categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
  .


 

 

 

Bùi Giáng, thi sĩ kỳ dị

 

Mục Lục

 

1: Người Viết Sách Với Tốc Độ Kinh Hồn
2: Bài Thơ Lạ Lùng Của Anh Chăn Ḅ
3: Chuyện Ly Kỳ Của Ông Thầy Giáo Cuồng Si Nàng Kiều
4: Cuộc Đấu Tranh Bảo Vệ Nàng Kiều Và T́nh Yêu Loài Vật
5: Văn Chương Bùi Giáng Trong Những Cuốn Sách Đầu Tiên
6: Nỗi Ám Ảnh Nguyễn Du Và Heidegger
7: Vị Trí Hai Người Đẹp Kim Cương Và Marilyn Monroe Trong Ḷng Bùi Giáng
8: Những Người Phụ Nữ Đẹp Thoát Trần
9: Một Năng Lực Phi Thường Của Kẻ Suốt Ngày Rong Chơi
10: Bùi Giáng Có Phải Là Một Người Điên Không?
11: Ngày Tháng Ngao Du
12: Dịch Giả Tài Hoa Nhưng Không B́nh Thường
13: Một Tâm Hồn Mênh Mang Ảo diệu
14: Gặp Bùi Giáng Tháng 05/1975
15: Đôi Mắt Lạc Thần
16: Gặp Bùi Giáng Ở Paris
17: Thơ Là Hạnh Phúc

18. Bùi Giáng nguồn xuân

19. Nguồn Bùi Giáng

 

 

 

--- o0o ---

 

 

Người viết sách với tốc độ kinh hồn

Bùi Giáng là một con người gây kinh ngạc cho bất kỳ ai quan tâm đến ông. Làm thơ, dịch tiểu thuyết của các tác gia danh tiếng trên thế giới, viết sách nghiên cứu triết học đông tây kim cổ với những kiến thức vô cùng uyên bác… nhưng Bùi Giáng đồng thời lại c̣n chạy nhảy la hét ngoài đường trong bộ dạng của những con người mà ta quen gọi là điên.

Cuộc đời Bùi Giáng v́ vậy luôn được bao phủ bởi vô số những giai thoại ly kỳ, những thông tin hư hư thực thực. Trước nay, có khá nhiều bài viết về ông nhưng đều rất tản mạn, hầu hết chỉ là những bài lẻ tẻ đăng báo hoặc bài của nhiều người viết trong các tuyển tập hoặc đặc san kỷ niệm Bùi Giáng. Dựa trên những tài liệu có được và những tác phẩm của ông, chúng tôi cố gắng cung cấp cho bạn đọc những thông tin tương đối có hệ thống về diện mạo của con người tài năng thuộc hạng siêu phàm nhưng rất kỳ dị này.

Từ năm 1962 trở đi, Bùi Giáng liên tục cho ra đời nhiều đầu sách. Mỗi năm đều đều vài ba cuốn. Càng về sau càng nhiều hơn. Nói về số lượng, th́ ông là một tác giả có tác phẩm in ra đứng vào hàng kỷ lục ở miền Nam trước giải phóng. Sách của ông có thể chất thành chồng cao cả mét, thơ th́ phải kể bằng đơn vị ngàn bài. Tuy nhiên, ông hoàn toàn không phải một học giả cần mẫn, suốt ngày giam ḿnh trong thư viện, miệt mài bên trang sách mà thậm chí c̣n ngược lại. Nhiều người từng gần gũi ông ngạc nhiên nói rằng họ chỉ thấy Bùi Giáng suốt ngày lang thang rong chơi nhàn nhă, bia rượu uống tràn, thế nhưng khi nhà xuất bản cần, chưa đến một ngày ông đă mang đến cả năm bảy trăm trang sách. Vậy ông viết sách vào lúc nào?

Một nhà văn gần gũi với Bùi Giáng trước năm 1975 kể lại chuyện viết sách của ông như sau: "Tôi chỉ kể tới Bùi Giáng, bởi suốt thời kỳ đó, có thể nói, thầy Thanh Tuệ (Giám đốc Nhà xuất bản An Tiêm lúc đó) v́ một tấm ḷng liên tài đặc biệt, chỉ mê thích thơ văn Bùi Giáng, đă dành trọn phương tiện cho ưu tiên xuất bản tác phẩm của Bùi Giáng trước mọi tác giả khác. Và giai đoạn có thể đặt tên là giai đoạn Bùi Giáng này, An Tiêm đă in đêm in ngày, in mệt nghỉ, v́ những năm tháng đó chính là những năm tháng đánh dấu cho thời kỳ sáng tác kỳ diệu sung măn nhất của Bùi Giáng, cơi văn cơi thơ Bùi Giáng bấy giờ ào ạt vỡ bờ, bát ngát trường giang, mênh mông châu thổ, Bùi Giáng bấy giờ mỗi tuần viết cả ngàn trang khiến chúng tôi bàng hoàng khiếp đảm".

Nhà văn này kể tiếp: "Vậy mà mỗi lần gặp thi sĩ hồi đó, cảm tưởng bao giờ cũng giữ được là đă gặp một Bùi Giáng rất nhàn rỗi, rất rong chơi. Bước chân vào nhà thầy Thanh Tuệ, chúng tôi đă thấy Bùi Giáng ngồi đó trước, tươi cười, ung dung trong cái phong thái của một con người nhàn nhă nhất thế giới, chẳng có một dấu vết nhỏ nào của một người viết đang gió táp mưa rơi với ngàn ngàn trang sách". Ai cũng lấy làm ngạc nhiên và cố gắng t́m hiểu nhưng không thể nào hiểu nổi. Chưa bao giờ những người gần gũi Bùi Giáng bắt gặp ông đang ngồi viết sách. Vắn tắt là Bùi Giáng chẳng làm ǵ hết, chẳng ai một lần nh́n thấy Bùi Giáng đang làm ǵ hết. Thầy Thanh Tuệ cũng chỉ lắc đầu cười: "Tôi cũng lấy làm kỳ. Ảnh lang thang suốt ngày, chẳng thấy lúc nào ngồi viết hết. La cà hết nơi này đến nơi khác, uống rượu say ngất rồi về lầu lăn ra sàn ngủ, nhiều ngày bỏ cả bữa ăn. Đêm cũng không thức, chỗ nằm tối thẳm. Nhưng ảnh viết tôi in không kịp, nói ảnh tạm ngừng th́ ảnh ngừng. C̣n nói ảnh đem bản thảo tới th́ nói buổi sáng buổi chiều ảnh đă tới ném bịch xuống cả năm, bảy trăm trang. Cứ thế đem sắp chữ thôi, đâu có th́ giờ đọc. Điều kỳ lạ là thể loại trước tác nào ảnh cũng có ngay sách, dễ dàng và nhanh vô tả. Từ thơ đến văn. Từ một cuốn tiểu luận về Camus đến một cuốn tiểu luận về Nguyễn Du. Từ dịch thuật tiểu thuyết tới phê b́nh triết học. Tất cả như đùa như chơi vậy".

Có người ngạc nhiên quá, t́m cách rủ Bùi Giáng tới quán uống rượu để t́m hiểu. Nhưng chỉ tốn rượu đăi Bùi Giáng chứ chẳng khai thác được chút thông tin nào. Vặn hỏi măi ông cũng không giải thích điều ǵ. Bùi Giáng chỉ cười cười, đốt điếu thuốc, cầm lấy ly rượu và nói "vui thôi mà" trước sự ngơ ngẩn của người hỏi chuyện. Trước sau ông không hề giải thích bất cứ thắc mắc nào. Nhà văn kể trên nói tiếp: "Chừng như ông không có ǵ giải thích, sự thành h́nh một tác phẩm nơi Bùi Giáng cuối cùng vẫn là một bí ẩn hoàn toàn trong cái vùn vụt, cái bất tuyệt thao thao, cái chớp mắt đă là của nó. Ừ, vui, ba chữ "vui thôi mà" là câu trả lời mơ hồ nghịch ngợm duy nhất của Bùi Giáng trước mọi sự t́m hiểu".

 

 

 

Bài thơ lạ lùng của anh chăn ḅ

Bùi Giáng sinh ngày 17/12/1926 tại làng Thanh Châu thuộc xă Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Thân sinh của Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên, thuộc đời thứ 16 của ḍng họ Bùi ở Quảng Nam. Do người vợ chánh qua đời sớm nên ông lấy người vợ kế là bà Huỳnh Thị Kiền.

Bùi Giáng là con thứ 2 của ông Bùi Thuyên với bà Huỳnh Thị Kiền nhưng là con thứ 5 nếu tính tất cả các anh em. Khi vào Sài G̣n, ông được gọi theo cách gọi miền Nam là Sáu Giáng. Và Bùi Giáng cũng tỏ ra thích thú với tên gọi này. Thỉnh thoảng ông cũng tự xưng cái tên thứ đó trong những câu thơ của ḿnh. Sau này trong một bài thơ khá hài hước, Bùi Giáng viết: "-Ủa, phải anh Sáu Giáng đó không?/- Và cô có phải cô Bông năm nào?/- Anh c̣n nhớ rơ, ôi chao/Vợ chồng tôi cũng lúc nào nhớ anh/Anh điên mà dzui dzẻ thập thành/C̣n chúng tôi tỉnh mà đành buồn thiu".

Mặc dù là người gặp may mắn trên đường học vấn nhưng Bùi Giáng luôn luôn phá ngang. Bùi Giáng từng viết rằng ông không có ư định học để lấy bằng cấp. Ông Bùi Văn Vịnh, một người em ruột cùng cha cùng mẹ khác của Bùi Giáng cho biết, sau khi học xong bậc tiểu học ở Trường Bảo An tại huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, Bùi Giáng được gia đ́nh cho ra Huế tiếp tục học ở Trường Trung học Thuận Hóa. Năm 1945, khi đang học lớp Đệ Tứ th́ thời thế thay đổi. Đại chiến thế giới thứ hai nổ ra, Nhật hất cẳng Pháp, rồi Cách mạng Tháng Tám thành công. Nhưng sau đó ông cũng kịp đậu bằng Thành Chung. Rồi Bùi Giáng lên đường đi theo kháng chiến. Năm 1950, khi có kỳ thi tú tài đặc biệt do Liên khu V tổ chức, Bùi Giáng dự thi và đậu Tú tài 2 văn chương, rồi lên đường ra Liên khu IV, tới Hà Tĩnh, để tiếp tục vào học đại học. Từ Quảng Nam thuộc Liên khu V ra tới Hà Tĩnh thuộc Liên khu IV phải đi bộ theo đường ṃn trên núi hơn một tháng rưỡi trời. Nhưng khi ra đến nơi, không hiểu sao ngay trong ngày khai giảng, Bùi Giáng đă quyết định bỏ học để quay ngược trở về Quảng Nam.

Bỏ học trở về nhà, ông theo chân đàn ḅ rong ruổi khắp các vùng đồi núi. Sau này ông có sáng tác bài thơ Nỗi ḷng Tô Vũ in trong tập Mưa nguồn để kỷ niệm cho khoảng thời gian này. Một số tài liệu cho rằng Bùi Giáng đă có nhiều năm chăn dê nhưng thực ra ông chỉ trải qua 2 năm chăn ḅ, từ 1950 đến 1952 trên vùng rừng núi Trung Phước. Có lẽ đây là quăng đời lăng mạn nhất của ông. Và ông đă gọi quăng thời gian này là 15 năm chăn dê, như Tô Vũ ngày xưa. Nhớ lại những tháng ngày này, ông viết: "Tôi bỏ học, chẳng biết chi sách vở. Chạy về quê làm thằng chăn ḅ. Bao nhiêu thơ làm ra, tôi âm thầm tặng hết cho chuồn chuồn châu chấu!".

Bài thơ Nỗi ḷng Tô Vũ dài đến 60 câu, được nhiều người thích đọc. Bài thơ với những lời thơ hết sức thiết tha, đằm thắm, ông dành cho những nàng thơ đặc biệt của ông là những con ḅ, đọc lên nghe rất thú vị. Trong bài thơ, ông xưng anh với những con ḅ mà ông đă biến chúng thành dê cho giống chuyện Tô Vũ ngày xưa và gọi chúng là em: "Chiều hôm nay bên chó vàng chễm chện/Anh lặng nghe em bé hé bên sườn đồi". Ông tặng các nàng thơ của ông những chiếc ṿng bằng mây mà ông tự đan đủ màu sắc như người ta tặng kỷ vật cho người ḿnh yêu: "Này em Đen chiếc ṿng vàng tươi lắm/Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu/Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh/Này đây em Hoa Cà hỡi! Chiếc nâu". Mỗi nàng dê một chiếc ṿng, ông tự tay đeo vào cổ các nàng và thủ thỉ: "Ngẩng đầu lên! Dê ơi anh thong thả/Đeo ṿng vào em nghển cổ cong xinh/Ngẩng đầu lên! Đây ḷng anh vàng đá/Gửi gắm vào ṿng mây nhuộm tơ duyên". Tặng xong kỷ vật cho các nàng dê rồi ông mới thề thốt: "Và giờ đây một lời thề đă thốt/Ngh́n thu sau đồi núi chứng cho ta/Cao lời ca bê hê em cùng thốt/Ḥa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha".

Lấy dê, thực chất là ḅ, làm nàng thơ quả là một chuyện xưa nay chưa có ai làm. Nhưng đáng kinh ngạc hơn nữa là ông so sánh chuyện đeo ṿng mây cho dê với việc trao ṿng cầu hôn cho vị hôn thê của ḿnh: "Ngẩng đầu lên nh́n anh mờ mắt lệ/Từ lần đầu ṿng ngọc tuổi hai mươi/Trao người em trăm năm lời ước thệ/Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi". Trong lần xuất bản đầu tiên của tập Mưa nguồn, Bùi Giáng c̣n ghi chú rơ ư khổ thơ này là, ngày xưa khi ông cưới vợ, th́ cái giây phút đeo chiếc ṿng đính hôn kỳ diệu ấy không làm ông xúc động bằng bây giờ đeo ṿng mây cho dê! Thật là một cảm xúc khác người. Sau này chúng ta sẽ thấy, thứ cảm xúc này không phải do ông cố nặn ra cho thành bài thơ lạ mà đó là những ǵ diễn ra thực tế trong tâm trí ông.

Nỗi ḷng Tô Vũ là một bài thơ độc đáo bởi đối tượng cảm xúc của tác giả không phải là cảnh đẹp, là người thơ mà là những con dê. Bài thơ không giống ai đó có những đoạn thơ đẹp lạ lùng: "Em nhớ hay không hồn hoa dại cỏ/Những ngậm ngùi đầu núi canh khuya/Vàng cao gót nai đầu buông hăi sợ/Gió cây rung trút lá mộng tan ĺa"...

 

 Chuyện ly kỳ của ông thầy giáo cuồng si nàng Kiều

Hai năm chăn ḅ có lẽ cũng quá đủ để nhà thi sĩ thả hồn ḿnh rong ruổi theo những dặm đường du mục. Những ấn tượng sâu đậm trong thời kỳ này đă được Bùi Giáng tái hiện trong một số bài thơ mà ông sáng tác sau này.

Ngoài bài thơ độc đáo Nỗi ḷng Tô Vũ, c̣n có bài Anh lùa ḅ vào đồi sim trái chín. Tuy không hay bằng Nỗi ḷng Tô Vũ nhưng bài thơ này cũng thể hiện một t́nh yêu thiên nhiên đắm say và mănh liệt của Bùi Giáng: “Anh nằm xuống để nh́n lên cho thỏa/Anh thấy ḷng mở rộng đón trời xanh/Ch́m ngây ngất vào trong đôi mắt lả/Anh lim dim cho chết lịm hồn ḿnh", "Cây lá bốn bên song song từng lứa/Sánh đôi nhau như ứa lệ ngàn ngàn/Hạnh phúc trời với đất mang mang/Với ḅ giữa rừng hoang đương gặm cỏ/Với người ngó ngất ngây đương nằm đó/Không biết trời đất có ngó ḿnh không". Quả thật là một tâm hồn quá khoáng đạt.

Tháng 5 năm 1952, Bùi Giáng bỏ lại sau lưng những đàn ḅ cùng "hồn hoa dại cỏ" trên những đồi sim trái chín để ra Huế thi lấy bằng tú tài tương đương. Bằng tú tài trước đây do Liên khu V thuộc Chính phủ Kháng chiến cấp, đổi lại để vào Sài G̣n là khu vực đang thuộc vùng địch tạm chiếm ghi danh theo học Đại học Văn khoa. Nhưng một lần nữa ông cũng quyết định bỏ học khi đọc danh sách các giáo sư giảng dạy ở Đại học Văn khoa v́ thấy không "tâm phục khẩu phục". Theo tác giả Thụy Khuê th́ đây là lần cuối cùng ông bận tâm với chuyện học hành. Sau sự cố này, Bùi Giáng không bao giờ đi học nữa.

Sau khi kết thúc chuyện học hành, Bùi Giáng chuyên tâm vào việc nghiên cứu, viết sách và sáng tác thơ văn. Từ năm 1957, ông lần lượt cho ra đời một loạt sách giới thiệu về văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm... Sau đó ông bắt tay vào dịch tác phẩm văn học, giới thiệu tác gia danh tiếng của nước ngoài. Ngoài việc nghiên cứu và viết sách, Bùi Giáng c̣n đi dạy ở một số trường trung học. Và v́ thế mới có những câu chuyện ly kỳ về việc giảng Kiều của Bùi Giáng.

Câu chuyện sau đây do một tác giả thuật lại trong một đặc san về Bùi Giáng, không nói rơ là ḿnh chứng kiến hay giai thoại. Chuyện kể rằng, một lần nọ Bùi Giáng giảng Kiều cho các em học sinh, đến đoạn Từ Hải bị chết đứng giữa trận tiền, ông cảm thấy uất ức quá. Ông không chịu nổi việc một người anh hùng như Từ Hải mà phải bỏ thân nơi chiến trường v́ bị mắc lừa. Từ bức xúc thái quá dẫn đến kích động thần kinh nên Bùi Giáng la hét dữ dội. Càng căm tức Hồ Tôn Hiến bao nhiêu th́ ông càng la hét bấy nhiêu. Rồi ông khóc tức tưởi, đập bàn đá ghế, gục đầu thổn thức trên bàn giáo viên. Hết hét lại khóc, hết khóc lại hét.

Học sinh lúc đầu c̣n ngạc nhiên thích thú nh́n ông thầy ḿnh thể hiện cảm xúc, nhưng sau thấy ông làm quá th́ đâm ra sợ hăi. Bởi trước mặt chúng đang là một ông thầy đạo mạo bỗng nhiên trở thành một con người không c̣n biết ǵ đến chung quanh, chỉ la hét than khóc như cha chết mẹ chết. Quả thật Bùi Giáng đă biến tiết dạy của ḿnh thành đám ma của Từ Hải, khiến từ học sinh cho đến ban giám hiệu phải một phen hết hồn. Sau sự cố "đám ma Từ Hải" đó, nhà trường đành phải mời thầy nghỉ dạy v́ không dám để thầy làm các em học sinh phải thêm một phen hoảng hồn bạt vía nữa.

Cung Tích Biền cũng kể một câu chuyện tương tự nhưng kỳ dị hơn nữa. Theo Cung Tích Biền th́ đây chỉ là một giai thoại, tuy nhiên căn cứ vào những ǵ xảy ra với Bùi Giáng trước nay th́ chúng ta có thể tin được đó là câu chuyện có thật. Câu chuyện xảy ra vào khoảng đầu thập niên sáu mươi. Bùi Giáng đi dạy môn Việt văn cho một trường trung học ở một vùng tỉnh lỵ nọ. Hiển nhiên dạy Việt văn th́ phải đến lúc ông đụng đến Truyện Kiều và Nguyễn Du. Và chuyện ǵ đến phải đến. Trong một giờ Việt văn, khi giảng đến đoạn nàng Kiều phải bán ḿnh chuộc cha để hồng trần lưu lạc, Bùi Giáng đă bật khóc ̣a, khóc tức tưởi, khóc nức nở ngay giữa lớp học. Có lẽ nước mắt cũng không làm ông nguôi bớt nỗi cảm thương người con gái tài hoa bạc mệnh Thúy Kiều. V́ thế ông vừa khóc vừa nhảy phóc qua cửa sổ lớp học, chạy bộ ra bến xe rồi đón xe đ̣ về Sài G̣n tức th́. Học tṛ nam nữ trong lớp th́ cứ ngồi chờ măi, tưởng thầy đi rửa mặt cho sạch nước mắt để dạy tiếp hoặc đi đâu đó một lát rồi sẽ trở lại, bởi v́ trên bàn thầy vẫn c̣n sách vở, bao thuốc lá. Nhưng hết tiết học cũng không thấy thầy trở lại. Ngày hôm sau cũng không thấy thầy trở lại. Cả tuần sau thầy cũng không quay lại. Bởi v́ thầy đă quyết định bỏ lớp bỏ trường, bỏ luôn cả vùng đất tỉnh lỵ ấy đến nhiều năm sau. Hỏi thầy nguyên nhân v́ sao th́ thầy ngậm ngùi nói "mần răng mà trở lại nơi em Kiều đă một lần hy sinh cho cái tṛ chơi nhân gian kỳ ảo chỗ liên tồn" ấy.

 

Cuộc đấu tranh bảo vệ nàng Kiều và t́nh yêu loài vật

 

Đến Sài G̣n được ít lâu, Bùi Giáng bắt tay vào việc viết sách. Nhưng những cuốn sách đầu tiên Bùi Giáng viết ra, v́ chưa có "thương hiệu" nên dĩ nhiên chưa có nhà xuất bản nào chịu bỏ tiền ra in, do vậy ông phải tự lo.

Nhưng với một người vừa chân ướt chân ráo đi lập nghiệp như ông, làm sao có tiền để in sách. V́ vậy, ông phải xoay xở bằng nhiều cách. Một số người cho rằng Bùi Giáng đă nhờ người bà con đang làm ăn phát đạt lúc đó là bác sĩ Bùi Kiến Tín cho mượn tiền để in sách. Nhưng những người thân cận với Bùi Giáng cho biết ông đă về quê bán tất cả ruộng vườn được thừa hưởng ở Quảng Nam để lấy tiền in sách. Theo chúng tôi, chi tiết này là chính xác, v́ nó đúng với bản chất con người Bùi Giáng.

Khởi đầu, Bùi Giáng tập trung vào việc nghiên cứu Truyện Kiều. Đây là tác phẩm đă gây ấn tượng mạnh mẽ với ông trong thời kỳ c̣n học trung học. Năm Bùi Giáng mười sáu tuổi, đọc những cuốn sách của Nguyễn Bách Khoa, ông đă cảm thấy bức xúc v́ những lời Nguyễn Bách Khoa đả phá Truyện Kiều quá nặng nề.

Lúc đó, không khí tranh luận về Truyện Kiều khá sôi nổi. Bùi Giáng đă hăng hái bước vào cuộc. Cuốn Một vài nhận xét về Truyện Kiều và Truyện Phan Trần do Tân Việt xuất bản vào năm 1957 có những bài viết rất hay về Truyện Kiều. Cùng với một vài tác giả khác, ông chống lại những quan điểm cho rằng Truyện Kiều là một tác phẩm phản đạo đức, không mang tính nhân bản. Ông bênh vực quyết liệt cho nàng Kiều. Lúc này, tác giả Nguyễn Sĩ Tế vừa tái bản tập sách Luận đề về Nguyễn Du, trong đó phê phán nhân vật Kiều nhu nhược, lẩn thẩn, ham mê vật chất... Bùi Giáng bèn "ra tay nghĩa hiệp" bênh vực giai nhân. Ông đối thoại thẳng thắn với Nguyễn Sĩ Tế, cho rằng Nguyễn Sĩ Tế hẹp ḥi trong cách nghĩ: "Sao ở mọi chốn khác ông Tế tỏ ra chu đáo là thế, mà riêng đây, ông nỡ cứ hẹp ḥi. Mười năm trước ông Nguyễn Bách Khoa từng lớn tiếng: hoàn cảnh xă hội chi phối con người. Nhưng khi đem cái nguyên tắc ấy áp dụng trong việc phê phán nhân vật, bao lần ông đă không chịu xét cái cảnh ngộ nào đă trực tiếp chi phối tâm trạng con người nào"..., rằng: "Ông tàn nhẫn quá. Mà chúng tôi tự lượng sức ḿnh không đủ để bênh vực cho giai nhân. Chúng tôi đành quay mặt đi, không dám thấy, và chỉ xin phép yếu ớt khẽ kêu lên một tiếng xuưt xoa một đôi bận mà thôi - những bận nào mũi dao của ông tỏ ra tàn bạo quá". Với một giọng văn lúc thiết tha trầm lắng, lúc sôi nổi mạnh mẽ, Bùi Giáng góp phần làm cho người đọc cảm thương nàng Kiều hơn.

Những cuốn sách đầu tiên của Bùi Giáng có lẽ bán chạy nên các nhà xuất bản bắt đầu chú ư đến ông. Những cuốn sau, Bùi Giáng không cần phải bỏ tiền ra in nữa mà ông giao bản thảo cho các nhà xuất bản in để lấy tiền. Từ lúc đó trở đi, Bùi Giáng kiếm được kha khá nhờ những khoản nhuận bút. Vừa dạy học vừa viết sách, nếu khéo thu xếp như Nguyễn Hiến Lê, hẳn ông đă tạo dựng được cơ ngơi.

Thế nhưng Bùi Giáng hầu như không giữ lại cho riêng ḿnh được cái ǵ. Một phần lớn khoản tiền nhuận bút ông đem tiêu pha rất lung tung, trong đó dành khá nhiều cho việc mua chó và khỉ về nuôi. Những người thần tượng hóa Bùi Giáng tỏ ra rất đắc ư với những việc làm khác người đó của ông.

Vào những năm về sau, khoảng gần cuối thập niên sáu mươi, ông in được nhiều sách, tiền nhuận bút cũng nhiều, ông càng tiêu tiền một cách kỳ cục hơn. Nhiều người kể có lúc thấy đàn chó của ông lên đến mấy chục con. Phạm Mạnh Hiên cho biết: "Hồi đó, sách của Bùi Giáng thường in ở nhà xuất bản An Tiêm, mỗi lần thầy Thanh Tuệ đưa tiền nhuận bút, tôi phải đi với anh Bùi Giáng. Lại lên đường ngao du nhờ cái bộ vó thư sinh hiền lành của tôi mà nhiều lần mấy cái khách sạn ở Chợ Lớn đă để cho chúng tôi cùng vào trú ngụ, bởi bên cạnh tôi có cái ông trung niên kỳ dị, ăn mặc cổ quái chẳng giống ai, lại dẫn theo cả đàn chó hay vài ba chú khỉ nhỏ"... "Ngày đó hễ có tiền là anh Giáng ra ngay khu chợ Bến Chương Dương mua cả bầy chó, cả bầy khỉ". Cái thú đi giang hồ đă làm cho Bùi Giáng “nướng” hết những khoản nhuận bút vừa nhận. Có lần say ngất ngưởng, sáng tỉnh dậy, thấy ḿnh đang nằm ở vỉa hè.

Một người quen khác của Bùi Giáng kể: "Hơn 25 năm trước, tôi thấy ông nuôi một đàn chó nhỏ, đi đâu cũng dẫn theo làm chúng sủa vang các hẻm đường, có lúc ông cho hết vào bao bố và vác trên vai làm chúng cũng muốn ngất ngư, ngộp thở, kêu hục hục trong bao. Có lần ông để quên đàn chó ở nhà bà Bé Kư cả tuần lễ làm bà Bé Kư phải nuôi ăn và chăm sóc rất mệt, hở tay ra là chúng sủa vang nhà không ai chịu nổi". Khoảng năm 1974, một người em ruột của Bùi Giáng mua được ngôi nhà ở Thị Nghè và mời ông về ở. Ông đến, dắt theo cả đàn vừa chó vừa khỉ khiến hàng xóm hết sức kinh ngạc.

 

 

Văn chương Bùi Giáng trong những cuốn sách đầu tiên

Nhiều độc giả từng biết đến một thứ văn dị thường của Bùi Giáng. Dị thường nhưng hồn nhiên trong trẻo, có lẽ đó là đặc điểm trong văn chương ông. Nhưng đă có thời văn chương ông chỉ hồn nhiên trong trẻo thôi, không có chút dị thường nào.

Hăy đọc một số tác phẩm đầu tiên của Bùi Giáng th́ biết, trước hết là những cuốn ông viết ra trong thời kỳ mới đến Sài G̣n. Chúng được đặt tựa một cách khiêm nhường, chẳng hạn Một vài nhận xét về..., xuất bản trong khoảng thời gian từ 1957 đến 1959. Những cuốn sách này được viết ra nhằm phục vụ cho học sinh trung học. Trong sách có kèm theo những đề bài tập làm văn cho học sinh luyện tập, nội dung liên quan đến các tác phẩm cổ điển của văn học Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Chinh phụ ngâm... Trên thực tế, đây là những cuốn sách thuộc thể loại giới thiệu tác giả tác phẩm, người lớn cũng có thể đọc và t́m thấy nhiều điều thú vị. Ở đây không có những ngôn ngữ kỳ dị mà ta thường gặp đầy rẫy trong những tác phẩm sau này của ông.

Hăy đọc một đoạn văn Bùi Giáng mở đầu phần bài viết về Lục Vân Tiên: "Lục Vân Tiên. Không một cuốn truyện nào đă làm xúc động tuổi nhỏ của chúng ta nhiều bằng tác phẩm của cụ Đồ Chiểu. Ngày tôi c̣n nhỏ, tôi được người vú già kể cho nghe. Kể đi kể lại măi, và tôi cứ đ̣i kể lại cho nghe hoài. Dường như mỗi lần nghe lại, lại thấy mới măi ra. Từ đó h́nh ảnh nhân vật Lục Vân Tiên cứ ám ảnh tôi luôn"... "Thế rồi ngày nay tôi lại nói chuyện Lục Vân Tiên với bà con nghe. Tất nhiên là nói sẽ dở lắm. V́ tôi không làm sao có được cái giọng của người vú già là một lẽ. Cái giọng trịnh trọng, chậm răi, cảm động, lạ lùng, sau khi đằng hắng đủ ba lần, rồi mới bắt đầu: Trước đèn xem chuyện Tây Minh. Bao giờ cũng vậy, trước khi lựa lời kể lại, bà chậm răi cao giọng ngâm mấy lời thơ đầu của cụ Đồ Chiểu. Và từ đó, cái câu Ai ơi lẳng lặng mà nghe măi măi trong tâm tư tôi sẽ c̣n vang một âm vang huyền hoặc".

Đọc những đoạn văn đó ta có thể mường tượng ra ông là một người lịch thiệp, tóc tai, áo quần tươm tất, quá khác biệt với những ǵ mà ta thường hiểu về một thứ ngôn ngữ Bùi Giáng cà riềng cà tỏi được viết ra bởi một tác giả râu ria xồm xoàm, áo quần kỳ dị. Văn chương của ông lúc bấy giờ đẹp lung linh, không hề có những ngôn từ "lai rai theo điệu du côn" như ông tự nhận sau này.

Chưa hết, hăy đọc tiếp một đoạn văn trong cuốn sách viết về Chinh phụ ngâm: "Rồi những buổi sáng, những buổi chiều, có sương, có khói, có cánh nhạn ở cuối ngàn, có mây hồng vây ải lạnh, người sẽ trở gót ra lại bên đầu cầu, nh́n lại làn nước trong như lọc, kể lể những ǵ với nước suối, tỉ tê những ǵ Ngàn dâu xanh ngày kia che khuất bóng chàng, ngày nào sẽ trả lại cho ta bóng chàng về giữa những hàng cờ bay phấp phới?".

Không chỉ bóng bẩy và hoa mỹ, ng̣i bút Bùi Giáng lúc này c̣n thể hiện sự sắc sảo, tinh tế lạ thường khi phân tích tác phẩm. Hăy đọc thêm một đoạn này nữa trong cuốn sách viết về Truyện Kiều: "Kiều đă sống một cuộc sống giống chúng ta. Nàng đă đau khổ. Như mọi chúng ta thôi. Nhiều hơn một số, và ít hơn một số. Nàng tỏ ra có thiện chí ít nhiều, và nhiều lần tội lỗi. Đời nàng tầm thường là h́nh ảnh kiếp người tầm thường. Nhưng khi kể lại đời nàng cho ta nghe, Nguyễn Du đă có một giọng điệu nhặt, khoan, trầm, bổng thế nào, và đă làm sáng ngời bài học luân lư. Chúng ta cảm động. Khi lặng nghe Nguyễn Du chậm răi giọng lời, chúng ta thấy bên kia câu chuyện tầm thường, giữa cuộc sống tối tăm, một kiếp người đương vùng vẫy. Trong tâm khảm ta, từ nay h́nh ảnh ấy sẽ in sâu, rơ nét, đậm màu"... "Giá trị luân lư của Đoạn trường tân thanh không do những hành động vụn vặt của Kiều, mà do lời thuật chuyện của thi nhân, lời đây không phải là lời văn, mà là giọng nói của một tấm ḷng. Lời nói mang nặng biết mấy tâm tư tâm linh của người dân Việt hội tụ lại ở đây, một lần duy nhất, trong sáng hơn ca dao, thâm thúy hơn tôn giáo, diễm tuyệt hơn văn chương, v́ cái giọng năo nùng của một kiếp sống dở dang trong ḷng đau thương của thế kỷ".

Tuy nhiên, những áng văn tài hoa ngời sáng đó đă lùi dần để nhường chỗ cho một loại văn chương khác hẳn - một thứ văn chương vừa tài hoa vừa kỳ dị, tài hoa hơn và ngày càng kỳ dị hơn.

 

 

Nỗi ám ảnh Nguyễn Du và Heidegger

 

Tiếp theo những cuốn sách giới thiệu các tác giả cổ điển Việt Nam, Bùi Giáng chuyển qua viết khá nhiều cuốn sách về con người, tác phẩm và tư tưởng của các nhà văn, nhà triết học phương Tây.

Đầu tiên là cuốn Tư tưởng hiện đại in năm 1960, đề cập đến Gabriel Marcel, Karl Jaspers, Albert Camus, Simone Weil, Paul Claudel, Saint Exupéry, Jean Paul Sartre, André Malraux. Cuốn sách này thể hiện một kiến thức uyên bác của tác giả, tuy Truyện Kiều thứ thiệt, thơ giả Kiều do tác giả sáng tác, thơ Tản Đà, thơ của nhiều nhà thơ khác được đưa vào đây không ít.

Năm 1963, bộ sách 2 tập dày ngót ngàn trang Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại ra đời. Đây là một cuốn sách vừa uyên thâm vừa kỳ lạ. Hăy đọc một đoạn văn ở phần Lời tựa: "Đă là con người quay chong chóng trên quả địa cầu tṛn, có một ai không cảm thấy ḿnh là lá cỏ lá rêu mù sương lá lách, lau cồn ĺa kim dứt cải…Vậy phải biết nhắm hai con mắt lại để làm một cái giây leo như Tố-Như leo khắp ḿnh mẩy Hoa Thi Đường Thi không chừa một chỗ".

Người đọc có cảm giác như ông nhảy phóc vào trong tư tưởng của triết gia này và… quậy. Xin hăy đọc đoạn văn sau đây nằm trong chương Martin Heidegger và vấn đề hữu thể: "Người yêu ta xấu với người / Yêu nhau th́ lại bằng mười phụ nhau / Nỗi niềm tưởng tới mà đau / Hàng rào giun dế gặm sâu cẳng gà / Con ơi học lấy nghề cha / Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. Tại sao một đêm ăn trộm bằng ba năm làm? Bằng ba năm hay bằng hai? Bằng hai hay bằng bốn? Một đêm mà bằng bốn năm kia ư? / Nhiều quá? – Mấy th́ vừa? – Hai năm? Ít quá? – Vừa bằng là ấy ấy ấy chính lààà BAAA. Và ta xin trở lại với nguyên ư của nguyên t́nh nguyên mộng lụy CA DAO LÀ MUÔN NĂM NGÀN ĐỜI VẠN ĐẠI NƯỚC VIỆT LÀ SƯƠNG TUYẾT KIỀU ĐẠM IN PHA: Con ơi! Nhớ lấy lời cha. Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. – Vâng. Con nhớ lời cha. Tại sao nhớ? – V́ con có nghe. – Tại sao nghe? – V́ con có thấy. – Thấy ǵ? – Thấy rơ ràng lù lù trước mặt là… - Là ǵ? Là: Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm. – Ai ăn trộm? – Sartre ăn trộm áo quần của Heidegger – Áo quần đẹp mới hay không? Đẹp mới vô ngần. Nhưng… Nhưng sao? Nhưng than ôi! Tại sao lại xảy ra cái chuyện này là cái nỗi nông kỳ bí… - Kỳ bí như thế nào? Cái nỗi nông nông nỗi ǵ? – Thưa rằng áo quần của Heidegger vốn của Heidegger th́ vốn của Heidegger mặc áo Heidegger coi ra rỡ ràng thật đẹp là Heidegger rỡ ràng quắc thước là hùng dũng Heidegger rạng vẻ cân đai Heidegger râu hùm mày ngài Heidegger hàm én đồ sộ cả cười hàm én Heidegger có nh́n đêm tế ngộ trông mặt là Heidegger trông mặt cả cười với Kiều và Thúy và Tố và Như và Nguyễn Du là ấy chính Heidegger đúng điệu thiên tài vùng vẫy trong bấy nhiêu niên đáng lẽ từ thiên thu làm nên kinh thiên động địa nếu gặp người từ lâu tri kỷ là đúng điệu tri kỷ của Heidegger…". Đoạn văn kiểu như vậy dài ngót cả mấy chục trang sách. Đọc nó người ta thấy như bước vào một mê hồn trận.

Trong hai tập sách dày hơn một ngàn trang này có rất nhiều đoạn văn như thế. Không ai có thể biên tập được những cuốn sách này. Bùi Giáng cũng biết điều đó nên trong phần mở đầu một chương của cuốn Tư tưởng hiện đại, Bùi Giáng viết: "Bài này trước kia chúng tôi đăng ở tạp chí MAI, kư tên chung với ông Hoàng Minh Tuynh. Ông Tuynh đă có nhă ư muốn bày tỏ niềm thông cảm đối với tôi là một kẻ xưa nay vốn chịu nhiều những hững hờ của độc giả. Bùi Giáng, đó là một danh từ có âm hưởng lăng nhăng, không gây được tin tưởng. Ông Tuynh đă chịu khó bỏ giúp tôi những đoạn nào tôi viết quá trớn theo điệu du côn của Sartre và loại hẳn những tiếng bê bối lai rai là những tiếng tôi quen dùng". Bùi Giáng đă cám ơn người biên tập cho ông trong phần mở đầu đó. Có lẽ đây là người duy nhất biên tập văn Bùi Giáng, và nhờ đó cuốn sách này trở nên gọn gàng, ta có thể hiểu được một số nội dung mà Bùi Giáng đưa ra. Nhưng bởi v́ ông Tuynh là đồng tác giả. C̣n nếu biên tập viên th́ không thể làm được như ông Tuynh.

Có một số người Bùi Giáng nhắc lại măi trong những trang viết của ḿnh như là một nỗi ám ảnh. H́nh bóng họ đă ăn sâu vào tiềm thức ông do những ấn tượng mạnh mẽ lúc ban đầu. Khi bệnh t́nh bộc phát, những h́nh bóng đó sẽ xuất hiện trở lại trong văn thơ ông theo những cách khác nhau. Trên lĩnh vực tri thức, đại thi hào Nguyễn Du và triết gia người Đức Martin Heidegger được ông lặp lại nhiều nhất.

Khi bước vào con đường nghiên cứu, Bùi Giáng quan tâm đến Nguyễn Du đầu tiên cùng với một số tác giả cổ điển khác. Chúng ta nhớ lại, cuốn Một vài nhận xét về Truyện Kiều và Truyện Phan Trần được ông viết vào năm 1957 thật sáng trong mạch lạc. Kể từ đó, thiên tài Nguyễn Du bắt dầu "nhập hồn" Bùi Giáng. Ước tính có đến cả ngàn lần Bùi Giáng nhắc tên Nguyễn Du. Trong thơ, trong văn, trong giới thiệu tư tưởng và triết học, thậm chí cả trong những bản dịch tiểu thuyết nước ngoài… đâu đâu ta cũng bắt gặp h́nh bóng Nguyễn Du. Bùi Giáng c̣n sáng tác nhiều bài thơ về Nguyễn Du. Một số bài thơ khác không liên quan, th́ ông lại đề tặng Nguyễn Du.

Tuy nhiên, không phải như thế là Bùi Giáng sẽ dành những câu chữ hay ho nhất để viết về "cố nhân" của ḿnh. Ngược lại, phần lớn những bài thơ viết về Nguyễn Du đều rất cà rỡn. Ta hăy đọc vài đoạn thơ Bùi Giáng viết về Nguyễn Du. Đây là một đoạn trong bài Nhớ ông: "Nhớ hoài ông Nguyễn ông Du / Ông Như ông Tố Điếu Đồ biển Nam / Hồng Sơn Liệp Hộ hội đàm / Hồng Sơn sơn nguyệt minh quang một ḿnh". Hoặc một đoạn khác trong bài Tố Như nhớ quê: "Tôi nay lăo nhược hơn ông / Tôi ngoài bảy chục thong dong một mười / Ông chưa tới tuổi sáu mươi / Ĺa đời lúc mới tuổi ngoài năm lăm".

Đó là trong thơ. V́ thơ th́ không phải lúc nào cũng đưa được một người nào đó vào măi nên sự xuất hiện của Nguyễn Du cũng có giới hạn. Nhưng trong văn xuôi th́ Bùi Giáng liên tục đưa Nguyễn Du vào. Đi sâu vào các trang sách của Bùi Giáng, ta thấy Nguyễn Du xuất hiện dày đặc. Khen thơ Hồ Dzếnh, Bùi Giáng viết: "Cũng may cho ông Nguyễn Du sinh ra ở thế kỷ trước. Nếu sinh ra đồng thời với Hồ Dzếnh, ắt ông Nguyễn Du không c̣n chịu viết Đoạn Trường Tân Thanh làm ǵ". Viết về một câu chuyện không đâu vào đâu, Bùi Giáng cũng lại nói về Nguyễn Du: "Lại cũng như ông Nguyễn Du ham có hơn ba trăm năm sau có kẻ khóc ḿnh. Có một mẫu thân Phùng Khánh cho con bú trong hiện tại đă đủ rồi, hà tất phải dỗ con nín khóc ba trăm năm sau". Viết về Albert Camus, Bùi Giáng cũng không quên Nguyễn Du: "Rồi những điều Nguyễn Du nói với ma, th́ quỷ lại tưởng là nói với quỷ. Những điều Nguyễn Du nói với quỷ, th́ thần thánh lại tưởng là nói với thánh thần. Những ngộ giải chạy tràn lan. Quỷ không hài ḷng về Nguyễn Du, thần thánh bực bội v́ Nguyễn Du". Trong những cuốn sách như Mùa thu trong thi ca, Thi ca tư tưởng, Đường đi trong rừng… cứ một đôi trang là ta bắt gặp h́nh ảnh Nguyễn Du hiện lên qua cái lăng kính hài hước của Bùi Giáng: "Nguyễn Du không kinh hoàng nhảy lui. Cũng không bị tẩu hỏa nhập ma, vùng vẫy rú lên một tiếng như Zarathustra also sprach. Ông điềm nhiên làm Nam Hải Điếu Đồ. Kẻ câu ấy câu cái ǵ tại Nam Hải?"… "Và đó cũng là duyên do kỳ dị thiên biến vạn hóa đă khiến Nguyễn Du mở một trận Ẩn Tàng kỳ bí cổ kim bằng cách: cả hư không đặt để nên lời, cả nỗi đêm khép mở nỗi ngày riêng chung của song trùng tịch hạp thượng thừa huyền môn tâm pháp – Nguyễn Du đều đem gán vào môi miệng Bạc Bà Tú Bà"…

Bùi Giáng c̣n có cái thú làm thơ giả Kiều để kư tên chung Bùi Giáng – Nguyễn Du hoặc Bùi Giáng – Tố Như. Đó là những đoạn lục bát chen vào giữa những đoạn văn xuôi, có tí chút "chất Kiều". Trong cuốn Martin Heidegger và tư tưởng hiện đại có nhiều đoạn giả Kiều rất dài. Những câu giả Kiều ấy có khi sai cả vần sáu tám.

Cùng với Nguyễn Du là Heidegger. Ông này cũng xuất hiện rất nhiều trong các trang viết của Bùi Giáng, không kém ǵ Nguyễn Du. Không rơ triết gia người Đức này "nhập hồn" Bùi Giáng lúc nào mà đến năm 1963, khi Bùi Giáng viết bộ sách hai tập Martin Hedegger và tư tưởng hiện đại th́ đă thấy ông bị "tẩu hỏa nhập ma" bởi triết gia này rồi. Bùi Giáng đă viết đến năm sáu cuốn sách liên quan đến Heidegger. Nhưng như thế vẫn chưa thỏa măn, ông lại đưa triết gia này vào trong rất nhiều cuốn sách khác. Tuy nhiên khác với Nguyễn Du, Bùi Giáng ít dám "sờ cằm vuốt râu" Heidegger, dù đôi lúc cũng cà rỡn kiểu như: "Ông Cụ Già Nua Nước Đức Heidegger", "Heidegger Đức Quốc Nua Già". Người ta có cảm giác Heidegger được ông kính nể như một người thầy c̣n Nguyễn Du th́ ông mến yêu như một người ông vậy…

 

 

Vị trí hai người đẹp Kim Cương và Marilyn Monroe trong ḷng Bùi Giáng

Bùi Giáng yêu cũng thật lạ lùng. Trong ḷng ông có rất nhiều người đẹp, nữ nghệ sĩ Kim Cương và diễn viên điện ảnh Mỹ Marilyn Monroe chiếm một vị trí đặc biệt. Đối với hai người này, Bùi Giáng mạnh dạn nói năng mà không hề e ngại điều ǵ. Bởi trong tâm thức ông, họ là hiện thân của cái đẹp nhân gian.

Hiện có rất nhiều giai thoại về chuyện Bùi Giáng mê Kim Cương, nhưng có lẽ ta cũng không cần t́m hiểu rằng chúng thật giả bao nhiêu phần trăm, bởi điều đó không mấy quan trọng. V́ như trường hợp Marilyn Monroe, một người ở tận bên kia đại dương mà vẫn nhập vào hồn ông được, huống ǵ là Kim Cương tài sắc ở ngay tại Việt Nam.

Kim Cương là đối tượng số một của Bùi Giáng. H́nh bóng của người đẹp này dường như thường trú trong vô thức của ông chứ không phải thỉnh thoảng mới hiện ra như một số người khác. Bùi Giáng đă dùng mọi cách biểu đạt kỳ quái nhất để nói về Kim Cương. Bài thơ sau đây hẳn sẽ làm cho một số độc giả nữ cảm thấy "kỳ kỳ" nhưng đồng thời nó cũng cho thấy sự ám ảnh kinh khủng của người đẹp Kim Cương đối với ông. Đó là bài Cô Kim Cương ơi, in trong tập Sa mạc phát tiết, nguyên văn như sau: "Nếu ngày sau tôi chết đi, mà cô không thể giỏ cho một giọt nước mắt/Th́ cô có thể giỏ cho một giọt nước tiểu cũng được/(Nhớ giỏ ngay trên nấm mồ)/Ở dưới suối vàng tôi sẽ ngậm cười mà đón nhận/(Ngậm cười chín suối hăy c̣n thơm lây)". Thật là một bài thơ không thể nào tưởng tượng nổi.

Nhưng không chỉ có vậy. Trong cuốn sách Con đường ngă ba, Bùi Giáng c̣n bị ám ảnh dữ dội hơn nhiều. Suốt mấy trang liền, ông nhắc đi nhắc lại "lời đề nghị" ở trên: "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ. Thiên tài buổi Hoàng Hôn thốt một lời như thế. Nhưng Vũ Lâm Xuân của Thệ Đa Lâm vẫn không thể trùng sinh trên đống xương tơi tả của ḿnh..."... "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ. Đó quyết nhiên là lời rốt ráo tối hậu. Không cách ǵ nói khác. Nấm mồ tại hạ. Không thể đổi tiếng đó ra làm một tiếng nào khác. Hăy đi tiểu. Có thể nào đổi tiếng đi tiểu ra làm một tiếng khác..."... "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ vẫn vĩnh viễn là ngôn ngữ tuyệt trù bất tận thi nhiên. V́ chỉ nói như vậy th́ ngàn vạn năm sau riêng h́nh ảnh cô Kim Cương sẽ vĩnh viễn đi về Trong Tháng Ba Lễ Hội để giải oan cho Tượng Vương hồi xứ Hoa Nghiêm Kinh..."... "Cô Kim Cương hăy đi tiểu trên nấm mồ tại hạ là sự vụ cần yếu ban sơ cho cuộc tối sơ đi về hủy thân giữa trần thổ. Cô Kim Cương vén xiêm đi tiểu xong rồi, th́ từ nấm mồ của trần thổ hủy thân đó sẽ nảy nở ra cuộc đầu thai nơi núi đá...". Cứ một ư như vậy mà Bùi Giáng nói dông nói dài măi. Nhưng sau đó, cách khoảng mấy trang, Bùi Giáng lại đổi ư, không muốn giữ lời đề nghị trên nữa: "Hỡi mẫu thân Kim Cương! Mẫu thân hăy dừng cuộc đi tiểu trong một thời gian để suy ngẫm trở lại xem có thể tạo ra một vũ trụ khác để đi tiểu".

Chúng ta không cần quan tâm đến ư nghĩa của từng câu chữ. Nhưng chúng mang cái ư nghĩa tổng quát, đó là sự ứng xử của vô thức đối với từng khái niệm. Ở đây là sự ứng xử với cái đẹp khác giới tính của thi sĩ trong trạng thái tâm thần không b́nh thường.

Theo sau Kim Cương, Marilyn Monroe cũng được Bùi Giáng mê cuồng. Ông đă sáng tác một số bài thơ về người đẹp này. Ta hăy đọc bài Trời khóc Marilyn để xem Bùi Giáng viết về người đẹp này như thế nào: "Trời xanh úp mặt nghe tin/Thôi rồi! Em Má Ri Lyn đi rồi/Từ đây ta bỏ ngai trời/Thu thời gian đập tơi bời càn khôn/Giữa hư vô nếu em c̣n/Nhớ ta em gửi cái hồn cho ta/Úp môi ôm mặt khóc ̣a/Cồn lê lên miệng là ba bốn lần".

Đó là bài thơ ông in trong tập Hoa lá cồn, xuất bản năm 1963. Sau đó trong phần Mưa nguồn ḥa âm, ông lại viết một bài thơ với cái tựa cũ là Trời khóc Marilyn. Bài thơ có mấy chục câu bắt đầu từ chữ luống, một loạt câu khác bắt đầu từ chữ một. Bài thơ này có một số câu chữ đi vượt quá giới hạn "đố tục giảng thanh", không thể trích dẫn vào đây được. Nhưng nó cho thấy rơ cái cách mà Bùi Giáng tŕnh bày về cái đẹp trần tục theo cảm hứng của ông.

Có lẽ nói măi cũng không hết được chuyện Bùi Giáng làm thơ về những người đẹp. Cho nên ta hăy đọc mấy câu thơ mà ông "phân loại đánh giá người đẹp" trong bài Quốc sắc Việt Nam sau đây: "Nam Phương Hoàng hậu đẹp một cách thong dong/Kim Cương Nương tử đẹp một cách thoải mái/Hà Thanh Công chúa đẹp một cách cởi mở/Trí Hải Ni cô đẹp một cách không lời". Bài thơ này c̣n dài nhưng chỉ trích dẫn chừng này câu cũng đủ cho thấy "vị giám khảo cuộc thi Người đẹp Việt Nam" này có con mắt tinh đời lắm.

 

 

Những người phụ nữ đẹp thoát trần

Không chỉ có Kim Cương và Marilyn Monroe, Bùi Giáng c̣n say đắm nhiều phụ nữ khác. Mỗi người một vẻ, họ hiện ra trong nhiều màu sắc kỳ bí khác nhau. Đó không phải là những nàng thơ theo nghĩa thông thường mà là hiện thân của cái đẹp.

Một cách vô thức, Bùi Giáng phân biệt họ theo những tiêu chí khác nhau. Những người đầu tiên có thể kể đến là Hoàng hậu Nam Phương và ni cô Trí Hải. Khác với nghệ sĩ Kim Cương và cô đào rực lửa người Mỹ Monroe Marilyn là hiện thân của cái đẹp nhân gian trần tục, hai người này thuộc về thế giới của cái đẹp thoát trần.

Một ngày nọ, Bùi Giáng nhận được một phong b́ gửi đến, trên có dán con tem in h́nh Nam Phương Hoàng hậu. Sự kiện nhỏ nhoi ấy lập tức gây xúc động lớn với ông. Từ lúc đó, Hoàng hậu Nam Phương trở thành một h́nh bóng ám ảnh ông. Bà bắt đầu xuất hiện trong các trang viết của thi sĩ. Trong cuốn Mùa thu trong thi ca Bùi Giáng viết: "Suốt bao năm dài tại hạ làm thơ, chung quy chỉ v́ cái màu xuân xanh bất tuyệt ban sơ của Dương Hoàng Hậu. Màu xuân ấy đă một lần tái sinh cách đây ba mươi năm trong h́nh hài máu me Nam Phương Hoàng hậu. Tại hạ yêu Dương Quư Phi bao nhiêu th́ cũng yêu Nam Phương Hoàng Hậu bấy nhiêu".

Mặc dù Bùi Giáng luôn tôn kính Nam Phương, nhưng ông cũng hài hước, cà rỡn, lan man trên h́nh ảnh của bà cũng bởi tính của ông như vậy. Tuy nhiên, Bùi Giáng cố gắng giữ "chuẩn mực", không bao giờ đi quá đà. Một đôi khi ngẫu hứng quá th́ ông cũng chỉ viết như thế này: "Chiêm bao anh thấy Hoàng hậu Nam Phương dắt tay Marilyn Kim Cương nương tử tới gơ cửa xin vào thăm viếng anh th́ anh bảo rằng anh đang bận viết lá thư cho em nên không thể nào đón tiếp Hoàng hậu được th́ cảm phiền Hoàng hậu hăy lui gót chờ qua ngày mai anh sẽ ân cần chiếu cố".

Bùi Giáng cũng có sáng tác một đôi bài thơ về Nam Phương. Trong bài Chiêm bao Nam Phương Hoàng hậu, dù là một bài thơ thuộc vào thể "điên loạn", nhưng ông vẫn đủ "tỉnh táo" để ng̣i bút không chệch qua chỗ thiếu đứng đắn: "Kê bô tí xí đêm đà/Ki ba ri xí i à xán da/Xă dan xoàng xĩnh giang hà/Ồ mô pha cố cồ ri xa ́/Tử t́ mỉm tí t́ ti/Miệng vàng hợp nhất nhu ḿ nhị biên/Ra sông ngồi ngó diện tiền/Ngần sương sái diện uy quyền nữ vương".

Bên cạnh Hoàng hậu Nam Phương, ni cô Trí Hải xuất hiện trong các trang sách Bùi Giáng một cách khá dày. Bà là một người có tŕnh độ uyên thâm, tác giả của một số đầu sách. Có lúc Bùi Giáng gọi bà là Trí Hải ni cô, có lúc gọi là mẫu thân Phùng Khánh. Bùi Giáng làm rất nhiều bài thơ về bà. Có thể kể tên một số bài như Mẹ Phùng Khánh, Kính tặng Phùng mẫu thân, Mẹ Phùng Thăng Khánh, Phùng Khánh Mẫu Thân...

Rất nhiều người thắc mắc v́ sao Bùi Giáng gọi người này là mẹ, là mẫu thân. Bùi Giáng cũng từng "giải thích" chuyện đó trong Thi ca tư tưởng như sau: "Phùng Khánh vốn là bà mẹ Việt Nam. Tôi lại là con dân Việt Nam. Vậy th́ tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ, th́ chẳng ra tôi là người Lào? Hoặc là người Cao Miên? Hoặc con dân Âu Mỹ ư ? Huống nữa là: Phùng Khánh là bà mẹ loài người. Vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi. Nếu tôi không phải là con của Phùng Khánh, th́ chẳng ra tôi chẳng phải con người? Chẳng ra tôi là con vật?".

Có lẽ Bùi Giáng đă t́m thấy nơi người nữ tu này điều ǵ đó gần gũi với h́nh bóng người mẹ xa xưa của ông, hoặc là tấm ḷng nhân ái của bà làm ông cảm động, hoặc là trí tuệ mẫn tiệp của bà khiến ông nể phục... V́ một trong những lư do nào đó mà ta không thể đoan chắc được, thi sĩ bật ra tiếng gọi mẹ trong vô thức một cách da diết. Những bài thơ của ông v́ thế đọc lên thấy vừa tức cười vừa tội nghiệp: "Mẹ c̣n nhớ nữa con chăng/Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên/Tuy đôi phen chết nếp nền/Cung vang lừng bậc điệu đền bù xoang/Mẹ về ngơ vắng vườn hoang/Thừa thiên sông lạnh kéo sang khu rừng"..."Mẹ nh́n con nữa c̣n chăng/Mẹ đi đứng gót mẹ hằng hằng qua/Lúc vui buồn mẹ nhớ nhà/Quận châu xứ sở con đà lăng quên/Phùng thăng mẹ chớ xui nên/Từng cơn điên dại khôn đền cho con"... "Nghe tin con chết giữa đường/Mẫu thân Phùng Khánh càng thương con nhiều/Con bèn tái điệp giấn liều/Chết thêm một trận hoang liêu song trùng/Mẹ càng bất tuyệt nhớ nhung/Ngày đêm mẹ khóc vô cùng v́ con"... "Con thương Phùng Khánh vô ngần/Phùng thăng thân mẫu cũng gần như nhiên/Nguyệt rừng lộng lẫy man nhiên/Trăng ngàn thơ dại ngậm nghiêng nghiêng vành"...

Những câu thơ này, dù không được b́nh thường, nhưng nó lại gieo vào ḷng người đọc một nỗi niềm man mác. Phải chăng trong tiếng gọi mẹ thiêng liêng ấy là một sự cô độc tận sâu thẳm hồn người ? Nhưng Bùi Giáng là như vậy. Trong suy tư, trong cảm xúc, trong cuộc đời... ông lúc nào cũng hồn nhiên như con trẻ.

 

Một năng lực phi thường của kẻ suốt ngày rong chơi

Con người rong chơi suốt ngày này đă để lại cho đời một khối lượng tác phẩm đáng kinh ngạc. Tổng số sách Bùi Giáng viết hoặc dịch đă được in lên tới trên dưới 70 cuốn. Làm sao ông có thể tạo ra một khối lượng tác phẩm đồ sộ như vậy trong khi không ai thấy ông làm việc cả? Do Bùi Giáng viết với tốc độ quá nhanh chăng? Quả là như vậy thật. Câu chuyện do một nhà văn gần gũi với Bùi Giáng trước năm 1975 kể sau đây quả là kỳ lạ.

Nhà văn này cho biết, khi một tạp chí văn học thực hiện số chuyên đề về Bùi Giáng vào năm 1973, ông được phân công giới thiệu những bài thơ mới nhất mà Bùi Giáng sáng tác. Những bài vở khác của số tạp chí đó đă được những người khác thực hiện xong, chỉ c̣n chờ đợi những bài thơ của Bùi Giáng thôi. Nhưng Bùi Giáng sống rày đây mai đó, không có một địa chỉ nào cố định, biết ông ở nơi đâu mà t́m. Thật là nan giải. Đang loay hoay chưa biết kiếm t́m ở đâu th́ thi sĩ bất ngờ ghé vào ṭa soạn. Trước mắt mọi người là một bộ da bọc xương trong quần áo rộng thùng th́nh, một mái tóc dài đạo sĩ rối như tổ quạ, một cái túi vải cộng với một cây gậy. Nhà văn mỉm cười kéo Bùi Giáng ra trước ṭa soạn chụp chung một tấm h́nh làm kỷ niệm rồi mới hỏi xin ông những bài thơ mới nhất. Bùi Giáng gật đầu đồng ư liền.

Tưởng rằng Bùi Giáng sẽ lấy những bài thơ đă chép sẵn ở túi vải ra hoặc nếu không có sẵn th́ ông nói để chờ ông về nhà lấy đem tới liền hoặc là ông sẽ khất hôm sau đem thơ đến. Nhưng tất cả mọi dự đoán đều không đúng. Bùi Giáng chỉ hỏi mượn ṭa soạn một cây bút, xin một xấp giấy và một... chai bia. Xong rồi ông bắt đầu ngồi xuống bàn. Và ông viết. Không phải là ông ngồi nhớ để chép lại những bài thơ làm từ hôm qua hôm kia hoặc tuần trước, mà là ông ngồi để sáng tác thơ ngay tại chỗ.

Bấy giờ mọi người mới kinh ngạc nh́n nét bút, trong tay ông "thoăn thoắt, vùn vụt, nhanh không thể tả", và những câu thơ lần lượt hiện ra trên giấy mà theo lời nhà văn trên là "như thơ không thể từ đầu, từ tim chảy xuống, xa quá, lâu quá, mà ngay từ ngọn bút, từ đầu ngón tay thôi". Chai bia c̣n sủi bọt th́ Bùi Giáng c̣n ngồi viết không ngừng. Thơ cũng tuôn ra không ngừng trên những trang giấy. Nét chữ cũng nắn nót chỉn chu chứ không phải gạch đi xóa lại. Sau khi chứng kiến "gă phù thủy" Bùi Giáng sáng tác thơ ngay tại chỗ, nhiều người trong ṭa soạn bấy giờ mới hiểu được một phần bí ẩn của con người ông. Một người khác chứng kiến chuyện này tâm sự: "Lần đó, tôi đă thấy, đă hiểu tại sao Bùi Giáng cứ cánh bướm rong chơi, cứ phiêu bồng lăng du mà vẫn có ngay ngh́n câu một buổi. Đúng là ngủ ra thơ, thở ra thơ, uống la-de, hút thuốc lá ra thơ".

Sau khi sáng tác đủ đơn đặt hàng của ṭa soạn, Bùi Giáng uống cạn chai bia, cười và lặp lại ba tiếng cửa miệng "vui thôi mà", rồi đứng lên đi thẳng. Bùi Giáng ra khỏi ṭa soạn mà mọi người vẫn c̣n ngồi ngẩn ra đó, ai nấy đều chưa hết bàng hoàng kinh ngạc.

Quá tŕnh tư duy và lao động sáng tạo trong con người Bùi Giáng như thế nào? Ông đă h́nh thành những tứ thơ ra sao? V́ sao ông có thể tuôn ra được những câu thơ mà không cần suy nghĩ? Đó là những câu hỏi mà rất nhiều người ṭ ṃ muốn biết nhưng có lẽ không ai t́m hiểu được. Ông Huỳnh Ngọc Chiến, một người quen biết với Bùi Giáng kể, một lần nọ có mấy người bạn Quảng Nam cùng ngồi uống cà phê với Bùi Giáng, một người rất ái mộ Bùi Giáng ṭ ṃ hỏi ông thường làm thơ như thế nào, th́ Bùi Giáng cười và nói: "Qua làm thơ cũng giống như em là kỹ sư mà làm toán lớp ba rứa thôi". Theo ông Huỳnh Ngọc Chiến th́ lúc đó Bùi Giáng trả lời rất thành thật, chẳng có một chút biểu hiện cao ngạo nào cả. V́ thế có thể tin lời Bùi Giáng rằng với ông, làm thơ là một công việc dễ dàng, đơn giản như ta làm toán cộng toán trừ, đặt bút vào là làm chứ không cần phải suy nghĩ.

Chính nhờ khả năng viết nhanh đó mà Bùi Giáng đă cho ra đời một khối lượng tác phẩm đồ sộ như trên. Giai đoạn ra sách nhiều nhất của Bùi Giáng là khoảng từ năm 1964 đến năm 1970. Riêng năm 1969 Bùi Giáng cho ra đời đến mười cuốn sách. Cũng trong những năm này có những người đứng ra thành lập nhà xuất bản với mục đích chủ yếu để in tác phẩm của Bùi Giáng.

 

 

Bùi Giáng có phải là một người điên không?

 

Từ trước đến nay có rất nhiều người đặt câu hỏi: Bùi Giáng có phải là một người bị mắc bệnh điên hay không? Cũng đă có rất nhiều bài viết về Bùi Giáng đề cập đến vấn đề này, trong đó một số tác giả khẳng định Bùi Giáng là người điên trong khi một số khác lại nói ngược lại.

Trong một bài viết, tác giả Trần Đới khẳng định: "Một sự thực là Bùi Giáng chưa bao giờ điên. Cũng như anh chẳng bao giờ giả điên. Càng chưa bao giờ Bùi Giáng bất măn trước bất cứ thời thế nào. Bởi lẽ dễ hiểu là Bùi Giáng chẳng sống theo thời thế, mà chỉ biết sống từ cơi văn nghệ lúy túy càn khôn của anh. Thời kỳ của Bùi Giáng bộc phát ra bên ngoài mà chúng ta gọi là điên, ấy là thời kỳ tỉnh lại và hưng phấn cùng độ của người nghệ sĩ. Tất cả lẽ chân thiện mỹ của nghệ thuật thi ca từ nhiều đời nhiều kiếp đều dồn về lúc đó... Bây giờ người thi sĩ này chỉ c̣n một cách duy nhất để sáng tác nguồn cảm hứng kia là sống".

Một người khác, ông Nhất Thanh, th́ viết như thế này: "Ồ, chẳng có ngôn từ nào thích hợp với Bùi Giáng cả. Ông chỉ là một ông già b́nh thường nhất, dễ thương nhất. Nếu có điên chăng, có lẽ là tất cả chúng ta".

Bùi Giáng hiển nhiên cũng biết việc nhiều người tranh căi nhau rằng ông có điên hay là không điên. Ông đă tự viết về ḿnh như sau: "Nó điên? Vâng nhưng điên một cách vui vẻ. Bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên. Có kẻ bảo rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên, hay giả vờ điên, th́ trước hết phải đáp vào câu hỏi: Sao gọi là điên? Nhưng mà? Nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có một lời giải đáp dưới gầm trời và suốt xưa nay vậy".

Đọc đoạn đó của ông người ta thấy hơi bối rối. Vậy th́ Bùi Giáng là người như thế nào? Ông là một người điên hay là một người b́nh thường? Nhưng có một sự thật không thể chối căi: Bùi Giáng đă từng là bệnh nhân của bệnh viện tâm thần hẳn hoi. Năm 1969 là năm ông in được nhiều tác phẩm nhất nhưng cũng là năm mà ông vấp phải cú sốc lớn thứ hai trong đời. Bùi Giáng bị hỏa hoạn thiêu cháy hết toàn bộ sách vở quư hiếm, một số tranh và đặc biệt nhiều bản thảo hoàn chỉnh mà ông rất tâm đắc. Con người hồn nhiên của Bùi Giáng có lẽ không bị sốc v́ chuyện này, nhưng sau đó người thân của ông phải đưa ông vào Bệnh viện Tâm thần Biên Ḥa để chữa trị. Cung Tích Biền kể: "Khoảng đầu thập niên 70 có lẽ người ta đưa ông vào nhà thương điên Biên Ḥa chữa cái bệnh đứng ngă ba nh́n ra ngă bảy. Từ nhà thương điên trở ra, bữa gặp nhau thấy ông rất tỉnh. Bèn hỏi một câu thường t́nh: "Nhà thương Biên Ḥa trị cái tẩu hỏa hay nhỉ!". Ông trả lời tỉnh queo: "Chữa trị quái ǵ đâu. Chẳng là ở ngoài ḿnh thấy ḿnh điên số một, khi vô nhà thương điên mới hiểu ra ḿnh là đồ bỏ, điên nhí, điên tiểu thủ công nghiệp; trong nhà thương điên nhiều cha điên thượng thừa, điên vĩ đại hơn ḿnh nhiều. Do vậy mà ḿnh tự động thôi điên".

Nghe Bùi Giáng nói như thế, hẳn người ta cảm thấy ngờ ngợ rằng những việc làm không giống ai của ông là do ông muốn thế chứ chẳng phải do bệnh tật ǵ gây ra. Nhà văn Đào Hiếu viết: "Cũng có thể hiểu Bùi Giáng như thế này: Ông coi đời là hữu hạn, là phi lư, là chốn lưu đày, là cơi phù du là cái mớ ḅng bong vớ vẩn...".

Chung quanh vấn đề Bùi Giáng, có hai điều cần nêu ra sau đây. Một là, không phải chỉ có ḿnh Bùi Giáng vừa có những biểu hiện tâm thần vừa làm thơ viết văn. Có rất nhiều bệnh nhân của các bệnh viện tâm thần là nhà văn, nhà thơ, họa sĩ... Họ có thể vẽ tranh, sáng tác văn thơ ngay trong thời gian điều trị bệnh. Có điều họ không có sẵn cái gốc tài năng xuất chúng như Bùi Giáng nên không trở thành hiện tượng đặc biệt mà thôi.

Hai là, những hành vi khác người của Bùi Giáng đă được các nhà chuyên môn xác định có nguyên nhân bệnh lư hẳn hoi chứ không phải là vấn đề tư tưởng hay nhân sinh quan ǵ cả. Có điều, v́ ta thấy cái điên của ông cũng hơi khác người nên cảm thấy ngờ ngợ. Nhưng dần dần ta sẽ được rơ hơn khi xem xét đến các vấn đề khác. Cần biết rằng, không riêng ǵ Bùi Giáng mà nhiều bệnh nhân tâm thần khác, tiếp xúc với họ đôi khi ta cũng dễ nhầm lẫn v́ thấy họ có vẻ thật thật giả giả, nửa điên nửa tỉnh. Cho nên chúng ta không thể kết luận được về t́nh trạng của họ mà phải là các nhà chuyên môn.

Không ai biết Bùi Giáng, đọc Bùi Giáng mà không yêu mến ông. Đó là sự thật. Gọi ông là người tỉnh cũng được, điên cũng được, dù là tỉnh hay điên ông cũng đă để lại cho đời những vần thơ mênh mang trác tuyệt. Ông mở ra một thế giới thi ca cao vời, ảo diệu. Nói như một người từng gần gũi với ông: "Nhiều người bảo ông chỉ là một thằng điên. Tôi chỉ muốn nghĩ thầm cho tôi là nếu có được thêm ít người điên như Bùi Giáng, thơ ca ta c̣n được lạ lùng được kỳ ảo biết bao nhiêu". Quả đúng như vậy !

 

 

Ngày tháng ngao du

 

Năm 1970, Bùi Giáng được các bác sĩ ở Bệnh viện Tâm thần Biên Ḥa cho xuất viện. Ngay trong năm đó, ông đă in hai cuốn sách là Biển Đông xe cátMùa thu trong thi ca. Qua năm 1971 ông in Ngày tháng ngao du. Lúc này ông cũng đă bắt đầu ngao du thực sự trên khắp những nẻo đường Sài thành chứ không chỉ ngao du trong các trang sách.

Phạm Xuân Đài một người gần gũi với Bùi Giáng kể: "Bây giờ anh ít làm thơ lắm, c̣n các cơn điên th́ viếng anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện vùng chợ Trương Minh Giảng, chỗ Đại học Vạn Hạnh là nơi ngày xưa anh từng trú ngụ, đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng. Anh đang thể hiện một năng lực nào đấy đang đầy ắp trong người anh. Có khi anh múa may trong một lớp áo ḷe loẹt, động tác mạnh mẽ chính xác gần như múa vơ, miệng ḥ hét như đang nạt nộ với một đối tượng vô h́nh đang hiện diện ngay trước mặt ḿnh. Đêm khuya một hai giờ sáng người ta nghe thấy một người đi vừa tranh luận với chính ḿnh, lời lẽ khó hiểu, th́ ai nấy đều biết đó là Bùi Giáng".

Năm 1972 ông in khá nhiều sách: Đường đi trong rừng, Lời cố quận, Lễ hội tháng ba, Con đường ngă ba - Bước đi của tư tưởng. Năm 1973 in Bài ca quần đảo, Hoàng tử Bé. Năm 1974 in Mùi hương xuân sắc.

Khi không làm ǵ, ông lại ngao du nhiều hơn. Một người quen biết khác với Bùi Giáng, ông Nguyễn Văn Thức kể lại như sau: "Có một lần gặp một người bạn, người bạn đó đă nói với tôi: Bùi Giáng dạo này điên lắm. Tôi bán tín bán nghi tự hỏi không biết có thật không”. Nhưng một hôm, Nguyễn Văn Thức đă tận mắt chứng kiến những ǵ xảy ra trước mắt ḿnh, mới tin lời người bạn nói lúc trước: "Một ông lăo ăn mặc thời thượng đang nhảy múa trên đường Duy Tân, nay là đường Phạm Ngọc Thạch. Quần áo lếch thếch, dơ dáy, màu sắc lung tung. Tay cầm một ống sáo, đầu đội khăn có cắm lông gà lua tua. Râu ria xồm xoàm. Ống sáo trên đầu bịt một chiếc bong bóng đỏ, mỗi lần thổi bung lên tóp xuống, không phát ra một thứ âm thanh nào. Đang từ ở một mé đường ông lại chạy tông ra giữa đường nhảy múa. Chiếc bong bóng cứ liên tiếp phùng ra tóp vào. Lũ trẻ chạy theo bu quanh ḥ reo thích chí. Cứ thế ông diễu hành dọc theo đường Duy Tân lên đường Hiền Vương, nay là đường Vơ Thị Sáu. Đám trẻ cứ bu theo ông chọc ghẹo. Ông rượt đuổi chúng chửi rủa thậm tệ và miệng lẩm nhẩm những ǵ không ai hiểu nổi. Đứng ngoài nh́n ông diễu hành, tôi thấy cám cảnh nên đă trờ xe đến gần gọi ông, nhưng ông không hề nghe vẫn tiếp tục nhảy múa. Vài đứa trẻ nh́n tôi lấy làm lạ. Tôi tiếp tục gọi ông. Lần này ông quay lại nh́n và nhận ra tôi rồi nhờ tôi chở đến nhà Đinh Cường. Khi ngồi ở sau xe tôi, Bùi Giáng trở nên hiền khô. Tôi thấy hai đ̣n bánh treo ṭn teng ở cổ kỳ kỳ. Bùi Giáng hiểu và cho tôi hay là mẹ Trịnh Công Sơn vừa mới cho".

Và đây là một cảnh tượng khác xảy ra trên đường phố Sài Thành mà "diễn viên chính" không ai khác hơn ngoài thi sĩ của chúng ta: "Bùi Giáng nhảy múa trước Bệnh viện Nhân Dân Gia Định đường Nơ Trang Long quận B́nh Thạnh. Ông cầm một cây đu đủ khô queo dài cỡ hơn hai mét. Lúc nào cũng vung cây đu đủ lên nhảy múa, quần áo vẫn lôi thôi, chằng vá đơn kép, màu sắc linh tinh. Đám trẻ con, người lớn bu vào. Giữa đám đông ấy tôi đến gần Bùi Giáng, vỗ vai ông: Nhảy múa ǵ măi vậy, ông? Nghe hỏi, ông quay phắt lại phía tôi, nhếch cặp mắt trắng dă, dữ tợn với dáng vẻ thủ thế. Tôi mỉm cười cầu ḥa. Khi nhận ra tôi - vẫn một tên trung niên ông đă từng gặp: À, mày, mày cho tao về xóm gà đi. Vào nhà tao chơi. Không cần ǵ phản ứng của tôi, ông nhảy phóc lên yên sau xe đạp. Lúc này xe gắn máy của tôi đă mất nên chở ông rất khó khăn, vả lại trên tay ông đang cầm một cây đu đủ dài hơn hai mét. Bùi Giáng và tôi đang là tṛ cười cho đám đông. Tôi nói là bận không thể chở được. Ông nói như phán: Cứ đi đi, chở cây này về dùm tao. Bùi Giáng cứ gác gốc cây đu đủ lên tay lái xe đạp, ngọn th́ ông đặt lên vai. Ông lại phán: Đi mày ! Giây phút này tôi bỗng trở nên một gă hề, rất hề. Giá ông đọc vài câu thơ Pháp lên giọng rồi xuống giọng th́ tuyệt. Nhất định là một sân khấu ngoài trời. H́nh ảnh này tôi đă gặp nhiều lần ở quán cà phê Huy Tưởng. Tôi cố sức đạp đi mà không nổi, v́ lỉnh kỉnh quá. Vài người trong đám đông đề nghị, đi xích lô thôi. Tôi đồng ư ngay. Bùi Giáng th́ lưỡng lự. Nhưng trời xui đất khiến ông cũng nhảy xuống. Tôi đưa ông ít tiền để ông đi xe, nhưng ông chỉ lấy một nửa trước sự ngạc nhiên của tôi và nhiều người..."

Nói về chuyện ngao du của Bùi Giáng, Phạm Xuân Đài kinh ngạc: "Cái ông già gầy g̣ ngoài sáu mươi ấy lấy đâu ra sức lực để trải qua các cơn điên dữ dội của ḿnh? Đấy là một điều bí ẩn. Đi lang thang hàng chục cây số bất kể nắng mưa, múa may la hét suốt mấy ngày liền, kẻ lực sĩ chưa chắc đă làm được".

 

 

Dịch giả tài hoa nhưng không b́nh thường

Le petit Prince, một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất thế gian của nhà văn Pháp Saint Exupéry, cuốn sách được coi là bài thơ bất hủ ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn con người, bản dịch tiếng Việt đầu tiên của cuốn sách tuyệt vời đó là của Bùi Giáng với cái tên Hoàng tử bé. Hàng triệu người Việt Nam qua nhiều thế hệ đă yêu mến Hoàng tử bé qua ng̣i bút hồn nhiên lăng đăng của Bùi Giáng.

Trong các năm từ 1966 trở đi, Bùi Giáng dịch rất nhiều tác phẩm văn học của các nhà văn nổi tiếng nước ngoài. Mảng sách này chiếm một tỷ lệ khá lớn trong những cuốn sách của Bùi Giáng. Ngoài các tác phẩm của Saint Exupéry, Bùi Giáng c̣n dịch các tác phẩm của Shakespear, Albert Camus, André Gide, các tác giả Trung Quốc và nhiều tác giả phương Tây khác. Ông thông thạo tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Đức và chữ Hán.

Trong những bản dịch của ông, một số ông dịch trung thành với nguyên bản, một số khác ông vừa thể hiện được tinh cốt của tác phẩm, vừa... sáng tạo. Và có một số tác phẩm ông không chịu dịch trọn cuốn sách mà vừa dịch vừa… cà rỡn.

Ta hăy đọc một cuốn tiểu thuyết dịch nửa chừng như vậy của Bùi Giáng. Cuốn Nhà sư vướng lụy được Bùi Giáng dịch, Quế Sơn xuất bản lần đầu vào năm 1969. Đây là tác phẩm của một nhà văn Trung Hoa đồng thời cũng là một nhà sư tên là Tô Mạn Thù.

Thoạt đọc cuốn sách, ta bắt gặp cái giọng văn vừa khúc chiết vừa văn hoa của ông khi xưa, lúc ông viết "Một vài nhận xét…": "Tại Bách Việt, về phía Nam bờ biển, có dăy Kim Nhân Sơn nguy nga dựng sững. Những lúc trời quang mây tạnh, ta có thể nhận thấy phía bên dưới sườn núi xanh um ẩn ẩn hiện hiện một mái ngói hồng lóng lánh, lập ḷe như lớp vảy con ḱnh ngư. Đó là ngôi chùa Hải Vân, vẫn c̣n nguyên như thuở xưa, cái ngày nhà Tống sụp đổ"… "Cho tới ngày nay, nh́n sơn lĩnh ở xa xa cuối chân trời, vân khí sầm uất, bàng bạc chiều chiều như c̣n gợi măi vang bóng triều đại xưa. Và thỉnh thoảng tiếng sóng vỗ bi thống c̣n khiến lữ khách ngậm ngùi, cúi đầu lặng lẽ, không dám gợi lại những bóng ma năo nùng của quá khứ".

Ta thích thú đọc tiếp những trang sau. Nhưng đọc khoảng hai ba chục trang nữa th́ ta chợt thấy thấp thoáng một vài cụm từ "có vấn đề", chẳng hạn: "Con xin trút giũ thảy thảy hết trở lại cho Như Lai, để suốt một b́nh sinh đi theo dấu chân liên tồn của Tuyết Mai tiên nữ".

Tuy nhiên chúng ta vẫn c̣n đọc được thông suốt văn bản thêm khoảng bốn nămchục trang tiếp theo. Rồi cuối cùng ta đụng vào cái mớ rối ḅng bong của Bùi Giáng. Lúc này, Bùi Giáng bắt đầu lên đồng: "Mặt hồ nguy nga nào tinh khiết thế, cho đến nỗi những ngư ông ngư phủ đă ngây thơ báo biểu rất mực rằng, nh́n đăm đăm vào ắt các anh sẽ thấy những Đô Thị Phiêu Bồng Huyền Thuyết Cổ Hy nhô lên bất chợt bởi thần thuật Đa Na Ô kỳ bí, ở diện tiền bọn người h́ hục lao công, hồ ngọc ôi, ngươi quyến rũ dă man ǵ như thế, khiến hằng hằng mỗi mỗi cường quốc nọ cứ lăm le muốn chiếm hữu đất đai xứ sở kia cho bằng được".

Từ lúc này trở đi, người ta không biết đâu là lời của tác giả nguyên bản đâu là lời của Bùi tiên sinh nữa. Lúc đó Bùi Giáng bắt đầu… múa bút. Ông vứt bỏ những t́nh tiết của tiểu thuyết ra ngoài để thay vào đó là những chuỗi dài từ ngữ dính chùm nhau, kéo từ trang này qua trang khác của ông, hết văn xuôi lại đến thơ.

"Hỡi ôi!/Lời tối hậu? Ư tuyệt trù /Bỗng dưng chắp nối cho sầu ma hoang/Lời thăm thẳm? Ư khôn hàn/V́ đâu riêng tụ về hàng thơ điên/Bán khai nhân vật diện tiền/Sương lung bán ẩn suốt miền cảo thơm".

Nhưng chưa hết đâu. Bùi Giáng vẫn chưa thỏa măn khi đă đùa giỡn như thế. Cho nên ông đưa nàng Kim Cương của ông vào trong cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc: "Ôi em Kim Cương ngàn thu một thuở Nương Tử rất mực vô ngần Nam Diện cành Nam màu lan sơn thủy". Chúng ta không thể b́nh luận ǵ được ở chỗ này nữa.

Cho đến lúc Bùi Giáng hoàn toàn quên luôn việc dịch tiểu thuyết khi ông nhảy vào trong bối cảnh để xưng là tại hạ và ngâm thơ hoặc là hát: "Anh đă hái ngành lá cây thạch thảo/Em nhớ cho mùa thu đă chết rồi/Chúng ta sẽ không tương phùng được nữa/Mộng trùng lai không có được trên đời".

Có lẽ nói sẽ không hết ư. V́ vậy nên trích vào đây một đoạn bản dịch tiểu thuyết Nhà sư vướng lụy của Bùi Giáng:

"Nói xong nàng vén áo xiêm, chỉnh đốn quỳ một chân xuống, trang trọng đón chút quà mọn như đón tặng vật trời ban. Ôn tồn thuần hậu mà rằng:

- Kính tạ Tam Lang! Tam Lang từ nay đừng dùng tiếng "cô nương cô nưỡng cô nuồng" mà gọi tôi. Nghe có vẻ ra làm sao ấy. Chẳng thân thiết tí nào.

Tôi nói:

- Kính thưa cô nương. Tại hạ đồng ư là: tiếng cô nương nghe ra không có vẻ thân mật. Nhưng c̣n tiếng "cô nuồng" th́ quả là thân thiết bịch bồ.

Tĩnh Tử hỏi:

- Hà dĩ kiến đắc?

Tôi đáp:

- Nhân v́ tiếng "cô nuồng" có chứa chất âm thanh "uông uông uồng uồng" ngụ trong tính t́nh nên lời tuyệt diệu.

Tĩnh Tử hỏi:

- Tuyệt diệu như răng?

Tôi nói:

- Như rằng uông uồng chuồn chuồn thèm thuồng và ở truồng vân vân.

Tĩnh Tử ph́ cười:

- Tam Lang chớ có giỡn như thế em không có bằng ḷng.

Tôi nói:

- Dạ vâng.

Nuồng bảo:

- Dạ, vâng cái chi. Tam Lang hăy dùng tiếng ừ vậy.

Tôi đáp:

- Nhiên.

Nuồng nói:

- Phải. Nhiên. Giờ đây em đă nhận tặng vật của anh, sớm hôm nh́n ngắm, em sẽ không quên con người sẽ không quên con người đă ban cho".

Đến đây cuốn tiểu thuyết của Trung Quốc coi như hoàn toàn biến mất trong bàn tay của một dịch giả tài hoa nhưng không b́nh thường này.

 

 

Một tâm hồn mênh mang ảo diệu

Không chỉ làm thơ, dịch tiểu thuyết, viết sách khảo luận triết học, Bùi Giáng c̣n viết rất nhiều tùy bút văn học, đặc biệt là tùy bút về thơ. Đọc những tùy bút này, ta nh́n thấy tâm hồn ông mênh mang ảo diệu, thăm thẳm như bầu trời. Ông cảm nhận được những điều tinh vi huyền bí nhất của thi ca. Ông đúng là tri âm của các thi sĩ. Chúng tôi xin giới thiệu một bài trong số đó, đây là bài Bùi Giáng viết về Tuệ Sỹ, trích trong tập Đi vào cơi thơ.

Tuệ Sỹ là một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia c̣n ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u... Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ

Trí Hải đa tàm trúc loạn ty

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực ḿnh.

Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại c̣n mang một nguồn thơ Việt phi phàm ? Một bài thơ "Không đề" của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh măi trên đồi hoang

Phút vội vă bỗng thấy ḿnh du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

 

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đă cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cơi dạ.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, nếu không th́ nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

Ông đáp: Để về hỏi lại ni cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.

Đôi mắt ướt tuổi vàng

Khung trời

Hội cũ

Xin xuống ḍng thư thả như thế. Ắt nh́n thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm ǵ ? - Khung trời hội cũ.

Một hội Đạp thanh ? Một hội nao nức ? - "Giờ nao nức của một thời trẻ dại ?".

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ...

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh... Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.

Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một h́nh dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều "phải nói" với mọi người "muốn nghe" với riêng ḿnh "không thiết chi chuyện nói".

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy ǵ hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm ǵ tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).

Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.

Vua Gia Long ngày xưa đă từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du: "Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài th́ trẫm trọng dụng (... ...). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế ?".

Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu v́ sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cơi mộng thần di, hồn dịch !

Vua đă ban cho chan ḥa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa ḷng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.

Đáp: Ấy chính bởi đôi mắt nh́n đây mà thấy những đâu đâu.

Đôi mắt ướt tuổi vàng

Khung trời hội cũ

Đôi mắt ướt ? Đôi mắt của ai ? V́ sao ướt ? V́ lệ trào, hay là v́ quá long lanh ?

Thi sĩ không nói rơ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.

Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại v́ nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan ḥa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đă đánh mất rồi chăng ?

"Áo màu xanh không xanh măi trên đồi hoang"

Áo nào màu xanh ? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đă ngẫu nhiên một lần nh́n đắm đuối ?

Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. V́ Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài G̣n tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.

Đôi mắt ướt tuổi vàng

Khung trời hội cũ

Áo màu xanh

Không xanh măi

Trên đồi hoang

Phút vội vă bỗng thấy ḿnh du thủ.

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Phút vội vă bỗng thấy ḿnh du thủ ? Ḿnh là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vă lại dám làm thân du thủ ? Dám gác bỏ kệ kinh ? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn ?

Phải có nh́n thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng v́ lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Mối t́nh rộng thả suốt biển non im ĺm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của ḷng ḿnh bơ vơ không gột rửa.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Ta tưởng như nghe ra "cao cách điệu" bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.

Thi nhân đă mấy phen ngồi ngó trăng tàn ? Ngồi trên một đỉnh đá ? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?

Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm t́nh sừng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du:

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Một tiếng "buồn chăng" lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, d́u về cả một khúc tâm thanh đoạn trường:

Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi:

Đếm tóc bạc

Tuổi đời

Chưa

Đủ

Bụi đường dài

Gót

Mỏi

Đi

Quanh

Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ ? Một tuổi xuân chưa vừa ? Một tuổi vàng sớm chấm dứt ? Một tuổi "đá" sớm từ giă mọi yêu thương ?

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa

Ngược nước

Xuôi ngàn

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thư khép ḿnh trong bốn bức tường với nhạt nḥa ủ rũ ngục tù.

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đă trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.

 

Gặp Bùi Giáng tháng 5/1975

Tôi đă gặp Bùi Giáng nhiều lần trên trang sách trước khi thực sự được gặp ông. Cơ may ấy có được chính là nhờ tôi đi chiến trường. Chứ nếu cứ ở Hà Nội, th́ chắc măi sau ngày giải phóng tôi mới đọc được Bùi Giáng.

Hồi chiến tranh, sách vở của miền Nam ra được Hà Nội rất ít. Nhưng ở chiến trường, tôi lại có điều kiện đọc rất nhiều sách xuất bản ở Sài G̣n từ tủ sách của ông Nguyễn Văn Linh chủ trương sắm cho Ban tuyên huấn TWC (R). Tôi có người bạn làm "thủ thư" của tủ sách ấy, v́ vậy không chỉ được đọc thơ Bùi Giáng, tôi c̣n được đọc nhiều tác phẩm của A.Camus và Saint-Exupery mà ông dịch. Tôi không thuộc số người làm thơ chịu ảnh hưởng Bùi Giáng - số này tôi biết khá đông - nhưng tôi chịu lối làm thơ ngẫu hứng của Bùi Giáng. Nó rất gần với "thơ tự động" của phương Tây, nhưng lại đặc Việt Nam, v́ đó thường là thơ lục bát. Lục bát th́ không thể là thơ... Tây được rồi! Bùi Giáng chơi với thơ lục bát như kiểu trẻ con chơi với những con giống hay những mẩu gỗ nhỏ - chơi tṛ xếp đặt. Những câu lục bát bất thần của ông có thể khiến ta phải giật ḿnh. Không biết Mưa nguồn có phải là tập thơ đầu tay của Bùi Giáng không, nhưng tôi đă đọc trong đó những câu thơ tinh khiết, những câu thơ tự nguồn mà thường ở những tập thơ đầu tay - như một mối t́nh đầu - nhà thơ có được một cách hoàn toàn không cố gắng, thậm chí không ư thức. Ngày c̣n ở chiến trường, tôi đă biết Bùi Giáng rất mê thơ Huy Cận do đọc những lời "tán" đầy đam mê của ông về thơ Huy Cận. Tôi không ngờ, tháng 5/1975, khi vào Sài G̣n và t́nh cờ được gặp Bùi Giáng, th́ chính ông đă đưa thơ Huy Cận ra đố tôi. Dạo đó mới giải phóng, người ta th́ bận năm bận mười, c̣n đám phóng viên binh vận chúng tôi th́... thất nghiệp. Chiến tranh đă kết thúc, chúng tôi cũng không c̣n "đối tượng" để tuyên truyền nữa. Vậy là suốt ngày tôi lang thang la cà ngoài đường, mê mẩn với những "quầy sách dă chiến" trên các con phố lớn của Sài G̣n. Một buổi tối, anh Hoàng Liên - một cây bút sắc sảo của "đội ngũ tuyên truyền binh vận" chúng tôi - xuất thân từ một kư giả Sài G̣n - mời mấy anh em chúng tôi đến nhà anh uống rượu mừng sum họp. Tôi nhớ nhà anh Hai Hoàng ở một con hẻm thuộc khu Nguyễn Thông - Ḥa Hưng ǵ đó, nhà cũng khiêm nhường thôi. Anh Hoàng Liên là người Quảng Nam, trước khi vào chiến khu h́nh như khá thân với nhà văn Vũ Hạnh. Dĩ nhiên anh cũng là đồng hương của Bùi Giáng thi sĩ, nhưng tiệc rượu hôm đó th́ chỉ Vũ Hạnh, nhà láng giềng, lại là "dân công tác thành" - tức "VC nằm vùng" là được mời. Thủ trưởng của chúng tôi hôm ấy cũng có mặt, và tỏ ra hứng khởi. Th́ lúc ấy ai mà chẳng hứng khởi: chiến tranh đă chấm dứt, gia đ́nh sum họp,"Miền Nam nhận họ" cơ mà! Chúng tôi và nhà văn Vũ Hạnh vừa uống rượu vừa nói với nhau nhiều chuyện một cách từ tốn và giữ lễ. Anh Vũ Hạnh th́ tôi đă biết tiếng và đă đọc nhiều trước đó, biết cả anh là "Việt Cộng nằm vùng" do đọc báo Sài G̣n. Có lẽ do mới giải phóng, người ở rừng và người ở thành lần đầu gặp nhau hay sao đó mà anh Vũ Hạnh có vẻ dè dặt. Chúng tôi th́ vô tư, cứ uống và nói to, vui vẻ thoải mái. Bỗng cửa nhà anh Hai Hoàng mở toang, và một vị khách bất ngờ xuất hiện. Một người râu tóc tung bay, già th́ không hẳn v́ dáng đi c̣n phong độ lắm, mà trẻ th́ không phải do có rất nhiều... râu (!). Anh Vũ Hạnh nhỏ nhẹ giới thiệu: "Anh Bùi Giáng, nhà thơ". Tôi nhớ, h́nh như lúc ấy Bùi tiên sinh đang quẩy trên vai cái ǵ đó, trông nửa như Bồ Đề Đạt Ma, nửa như... bác hành khất. Bùi tiên sinh không đợi mời, ông ngồi luôn xuống sàn nhà cùng chúng tôi, và... đọc thơ. Không phải thơ ông, tôi nhớ, mà h́nh như là thơ Huy Cận. Đọc thơ và nói huyên thuyên, rất vui, chẳng giữ ư hay để ư đến bất cứ thứ ǵ. Anh Vũ Hạnh có vẻ hơi ngại, nhất là khi có mặt vị thủ trưởng của chúng tôi. Nhưng Bùi Giáng th́ chẳng ngại ngần. Ông cũng nâng ly, uống một chút rượu cho vui, và nhắm với món... nói. Thấy trong chiếu rượu chỉ có tôi là c̣n trẻ và tôi tỏ ra phấn khởi khi gặp ông, Bùi tiên sinh quay sang bắt chuyện với tôi. Ông nói như Hoàng Liên đây th́ ông tin là VC, v́ nhà Hoàng Liên nghèo. C̣n Vũ Hạnh, ông không tin, v́ Vũ Hạnh có nhà ba hay bốn lầu ǵ đó! Anh Hoàng Liên phải thanh minh cho khách là nhà văn Vũ Hạnh có được ngôi nhà này do nuôi chim cút chứ không phải làm áp-phe hay bóc lột ai. Bùi Giáng cười khà khà và chuyển sang... đố thơ. Dĩ nhiên không phải đố thủ trưởng của tôi v́ thủ trưởng hơi nghiêm và có vẻ không hưởng ứng lắm. Bùi Giáng bèn đố tôi. Ông đọc mỗi lần mấy câu thơ và hỏi tôi có biết thơ của ai không? Có đoạn tôi biết là thơ Huy Cận, có đoạn tôi không biết. Tất cả đều là thơ Huy Cận. Bùi tiên sinh chê tôi, ông không hiểu tại sao một người trẻ được giới thiệu là "nhà thơ" như tôi mà không thuộc hết thơ Huy Cận (?). Đúng là tôi dở, nhưng tôi căi cố với Bùi tiên sinh là tôi chưa thuộc chứ không hẳn là không thuộc. Chưa thuộc v́ tôi chưa có điều kiện đọc hết thơ Huy Cận, chứ nếu đă đọc th́ có khi cũng thuộc (?). Tôi nói lấy được chứ thuộc thơ vốn là điểm yếu nhất của tôi. Ngay thơ ḿnh tôi cũng không thuộc, nói ǵ đến thơ người! Bùi tiên sinh có vẻ rất vui, ông nói đủ chuyện mà giờ tôi cũng không nhớ là những chuyện ǵ. Tất nhiên với Bùi Giáng th́ không có "vùng cấm" trong những câu chuyện không đầu không đũa như thế. Do đó thủ trưởng của tôi có vẻ không hài ḷng. Ông không nói ǵ, nhưng tôi và anh Hai Hoàng đều biết. Thủ trưởng của tôi dĩ nhiên không biết Bùi Giáng là ai, có những đặc điểm ǵ, lại mới giải phóng, t́nh h́nh Sài G̣n chưa ổn định, nên ông cảnh giác là chuyện không khó hiểu. Nhưng với Bùi Giáng, đó cũng không là trở ngại ǵ lớn! Ông vẫn nói, vẫn vui, vẫn hoa chân múa tay như ở chỗ không người. Và ông chuyển sang... coi bói. Cho tôi.

(C̣n tiếp)

Thanh Thảo

Đôi mắt lạc thần

Đọc bài viết rất hay của nhà văn Đặng Tiến (Paris) về Huy Cận, tôi dừng lại ở đoạn anh Đặng Tiến viết về Bùi Giáng ngợi ca thơ Huy Cận, và chợt nh́n năm sinh cùng năm mất của Bùi tiên sinh: 1926-1998. Vậy là Bùi Giáng sinh năm Bính Dần và mất năm Mậu Dần. Trọn trong ṿng Hổ. Một con hổ rất hiền nhưng vẫn là hổ chánh hiệu, không phải "hổ kiểng". Nhưng vẫn là hổ phải xa rừng, phải "ĺa xa cố quận".

Nói đến hổ, tôi lại chợt nhớ, cái gây ấn tượng nhất cho tôi khi lần đầu (và cũng lần cuối) gặp Bùi Giáng chính là đôi mắt của ông, một đôi mắt lạc thần. Sau ngày Bùi Giáng mất, nhà thơ Nguyễn Đỗ có làm một cái phỏng vấn tôi qua điện thoại về Bùi Giáng, xin được trích một đoạn có liên quan đến đôi mắt kỳ lạ của Bùi tiên sinh: "Nguyễn Đỗ: Thưa anh, nhắm mắt lại, gương mặt nhà thơ Bùi Giáng như thế nào trong anh ? Thanh Thảo: Dù nhắm mắt hay mở mắt th́ tôi cũng chỉ h́nh dung một Bùi Giáng như người cơi khác về chơi cơi này. Chơi chán th́ đi, thế thôi. Cả gương mặt Bùi tiên sinh dồn vào đôi mắt: một đôi mắt lạc thần. Đó là đôi mắt luôn nh́n quá. Dù Bùi Giáng đọc thơ, nói cười, múa hát, th́ đôi mắt ấy vẫn im lặng. Nguyễn Đỗ: Người ta cho rằng: điên hay bất b́nh thường là một thuộc tố của thơ ca. C̣n anh ? Thanh Thảo: Tôi không biết. Nhưng tôi biết một điều: làm thơ là một quy tŕnh bất b́nh thường: đang nói năng b́nh thường th́ lại có người nói năng theo vần nhịp, bằng bằng trắc trắc... chẳng là bất b́nh thường ư ? C̣n điên? Ai mà chẳng có những cơn điên trong đời, kể cả những người không làm một câu thơ. Chỉ có khác, với những người làm thơ, những cơn điên lúc họ làm thơ là những cơn điên-tỉnh. Điên hoàn toàn cũng không có thơ, mà tỉnh hoàn toàn th́ dẫu có thơ, thơ ấy cũng... dở". Như thế, theo tôi, Bùi tiên sinh là người có nhiều "cơn điên" trong đời hơn chúng ta, những kẻ b́nh thường. Điều đó biểu hiện trong thơ ông, một giọng thơ khác thường, thậm chí lạ thường:

"Gấu ôi điềm tĩnh đi ngang

Cọp ôi dừng bước giữa hàng thơ hoa

Đi về trong cơi người ta

Trước là thi sĩ sau là đười ươi

Trận sầu kết chặt cơn vui

Tiền tŕnh vạn lư chôn vùi dấu chân"

Bài thơ của Bùi tiên sinh có nhan đề Gấu ôi, một nhan đề rất... chơi, nhưng bài thơ th́ tuyệt vời sâu sắc và rất... hiện thực, nếu ta hiểu sâu hơn về thân phận nhà thơ, thân phận của thơ. Thi sĩ, theo Bùi Giáng, là vậy, khó thoát khỏi cái ṿng karma đi về giữa thi sĩ và đười ươi. Nhân đây cũng nói thêm, chữ đười ươi là chữ Trung Niên thi sĩ rất hay dùng, với ư hoàn toàn nghiêm túc chứ không mảy may cợt đùa, với ư ngợi ca chân thành chứ không một chút chua cay giễu cợt. Và nếu ai có điều kiện đếm thử (bằng máy tính) xem Bùi tiên sinh đă dùng trong các tác phẩm của ḿnh bao nhiêu chữ đười ươi, cũng như bao nhiêu chữ cố quận, có lẽ thống kê ấy sẽ góp phần giải mă được thơ Bùi Giáng, một giọng thơ đang chơi chơi đột nhiên thăm thẳm, những từ ngữ như bị hút vào lỗ đen, giống những ngôi sao bị lỗ đen hút tuột. "Ḷng đi trong cơi người ta/Ḷng đi đi mất đi là đi đi/", hai câu lục bát có đến 6 chữ đi trong tổng số 14 chữ mà khi đọc ta tự nhiên bị hút vào không hiểu v́ sao, không giải thích được. Thơ có lẽ là thế chăng ?

Trở lại với cái duyên Huy Cận-Bùi Giáng mà nhà văn Đặng Tiến đă viết rất hay, ta mới biết, hóa ra chữ cố quận mà Bùi Giáng dùng như một bửu bối trong đời thơ của ḿnh, hai chữ ấy bắt đầu từ Huy Cận, chính xác là từ hai câu lục bát trong một bài thơ của Huy Cận viết khoảng năm 1942, bài thơ chưa một lần được in sách: "Tâm t́nh một nẻo quê chung,/Người về cố quận, muôn trùng ta đi". "Cố quận" là một từ Hán - Việt, nhưng có lẽ đă được Việt hóa hoàn toàn kể từ khi Huy Cận dùng trong thơ và được Bùi Giáng tô đậm lại trong suốt đời thơ của ḿnh như một giai điệu chủ. Trong trước tác Lời cố quận và lễ hội tháng ba, Bùi Giáng dịch giải M.Heidegger b́nh thơ nhà thơ Đức Hoelderlin, tiên sinh đă thổ lộ cơ duyên vào thi ca của ḿnh: "Khoảng năm 1943, ở Việt Nam có thằng thiếu niên Việt gặp được một vần lục bát in rơi rớt trên một tờ báo bạn đường: "Tâm t́nh một nẻo Quê Chung/Người về Cố Quận muôn trùng ta đi/". H́nh như man mác trong không gian, thường có những niềm tương ngộ. "Bây giờ th́ tôi đă hiểu, v́ sao Bùi Giáng mê thơ Huy Cận đến vậy! Có một "niềm tương ngộ" nào đó giữa họ. Nhưng hơn tất cả, họ đă gặp nhau trong thơ. Mà với họ, thơ mới là "cố quận" cho suốt một đời họ. Trở lại chuyện Bùi tiên sinh coi bói cho tôi hồi tháng 5/1975. Với đôi mắt lạc thần, ông nh́n tôi nhưng lúc ấy tôi có cảm giác ông đang nh́n tận đâu đâu. Bùi Giáng phán: "Anh là người bất định". Chịu thầy ! Tôi th́ có định ǵ đâu, cho tới bây giờ, tôi vẫn là người bất định (!). Chỉ một câu nói có vẻ chơi chơi, có vẻ t́nh cờ ấy thôi, tôi nghiệm lại mấy chục năm đời ḿnh và thấy đúng quá! Nó cũng giống như những câu thơ Bùi Giáng, mới đọc tưởng chơi, tưởng điên, tưởng ông chọc quê, nhưng rồi với thời gian, với sự trải nghiệm trong đời, đọc lại, ta bỗng như phát hiện một điều ǵ, cảm thấy xa xót một nỗi ǵ. Những thi sĩ như Bùi Giáng, nói là điên cũng ừ, họ điên giùm cho chúng ta đấy ! Mà thế nào là điên cơ chứ ? Theo tôi, những người không tự biết ḿnh, những kẻ cứ "bé cái nhầm" tưởng tiền của dân của nước là tiền của... ḿnh, để đến nỗi tan tành cố quận, tung tóe đười ươi, những kẻ ấy mới chánh hiệu là... điên. Điên hết thuốc chữa! Chứ sao gọi một thiên tài thi ca như Bùi Giáng là điên ?

(c̣n tiếp)
Thanh Thảo

 

Gặp Bùi Giáng ở Paris

Trong bài thơ Vùng (Zone) nổi tiếng, G.Apollinaire, có lẽ nh́n từ tháp Eiffel đă thấy những cây cầu bắc qua sông Seine như một bầy cừu "kêu be be sáng nay". Nếu thay v́ bầy cừu là bầy dê, thay nàng chăn cừu là chàng chăn dê, lại thấy thấp thoáng h́nh bóng một Bùi Giáng nơi thượng nguồn con sông Thu Bồn đang chăn những đám mây trên mặt nước sông vào buổi sáng mùa thu nào đó.

Là người dịch rất nhiều tác phẩm trứ danh của văn học Pháp, nhưng h́nh như Bùi Giáng chưa có dịp đi Paris. Vậy mà tôi đă... gặp ông ở ngay kinh đô Ánh sáng này. Cuối năm 2003, tôi sang Paris dự Festival Thơ quốc tế, và khi có dịp ghé quán Foyer Viet Nam ở số 80 phố Monge quận 5 (khu Latin), người tôi gặp đầu tiên ở đây là... Bùi Giáng! Đúng hơn, là tôi đă gặp một bức chân dung Bùi Giáng vẽ bằng bút sắt. Nét vẽ rất có thần. Lại đôi mắt sáng quắc nh́n tận đâu đâu. Lại vẻ mặt hồn hậu của một lăo nông xứ Quảng Nam đang mơ màng như nhớ lại câu thơ tuyệt vời của Apollinaire: Bergere ô tour Eiffel le troupeau des ponts bêle ce martin (Ôi tháp Eiffel nàng chăn cừu bầy cầu be be sáng nay - bản dịch của Hoàng Hưng). Tôi hỏi nhà thơ Vơ Văn Thận - người phụ trách Foyer VN - và được biết bức chân dung Bùi Giáng là của họa sĩ Trần Văn Liêm-một người rất hâm mộ Bùi tiên sinh ở Paris. Mà không chỉ họa sĩ Liêm, khi Vơ Văn Thận tặng tôi tập thơ mới của anh Bàn chân dưới đất, tôi cũng đă đọc trong những câu thơ của người xa xứ này rất nhiều hơi hướng Bùi Giáng. Anh Thận cũng là người hâm mộ, và có lẽ hơn cả hâm mộ, yêu quư Bùi Giáng. Đi lang thang giữa những phố cổ của Paris, thỉnh thoảng tôi lại gặp những người già chánh hiệu... Bohemiens. Họ uống rượu hoặc không uống rượu nhưng ngồi hoặc nằm ngay vỉa hè những con phố đông người qua lại. Trong h́nh dáng những người già tóc râu xơa xượi ấy, tôi lại thấy thấp thoáng một Bùi Giáng đang cảm nhận Paris bằng tất cả thể xác và tâm hồn ḿnh. Chợt nhớ bản dịch tuyệt vời của Bùi tiên sinh tác phẩm u ẩn mà run rẩy t́nh người của Saint-Exupery Cơi người ta (Terre des hommes). Đúng là phải tới tay Bùi Giáng th́ nguyên tác này mới có chữ "cơi" và chữ "ta" trong bản dịch. Giở một quyển sổ cũ, cách đây hơn 20 năm, tôi đă chép lại một đoạn văn xuôi trong Cơi người ta, chép để giữ cho ḿnh như một lời biết ơn tác giả và dịch giả: "Punta Arenas! Tôi tựa lưng vào bờ giếng. Những đàn bà già nua tới đây lấy nước. Trong tấn bi kịch đời họ, ngày mai tôi sẽ biết riêng chỉ một cử động tôi đ̣i ấy thôi. Một bé con ngửa cổ vào tường, khóc lặng lẽ. Ngày mai trong kỷ niệm của tôi, sẽ chỉ c̣n ghi riêng h́nh ảnh một đứa bé lạc loài, sầu khổ không nguôi. Tôi là kẻ lạ tới đây. Tôi không biết, không biết ǵ hết cả. Thế giới họ, tôi không thể bước vào, làm tôi dám nói. Những yêu thương, những ganh ghét, những niềm vui của con người, cả một tấn tuồng rộng lớn đó diễn ra trong một khung cảnh bé bỏng xiết bao. Từ đâu con người khơi dẫn được về cho ḿnh nguồn khát vọng vô biên. Từ đâu? Con người vốn bị phó mặc cho rủi may, bị vất ra sống trên một miền đất mà phún thạch hỏa sơn c̣n hâm hấp nóng, mà những trận băo cát sắp tới, mà những cơn mưa tuyết sắp về, c̣n hăm dọa măi! Nền văn minh của họ chỉ là một lớp vàng mạ mỏng manh. Hỏa sơn sẽ xóa, sẽ bôi. Một biển mới sẽ dâng triều. Một cơn lốc cát". Tác phẩm văn học nước ngoài, khi qua một dịch giả đồng điệu sẽ hiện ra bằng Việt ngữ như vậy đó! Một bài thơ văn xuôi đích thực, đầy xúc cảm và nhuyễn như thể nó được viết bằng tiếng... Việt. Tôi biết, nhiều người kêu Bùi Giáng ở một số bản dịch khác, rằng ông dịch tùy hứng và cả... tùy tiện quá! Nhưng chúng ta thử đọc Cơi người ta hay Hoàng tử bé của Saint-Exupery, hăy đọc Ngộ nhận hay Carnets của Albert Camus qua bản dịch Bùi Giáng, ta sẽ cảm nhận được hết sự tinh tế và uyên áo của nguyên tác qua một bản dịch. Tôi nhớ, ngày c̣n chiến tranh, ở chiến trường Đông Nam Bộ, tôi đă chép từng đoạn văn A.Camus trong Sổ tay (Carnets) qua bản dịch Bùi Giáng, và những đoạn văn tuyệt vời ấy đă an ủi tôi rất nhiều ngay trong những hoàn cảnh thắt ngặt của chiến tranh. Sau này, đă có những dịch giả dịch lại những tác phẩm trên của A.Camus hay Saint-Ex, nhưng phải nói thực, họ không vượt qua được bản dịch cũ của Bùi Giáng. Cần phải ghi công ông ở lĩnh vực truyền bá văn học thế giới này. Một người chỉ tự học ngoại ngữ mà có thể trở nên uyên thâm như thế, có thể "tung tăng" như thế trong khi dịch thuật, quả là hiếm có! Người như thế mà chưa một lần sang Paris để mặc sức chăn cừu hay chăn dê trên sông Seine th́ thật đáng tiếc! Nhớ những ngày ở Paris hay xuống Orleans với nhà văn Đặng Tiến, ở đâu tôi cũng cảm thấy phảng phất sự hiện diện của Bùi Giáng trong những câu chuyện trao đổi về văn học, trong những bài thơ hay bài viết của các bạn văn người Việt ở Pháp mà tôi được đọc. Anh Thận c̣n tặng tôi một đĩa DVD về ngày giỗ Bùi Giáng ngay tại Paris, tại quán Foyer thân thiết và ấm cúng. Những bài thơ của Bùi tiên sinh đă được tŕnh bày trong ngày giỗ ấy. Coi như ông đă đến Paris và đă lang thang dọc những con phố lát đá mờ ảo khu Latin này rồi, khu Đại học nổi tiếng của Pháp và cũng là nơi vinh danh rất nhiều nhà thơ nhà văn Pháp mà Bùi Giáng đă có lần chuyển dịch sang Việt ngữ. Trong ḍng sông văn học khá b́nh thản của ta mà có được một người "quậy tưng" như Bùi Giáng kể cũng đặc biệt và thú vị. Nhưng rồi, ngay trong những lúc "quậy" như thế, chợt ta ch́m lắng lại với những câu thơ kiểu như thế này: "Một hồn rũ rượi trong mưa/Nhớ ôi ngọc trắng ngày chưa cát lầm". Như một khúc bi ca về cội nguồn trinh thục của Thơ. Như nỗi hoài nhớ về một thiên đàng tuổi thơ đă biền biệt. Thiên đàng ấy bên một ḍng sông và những ngọn đồi lúp xúp mọc toàn sim mua...

 

Thơ là hạnh phúc

Trở lại với giai đoạn Mưa nguồn, chàng thanh niên Bùi Giáng c̣n giữ niềm tin ở mùa xuân, ở trần thế trong thời gian, ở Màu xuân: Ngàn xuân rộng vô ngần trong bóng nguyệt, hay trong bài Bờ xuân tiếp theo:

Mùa xuân bữa trước mùa xuân bữa sau, xuân bốn bên trong hiện tại vây hăm tấn công đời hạnh phúc lạnh như băng không làm sao nhúc nhích. (Mưa nguồn, tr.38-39)

Mùa xuân, mùa xuân hiển hiện, lung linh ánh sáng, long lanh thinh sắc. Trong niềm hoan lạc của đất trời, con người an tâm vui hưởng, v́ tin ở sự tuần hoàn miên viễn, như tin vào một cánh én:

Én đầu xuân tuyết đầu đông

Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa

(Mưa nguồn, tr.62)

Người ta thường nói: xuân về. Chữ về tin tưởng an lạc như Về Cố Quận. Xuân về với gió đông, xuân mang thương nhớ trở về (Nguyễn Bính). Chữ về gây cảm giác ấm cúng, thân thiết, tin cậy:

Mùa xuân hẹn thu về em trở lại

Ta nh́n nhau trong bóng nước mơ màng

Nước chảy măi bởi v́ xuân trở lại

Với ḍng trong em hẹn ở bên đường

Ta sẽ đợi nghe đời em kể lại

Thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia

Ta sẽ đợi nghe đời em nói măi

Bên đời ai vạn đợi đă chia ĺa

Mùa xuân hẹn thu về em trở lại

Bên đời đi c̣n giữ măi hay không

Gịng bất tuyệt xanh ngần xuân thơ dại

Sầu hoang vu vĩnh hạ vọng non hồng.

(Mưa nguồn, tr.61)

Thơ là hạnh phúc của ngôn từ như trong Một ngày lễ hội, tên một bài thơ Holderlin được Heidegger b́nh minh. Hạnh phúc trong lời nói, của lời nói, dù nói để chẳng nói ǵ: thuở xưa kia... bờ nước ấy xưa kia. Câu thơ không mang lại một thông tin nào cả. Xưa kia làm ǵ ? Bờ nước ấy: ấy nào ? Nào ai biết. Chỉ biết là không gian và thời gian hạnh phúc. Hạnh phúc không cần nội dung. Hạnh phúc không cần lư do, không cần tự thức.

Ngơ ban sơ, hạnh ngân dài, cổng xô c̣n vọng... Bùi Giáng mách ta thế, và có lần kể:

Xưa kia tôi đă có lần

Và bây giờ đă đôi phần tôi quên

(Ca dao, Mưa nguồn, tr.143)

Nhà thơ không cho biết đă có lần làm ǵ, nhớ ǵ và quên ǵ, nhưng chúng ta cảm rằng xưa kia ấy là hạnh phúc, ngay trong nhịp thơ tần ngần, ngập ngừng, lơ đăng. Hồ Dzếnh rất được Bùi Giáng yêu thích, đă thật thà hơn:

Có lần tôi thấy tôi yêu

Dáng cô thôn nữ khăn điều cuối thôn

Xa rồi, nay đă lớn khôn

Biết cô hàng xóm có c̣n nhớ nhau ?

Chúng ta đối chiếu, sẽ thấy sự khác biệt giữa hai tác giả, và đặc sắc của thơ Bùi Giáng mà chúng tôi gọi là hạnh phúc của ngôn ngữ:

Xin yêu măi và yêu nhau măi măi

Trần gian ôi ! Cánh bướm cánh chuồn chuồn Hạnh phúc ấy là Xuân trần gian, ăm ắp trong thơ Bùi Giáng, thời điểm mưa nguồn trên mái tóc. Cùng với tinh thần đó, trước khi mất, ông đặt cái tên Thơ vô tận vui cho một tập di cảo sắp sửa được xuất bản.

Tuy nhiên, niềm vui vô tận ở đây chỉ là một minh triết về cuộc sống. Từ đó không thể nói đời và thơ Bùi Giáng lúc nào cũng vui, dù theo lẽ buồn vui tương đối của sự đời. Vui ở đây hiểu theo nghĩa hiền triết Đông phương, như cá vui, bướm vui trong Nam Hoa kinh của Trang Tử. Nh́n dưới góc độ tư tưởng hiện sinh của phương Tây, th́ ngược lại, có thể nói đến "bi kịch".

Từ 1948, Bùi Giáng có câu thơ sấm kư: Ngày Xuân xanh sơ ngộ để thiên thâu (Mưa nguồn, tr.57). Câu thơ quan trọng, mang mâu thuẫn, có tính cách biện chứng, giữa thiên thu và sơ ngộ. Một mặt, nó nằm trong mạch Vũ trụ ca của Huy Cận:

Ḷng chim gieo sáng dệt vân sa

Trên bước đường xuân trở lại nhà

Mở sách chép rằng: vui một sáng

Ngh́n năm c̣n măi tấm ḷng ta

(Áo xuân, 1942)

Mặt khác, nó báo hiệu cho chủ đề “chết từ sơ ngộ”, và Màu hoa trên ngàn sơ khai đă là Màu hoa cuối cùng:

Lỡ từ lạc bước bước ra

Chết từ sơ ngộ Màu Hoa Cuối Cùng

(Chớp biển, tr.45)

Bùi Giáng, rất sớm, đă linh cảm rằng ḿnh suốt đời đứng nguyên ở một tọa độ, xác định bởi một không gian Cố Quận và một thời điểm Nguyên Xuân:

Rồi tôi lớn, đi vào đời chân bước

Cỏ Mùa Xuân bị giẫm nát không hay

Chợt có lúc hai chân dừng một lượt

Người đi đâu ? Xưa chính ở chỗ này

(Chỗ này, Mưa nguồn, tr.82)

Có một mùa xuân nào, tuần hoàn trong trời đất, cùng với niềm vui nào đó. Nhưng có một hạnh phúc khác, màu xuân khác không bao giờ trở lại với nhân gian:

Mưa nguồn cũ quá xa rồi một trận

Ôi xuân xanh vĩnh biệt như thể nào

(…) Người viết măi một màu xanh cho cỏ

Người viết hoài một màu cỏ cho xuân…

(Bài ca Quần Đảo, tr.22-23)

Rồi suốt đời, khi sáng suốt, khi cuồng điên, qua hàng vạn trang sách, người thơ chỉ làm hoài làm hủy một bài thơ, vẽ cho ḿnh một chân dung duy nhất, như viết hoài một màu cỏ cho xuân.

Xuân mười sáu suốt bến xuân ch́m tắt

Một bài thơ gieo suốt tự bao giờ

(Bài ca Quần Đảo, tr.11)

Năm mười sáu tuổi đă xảy ra biến cố ǵ trong đời tác giả làm ch́m tắt mùa xuân ? Chúng ta không biết, chỉ biết là ông làm thơ từ tuổi ấy, khoảng 1942, tại Huế, theo lời ông kể ở đầu sách Lời Cố Quận.

Xuân về xuân lại xuân đi

Đi là đi biệt từ khi chưa về

Hai câu thơ đơn giản. Ngớ ngẩn mà thâm sâu. Vớ vẩn mà thần sầu.

Thâm sâu ở chỗ: lời nói tự hủy, tự lời bôi xóa lời. Câu thơ có nghĩa là: tôi vô nghĩa.

Thần sầu ở chỗ: không mấy ai thấy cái chốn thâm sâu.

Thơ Việt Nam nhiều câu hay. Nhưng hay kiểu Bùi Giáng, xưa nay có một.

Đặng Tiến

 

Bùi Giáng nguồn xuân

Hôm mùng ba mùng bốn theo nhau đẩy lùi mồng một mồng hai của hôm nay Nguyên Đán (Mưa Nguồn, tr.164)

Câu thơ văn xuôi này của Bùi Giáng mang hai đặc tính: một là ư nghĩa nói về ngày Tết và mùa Xuân, hai là chữ nghĩa đi ngược chiều thời gian.

Dĩ nhiên là mồng ba đẩy lùi mồng hai; mồng hai đẩy lùi mồng một. Như vậy hôm nay Nguyên Đán nằm ở vị trí nào trên chuỗi tháng ngày? Nói khác đi, Bùi Giáng đứng tại thời điểm nào ở đầu tháng giêng để phát ngôn?

Lời thơ theo trật tự số mục, và lối đếm thông thường: mùng một, mùng hai… mùng ba, mùng bốn… Nhưng theo ư nghĩa câu thơ th́ phải nói ngược lại: mùng bốn mùng ba (sẽ) theo nhau đẩy lùi mồng hai mồng một. Như vậy, nhà thơ phát ngôn từ ngày hôm nay Nguyên Đán, như Nguyễn Bính năm 1940:

Năm mới tháng giêng mồng một Tết

C̣n nguyên vẹn cả một trời Xuân

Nhưng nếu hiểu (đă) theo nhau, th́ tác giả lên tiếng vào ngày mồng năm. Và trong cả hai giả thuyết, trật tự chữ nghĩa trong câu thơ Bùi Giáng vẫn không thuận chiều.

Rối rắm như vậy để nói lên một điều cơ bản: thơ Bùi Giáng là một “ḍng nước ngược” một tâm thức đi ngược chiều thời gian, trong một Sử Lịch, ngược ḍng Lịch Sử.

Trong hàng vạn trang sách để lại, Bùi Giáng thường dùng từ Sử Lịch. Chỉ một lần dùng chữ Lịch Sử để chối bỏ:

Sử Lịch phai trang

Chạy quàng

Là Lịch Sử

(Lá Hoa Cồn, tr.55)

Xuân trong thơ Bùi Giáng là xuân không mùa, xuân duy nhất và tuyệt đối, mà ông gọi là Nguyên Xuân (Lá Hoa Cồn, tr.26), là khởi thủy của nguồn sống, nguồn thơ, quê của Em Mọi, của Đười Ươi, đồng thời là đối tượng, là cứu cánh của sáng tạo, của Lời Cố Quận, Tiếng Gọi Về:

Thưa rằng ly biệt mai sau

Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

(Mưa Nguồn, tr.25)

Tác phẩm, và cuộc đời Bùi Giáng là niềm thủy chung trước sau như một với một Màu Hoa Trên Ngàn: ông khởi đi từ đây và trở về lại đấy.

Xuân là nguồn mạch thơ tuôn tuôn từ miền xa biệt:

Lỡ từ lạc bước chân ra

Chết từ sơ ngộ màu hoa trên ngàn

 

oOo

Mùa xuân xuất hiện thường xuyên trong tập Mưa Nguồn, và tái hiện trong Lá Hoa Cồn, về sau chỉ thấp thoáng mỗi ngày một ít, ở những thi phẩm cuối đời.

Mưa Nguồn - thi phẩm đầu tay và đều tay nhất của Bùi Giáng được in năm 1962, gồm có nhiều bài làm từ 1948. Lời thơ trong sáng, tươi thắm và tha thiết, vào tập bằng hai câu mào đầu:

Xin chào nhau giữa con đường
Mùa xuân phía trước, miên trường phía sau

Là câu thơ nổi tiếng sớm nhất của Bùi Giáng, v́ nó có thể được sử dụng ở nhiều tần số khác nhau: buồn hay vui, u hoài hay đùa cợt, ví dụ khi bè bạn gặp nhau ngoài phố, lặp lại câu thơ: xin chào nhau giữa con đường, dù không hiểu miên trường là ǵ.

Và ư tác giả có thể ngược lại: mùa xuân phía sau, miên trường phía trước. Cũng cần nói thêm, thời đó, 1962, thơ Bùi Giáng chỉ được truyền tụng trong một giới độc giả và bằng hữu, đồng hương, chứ không phải là một “hiện tượng văn học” như gần đây.

Có thể là thơ của tuổi xanh, nên tập Mưa Nguồn đă khởi đi từ nhiều h́nh ảnh thắm tươi, điệu thơ ánh ỏi:

Những nhành mai sớm sương bên lá

Những nhành liễu chiều gió bên cây

Cũng lay lất bởi đời xuân em ạ

Thế nên chi anh cũng viết ḍng này

(Những Nhành Mai, Mưa Nguồn, tr.10)

Lời thơ tham dự với đất trời vào niềm hoan lạc của mùa xuân. Thể thơ cổ điển, nhưng tác giả đă trộn lẫn thơ bảy và tám chữ, với âm điệu lạ ở câu hai. Nhưng đặc sắc trong thơ Bùi Giáng thời ấy là những h́nh ảnh tân kỳ trong thể thơ truyền thống:

Tay lẩy bẩy níu ǵ xuân bay biến

Ô thiều quang ! Làn nước cũ trôi mau

Em đi lên vói bắt mấy hương màu

Miền đất Thượng có mấy bờ hoa mọc

Xa biệt lắm Mưa Nguồn trên mái tóc

Đă mấy lần thổi lạc lệ lưa thưa

(Giă từ Đà Lạt, 1958, Mưa Nguồn, tr.94)

Lời thơ diễn tả niềm hoang mang trước thời gian, ư tưởng không mới, nhưng lối kết hợp ẩn dụ th́ mới, so với lối thơ tám chữ trước đó.

Ở Xuân Diệu, Huy Cận niềm ám ảnh của phôi pha không gây bất ngờ như với Ôi thiều quang ! làn nước cũ trôi mau…

Trần gian phôi pha, thời gian hủy diệt, nhưng nhà thơ chấp nhận quy luật, nên đă gh́ siết hai tay, Nàng Thơ đẹp của trần gian ứa lệ:

Tôi đă nguyện yêu trần gian nguyên vẹn

Hết tâm hồn và hết cả da xương

(…)

C̣n ở lại một ngày c̣n yêu măi

C̣n một đêm c̣n thở dưới trăng sao

Th́ cành mộng c̣n tung lên không ngại

Níu trời xanh tay vói kiểng chân cao

Nhưng em hỡi trần gian ôi ta biết

Sẽ rồi ra vĩnh biệt với ngươi thôi

Ta chết lặng bó tay đầu lắc

Đài xiêu ôi xuân sắp rụng mất rồi

(Phụng Hiến, Mưa Nguồn, tr.30)

Những bài thơ tin yêu cuộc sống, tươi sáng và thắm thiết như vậy ít khi thấy ở những tập thơ sau, mà cũng ít người nhắc đến. Âu cũng là một thiệt tḥi cho ông. Chúng tôi trích dẫn một bài thơ xuân thắm tươi, có lẽ làm vào mùa xuân 1973, toàn văn:

Nắng Nguyên Đán

Chạy đi em, nắng gió bốn chân trời

Về chân đất dưới chân em mọc cỏ

Nắng Nguyên Đán lục lam hay hồng đỏ

Tía vi vu hồng lục cũng bao hàm

Chạy đi em! sương gió nắng thênh thang

Trời đất đẹp từ b́nh minh vũ trụ

Nắng Nguyên Đán của nguyên xuân đầy đủ

Cỏ hoa hương chồi nhú lộc miên man

Và riêng mở duy Một Hàng Ẩn Mật

Nắng phơ phất v́ sắc hương phơ phất

Dưới khung trời mặt đất mở thênh thang

Chạy đi em, gót ngọc bỏ hai hàng.

(Bài Ca Quần Đảo, tr.54)

Phong cách nhắc lại một bài thơ trước:

Chạy đi em, qua vườn thắm theo ngày

Cùng với phút giây này phơi mở lá

Em ngó nhé cành xanh cây giục giă

Hoa nghiêng đầu ríu rít cạnh chim kêu…

(Mưa Nguồn, tr.96)

Nhưng nhịp thơ nhanh, âm điệu khỏe, h́nh ảnh rộn ràng hơn, một điệu thơ hiếm có ở Bùi Giáng, nhưng vẫn lấy lại chủ đề nguyên xuân, và giọng lẳng lơ cố hữu, cỏ mọc hai hàng, đi đến ngôn ngữ Ẩn Mật về sau. Tóm lại, một bài thơ không Bùi Giáng mà vẫn Bùi Giáng.

Đặng Tiến

 

Nguồn Bùi Giáng

Mưa Nguồn, tên sách là một từ ngữ, h́nh ảnh thông thường, như trong thành ngữ dân gian, chớp bể mưa nguồn.

Những trận mưa rừng núi là hiện tượng thiên nhiên quen thuộc, có lẽ Bùi Giáng đă nhiều lần chứng kiến cụ thể thời trai trẻ, khi chăn dê miền trung du Trung Phước, khoảng 1946. Đây là những trận mưa giông lớn, ào ạt đổ xuống rất nhanh, nhất là vào mùa hè, gây ấn tượng mạnh. Mưa Nguồn có thể hiểu theo nghĩa đen.

Lại thêm nghĩa bóng: mưa móc, ân sủng dội xuống nơi cội nguồn cuộc sống, ào tuôn, “giáng” xuống một lần rồi thôi, nhưng cũng có thể trở lại, trong lẽ tuần hoàn, như lời chờ mong của Tản Đà: Nước đi ra bể lại mưa về nguồn, trong Thề Non Nước.

Cần hiểu thêm, chữ nguồn, ở quê Bùi Giáng, c̣n có nghĩa đời sống của dân tộc thiểu số ở miền trung du Trung Bộ, mà Bùi Giáng thường xuyên tiếp xúc. Họ thuộc nhiều chủng tộc, chủ yếu là người Gié Triêng và Ca Tu, mà cuộc đời hoang dă đă tạo ra và lưu lại nhiều ấn tượng sâu xa trong tâm thức Bùi Giáng. Cuộc trao đổi hàng hóa giữa hai miền xuôi ngược - ngày nay gọi là Kinh Thượng - đă để lại câu ca dao:

Ai về nhắn với nậu nguồn

Mít non chở xuống, cá chuồn chở lên

Nậu nguồn là những thương nhân chuyên môn buôn bán với Mạn Ngược. Và ở đây có thể phát âm hai vần ngùn/chùn theo giọng Quảng Nam của Bùi Giáng, cũng như Mưa Ngùn. Như vậy mới kết vần được hai câu ca dao địa phương khác, mà Tế Hanh hay Sơn Nam ưa tham chiếu:

Chim quyên xuống đất ăn trùn

Anh hùng lỡ vận lên ngùn (nguồn) đốt than

Thơ Bùi Giáng, có khi cần phải phát âm theo giọng tác giả, mới thú vị:

Chén trà sương sớm bên thềm

Vừa chờ chim hót vừa thèm chim (chiêm) bao.

(Chén Trà, Báo Thời Văn, tr.24)

Chim hót đối ngẫu với chim (chiêm) bao.

Chữ Nguồn ở Bùi Giáng là một h́nh ảnh vừa quê mùa vừa uyên bác, tự nhiên mà tinh tế. Gốc Hán Việt là “nguyên”, là nguồn cội, là nguồn sống, là Sơ Nguyên Ngọn Suối: con chim điên v́ nhớ Suối vô cùng. Suối cũ Suối xanh Suối bờ mọc cỏ. Suối vơ vàng em có hai tay Suối mừng nh́n thấy. Suối khóc suốt đêm bây giờ suối nín... (Gió Nguồn, Lá Hoa Cồn, tr.75).

Suối ở đây là Nguồn Xuân Tinh Thể. Nhưng nói vậy là nói lắp, v́ Xuân đă là Nguồn, và Suối đă là Xuân. Tiếng Anh rất hàm súc khi dùng một từ Spring để chỉ Xuân và Nguồn. Trong thơ Bùi Giáng, Xuân đồng nghĩa với Nguồn, như trong tiếng Anh. Nó là cơi uyên nguyên có trước Trời Đất, là “cái cửa khe huyền diệu” - “huyền tẫn chi môn” theo lời Lăo Tử. Chữ “tẫn” Ngô Tất Tố diễn dịch là khe, mà có người cắt nghĩa là giống cái, tức là mẹ đẻ của muôn vật. Đó cũng là một nghĩa”(1).

Có lẽ, từ đó h́nh ảnh khe, kết hợp với người Nữ, thường xuất hiện nơi thơ Bùi Giáng. Chữ môn nghĩa là cửa (nhân tạo), linh mục Ḍng Tên, Claude Larre dịch là Porte (des secrètes merveilles)(2) có lẽ, về sau đă gợi ư cho Bùi Giáng làm đoạn thơ nổi tiếng bắt đầu với hai chữ ngơ và cửa:

Ngơ ban sơ, hạnh ngân dài

Cửa xô c̣n vọng điệu tài tử qua

Niềm vui, nghĩa sống con người đă xô cửa bước ra từ cơi ban sơ ấy, và ngân dài, âm vọng qua lời thơ của người tài tử. Nhưng về sau lại lỡ từ lạc bước bước ra... và tác giả, hay độc giả có thể tùy nghi ráp nối nhiều câu lục bát khác vào đoạn trên, như Tuệ Sĩ đă gợi ư trong một bài báo rất uyên bác, trên Báo Văn 1973:

Ta về ngóng lại mưa sa

Giọt dài ly biệt nghe ra giọng chào

Hoặc:

Em về giũ áo mù sa

Trút quần phong nhụy cho tà huy bay

Vân vân... Như đă nói: toàn bộ tác phẩm Bùi Giáng có thể xem như là một bài thơ duy nhất, một nét chữ lên đàng quẩn quanh. Và người đọc lư thú, v́ cảm giác tham dự vào cuộc chơi, thậm chí là đồng tác.

Người đời thường trích dẫn mấy câu thơ hay, bề ngoài đơn giản, nhưng kỳ thật là phức tạp:

Hỏi tên ? Rằng biển xanh dâu

Hỏi quê ? Rằng mộng ban đầu đă xa

Gọi tên rằng một hai ba

Đếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.

(Chớp Biển, tr.132)

Hai câu đầu là một h́nh ảnh từ chương. Câu sau đă khó hiểu hơn: một, hai, ba nghĩa là ǵ? Hoặc ta cho là thơ cà chớn, không cần t́m hiểu; hoặc ta t́m hiểu và tham chiếu vào Đạo Đức Kinh, lời Lăo Tử: “Đạo sinh ra một, một sinh ra hai, hai sinh ra ba, ba sinh ra vạn vật”; ư thức con người đong đưa giữa cái nghi và cái diệu: không nghi th́ không có diệu, không nhờ cái diệu th́ không giải tỏa được cái nghi. Đo và Đếm là hai thao tác của Tâm và Tưởng để tiếp xúc và nhận thức ngoại giới: đo cái liên tục và đếm cái gián đoạn. Nhưng c̣n là, là ǵ? Là môi giới qua Lời Nói. Nhưng Lời Nói là ǵ? Chúng ta trở về vị trí đong đưa sóng biển giữa Diệu và Nghi.

Hiểu thơ Bùi Giáng không phải lúc nào cũng đơn giản. Mà không hiểu, chưa chắc đă đơn giản.

Bàn về một chữ Xuân mà phải dàn xa dặm dài, như vậy phải biết ngừng lời, v́:

Thưa rằng nói nữa là sai

Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào

(Chào Nguyên Xuân, Mưa Nguồn, tr.25)

Đặng Tiến

--- o0o ---

 

Source: http://www.thanhnien.com.vn

Tŕnh bày: Nhị Tường

 Cập nhật: 01-9-2006 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>