categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

              

CHUYẾN Đ̉ CANH BA, CHỞ HOA VÔ NIỆM


Diệu Trân

  

H́nh ảnh những bến đó, những sân ga, gợi cho chúng ta sự linh động của đến, đi, chia tay và hội ngộ, khởi hành và điểm tới, tùy theo định hướng của từng đối tượng.

Suốt chặng đường đời, đă bao lần lữ khách đứng bên sông, đợi bóng một con đ̣, ḷng bâng khuâng tưởng về nơi sẽ tới, người sẽ gặp ? Hay c̣i tầu giục giă sân ga có làm nôn nao bao người đi, kẻ ở ?

Nhân gian đă từng ngược xuôi muôn vạn chuyến Đi, Về, nhưng con đ̣ kia, chuyến tầu nọ, h́nh như chỉ là “Nhạn quá trường không. Ảnh trầm hàn thủy. Nhạn vô di tích chi ư. Thủy vô lưu ảnh chi tâm”, chẳng lưu lại ǵ, như chim bay ngang trời, bóng ch́m đáy nước. Chim không ghi lại h́nh ảnh của ư th́ nước nào mà ghi được bóng dáng của tâm ?

Thế nên, nhân gian cứ đến và đi như gió thoảng mây trôi, cứ tiếp tục luân hồi ch́m đắm, dù thảng hoặc, sách vở ghi lại những Đến và Đi “lịch sử”, theo quan niệm hạn hẹp của nhân gian. Chẳng hạn - một sự kiên thôi -như chuyến đi của tráng sỹ Kinh Kha, một ḿnh một kiếm sang Tần với nhiệm vụ giết bạo chúa để cứu muôn dân. Thí dụ sự kiện này v́ Kinh Kha được ca ngơi tới mức danh-từ-riêng “Kinh Kha” được người đời dùng như một tĩnh từ kép để nói về cái đẹp, cái uy dũng, cái hào khí ngất trời, thỉnh thoảng thấy trong thơ văn, như bước-chân kinh-kha, khí-phách-kinh-kha, tấm-ḷng-kinh-kha v...v... Tráng sỹ Kinh Kha không hoàn thành được sứ mạng v́ âm mưu bị bại lộ. Dù không ai luận anh hùng qua sự thành bại, nhưng những huyền thoại quanh việc Kinh Kha sang Tần có những điều tàn nhẫn quá đáng. Chẳng hạn, trong tiệc rượu vua quan triều thần khoản đăi trước lúc ra đi, Kinh Kha chỉ buột miệng khen cánh tay đẹp của một ca nhi dâng rượu th́ sau đó ít phút, một mâm tặng phẩm phủ khăn lụa đỏ được đem ra. Kinh Kha mở tấm lụa, thảng thốt. Đó là đôi tay đẹp của người ca nhi vừa dâng rượu !!!!!!

Chuyến ra đi làm sao c̣n đẹp khi máu vô tội đă chảy v́ bước chân người đi !?

    Nhưng may thay, có những chuyến đi không tiện rượu, không nhă nhạc, không cả tấp nập tiễn đưa, nhưng những chuyến đi ấy c̣n rực rỡ hào quang đến nay, c̣n là đuốc soi đường, c̣n vô cùng vô tận lợi ích quần sanh.

 Các bạn có th́ giờ không ? Chúng ta ôn bài nhé, chỉ là ôn bài thôi, v́ câu chuyện này chúng ta đều đă được nghe qua ít nhiều nên trong khi ôn bài,  ta sẽ không chú tâm vào chi tiết nội dung mà sẽ nh́n bằng nhăn quan của người thưởng thức hội họa, nghĩa là nh́n toàn diện cái đẹp phảng phất, mênh mang đă tạo thành tuyệt tác phẩm, chứ không tấm tắc khen tranh v́ bức này vẽ cái ly giống quá, bức kia vẽ bông hoa thật thắm tươi. Nh́n ngắm như thế, e rằng chúng ta chỉ thấy cảnh mà không thấy cái tâm đă tạo ra cảnh. 

Bài ôn hôm nay là câu chuyện người thanh niên tên Huệ Năng, nhà nghèo, mù chữ, xuất thân từ đất Lĩnh Nam. Cha mất sớm, Huệ Năng làm nghề đốn củi nuôi mẹ, chưa từng bao giờ được đến trường tiếp nhận một chữ Thánh Hiền. Một lần giao củi tới nhà khách, Huệ Năng thoáng nghe tiếng tụng kinh. Dừng sát bên vách, ghé tai chăm chú, chàng thanh niên đó nghe được câu kệ “ Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”. Chỉ câu kệ đó đă thúc đẩy Huệ Năng can đảm bước vào hỏi:

- Thưa ngài, ngài đang tụng kinh ǵ đó?

Khách bảo:

-         Ta tụng kinh Kim Cang, do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn chùa Đông Thiền, huyện Hùynh Mai tuyên giảng.

-         Thưa ngài, từ đây tới đó bao xa ?

-         Đi khoảng ba mươi ngày sẽ tới, ngươi hỏi làm chi ?

-         Thưa ngài, tôi muốn được nghe pháp vi diệu này.

 Tấm ḷng thiết tha cầu đạo của chàng thanh niên nghèo đă làm một thiện nhân cảm động.  Người ấy đưa cho Huệ Năng mười lạng bạc, bảo về thu xếp sự ăn ở cho mẹ già để yên tâm lên đường trực chỉ Hoàng Mai.

 Nếu duyên chưa hội đủ, có kẻ xa lạ nào sẵn ḷng đưa mười lạng bạc cho người thanh niên nhà quê, làm nghề đốn củi, chỉ v́ ư muốn vu vơ là t́m thầy học đạo?

Chỉ chi tiết này cũng đủ khiến chúng ta rơi lệ, phải không quư đạo hữu? V́ nếu không an tâm về cái ăn, nơi ở của mẹ già th́ người con hiếu thảo như Huệ Năng không bao giờ ra đi được, dù là đi t́m đạo.

Chuyến đi đó, tranh vẽ nào có thể đẹp hơn ?

Khi đến huyện Huỳnh Mai, Huệ Năng hỏi đường tới chùa Đông Thiền, vào bái yết Ngũ Tổ. Tổ hỏi:

- Ngươi từ đâu ? Tới cầu chi ?

- Thưa Tổ, con người Lĩnh Nam, tới cầu làm Phật.

- Người Lĩnh Nam quê mùa, sao cầu làm Phật được?

- Thưa Tổ, người tuy có Nam có bắc nhưng Phật tánh th́ không phân chia Nam Bắc. Thân quê mùa này so với Tổ có khác nhưng Phật tánh trong thân này với thân Tổ nào sai khác chi đâu !

Nghe thế, Tổ Hoằng Nhẫn vội nói:

- Thôi được, hăy đi xuống nhà trù, lo công việc giă gạo.

Huệ Năng quỳ xuống, lạy tạ Tổ đă thâu nhận và vâng lời, xuống nhà bếp lo giă gạo, bổ củi.

 Chúng ta tưởng Tổ tàn nhẫn ư? Không đâu, Tổ quá từ bi đấy, v́ ngài nhận ra ngay, thanh niên nhà quê này không phải tầm thường. Trước mặt đông đảo môn sinh của chùa Đông Thiền, Ngũ Tổ không muốn họ nhận ra sự quan tâm đặc biệt của Tổ đối với kẻ nghèo khổ, vừa từ xa đến. Đó là Tổ muốn bảo vệ Huệ Năng, không chỉ buổi đầu đó mà để cho an toàn, tám tháng sau Tổ cũng không ngó ngàng tới người thanh niên suốt ngày bửa củi, giă gạo dưới bếp.

Nhưng hạt đă gieo, phải tới lúc nẩy mầm. Đó là khi Tổ gọi toàn thể môn sinh, hơn một ngàn người tới, truyền rằng:

- Các con theo học ta đă lâu, nay tới lúc kiểm điểm lại thành quả ḿnh. Mỗi người hăy làm một bài kệ, nói lên cái đă thấy biết của ḿnh. Ta sẽ duyệt xét từng bài, hễ nội dung chứng tỏ đă ngộ, ta sẽ trao truyền y bát cho kẻ đó, lănh trách nhiệm của vị Tổ thứ sáu.

 Thật là một lời truyền vô cùng quan trọng. Cả ngàn môn sinh họp nhau bàn bạc rồi cùng đồng ư xin thầy Thần Tú đại diện, làm một bài thôi v́ Thần Tú là người thông minh, trí tuệ nhất đại chúng, ai mà có thể làm hay hơn được!

Thần Tú viết bài kệ lên vách tường:

Thân thị như Bồ Đề

Tâm như minh kính đài

Thời thời cần phất thức

Vật sử nhạ trần ai

Đại ư, thân như cây Bồ Đề, tâm như tấm gương trong, phải luôn lau chùi quét dọn cho bụi khỏi bám vào. 

Bài kệ được các đồng môn của Thần Tú nức nở khen hay, ai cũng thuộc, cũng đọc nghêu ngao suốt ngày, cho đến nơi nhà bếp, Huệ Năng cũng nghe được. Người thanh niên suốt tám tháng trời chỉ im lặng bổ củi, giă gạo, đă mon men đến bức tường có bài kệ đó, nhờ một người đọc lại cho nghe. Nghe xong, Huệ Năng bảo người ấy:

- Tôi cũng có bài kệ, nhưng không biết chữ, xin huynh viết lên giúp tôi được không ?

Bài kệ của Huệ Năng như vầy:

Bồ Đề bổn vô thụ

Minh kính diệc phi đài

Bản lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai.

Đại ư, Bồ Đề - ví như thân- thật ra chẳng phải cây, tâm sáng như gương th́ chẳng cần đài, bản chất đích thực KHÔNG LÀ G̀ CẢ th́ lấy chỗ đâu cho bụi bám mà phải lo lau chùi !

 Kệ của Thần Tú ở thể xác định, kệ Huệ Năng ở thể phủ định, hoàn toàn trái ngược. Khi hai bài kệ được viết gần nhau, đại chúng đều sửng sốt !

 Ngay đêm đó, Ngũ Tổ Hoằng  Nhẫn xuống nhà bếp, t́m Huệ Năng.

- Ngươi biết v́ sao ta không hỏi han chi tới ngươi trong tám tháng qua không ?

Huệ Năng quỳ xuống:

- Đa tạ sự che chở của sư phụ, đệ tử đă biết,

- Tốt.

Và Tổ dùng gậy trúc, gơ xuống sàn ba tiếng, rồi thong thả đi ra.

 Canh ba đêm đó, Huệ Năng tuân theo hiệu lệnh, lặng lẽ lên pḥng Tổ. Cửa được đóng kín lại ngay sau khi Huệ Năng bước vào. Dưới ánh nến lung linh, tṛ kính cẩn quỳ gối, nhận Y Bát và lời chỉ dạy:

- Ngươi nay là Tổ thứ sáu, nhưng chưa thuận duyên để truyền giáo. Ngay đêm nay, ngươi phải lập tức lên đường, cố gắng bảo trọng thân mạng v́ sự tranh giành Y Bát này sẽ xảy ra. Ta không có sự chọn lựa nào khác. Vậy hăy đi ngay trước khi trời sáng.

- Bạch sư phụ, con từ xa tới, nay biết phương hướng nào mà đi đâu ?

- Chớ lo, ta sẽ đưa ngươi một đoạn thuyền

 Đêm đó, trời không trăng nhưng đầy sao. Bến đ̣ Cửu Giang vắng vẻ, u tịch nhưng hương đêm lăng đăng làn nhang trầm phảng phất từ tàng-kinh-các nào. Trong không gian huyền hoặc đó, con đ̣ nhỏ tách khỏi bờ lau, trôi êm về phương Nam. Sao trời lấp lánh trên áo nâu sồng của một già, một trẻ, không nói lời nào mà đang trao truyền muôn vạn lời.

 Chuyến đ̣ rời nhánh sông Cửu Giang vào canh ba đêm ấy đă để lại cho chúng ta bao tặng phẩm vô gía từ tấm ḷng nhị vị Đại-Sư. Con đ̣ nhỏ chở đầy từ tâm, độ lượng của Ngũ Tổ và trí tuệ, nhẫn nhục của Lục Tổ đă thành những trang Bảo Đàn Kinh châu ngọc, dẫn dắt chúng sanh nhận ra “Bản lai vô nhất vật”.

 “Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác th́ bản lai của anh là ǵ?”
Đó là bài pháp đầu tiên Lục Tổ độ cho người toan ám hại ḿnh để giành Y Bát. 

Sau đó, suốt mười lăm năm sống ẩn dật với đám thợ săn v́ biết chưa hội đủ thuận duyên hoằng pháp, nhưng mười lăm năm đó, Lục Tổ Huệ Năng cũng đă phương tiện, độ cho bọn người chỉ biết một cách duy nhất để t́m thực phẩm là săn bắn.

 Khi duyên đă đủ, Lục Tổ rời rừng núi, t́m đến chùa Pháp Tánh tỉnh Quảng Châu, nơi pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết Bàn. Hôm đó, trời nhiều gió làm lay động những màn, phướn treo quanh giảng đường. Lục Tổ  nghe thấy hai vị tăng  đối thoại, người th́ bảo “gió động”, người kia nhất định không phải gió, mà là “phướn động”.

Khi ấy, Lục Tổ đến bên, nhẹ nhàng bảo:

- Không phải gió động cũng chẳng phải phướn động mà là tâm quư vị động đó thôi.

Vừa nghe như thế, hai vị tăng bỗng ngộ. 

Đó là bài pháp thứ hai mà Lục Tổ dạy cho chúng sanh. Giai thoại này lập tức đến tai pháp sư Ấn Tông đang ngồi trên ṭa cao giảng kinh. Pháp sư cho mời người thanh niên có dáng vẻ nghèo nàn, lam lũ đó tới gần. Khi biết Huệ Năng từ Hoàng Mai đến, pháp sư hỏi:

- Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn dạy ông những ǵ?

- Chỉ luận về sự “thấy tánh”

- C̣n thiền định và giải thoát th́ sao?

- Đó là hai pháp nên chẳng phải Phật pháp v́ nếu đích thực Phật pháp th́ phải là pháp không hai.

Pháp sư Ấn Tông chưa hiểu kịp, bèn khẩn khoản:

- Xin ông dạy rơ hơn.

- Tỷ như thiện căn có hai mặt: thường, hoặc vô thường. Tỷ như Uẩn và Giới, kẻ phàm phu phân biệt là hai, khi liễu ngộ mới thấy tánh của chúng là không hai. TÁNH KHÔNG HAI CHÍNH LÀ PHẬT TÁNH, là thể trong suốt, chẳng thường cũng chẳng vô thường nên không hề bị đoạn ĺa. Phật tánh đó, chúng sanh hoặc nhận ra, hoặc chưa nhận ra chứ không thể lưng chừng như ác lẫn thiện, đẹp lẫn xấu.

 Đó là bài pháp thứ ba, Lục Tổ tuyên giảng khi chưa chính thức đăng đàn thuyết pháp.

Chính ba bài pháp đầu tiên này là nền tảng cho pháp môn Vô Niệm, mà Lục Tổ Huệ Năng đă hết ḷng truyền dạy lại cho môn đồ, tứ chúng, để sớm nhận ra điều quan trọng, rốt ráo mà Chư Phật bao đời đă khổ công mong chúng sanh đạt tới. Đó là, NHẬN RA ĐƯỢC PHẬT TÁNH CỦA M̀NH

 Đa tạ tuệ nhăn của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn đă nh́n suốt “kỳ tâm” của người thanh niên đất nghèo khổ Lĩnh Nam để hậu sinh được có Lục Tổ Huệ Năng.

Đa tạ con đ̣ canh ba năm xưa, đă “Ưng vô sở trụ”, xuôi êm gịng pháp diệu kỳ để tṛn đầy huyền nghĩa câu kinh lóng lánh Kim Cương:

“Ưng vô sở trụ. Nhi sanh kỳ tâm”

 

Diệu Trân

(17 tháng 6 năm 2006)

---o0o---

 

Cập nhật: 01-07-2006

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>