categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.


 
Mây

Diệu Trân

 

Không định tọa thiền mà tôi vẫn ngồi trong thế kiết già; không quán công án nào mà tôi cứ măi nh́n mây. Một ḿnh giữa vườn bưởi, tôi lặng lẽ ngước nh́n mây trắng, mây xanh, mây hồng … Nh́n, và rồi chỉ là mây thôi, trắng, xanh hay hồng sẽ thay mầu, nhưng mây th́ vẫn lăng đăng bay. Nh́n, rồi không c̣n xanh hay hồng nữa, chỉ trắng thôi. Cả vạn hữu chỉ c̣n bao la mây trắng … Con-Mắt-Tâm nh́n cái bao-la-trắng đó, lặng im và nh́n măi, nh́n măi, tới đâu th́ “Cảm ứng đạo giao nan tư ngh́”?

Một cánh chim bay ngang, để rơi lại âm thanh hững hờ, có thế thôi mà cũng đủ khiến người nh́n mây lại thấy mây có trắng, xanh, hồng; người và mây lại là hai thực thể, có người nh́n và vật bị nh́n !

Vươn vai, rồi mở nhẹ khóa chân, tôi thở mạnh và buông lơi, soải dài toàn thân trên nền đất ẩm. Vô h́nh chung, mặt đối diện trời và lại thấy mây ! Bây giờ th́ mặc ! Mây là mây, ta là ta, hay mây với ta là một cũng mặc ! Nằm như vậy, với tĩnh lặng và hương bưởi thoảng quanh, ta có ǵ để chờ đợi đâu ? Sao phải cố gắng để ta với mây là một ? Chỉ cần khởi từ ư nghĩ muốn đạt tới “là một” sẽ chẳng bao giờ là một được rồi ! v́ c̣n muốn là c̣n đối đăi, c̣n ta, c̣n người, c̣n vật. Chỉ thế thôi mà cứ ch́m nổi trong lầm lẫn, măi quên lời vô thỉ vô chung. Không quá khứ, chẳng vị lai, chỉ hiện tại. Hiện tại này đang có ǵ ? Mây. Trước mắt là mây, chỉ mây thôi, không ǵ nữa cả, mây xứ người hay mây quê hương, thấy bằng nhục nhăn hay tuệ nhăn, nào cần chi gạn hỏi ! Chỉ biết, mắt như không rời mây được nữa.  Mây nhẹ hay ta nhẹ mà ta như cũng bay cùng mây …. Với mây, ta đang ở đâu mà nghe thấy âm thanh của đoàn tầu nặng nề lăn trên đường sắt. Đoàn tầu cũ quá, và đường sắt c̣n cũ hơn khiến bánh sắt siết trên đường, quằn quại hơn tiếng khóc:

“Ta sẽ rủ gió lùa trên tóc rối

Giọng ân t́nh năn nỉ bước đi mau

C̣i rộn ră bởi hoang đường đă đổi

Bởi phiêu lưu ngày tháng vẫn con tầu”

Nhưng con tầu không có lựa chọn. Nó phải lăn bánh dù đă quá già nua. Khi thân tầu rung rinh, lắc lư, nó rung rinh và lắc lư tất cả khối người đông đảo, xô đẩy nhau trong ḷng nó. Có người cằn nhằn, có người lặng thinh chịu đựng, có người chợt chắp tay, cúi đầu khi làn sóng xô người ấy lủi vào một thân người ốm yếu ngồi cuối toa. Người ấy vội vă chắp tay, cúi đầu, có lẽ v́ thấy tấm áo nâu bạc phếch của người vừa bị xô. Tấm áo đó có đủ xác định người đang khoác nó là một thầy tu hay không, có lẽ chỉ người chắp tay cúi đầu và người nhận cái chắp tay cúi đầu là đồng cảm được thôi. Gịng cuồng lưu hung hăn, dập vùi xoáy hút những viên sỏi lăn trôi theo nhau, vẫn có những hạt cát biết ḿnh đang chứa cả đại dương. 

Con tầu từ miền Bắc, đang xuôi Nam. Tầu men dẫy Trường Sơn mà lăn. Gập ghềnh quá, cheo leo quá nhưng nó vẫn kiên nhẫn lăn bánh. Ông thầy tu ngồi yên lặng, nhiếp tâm, toàn thân ốm yếu toát ra sự khắc khổ, cô đơn tột cùng:

“Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn

Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về”

Đây là toa tầu hạng ba, toa rẻ tiền nhất dành cho người cùng khổ, buôn gánh bán bưng, hàng hóa, thúng mẹt ngổn ngang với người, trong không khí ẩm mốc, tối tăm. Vậy mà, ở góc cuối toa đó phảng phất làn ánh sáng dị ảo, như ánh sáng từ một đốm nhang trầm, ấm và thơm. Nhang đâu mà đốt nơi khổ nhục nhớp nhúa này ? Nh́n kỹ …. Và nh́n kỹ hơn th́ không thấy cây nhang nào. Làn hương lặng thầm, kín đáo đó h́nh như tỏa ra nơi ông thầy tu ốm yếu mà từ lúc bước lên tầu vẫn an nhiên khép hờ đôi mắt, nhiếp tâm, quyện thành ngũ-phần-hương lan nhẹ khắp ḷng toa:

“Khi tâm tư chưa là gỗ mục

Ḷng đất đen c̣n giọt máu xanh ngời”

Ông như không quan tâm ǵ, ngay cả những lúc tầu dừng ở mỗi sân ga. H́nh như ông có đến mà không đi, hay có đi mà chẳng đến. Nơi đến hay chốn đi cũng như nhau thôi khi ông đă từng thấy rồi, thấy ngôi nhà mà chúng sanh miệt mài khổ nhọc kiếm t́m. Chắc phải thế ông mới an nhiên tự tại như vậy được. Nếu ông đă thấy ngôi nhà Phật th́ ông với Phật không hai, dù nơi thênh thang hay tận cùng tuyệt lộ:

“Nhất triêu cước lạc huyền nhai hạ

Thỉ bả chân không đối tịch hồng

Một sớm đưa chân vào tuyệt ngạn

Mới lấy Chân Không rọi đêm nồng”

Một vài người nghèo khổ ngồi gần, kín đáo nh́n ông, kín đáo chắp tay khi thỉnh thoảng ông hé mắt nh́n ra khung cửa toa tầu. Ông nh́n ra, chẳng v́ chờ nơi đến mà chỉ muốn nh́n núi rừng. Thấy bóng núi cao đó, thấy cây xanh rừng kia, ông có thể đoán biết tầu vừa qua Nghệ An nơi có chùa Phổ Nghiêm, qua núi Dục Thúy nơi có chùa Sơn Thủy, qua Thừa Thiên, nơi có chùa Bảo Quốc, qua Huế, nơi Từ Đàm Từ Hiếu c̣n đứng đó với sương rêu …. Ḷng ông chợt rung động. H́nh như ông vừa bước ra khỏi thế giới của ḿnh. Ông nh́n những người dân lam lũ xung quanh, nh́n những món hàng nhỏ nhoi dăm kư đường, dăm bó củi, rổ trái cây …. nhưng là gia tài của những người đang bương trải lượm từng hạt cơm về cho gia đ́nh. Cả một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến, phút chốc, bỗng chỉ c̣n một thôi thúc duy nhất là đi kiếm thức ăn ! Ông thầy tu cũng rung động khi ư thức rằng ông đang đi về Chùa. Chùa, một tiếng thân thương ấy đă từ mười lăm năm nay ông nhớ tưởng. Chùa. Ông sẽ về nơi ấy. Chùa. Dù bất cứ ngôi Chùa đó ở đâu. Ông đang đi về Chùa, không phải là về lại ngục tối sau những lần bị thẩm cung, tra tấn. Ư nghĩ “Về Chùa” làm ông nôn nao và dạ dày quặn thắt. Th́ ra, ông đă tuyệt thực mười ngày rồi. Ông tuyệt thực v́ trước khi thả ông do áp lực Quốc Tế, kẻ cầm quyền đă bắt ông kư giấy xin khoan hồng rồi mới thả. Mang trong lồng ngực một trái tim chỉ biết đập nhịp Bi Trí Dũng nên ông đă lạnh lùng từ chối “xin tha” điều ḿnh “chưa từng phạm”. Và để tỏ quyết tâm, ông thầy tu đă tuyệt thực, lặng lẽ tuyệt thực, chỉ ông biết và kẻ giam cầm ông biết mà thôi, đằng trước không tuyên cáo, tuyên bố; đằng sau không yểm trợ, ủy lạo ǵ cả. Ông im lặng trở về nhà giam, từ chối cơm tù. Thế thôi. Nhưng hẳn là trong im-lặng-sấm-sét đó đă lóe lên lằn sáng xanh biếc diệu kỳ của thanh gươm Bát Nhă, nên cánh cửa ngục phi luân đă phải mở ra:

“Buổi vô thủy hồn tôi từ đáy mộ

Uống sương khuya t́m sinh lộ viễn tŕnh

Khi nắng sớm hôn nồng lên nụ nhỏ

Tôi yêu ai, trời rực sáng b́nh minh ?”

Từ ngục tối nơi heo hút sơn lam chướng khí miền Bắc, ông thầy tu được đẩy lên toa tầu bẩn thỉu, xuôi Nam.

Mười lăm năm khổ sai, mười ngày tuyệt thực, ba mươi sáu tiếng đồng hồ liên tục trên con tầu cũ kỹ gập ghềnh, ông thầy tu không c̣n sức nữa. Ông dùng tàn lực đứng dậy khi con tầu chầm chậm ngừng ở một sân ga. Không cần biết là ga nào, ông phải bước xuống thôi. Có người nào đó đưa tay ra đỡ ông, d́u ông xuống hẳn mặt đường:

- Thưa thầy, thầy về đâu ?

- Chùa.

- Thưa thầy, đây là tỉnh Nha Trang, có Phật-học-viện Hải Đức.

- Hải Đức.

Ông thầy tu lập lại hai tiếng ấy cùng với âm thanh đại hồng chung gióng lên từ ba ngàn thế giới. Nương theo âm thanh đó, ông bước đi như mơ, cứ thế mà bước, xiêu vẹo, ngả nghiêng, vấp ngă nhưng vẫn bước. Trong tâm ông rộn ră câu chú: “Gate. Gate. Paragate. Parasamgate. Bodhi. Svaha.”.

 

Ông thầy tu quỵ xuống trước cổng tam quan, loáng thoáng nghe tiếng nhiều bước chân lao xao chạy tới và mơ màng thấy một bóng áo nâu từ trong chùa hối hả bước ra:

- Chuyện ǵ đó ?

- Bạch Thầy, Ngài đă về. Ngài đă về.

- Ai về ?

- Bạch thầy, Thượng Tọa Tuệ Sỹ. Thượng Tọa Tuệ Sỹ đă về. Ngài đă về.

 

Phút chốc, cả không gian như cùng vang lên câu chú Bát Nhă:

“Gate.

Gate.

Đă về.

Đă tới ….”

Đó là ngày đầu tháng 9 năm 1998.

 

Nam Mô Bát Nhă Hội Thượng Phật Bồ Tát Ma Ha Tát.

Diệu Trân
Tháng7, 2005
 Mùa An Cư Kiết Hạ

 

* Thơ trích từ thi tập Giấc Mơ Trường Sơn của thượng Tọa Thích Tuệ Sỹ.

---o0o---

 

Cập nhật: 01-07-2005

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>