cuộc đời.  V́ thế đă sinh ra kiếp người không ai có thể tránh khỏi cảnh vô thường, đau khổ và chết chóc.  Chết trẻ, chết già, chết bịnh, chết hoạn, chết v́ bao nhiêu thử thách gian truân của cuộc đời, ít người sống vượt khỏi giới hạn 100 năm.  Đối với kiếp người ba vạn sáu ngàn ngày, tuy là dài, nhưng đối với thời gian vô tận th́ nó ngắn ngủi làm sao!

V́ cảm nhận sâu sắc định lư vô thường nầy của kiếp người, nên có một triết gia Âu tây đă nói: ‘Không có ai được diễm phúc đặt chân hai lần trên một ḍng sông.’ (One can not step twice in the same river) Vâng! Không ai có thể tắm được một ḍng sông hai lần, v́ nước sông luôn luôn lưu động di chuyển, v́ các tế bào trong con người luôn luôn sinh diệt, diệt sinh.  Con người ngày hôm qua không phải là con người ngày hôm nay.  Ḍng sông của giờ phút trước không đồng với ḍng sông của giờ phút sau, thay đổi khác nhau từng tích tắc sát na, như thế th́ làm sao mà đặt chân được hai lần trên một ḍng sông?

Tuy nhiên, cũng nên nhớ thêm rằng: chính nhờ những trạng thái sinh diệt lưu động ấy kế tục chuyền nối nhau, nên đă tạo ra kiếp sống hiện hữu của con người và sự tồn tại của ḍng sông riêng về kiếp người với những vô thường biến đổi của nó, cụ Nguyễn Du đă diễn tả nhận thức của ḿnh qua lời than của nàng Kiều sau đây:

‘Đau đớn thay phận đàn bà!

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Phủ phàng chi bấy hóa công

Ngày xanh ṃn mỏi má hồng phôi pha’

Và kết quả của kiếp người vô thường biến đổi ấy,cụ Nguyễn Du  trong lời thuật chuyện của Vương Quan, gia nhân của họ Vương đă cho ta hay: 

‘Đạm Tiên nàng ấy xưa là ca nhi

Nổi danh tài sắc một th́

Xôn xao ngoài cửa hiếm ǵ yến anh,

Phận hồng nhan có mỏng manh

Nửa chừng xuân, thoắt găy cành thiên hương’

Một người con gái đă mang nặng kiếp ‘hồng nhan bạc mệnh’ đă chịu chung số phận ‘Trâm găy b́nh rơi ở giữa chừng xuân’ th́ làm ǵ có chồng con gia đ́nh, lấy ai mà săn sóc hương khói, sớm viếng tối thăm?  Đứng trước cảnh tượng vắng vẻ quạnh hiu của nấm mồ bạc mệnh ấy, tác giả viết:

‘Sè sè nấm đất bên đường

Dàu dàu ngọn cỏ, nửa vàng nửa xanh’

Rồi th́:

‘Trải bao thỏ lặn ác tà

Ấy mồ vô chủ ai mà viếng thăm!’

Thật là thê lương áo năo,buồn thảm đau thương cho số phận của con người! Mà không phải chỉ để dành riêng cho kẻ hồng nhan bạc mệnh.

Không những chỉ có những người con gái chịu số phận ‘trâm găy b́nh rơi ở nửa chừng xuân’ như Đạm Tiên mới lâm vào cảnh ấy khi từ giă cuộc đời.  Đến như cả những người đàn bà khi sống nào chồng, nào con, nào gia đ́nh thân thuộc, nhưng khi chết đi rồi th́ cũng chỉ một ḿnh một bóng, chôn vùi dưới ba thước đất lạnh lẽo cô đơn mà thôi!  Câu ca dao sau đây đă diễn tả cho số phận của những người đàn bà ấy:

‘Sống th́ làm vợ con anh,

Một mai thác xuống,

Núi rậm rừng xanh một ḿnh’

Nhưng nếu suy nghĩ cho kỹ th́ cảnh ‘Núi rậm rừng xanh một ḿnh’ ấy nào phải để dành riêng cho số phận của những người đàn bà con gái mà thôi đâu, nó c̣n là định mệnh chung của mọi người nữa.  Xưa nay các vị công hầu vương bá, các bậc nam nhi tài tử có ai tránh được cái chết đâu?  Và khi đă chết th́ không c̣n phân biệt nữa.  Mọi người đều giống nhau trong cảnh trạng ‘Núi rậm rừng xanh một ḿnh’.  Suy người rồi ngẫm đến ta, ai mà không chạnh ḷng nghĩ đến số phận ḿnh trong những giờ phút tử biệt ấy?  Nhưng định lư vô thường của cuộc đời không những chỉ hiển hiện trong lúc tử biệt mà thôi, nó c̣n đến với ta trong từng giờ từng phút, trong những cảnh sinh ly nữa.  Trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đă lấy Thúy Kiều và Kim Trọng làm điển h́nh để diễn tả cảnh sinh ly ấy qua hai câu thơ sau:

‘Ông tơ gàn quải chi nhau

Chưa vui sum họp đă sầu chia phôi!’

Rồi khi nh́n thấy cảnh tai trời vạ gió, oan ức phân ly của gia đ́nh, em gái Kiều là Thúy Vân cũng đă buột miệng than rằng:

‘Cơ trời dâu bể đa đoan

Một nhà để chị riêng oan một mỉnh!’

Cuối cùng cái ǵ sẽ đến đă đến với gia đ́nh họ Vương.  Cụ Nguyễn Du đă dệt vào trong cảnh sinh ly ấy giữa nàng Kiều với những người thân thích trong gia đ́nh bằng mấy câu thơ sau:

‘Đau ḷng kẻ ở người đi

Lệ rơi thắm áo, tơ chia rũ tằm

Trời hôm mây kéo tối rầm

Dàu dàu ngọn cỏ, đầm đầm canh sương’

Và sau đó th́ những người thân thích trong gia đ́nh ‘hết cơn bỉ cực, đến thời thái lai’, các tai biến hoạn nạn đều tiêu tan, mọi người đều được đoàn tụ vui vầy trong vinh hiển th́ riêng chỉ có một nàng Kiều c̣n lận đận, lao đao,ch́m nổi phiêu bạt trong bể khổ mênh mông không bờ bến:

‘Thương ôi! Không hợp mà tan

Một nhà vinh hiển riêng oan một nàng!’

Dựa vào những nguyên tắc trên chúng ta thấy: v́ có gây ra nguyên nhân đau khổ nên phải chịu quả đau khổ.  Và kết quả khổ đau ấy được biểu hiện rơ ràng nhất ở kiếp người vô thường giả huyễn này,v́ đă có thân th́ không ai tránh khỏi được khổ.

 

III . THUYẾT NGHIỆP BÁO BIỂU HIỆN TRONG TRUYỆN KIỀU;

Giáo lư nhà Phật khẳng định rằng :’Nước bao giờ cũng chảy xuống, tham muốn và t́nh dục sẽ đưa con người vào ṿng trầm luân đau khổ.’  Vâng, chính tham muốn và t́nh dục là một sức mạnh đẩy con người vào trong ṿng trầm luân đau khổ, hay nói theo triết lư của nhà Phật là ‘nghiệp báo luân hồi’.

Là một nhà Nho, học vấn thâm sâu, thông hiểu Phật lư, cụ Nguyễn Du đă một cách sâu sắc thuyết nghiệp báo luân hồi nầy.  Cho nên chúng ta thường thấy bàng bạc tản mác trong truyện Kiều những câu thơ như sau:

‘Kiếp xưa đă vụng đường tu

Kiếp này chẳng kẻo đến bù mới xuôi

Dẩu sao b́nh đă vỡ rồi

Lấy thân mà trả nợ đời cho xong!’

Hay câu:

‘Người này nặng kiếp oan gia

C̣n nhiều nợ lắm sao đà thác oan!’

Hoặc là:

‘Làm cho sống đọa thác đày

Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!’

Hay câu:

‘Cũng là oan nghiệp chi đây,

Sa cơ mới đến thế này chẳng dưng!

Kiếp này duyên đă phụ duyên

Dạ đài c̣n biết sẽ đền lai sanh!

Đă đành túc trái triền oan

Cũng liều ngọc nát hoa tàn mà chi!’

Dựa vào thuyết luân hồi nghiệp báo của nhà Phật, chúng ta thấy rằng chết không phải là hết, chết chi là một sự thoát xác, thay đổi từ một trạng thái sinh hoạt này qua trạng thái sinh hoạt khác, đau khổ hoặc sung sướng hơn, tùy nghiệp nhân ḿnh gây tạo ra ở kiếp trước.  Người Việt Nam chúng ta nói riêng, các dân tộc Á đông nói chung phần nhiều đều hấp thụ theo tư tưởng nghiệp báo luân hồi này của Phật giáo, nên không bao giờ chúng ta tin rằng chết là hết, chết là mất hẳn.

Thật thế, một tiếng trống c̣n gây được vang âm trong những buổi chiều thâm trầm ở những chốn  núi rừng thung lũng; một viên đá rơi vào mặt nước c̣n khuấy động lên được những làn sóng lăn tăn, lan dần đến nơi vô tận, huống nữa là một kiếp người, kết tinh của nhiều động tác gây nên bởi hai phần vật chất và tinh thần.

Có lẽ, v́ lẽ ấy nên người Việt Nam chúng ta thường có thói quen tin rằng: con người sau khi chết, thể chất tan ră nhưng linh hồn vẫn c̣n tồn tại.  Nàng Kiều cũng đă tin như thế trong lời thơ sau:

‘Kiều rằng những đấng tài hoa

Thác là thể phách, c̣n là tinh anh’

Để chứng minh cho ḷng tin ấy, Nguyễn Du đă cụ thể hóa sự kiện xuất hiện mờ ảo linh thiêng của Đạm Tiên trong buổi chiều Thanh minh, bên nấm mồ vô chủ của người con gái bạc mệnh ấy.  Sau đó, tiên sinh lại diễn tả thêm những phút ứng hiện gặp gỡ trong mộng và những phút trùng phùng tái ngộ ở sông Tiền Đường giữa nàng Kiều và Đạm Tiên.  Điều này lại một lần nữa chứng minh cho ta thấy chết không phải là hết là chấm dứt với cuộc đời.  Nhất là những người chết oan, chết ‘bất đắc kỳ’, chưa trả xong món nợ trần duyên, ở cuộc thế th́ lại càng không phải là hết hơn nữa.  Phần c̣n lại ấy của con người sau khi chết, chúng ta thường gọi là tinh anh, là linh hồn.  Và linh hồn ấy thường tồn tại ở thế giới vô h́nh, u linh, hiển hách, phảng phất trong hương khói và thường hay trở về trần thế để viếng thăm những nơi có nhiều liên hệ với ḿnh trong khi c̣n sống, nhứt là ở những ngày húy kỵ, chạp giỗ v.v. Cũng v́ tin như thế, nên các gia đ́nh ở Việt Nam và ở các nước Á Đông thường có tục lệ tổ chức những cuộc tế lễ đ́nh đám linh đ́nh trong những ngày kỵ giỗ.

Cụ Nguyễn Du đă diễn tả tập quán và ḷng tin ấy của giới b́nh dân Việt Nam qua lời căn dặn của nàng Kiều đối với em là Thúy Vân:

‘Mai sau dầu có bao giờ

Đốt ḷ hương ấy so tơ phím nầy

Trông ra ngọn cỏ lá cây

Thấy hiu hiu gió là hay chị về

Hồn c̣n mang nặng lời thề

Nát thân bồ liễu đền ngh́ trúc mai

Dạ đài cách mặt khuất lời

Rảy xin chén nước cho người thác oan !’

Thúy Kiều đă có cái nghiệp nặng nằm sẵn ở trong ḿnh, cho nên từ lời nói cho đến tiếng đàn đánh ra, đều có giọng đau đớn sầu khổ.  Người đă có nghiệp như thế tức đa sầu, đa cảm.  Hai cái đó là cái mồi vô h́nh, cái dây vô tướng, để giữ người ta vào chỗ đúng với cái nghiệp của ḿnh.  Theo triết lư nhà Phật th́ ở đời không có cái ǵ là không có nhân duyên, mà cái nhân duyên ấy kết thành cái nghiệp.  Cái phần tốt, phần hay của Kiều là ở chỗ dù khổ sở thế nào, cũng giữ được tâm trong sạch, ḷng nhân nghĩa và sức phấn đấu với nghiệp chướng của ḿnh.  Giá trị của con người ở đời cốt ở chỗ ấy, mà cái nhân cách con người ta rơ rệt là cũng ở chỗ ấy.

Cái nghiệp đă định đi đến đâu mới hết, thi cứ phải đi cho đến cùng, chứ không sao trốn được.  Chẳng khác ǵ người có tội phải bị đọa trong một kỳ hạn đă định, nửa chừng người kia muốn trốn, quan tư pháp không cho trốn, bắt phải chịu hết tội mới tha.

Cái thuyết luân hồi nghiệp báo của nhà Phật có vẻ giống như cái thuyết định mệnh (déterminisme) của triết học phương Tây.  Nhưng thực ra th́ cái định mệnh của triết lư nhà Phật do ở tự ḿnh định ra chứ không phải do sức ngoài sai khiến.  Cái nghiệp tự ḿnh gây ra cho ḿnh chứ không phải là cái nghiệp từ đâu gây ra mà bắt ḿnh phải chịu.  V́ cái nghiệp bó buộc nàng Kiều chặt chẽ như thế, cho nên cô phải chịu những sự đắng cay, như gặp sở khanh đánh lừa, bị tú bà bắt ra tiếp khách.  Thôi th́ ‘cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh’.  Đến khi gặp Thúc lang, tưởng thoát khỏi chỗ lửa hồng, ai ngờ lại bị Hoạn Thư hành hạ.  Trốn nhà Hoạn Thư đi ở chùa, tưởng là trút được nợ duyên, không may lai gặp bọn họ Bạc đem về Châu Thai. Cứ hết ch́m lại nổi, nổi rồi lại ch́m.  Ở Châu Thai gặp được Từ Hải trong mấy năm nguôi nguôi, nhưng lại nghĩ đến việc binh đao hại người, xui Từ về hàng ngờ đâu lại bị Hồ Tôn Hiến đánh lừa đem gả cho Thổ quan, giắt nàng đến sông Tiền Đường là hết đời cô Kiều.  Nhưng đời cô đến đó hết th́ cái nghĩa chữ nghiệp không rơ là cái nghiệp do việc đă làm trước mà thành. Vậy nên tác giả làm nối thêm đoạn tái hợp và đem lời sư Giác Duyên nói chuyện với sư Tam Hợp để định rơ chỗ nghiệp nọ chuyển sang nghiệp kia.  Việc cô Kiều hưởng thụ cái nghiệp khác, đă rơ ra ở lời Đạm Tiên báo mộng cho Kiều ở sông Tiền Đường khi mới vớt lên, Đạm Tiên nói:

‘Rằng tôi đă có ḷng chờ

Mất công mười mấy năm thừa ở đây

Chị sao phận mỏng đức dầy

Kiếp xưa đă vậy ḷng nầy dễ ai

Tâm thành đă thấu đất trời

Bán ḿnh là hiếu, cứu người là nhân

Một niệm v́ nước v́ dân

Âm công cất một đồng cân đă già

Đoạn trường sổ rút tên ra

Đoạn trường thơ, phải đem mà trả nhau

C̣n nhiều hưởng thụ về sau

Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào’

Khi nàng Kiều c̣n đang phải chịu cái nghiệp trước, th́ từ lời nói đến tiếng đàn, cái ǵ cũng có cái giọng sầu khổ đau đớn.  Thế mà Kiều đă trút hết cái nghiệp trước, bước sang chịu cái nghiệp khác, th́ trong ḷng thư thái, không bồn chồn như trước nữa, ngay tiếng đàn có đánh ra lúc ấy người ta nhận ra rằng: ‘Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?’

IV- Thuyết Nhân Quả:

Theo triết lư của nhà Phật th́ ở giữa đời này không có một cái ǵ tự nhiên mà có, ngẫu nhiên mà sanh.  Nàng Kiều sở dĩ mang lấy nghiệp báo ‘sống đọa, thác đày’ như thế cũng không phải ngẫu nhiên mà có, tự nhiên mà sanh.  Chính là do một túc duyên  tiền định, hay nói đúng theo danh từ Phật học là ‘luật nhân quả’ tức là gây nhân ǵ th́ phải chịu quả ấy.  Nhân lành th́ quả an vui, hạnh phúc:

Luật nhân quả này được Nguyễn Du diễn đạt qua lời báo mộng cho Kiều:

‘Rỉ rằng nhân quả dở dang

Đă toan trốn sự đoạn trường được sao?

Số c̣n nặng kiếp má đào

Người dù muốn quyết trời nào đă cho?’

Ở đoạn khác cụ Du lại diễn tả đạo lư nhân quả như sau:

‘Vả trong thần mộng mấy lời

Túc nhân âu cũng có trời ở trong

Kiếp này nợ trả chưa xong

Làm chi thêm một nợ chồng kiếp sau ?’

Rồi th́:

‘Cho hay muôn sự tại trời

Phụ người chẳng bỏ khi người phụ ta

Mấy người bạc ác tinh ma

Ḿnh làm ḿnh chịu kêu mà ai thương ?’

Cũng cùng một quan điểm như trên, ở một đoạn khác, Nguyễn Du lại tŕnh bày thuyết nhân quả một cách giản dị và phổ thông hơn nữa qua hai câu thơ sau:

‘Nàng rằng: lồng lộng trời cao

Hại nhân nhân hại sự nào tại ta ?’

Đấy là ǵ nếu không phải là tŕnh bày một cách khác đi thuyết ‘thiện giả thiện báo, ác giả ác báo’ (làm lành được quả tốt, làm ác th́ chịu quả báo xấu) của Nho học.

Có nhiều người nghĩ rằng: nếu đúng như thuyết ‘nhân quả’ gây nhân ǵ chịu quả ấy của Phật giáo và thuyết ‘thiện nhân, thiện báo, ác nhân, ác báo’ của Nho giáo th́ tại sao ở đời này có nhiều người độc ác thất nhân mà vẫn được giàu sang, sung sướng, cũng như có những người hiền lành lương thiện mà vẫn gặp bao điều oan trái đắng cay (như trường hợp của nàng Kiều chẳng hạn) ? Như thế luật nhân quả phải chăng là mâu thuẫn nhau? Muốn giải thích nghi vấn này, ta phải dựa vào tiêu chuẩn sau đây:

Có thứ nhân quả trực tiếp dễ thấy, có thứ nhân quả gián tiếp khó thấy, có thứ nhân quả hiển hiện báo ứng trong hiện kiếp và cũng có những thứ nhân quả báo ứng qua nhiều đời cách biệt thời gian và kiếp sống.  Ở đây cũng thế, nàng Kiều dù hiện tại là một người con gái hiếu nghĩa, biết hy sinh cho cha mẹ, gia đ́nh, nhưng biết đâu ở quá khứ nàng đă gây ra các ác nghiệp? Những ác nghiệp ấy đă đến lúc thuần thục th́ phải chịu quả báo đau khổ, về sau mới được thoát ly mà hưởng thọ mọi điều an lạc phước báo nhờ nhân thiện ở đời này.  Cho nên triết lư nhân quả của nhà Phật có chia thành nhiều thứ như : nhân quả hiện tại, nhân quả nhiều đời, nhất thế nhân quả, và tam thế nhân quả v.v..

Để giải thích về đạo lư tam thế nhân quả này, trong các kinh luận của Phật giáo có chép:

‘Dục tri tiền thế nhân

Kim sanh thọ giả thị

Dục tri lai thế quả

Kim sanh tác giả thị’

Nghĩa là:

‘Muốn biết nghiệp nhân ở thời quá khứ

Xem quả báo hưởng thọ ở đời này

Muốn biết kết quả ở đời vị lai

Xem hành vi tạo tác ở hiện tại’

Những câu văn trên, ngoài việc chứng minh thuyết nhân quả hiển hiện báo ứng qua nhiều đời ở quá khứ, hiện tại và vị lai, nó c̣n có tác dụng chứng minh cho ta thấy thêm một lần nữa về định lư nghiệp báo luân hồi của đạo Phật vậy.

Ở đây có điều chúng ta cần nghĩ rằng: đọc truyện Kiều và qua những câu thơ đă trích dẫn trên cho thấy quan điểm nhân quả nghiệp báo của cụ Nguyễn Du không những chỉ ảnh hưởng với thuyết ‘Nhân quả nghiệp báo’ của Phật giáo, mà c̣n ảnh hưởng mật thiết với thuyết ‘Thiên mệnh’ của Nho giáo nữa.  Thật vậy, chữ ‘Trời’ trong truyện Kiếu có nhiều nơi cụ Nguyễn Du đă thay thế cho chữ ‘Thiên mệnh’ của Nho học và cũng có nhiều lúc đă thay thế cho chữ ‘nhân quả’ của Phật học.  V́ tin ở ‘trời’ ở ‘thiên mệnh’ và ở luật ‘nhân quả’ nên nhân vật chính trong truyện là nàng Kiều luôn tin rằng họa hay phúc, may hay rủi, vui hay buồn, tất cả đều do thiên mệnh tiền định.  Nàng cũng đă tự bào chữa cho cái tính đa sầu đa cảm của ḿnh bằng hai câu thơ sau:

‘Rằng quen mất nết đi rồi

Tẻ vui thôi cũng tính trời biết sao’

Đối với giới b́nh dân, không những tính t́nh là do thiên mệnh tiền định mà người ta c̣n tin rằng mọi thăng trầm vinh nhục của kiếp người, mọi thay đổi biến thiên của trời đất muôn vật, tất cả đều do thiên định.  Có lẽ cũng v́ thế nên mỗi khi có các tai nạn bất ngờ xảy đến như thiên tai, thủy nạn, hỏa hoạn,  bệnh tật, mất mùa.. họ thường tổ chức những cuộc sám tạ tế lễ, hay ăn chay nằm đất để cầu trời khấn Phật.  Có một điều lạ ở đây là dù Nguyễn Du là một nhà Nho học uyên bác nhưng ông không chịu dừng lại ở thuyết ‘thiên mệnh’, hoàn toàn phó mặc số phận con người cho tha lực như quan niệm của Nho giáo; trái lại, ông c̣n tiến xa hơn về phương diện tư tưởng để đến gần với thuyết ‘nhân quả’, đưa con người đến tiêu chuẩn tự túc tự cường của Phật giáo.

Thật ra, Kiều với ‘oan nợ túc khiên’ do tiền định và với những đọa đày lao khổ muốn chấm dứt cuộc đời của nàng trong một kết luận buồn thảm đau thương và bất công như thế.  Ông đă muốn thể hiện đạo lư ‘thiện nhân thiện báo, ác nhân ác báo’ của Nho giáo và Phật giáo trong hiện kiếp qua cuộc đời của nàng Kiều chứ không phải chờ đợi đến lai thế như thuyết ‘tam thế nhân quả’ nữa.

V́ muốn chứng minh một cách rơ ràng rằng thuyết nhân quả báo ứng là một định lư hiển nhiên thật có, và mọi người kể cả nàng Kiều đều có thể được đáp ứng tương ứng với những hành vi, ngôn ngữ và ư nghĩ của ḿnh đă tạo ra trong kiếp sống hiện tại nên tác giả của truyện Kiều đă làm cho Kiều sống lại thoát ly mọi oan khiên tiền định ở sông Tiền Đường.

Dựa vào sự kiện này ta có thể quan niệm rằng: đối với nàng Kiều, sông Tiền Đường là một kết chung của cuộc đời hồng nhan bạc mệnh, cuộc đời phó mặc cho rủi may tiền định, bất lực trước mọi hoàn cảnh éo le thử thách, nhưng đồng thời sông Tiền Đường đối với Kiều cũng là khởi điểm cho một cuộc đời mới, cuộc đời hướng tới tự lực nội tâm, rưới tắt những trần duyên tục lụy và ngày đêm trau giồi đức hạnh giải thoát.  Cuộc đời ấy theo Nguyễn Du là:

‘Phật tiền thảm lấp sầu vùi

Ngày pho thủ tự đêm nhồi tâm hương

Cho hay giọt nước cành dương

Lửa ḷng rưới tắt mọi đường trần duyên’

Điểm đặc biệt của đạo Phật là ở chỗ phàm là con người dù tội lỗi bao nhiêu, nhơ nhớp đến bực nào, nhưng nếu biết thành tâm sám hối, ăn năn tội lỗi th́ cũng có thể trở thành người lương thiện trong sạch được.  Bởi v́ theo Phật giáo th́ cái tôi nhơ nhớp của con người không phải hoàn toàn do ở ngoại diện, mà lại căn cứ vào những ư niệm tiềm tàng trong tâm thức của người ấy. Cho nên có người dù có một bề ngoài hiền lành sang trọng, nhưng nếu trong ḷng ẩn chứa những bất lương gian ác th́ đó là tội lỗi sâu xa, và trái lại, dù có một bề ngoài thấp kém thô bạo, nhưng nếu trong ḷng ẩn chứa những đức tính hiền lương thiện mỹ th́ đó vẫn là  người trong sạch cao quư.  Đức Phật ngày xưa cũng đă từng độ cho một người chuyên làm nghề gánh phân, ở giai cấp hạ tiện bần cùng nhất của xă hội Ấn Độ.  Trong lịch sử Phật giáo Trung Hoa cũng thường kể lại câu chuyện có một người suốt đời làm nghề đồ tể chuyên bán thịt heo, nhưng khi sắp lâm chung, biết hồi tâm hướng thiện ăn năn sám hối nên cuối cùng cũng được giải thoát.

V. NHỮNG VẦN THƠ ĐẦY ĐẠO VỊ TRONG THI CA TRUYỆN KIỀU:

Ngoài việc chịu ảnh hưởng thuyết nhân quả và nghiệp báo nhà Phật, Nguyễn Du c̣n viết ra những vần thơ đầy đạo vị Phật giáo.  Ngôn ngữ thi ca vốn đă là rất biểu tượng, ngôn ngữ thi ca Nguyễn Du c̣n biểu hiện trừu tượng hơn. Nguyễn Du, ngoài rung cảm thi ca c̣n rung cảm trí tuệ Phật giáo.  Nhà thơ núi Hồng Lĩnh đă nói đạo Phật bằng tiếng nói của trái tim trần thế.  Vần thi gợi lên ư ấy trong cảm nhận của người viết trước tiên là:

‘Ai ngờ lại hợp một nhà

Lựa là chăn gối mới ra sắt cầm’

Mười lăm năm đoạn trường là một bài học về ‘Khổ đế’ mà nguyên nhân của nó, vừa hợp với giáo lư Tứ đế vừa hợp với tinh thần giới luật nhà Phật, là ḷng khát ái, dục ái:

‘Xót trong tội nghiệp Thúy Kiều

Mắc điều t́nh ái, khỏi điều tà dâm’

Với Phật giáo (tiêu biểu như các câu 1 và 2 trong kinh Pháp cú) th́ tâm làm chủ, tâm tạo các nghiệp thiện và ác và sẽ nhận lấy quả báo tương ứng về sau.  Với Kiều, tâm cũng quyết định vui buồn và giá trị của đời sống:

‘Ngựi buồn cảnh có vui đâu bao giờ’

‘Chữ trinh c̣n một chút này

Chẳng cầm cho vững, lại dày cho tan’

Hay ‘Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài’

Với Phật giáo, người phật tử mộ đạo, mến đạo quyết tâm sống đạo mà nếu không hiểu đạo, không có chánh kiến th́ càng làm cô phụ giáo lư giải thoát mà thôi.  Âm hưởng giáo lư đó lại vọng vào trong vần thơ tái hợp mà không tác hợp với Kiều:

‘Người yêu ta xấu với người

Yêu nhau th́ lại bằng mười phụ nhau’

Ngay cả giáo lư Phật giáo minh bạch thế mà nếu hành giả chấp thủ nó (chấp giới, định, tuệ như kinh Xà dụ tŕnh bày) th́ sẽ rơi ngay vào cảnh: ‘Yêu nhau th́ lại bằng mười phụ nhau’.

Phật giáo, tiêu biểu như phẩm Kinh Hạt Muối, Tương Ưng Bộ kinh, bảo rằng người với tâm từ bi rộng lớn th́ hầu như không chịu hậu quả của các việc làm nhỏ bị sai trái.  Với Kiều th́ Nguyễn Du xác định:

‘Như nàng lấy hiếu làm trinh

Bụi nào cho đục được ḿnh ấy vay’

Kinh Kim Cang Bát Nhă, một bộ kinh nổi tiếng của Đại Thừa, th́ nh́n mọi hiện hữu đều do duyên sinh, chúng không có tự ngă, thực sự ở ngoài các giá trị cấu, tịnh, thiện, ác, thị,  phi... chúng thực sự không gây trở ngại đến vấn đề tự do, giải thoát của con ngựi. Trở ngại giải thoát nằm ở tâm con người, ở ḷng tham ái, chấp trước của con người.  Tư tưởng này như là có chuyển âm hưởng của nó vào vần thi”

‘Duyên kia có phụ chi t́nh

Mà toan chia gánh chung t́nh làm đôi’

Với người con Phật, khi tâm tham ái, chấp trước được khoá chặt, được kiểm soát, th́ các hành động thân, khẩu, ư trở thành các hành động giải thoát hết thảy.  Với Kiều, sau những ngày tháng đoạn trường th́:

‘Từ ngày khép cửa pḥng thu

Chẳng tu th́ cũng như tu mới là’

Người tu tập đạo Phật, đặc biệt là các bậc Thánh hữu học, dù tâm đă tỏ tường đạo lư, sự thật mọi hiện hữu, những tập quán sinh tử vẫn c̣n vương vấn thân sắc và cơi ḷng. Nguyễn Du lại diễn đạt một tâm trạng của Kiều sao mà nghe như động đến tâm hồn của một thiền sư vậy, khi nhà thơ viết:

‘Tiếc thay chữ nghĩa cũ càng

Dù ĺa ngó ư, c̣n vương tơ ḷng’

Nhưng khi thiền sư đă hất đổ hết các vọng tưởng, đốt cháy hết sầu bi th́ quả là giờ phút đại phúc, nghe như vừa dựng đứng dậy cả khung trời giải thoát, bởi v́ bấy giờ Thiền sư đă phá tan hết sương vô minh đă nhiều đời che khuất ngơ ư và làm tan hết mây dục vọng đă nhiều đời giăng bít trời tâm.  Nguyễn Du đă chuyển qua Kiều một cảm xúc của thời kỳ hội ngộ như là cảm xúc một thiền sư đang đối diện với giải thoát:

‘Trời c̣n để có hôm nay

Tan sương đầu ngơ, vén mây giữa trời’

Thư của Nguyễn Du nghe ra vừa thơ vừa đạo suốt cả tâm sự Thúy Kiều.  Nếu ai đó t́m hiểu kỹ giáo lư nhà Phật rồi đọc lại thi phẩm tuyệt tác Kim Vân Kiều th́ sẽ bắt gặp rất nhiều, nhiều lắm các vần thơ lồng ư đạo.  Thi ca của thiên tài Nguyễn Du như h́nh thành một lúc hai bè nhạc: một bè của khúc đoạn trường, bè kia là âm vang của trí tuệ giải thoát.

VI.  GIÁO LƯ TỨ ĐẾ:

Đạo Phật khi nói đến khổ chính là đang vẽ lại bức tranh hiện thực mà cuộc đời vốn sẵn có.  Cái sẵn có ở đây, thế nhân từ bao đời cũng tốn biết bao nhiêu giấy mực để nghiên cứu và t́m hiểu.  Nhưng chỉ hiểu mơ hồ mông lung ..  Người đời thấy khổ khi phải tiếp cận với nó để rồi than khóc rầu buồn mà vẫn không dứt ra được ḷng chấp chặt theo nhân t́nh thế sự.  Nguồn gốc sâu xa của khổ được giáo lư nhà Phật đề cập tới trong Tứ Đế rất rơ ràng và khúc chiết.  Sở dĩ có đau khổ (khổ đế) là v́ đă gây ra nguyên nhân khổ đau (tập đế).  Ngược lại cũng thế, sở dĩ có quả vị Niết ban an vui (diệt đế) v́ đă thực hành theo phương pháp chánh đạo (đạo đế).

Triết lư về khổ xuất hiện rất đậm nét và đa dạng qua thi phẩm truyện Kiều, ở đó Nguyễn Du đă xây dựng rất công phu về nhận vật Kiều.  Và ông đă thành công khi biết xử dụng cả ngôn từ lẫn ư nghĩa của đạo Phật để làm nổi bật tính cách của nhân vật và cũng từ đó tác phẩm đă trở thành một kiệt tác trong thiên hạ.  Mượn thân phận của người con gái, một thành phần hứng chịu nhiều bất công và đau khổ nhất của thời phong kiến xa xưa.  Cái khổ ấy là do xă hội và con người mang lại cho nàng, nhưng sâu xa hơn hết, chính là do bởi nơi nàng tự chuốc lấy bao  phiền muộn cho ḿnh, để rồi phải chịu kiếp long đong truân chuyên qua mười lăm năm đoạn trường.  Nguyên nhân tạo ra bao cảnh đoạn trường cho nàng là do ‘từ ái sanh ưu, từ ưu sanh khổ’ t́nh ái vốn là điều tất nhiên của con người, nhưng điều tất nhiên ấy đă khiến cho con người phải ch́m nổi măi trong sóng gió ba đào.  Nếu Kiều không v́ tấm ḷng thương cảm một nấm mồ bên đường, không nặng mối t́nh si với chàng Kim và hơn thế nửa là t́nh thương của nàng đối với gia đ́nh cha mẹ th́ nàng có thể bước qua cuộc đời một cách ung dung tự tại hơn, trên bước đường phong trần dày dạn và chữ t́nh cũng đă bao lần chịu cảnh thương sâu khóc hận cho một kiếp hồng nhan.

‘Vẽ chi chút phận bèo mây

Làm cho bể ái khi đây khi vơi

 

‘Hương càng đậm lửa càng nồng

Càng sôi vẻ ngọc càng lồng màu đen’

Rơ ràng hai chữ t́nh ái đă buộc chặt nàng với Thúc Sinh rồi Từ Hải, cuộc đời nàng rơi vào ngơ cụt của tṛ đời ‘cởi ra rồi lại buộc vào như chơi’!  Mấy phen những tưởng đă thoát ra được hang hùm miệng cọp nhưng rồi lại cứ mắc vào.  Rồi trên bước đường dày dạn sương gió gặp được đấng anh hùng hào kiệt, tưởng đâu ngàn đời gắn bó để t́m chữ sắt son với đời, nào ngờ t́nh tri kỷ đă biến thành thiên trường hận, bên ḍng sông Tiền Đường, Kiều những muốn dứt cho rồi ṿng dây oan nghiệt của kiếp người.  Đến đây, Kiều cũng đă trả xong giai đoạn của kiếp hồng nhan đa truân.  Sợi dây t́nh ái cũng không buộc ràng nàng nữa, khi gặp lại Kim Trọng, t́nh xưa dẫu nặng, nhưng nghiệp ái th́ ḷng đă tắt lịm, từ đây cơi ḷng nàng mới thực sự hưởng được những giây phút b́nh an nhất của cuộc đời.

‘Từ đây khép cửa pḥng thu

Chẳng tu th́ cũng như tu mới là’

Nếu khổ đế của Phật giáo là chơn lư nói về cơ cấu khổ đau của con người: oán tăng hội (thù oán mà phải gặp), ái biệt ly khổ (yêu thương mà phải xa ĺa), cầu bất đắc (mong cầu mà không được) v.v. th́ h́nh ảnh Kiều qua mười lăm năm gian truân chính là h́nh ảnh của khổ đế.  Kết thúc truyện Kiều bằng hành động trầm ḿnh, có nghĩa là thú nhận sự thất bại của con người và sự nghiệt ngă tất yếu dưới h́nh thức số và mệnh.

Thật ra chính Kiều đă nuôi dưỡng ‘số và mệnh’ trong máu huyết của ḿnh.  Tiếng đàn bạc mệnh cứ ngân lên từ đầu cho đến cuối truyện.  Từ khi nàng băng lối vườn khuya t́m Kim Trọng, khi gặp Thúc Sinh trước mặt Hoạn Thư, sau khi ôm thây Từ Hải khóc ngất và khi tái ngộ với người t́nh cũ.  Khi Kiều dứt bỏ khổ đau th́ đấy chính là lúc nàng t́m được giải thoát (diệt đế).  Ở đây Phật giáo giúp ta soi chiếu rơ cuộc đời Kiều qua cung cách tŕnh bày dưới ng̣i bút Nguyễn Du.  V́ ái nghiệp nên chúng sanh tự ràng buộc ḿnh trong ṿng đau khổ triền miên.  Đạo Phật nói đến khổ không phải là khiến cho chúng ta buồn chán mà xa lánh cuộc đời.  Ở đây, nói đến khổ là muốn chỉ ra những nguyên nhân tập khí mà con người đă gây ra (tập đế) để tự tạo lấy mọi đau khổ cho ḿnh.  V́ vậy muốn dứt khổ phải t́m hiểu nguyên nhân, tâm ư luôn hướng về một lư tưởng đó là chân lư giải thoát.  Một khi tâm thể được lặng yên th́ nguồn ái ân tham đắm sẽ khô kiệt.  Và khi gặp được Giác Duyên chính là nàng đă kiếm được hướng cởi trói cho ḿnh, nhưng phải đến lần thứ hai, ḷng nàng mới thực sự dứt hết những bợn trần u ám. Khi gặp Kim Trọng, ḷng luyến ái chỉ c̣n là tri kỷ.  Con đường đạo lư đă lộ ra tuy chưa được đậm nét nhưng ta thấy Kiều đă thực sự t́m lại chính ḿnh cội nguồn b́nh an của tự tâm kinh Phật dạy: ‘Ai có một t́nh yêu th́ có một đau khổ, một trăm t́nh yêu th́ có một trăm đau khổ, và nếu ai không có t́nh yêu th́ không có đau khổ’.  T́nh yêu đó là ḷng chấp ngă, luyến ái mà chúng sanh muôn đời cột chặt. ‘Tu là cội phúc, t́nh là dây oan’.

Quan điểm của Nguyễn Du có phần hạn chế, nhất là khi tác giả đem giáo lư nhà Phật mô phỏng cho nhân vật chính chưa lột hết mọi chân lư nhiệm mầu, nhưng ta không đ̣i hỏi ǵ hơn ở một nhà Nho như ông.  Và tác phẩm ấy dựa trên t́nh tiết của tiểu thuyết Tàu,  ở đây không nói đến giá trị của nó, mà chỉ phân tích từng khía cạnh về khổ, mà tác giả đă ứng dụng triết lư của nhà Phật vào đó.  Từ nguồn gốc truy t́m ra nguyên nhân khổ, cho đến phương hướng đi t́m con đường diệt khổ, tác giả hơn ai hết đă khéo dẫn dụ để tác phẩm đi vào ḷng người bằng cảm quan về cái đẹp của văn chương, bằng sự ngộ nhập một chân lư trên lư thuyết để làm nổi bật một bức tranh về khổ khá toàn vẹn sâu sắc.

VII.     Ư NGHĨA CỦA CHỮ TÂM

Trong kinh luận Phật giáo thường chép: ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức’ (ba cơi dục giới, sắc giới, và vô sắc giới là do tâm, vạn pháp hữu h́nh, vô h́nh, tâm pháp, sắc pháp đều do thức tạo ra).  V́ thế nên theo đạo Phật th́ tâm là chủ tể của muôn sự muôn vật.  Ở giữa đời này, sở dĩ có muôn vạn sai biệt, có những màu sắc, âm thanh khác nhau, tất cả đều do tâm.  Riêng đối với con người ta, tâm là động cơ chính thúc đẩy ta đến hành động, mà hành động ấy thiện hay ác, tốt hay xấu, một phần lớn cũng phải căn cứ vào tâm.

Tâm thiện th́ dù bề ngoài có vẻ độc ác thô động, như trường hợp cha mẹ đánh đập đứa con hư, thầy giáo trừng phạt cậu học tṛ lười nhác .v.v. đều thuộc về thiện.  Ngược lại nếu tâm ác th́ dù bề ngoài có vẻ êm dịu ngọt ngào, như trường hợp người gian tham ŕnh ṃ lén lút để đánh cắp của người, kẻ nịnh thần dùng lời xảo quyệt ngon ngọt để lung lạc tâm vua .v.v. cũng đều thuộc về ác.  Do đó muốn phê phán một việc làm thiện hay ác, tốt hay xấu, chúng ta cần phải căn cứ vào tâm niệm và kết quả việc làm ấy, chứ không thể hoàn toàn dựa vào những động tác bên ngoài được.

Ở đây nàng Kiều cũng thế.  Muốn xét giá trị của nàng Kiều, nhất là phê phán việc làm của nàng.  Chúng ta cần phải dựa vào tâm niệm và kết quả của việc làm ấy mới khỏi thiên lệch, cố chấp và bất công.  Số phận của Kiều, cũng như việc làm của nàng, cụ Nguyễn Du miêu tả như sau:

‘Xưa nay trong đục đàn bà

Chữ ‘trinh’ kia cũng có ba bảy đường.

Có khi biến có khi thường

Có quyền nào phải một đường chấp kinh

Như nàng lấy ‘hiếu’ làm trinh

Bụi nào cho đục được đường ấy vay ?’

Người nội cuộc như Kim Trọng mà c̣n có thái độ và nhận xét ấy đối với nàng Kiều, th́ những người như chúng ta trong khi phê phán t́m hiểu nàng Kiều, cũng như tác giả của nó, có nên có một thái độ quá khe khắt g̣ bó chăng ?

Như chúng ta biết tâm giữ một vai tṛ đặc biệt trong việc quyết định những hành vi thiện ác, tốt xấu của con người.  Nhưng chúng ta cũng nên nhớ thêm rằng: tâm c̣n có những sức mạnh khác nữa, đó là sức mạnh chế tác của tâm.  Chế tác bằng tư tưởng, bằng khái niệm, và bằng tâm tính.  Sức mạnh của tư tưởng đă làm cho con người vượt hẳn các loài động vật, đồng thời tư tưởng cũng là một yếu tố cần thiết để làm cho con người khác biệt với các loài thực vật khác qua lời nói của một triết gia Âu Tây sau đây: ‘Con người là một cây sậy có tư tưởng’.  Riêng về sức mạnh của khái niệm th́ các vị học giả tiền bối đă diễn tả qua các câu thơ sau đây:

 

‘Nhất nhật tại tù

Thiên thu tại ngoại’

(Một ngày ở trong tù

Bằng ngàn ngày ở ngoài)

Hoặc câu:

 

Nhất nhật bất kiến

Như tam thu hề’

(Một ngày không thấy mặt

Trông dài như ba năm)

Thời gian tâm lư nầy được cụ Nguyễn Du diễn đạt trong truyện Kiều qua hai câu thơ sau:

‘Sầu đong càng khắc càng đầy

Ba thu dọn lại một ngày dài ghê !’

C̣n sức mạnh của tâm lư th́ được thể hiện trong những câu thơ sau :

‘Cảnh nào cảnh chẳng gieo sầu

Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ’

Thật vậy, cùng một cảnh ấy nhưng có vui, có buồn, v́ ḷng người có khi buồn, có khi vui.  Cũng như cùng một bàn tay, một cung đàn của nàng Kiều, nhưng có khi buồn thảm thê lương nhuốm màu tang tóc, có khi vui vầy thanh thoát như hoa nở chim hót suối reo.  Qua những thay đổi ấy của tiếng đàn, đến khi nghe xong Kim Trọng cũng phải buột lời khen ngợi:

‘Chàng rằng: phổ ấy tay nào

Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy ?

Tẻ vui bởi tại ḷng này

Hay là khổ tận, đến ngày cam lai ?’

Ngoài những khía cạnh tư tưởng, tâm lư trên, trong truyện Kiều cụ Nguyễn Du c̣n diễn tả sức mạnh của tâm, tức là triết lư duy thức của Phật giáo qua hai câu thơ tuyệt tác sau đây nữa.  Đó là:

‘Xĩnh lời nàng mới theo sang

Biết đâu địa ngục, thiên đàng là đâu !’

Vâng, đúng như thế.  Thiên đường và địa ngục không phải ở đâu xa lạ, mà chính ngay ở trước mắt ta, bên cạnh ta, bàng bạc khắp trong cơi đời này, không biết đâu mà phân biệt được.  Hạnh phúc và đau khổ cũng thế.  Về vấn đề này đức Phật có dạy:

Tri túc chi nhơn

Tuy ngọa địa thượng

Nhi vi an lạc

Bất tri túc giả

Tuy xử thiên đường

Nhi bất xứng ư

(Người mà biết đủ

Dù nằm trên đất

Cũng được an lạc

Người không biết đủ

Dù ở thiên đường

Vẫn không vừa ư)

Căn cứ vào thuyết này chúng ta thấy hạnh phúc hay đau khổ, đầy đủ hay thiếu thốn, tất cả đều do ḷng ḿnh.  Thiên đường và địa ngục, cũng như âm và dương, tối và sáng, ngày và đêm không có phương hướng, cũng không có ranh giới nhất định.  Ở đâu cũng có thể hiện thành thiên đường hoặc là địa ngục được cả.  Ngay ở trong kiếp sống của con người và ở trong thế giới nhân gian nầy cũng thế.

Để diễn đạt tư tưởng của ḿnh về vấn đề ‘thiên dường và địa ngục’ nầy, trong truyện Kiều Nguyễn Du đă viết:

‘Nước trôi hoa rụng đă yên

Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian’

Nếu đem hai câu thơ trên của Nguyễn Du so sánh với hai câu danh ngôn sau đây của Trung Hoa:

 

‘Ngưu ẩn thủy thành nhủ

Xà ẩm thủy thành độc’

 

Trâu uống nước thành sữa

Rắn uống nước thành độc

Rồi đem so sánh với mấy câu thơ sau đây của thi sĩ Milton:

‘The mind is its own place and in its self,

Can make a heaven of hell

A hell of haven’

(Tâm có vị trí và đặc tính riêng của nó, tâm có thể tạo thiên đường trong địa nguc, và tạo cảnh địa ngục trong thiên đường)

Th́ chúng ta sẽ thấy điểm ‘không hẹn mà gặp’ giữa nguồn cảm hứng của các thi nhân Đông và Tây trong những cố gắng diễn đạt triết học duy tâm, duy thức của Phật giáo. V́ chủ trương ‘Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức’ nên Phật giáo phủ nhận mọi sức mạnh siêu nhiên và tự nhiên ở bên ngoài.  Phật giáo qui định mọi khía cạnh, mọi giá trị của cuộc đời về sức mạnh của tự tâm. Tâm tạo thiên đường địa ngục, tâm tạo Niết bàn sanh tử, tâm tạo Phật chúng sanh, hạnh phúc hay đau khổ. .  Nói một cách khác, tâm (cũng có thể gọi là nghiệp lực) tạo ra tất cả và tâm là chủ động lực của đời ḿnh.  Tổng hợp cả hai quan niệm của Phật giáo và Nho giáo về sức mạnh của tự tâm, cụ Nguyễn Du trong truyện Kiều đă diễn đạt tư tưởng của ḿnh qua lời của sư cô Tam Hợp như sau:

‘Sư rằng : phúc họa đạo Trời

Cội nguồn cũng ở ḷng người mà ra

Có Trời mà lại có ta

Tu là cơi phúc t́nh là dây oan’

Và  sau khi phác họa đầy đủ mọi khía cạnh của cuộc đời, mọi thay đổi biến thiên của nhân sinh vũ trụ, và mọi thăng trầm vinh nhục của nàng Kiều, ở đoạn kết của cuốn ‘Đoạn Trường Tân Thanh’, cụ Tiên điền Nguyễn Du đă viết:

“Đă mang lấy nghiệp vào thân

Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

Thiện căn ở tại ḷng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ ‘tài’ “

VIII. MỘT VÀI TRIẾT LƯ KHÁC BÀNG BẠC QUA THI PHẨM KIỀU :

1)Ḷng từ bi hiếu thảo:

Số phận của người con gái ‘bán ḿnh chuộc cha’ nhu nàng Kiều đă chịu trămcay ngàn đắng, trải qua mấy lần gác tía lầu xanh.  Nàng đă chán chê với cuộc sống ấy, nên đă nhiều lần lập mưu tính kế, cố gắng t́m cách thoát ly ra ngoài.  Nhưng người con gái thơ ngây đă ‘chạy trời không khỏi nắng’, vừa mới thoát ly ṿng vây nầy th́ bị mắc vào ṿng vây khác, tủi nhục và đau khổ hơn.

Để hiểu rơ tâm trạng của nàng Kiều trong những giai đoạn ‘kiết phược’ ấy, chúng ta hăy đọc đoạn thơ sau:

‘Chém cha cái số hoa đào

Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi

Nghĩ đời mà ngán cho đời

Tài t́nh chi lắm cho trời đất ghen !

Tiếc thay nước đă phủ phèn,

Mà cho bùn lại vẩy lên mấy lần’.

Nếu chúng ta căn cứ vào ư niệm bất đắc dĩ của nàng Kiều trong khi ‘chấp kinh tùng quyền’ rồi căn cứ vào ư nghĩa ‘gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn’, nhất là căn cứ vào niệm ‘thỉ chung như nhất’ của nàng trong khi bán ḿnh chuộc cha :

‘Tái sinh chưa dứt hương thề

Làm thân trâu ngựa đền ngh́ trúc mai

Nợ t́nh chưa trả cho ai,

Khối t́nh mang xuống tuyền đài chưa tan !’

Th́ chúng ta có thể dễ dàng hiểu được cảnh ngộ và tâm t́nh của Kiều hơn nữa.  Không những đối với Kim Trọng, chàng trai đă chiếm trọn t́nh yêu của nàng, nàng mới có một niềm thỉ chung như thế.  Đến như đối với Từ Hải, người gá nghĩa trên bước đường luân lạc, nàng cũng giữ được một ḷng trung chánh tương tợ.  Có người cho rằng Kiều là người ‘môt dạ hai ḷng, mưu mô phản trắc’ v́ Kiều đă đưa Từ Hải vào cảnh sa cơ thất mạng.  Muốn hiểu rơ ràng Kiều có phải là một dạ hai ḷng hay không, chúng ta phải căn cứ vào tấm ḷng của nàng trong bài thơ sau rồi sẽ phê phán :

Khóc rằng : trí dũng có thừa

Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này

Mặt nào trông thấy nhau đây

Thà liều sống chết một ngày có nhau

Rồi ở một đoạn khác:

‘Khi nàng gieo ngọc trầm châu

Đón nhau, tôi đă gặp nhau rước về

Cùng nhau nương cửa Bồ đề

Thảo am đó cũng gần kề chẳng xa’

Vâng, nhờ công đức hy sinh cho cha mẹ, nhờ tấm ḷng thỉ chung trung chánh đối với t́nh quân, nhờ nước sông Tiền Đường rửa sạch bụi trần tơ duyên, nhất là nhờ ư nguyện thành tâm sám hối, cắt đứt duyên nợ ba sinh, nên từ đó Kiều đă trở thành một con người trong sạch từ thân đến tâm, từ trong ra ngoài.  V́ thế ta cũng không ngạc nhiên đến ḷng từ bi quảng đại của đạo Phật qua hành vi cứu độ của Ni sư Giác Duyên.  Thật là một nghĩa cử cao đẹp ! Cửa Bồ đề quả là quảng đại vô biên ! Nếu Nguyễn Du cũng như các nhà cổ Nho khác không ảnh hưởng theo với tinh thần từ bi cứu thế của đạo Phật, không chịu đưa tay tế độ những kẻ trầm luân khổ hải.  Đây không như thế, Nguyễn Du đă không cố chấp vào những giáo điều khô cứng, không câu nệ bảo thủ theo những lề lối thông thường, và do đó cụ đă linh động khai thông ra để cứu độ một linh hồn đau khổ, bằng cách làm cho Ni sư Giác Duyên thuê người t́m kiếm và cứu vớt nàng ở sông Tiền Đường.  Cũng do tinh thần từ bi cứu thế ấy của đạo Phật, nên không những một ḿnh Kiều, đến cả gia đ́nh của nàng (và có lẽ của chúng ta nữa) đă thọ ơn Phật pháp.  Họ đă:

‘Quay nhau lạy trước Phật đài

Tái sinh trần tạ ḷng người từ bi’

2)Về ṭa án nhân dân đầu tiên ở Việt Nam:

Sự xuất hiện của nhân vật anh hùng Từ Hải như là một sự xuất hiện của một ṭa án nhân dân xử phạt các tội phạm phong kiến và các tội phạm do chế độ phong kiến thối nát đẻ ra.  Trong phiên ṭa xử Tú bà, Mă Giám Sinh, và Hoạn Thư, Kiều vốn là nạn nhân trở thành quan ṭa.  Tiếng nói của quan ṭa này hẳn là chính xác, công minh.  Đây là tiếng nói đích thực của nhân dân vừa công b́nh, vừa nhân ái.  Với Hoạn Thư, Kiều phán:

‘Tha ra th́ cũng may đời

Làm ra th́ cũng ra người nhỏ nhen

Đă ḷng tri quá th́ nên

Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay’

Với tú bà và Mă Giám Sinh, nàng truyền:

‘Tú bà cùng Mă Giám Sinh

Các tên tội ấy đáng t́nh c̣n sao

Lệnh quân truyền xuống khai đao

Thề sao th́ lại cứ sao gia đ́nh’

Với hai phiên ṭa nhân dân ấy, Nguyễn Du, một thiên tài thi ca và tư tưởng đă nói lên khát vọng thống thiết về một xă hội nhân bản, hợp lư xây trên công bằng, nhân ái, trên nền tảng giá trị con người v́ an lạc và hạnh phúc cao cả của loài người - mỗi người và mọi người.

3)Triết lư giải phóng phụ nữ:

Với quan niệm của các nhà Nho xưa, người phụ nữ bị đóng khung trong ‘Tam ṭng’ (tại gia ṭng phụ, xuất giá ṭng phu, phu tử ṭng tử.  Nghĩa là ở nhà th́ theo cha, đi lấy chồng th́ theo chồng, chồng chết th́ theo con) và tứ đức : công, dung, ngôn, hạnh.  Nguyễn Du đă phá đổ chiếc khung cũ kỷ ấy, giới thiệu nàng Kiều, người đẹp giỏi cầm, kỳ, thi, họa và kiêm thạo cả tửu, giới thiệu Hoạn Thư khôn nước hơn Thúc Sinh:

‘Anh hoa phát tiết ra ngoài

Tài t́nh chi lắm cho trời đất ghen’

 

‘Thấp cơ thua trí đàn bà

Trông vào đau ruột nói ra ngại lời’

Hoặc là:

‘Người đâu sâu sắc nước đời

Mà chàng Thúc phải ra người bó tay’

Nhà thơ lỗi lạc ấy đă muốn giải phóng phụ nữ, giới thiệu phụ nữ đi vào nhiều lănh vực của xă hội.  Và đă tháo gỡ cái quan niệm chật hẹp, phi lư về chữ trinh cũ:

‘Xưa nay trong đạo đàn bà

Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường’

Hay là:

‘Như nàng lấy hiếu làm trinh

Bụi nào cho đục được ḿnh ấy vay’

Với cái nh́n nhân ái và trí tuệ ấy của Nguyễn Du là cái nh́n giá trị mới đầy tính người, giải phóng con người ra khỏi vùng giá trị cũ kỹ của Nho học.

4)Nỗi đau đứt ruột:

Sau khi thoát ra khỏi thanh lâu và được làm phu nhân của tướng công Từ Hải, Thúy Kiều đă mời sư chị tới để tỏ ḷng trân trọng và biết ơn.  Sau đó sư chị Giác Duyên tạ từ về chùa, v́ sư chị không muốn ở lâu chỗ quân trường.  Trên con đường về, sư cô gặp một đạo cô tên là Tam Hợp, một người tu theo đạo Lăo nhưng có kiến thức rất sâu sắc về đạo Bụt. Thời đó ba tôn giáo đă sống chung và có ảnh hưởng lẫn nhau, ta gọi là ‘tam giáo tịnh lập’.  Biết rằng Kiều sẽ c̣n gặp nhiều khổ đau nên sư Giác Duyên mới hỏi đạo cô Tam Hợp về tương lai của nàng.  Họ bảo là Kiều c̣n phải gặp nhiều tai nạn và đau khổ nữa trước khi được giải thoát.  Qua những lời này ta thấy đạo cô Tam Hợp là một nhà phân tâm học.  Thấy được cái bản chất của con người Kiều và cũng thấy được tương lai của Kiều:

‘Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan

Vô duyên là phận hồng nhan đă đành’

Vô duyên đây là thiếu phúc duyên, không có phúc duyên, không đủ điều kiện căn bản để có hạnh phúc, nói khác là điều kiện của sự tu học, của sự giác ngộ.  Vô duyên đây không có nghĩa là thiếu sự duyên dáng, vô duyên đây là thiếu may mắn, để thấy được sự thật và thấy rằng ḿnh đang đi vào một con đường không sáng sủa”

‘‘Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan

Vô duyên là phận hồng nhan đă đành

Lại mang lấy một chữ t́nh

Khăng khăng ḿnh buộc lấy ḿnh vào trong

Vậy nên những chốn thong dong

Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng

Ma đưa lối quỷ đưa đường

Lại t́m những chốn đoạn trường mà đi’

Những chốn mà người khác đi đứng thong dong, khỏe khoắn và hạnh phúc, ḿnh tuy ở chung nhưng vẫn không được như người ta.  Đáng lư được thong dong mà ḿnh không được, vậy nên những chốn thong dong, ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.  Ḿnh ngồi cũng không yên, đi cũng vậy, ḿnh đi trên chông gai, bước trên than hồng trong khi người khác có sự thanh thản b́nh an.  Dầu cho có vào chùa đi nữa th́ ḿnh cũng tiếp tục ngồi trên đống lửa mà không được ngồi trên hoa sen.  Dầu cho đang được cùng đi thiền hành với tăng thân và khi tăng thân thực tập từng bước nở hoa sen, ḿnh vẫn dẫm trên lửa nóng.  Vào chùa ḿnh cũng chẳng có sự thanh tịnh v́ ḿnh đă tự buộc ḿnh vào ṿng nghiệp chướng.

‘Ma dẫn ḿnh đi’, ma đây tức là ma thất niệm, sự vắng mặt của chánh niệm.  Ma quỷ tức là sự tối tăm, là vô minh, là t́nh trạng không thấy được sự thật, là t́nh trạng đang đi trên con đường khổ đau và đen tối.  Ḿnh không t́m con đường an lành mà đi, trái lại đă t́m chốn đoạn trường mà đi.  V́ thế Đoạn Trường Tân Thanh cũng chính là nỗi đau đứt ruột:

‘Hết nạn ấy đến nạn kia

Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần

Trong ṿng giáo dựng gươm trần

Kề lưng hùm xói gửi thân tôi đ̣i

Giữa ḍng nước dẫy sóng dồi

Trước hâm rồng cá gieo mồi vắng tanh

Oan kia theo măi với t́nh

Một ḿnh ḿnh biết, một ḿnh ḿnh hay’

Chỉ có ḿnh mới thấy được cái khổ đau cùng cực của ḿnh.  Người ngoài nh́n vào không thể thấy và biết hết được.  Một ḿnh ḿnh biết, một ḿnh ḿnh hay. Câu thơ nầy thâm trầm hết sức.  Rồi đạo cô nói tiếp:

‘Làm cho sống đọa thác đày

Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi’

C.     KẾT LUẬN

Truyện Kiều hàm chứa nhiều quan niệm nhân sinh, triết học tôn giáo, thực trạng xă hội và khía cạnh tâm lư của con người, đầy đủ các phương tiện tốt xấu, khen chê, vinh nhục, thịnh suy, thiện ác v.v.. muôn màu muôn sắc, không làm sao diễn tả hết trong phạm vi bài viết.  V́ thế người viết khi thực hành đề tài nầy không thể nào không thổn thức cho kiếp đọa đày lao khổ của Kiều.  Chính tâm trạng này đưa đến cho chúng ta một liên tưởng ‘suy người rồi nghĩ đến ta’ trong thân phận của kiếp người trầm luân đau khổ:

‘Nghĩ thân phù thế mà đau

Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê !’

(Ôn Như Hầu)

Và từ đó, tự nhiên trào dậy trong ḷng ta một t́nh thương man mác.  Thương cho số kiếp đào hoa bạc phận của Kiều chăng ? Thương cho Cụ Nguyễn Du lận đận trên đường công danh sự nghiệp của thời Lê mạt Nguyễn sơ chăng ? Hay thương cho ta, cho mọi người đang sống trong cảnh bèo mây mộng ảo chốn trầm luân khổ hải này chăng ? Không, t́nh thương ấy không có thời gian và định hướng.  Ta thương cho tất cả.  T́nh thương ấy là ǵ nếu không là một biểu hiện ḷng từ bi của đạo Phật ?

Thực tế cho ta thấy t́nh thương là một sợi dây vô h́nh nối liền giữa ḿnh và người, giữa hiện tại, quá khứ và tương lai.  Qua t́nh thương ấy, giữa thi hào Nguyễn Du với nàng Kiều lao đao lận đận trong  cuốn ‘Đoạn Trường Tân Thanh’, và với chúng ta trong cuộc đời trầm luân ảo mộng này nghe như có cái ǵ đồng điệu nên giữa chúng ta - người c̣n kẻ mất, người mộng kẻ thực - sẽ không c̣n ai khóc cho ai nữa và không phải hỏi rằng:

‘Bất tri tam bách dư niên hậu

Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?’

(Không biết rồi đây ba trăm năm sau, trong thiên hạ c̣n ai khóc Tố Như?) mà chính là ta khóc cho thân phận con người của chúng ta vậy.

Song song với ư niệm và t́nh thương ấy, khi đọc truyện Kiều chúng ta cảm thấy: con người trước hết là một vật yếu hèn bất lực, nhưng nhờ ‘thiện căn’ sẵn có trong ḷng, kèm theo ư chí liên tục phấn đấu, nên cuối cùng con người sẽ thắng được định mệnh, vượt khỏi mọi bất công thử thách của cuộc đời để xây dựng tương lai của ḿnh.  Câu châm ngôn của Tây phương: ‘thất bại là mẹ của thành công’ và câu phương ngôn của Đông phương (Nhật Bản) “Ngă xuống bảy lần, lần thứ tám đứng dậy’ đă được thể hiện hoàn toàn trong nhân vật chính của truyện Kiều, đó là nàng Kiều.  Đấy là ǵ nếu không phải là triết lư nhân bản, truyền thống bất khuất của các dân tộc Á Đông?
Thêm một điều nữa, đọc truyện Kiều chúng ta thấy tác phẩm này đă vượt lên trên tất cả những quan niệm chật hẹp tầm thường của đương thời để thể hiện một tinh thần tổng hợp linh động của các nền tư tưởng Đông phương là Phật giáo, Nho giáo và Lăo giáo.  Ba nền triết học Phật, Lăo, Nho ấy đă dung ḥa đẹp đẽ trong công cuộc đúc kết thành sắc thái đặc biệt và phong phú của nền văn hóa Việt Nam với mấy ngh́n năm lịch sử.  Chính sắc thái này đă tạo ra truyền thống dung ḥa, nhưng không nô lệ, mềm dẻo nhưng bất khuất của dân tộc Việt Nam trải qua bao cuộc chống xâm lăng, dành độc lập của ông cha chúng ta từ xưa, và ngay cả thế hệ của chúng ta bây giờ nữa.

Có lẽ v́ những lư do trên, nên đại đa số quần chúng Việt Nam từ giới cần cù lao động ở nông thôn cho đến các hàng trí thức ở thị thành đều thích đọc truyện Kiều, công nhận giá trị của truyện Kiều, nhất là giá trị đóng góp của nó trong các lănh vực văn chương, triết lư nghệ thuật và tư tưởng, có lẽ cũng v́ thế nên như người Ba tư đối với bản trường ca Rubaiyat, người Ấn độ với bản t́nh thơ Bhavagad, Cita .. người Việt Nam chúng ta đón nhận tác phẩm truyện Kiều như một vật thân yêu, phản chiếu từ ḷng ḿnh, đời ḿnh vậy.

Với những khía cạnh đă được tŕnh bày trên, tiểu luận này chỉ là biên khảo, như là một đề nghị rằng cần có những công tŕnh nghiên cứu và biên khảo công phu hơn, mới có thể nói lên rơ ràng triết lư Phật giáo qua thi phẩm Kiều.

Một lần nữa chúng con xin chân thành tri ân những vị giáo sư đă hướng dẫn, chỉ bảo cho tập tiểu luận này được hoàn thành tốt đẹp.  Đồng thời chúng con cũng xin các bậc cao minh chỉ bày cho những sơ sót trong tiểu luận này, để người viết được học hỏi thêm những ư kiến quư báu, rút kinh nghiệm cho những bài viết sau.  Chúng con chân thành cảm tạ và tri ân những ư kiến quư báu đă đóng góp.

 

 --o0o--

Vi tính: Tâm Diệu

Tŕnh bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-06-2004


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>