categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

TUỆ SỸ – THÁI ĐỘ CỦA NHÀ SƯ NHẬP THẾ

 

Nguyên Siêu

  

Cung cách dung dị, hiền từ tay lần chuỗi hạt chẫm răi, tự tại trong nhà Thiền, bên tách trà sen bốc hơi ấm, đó là h́nh ảnh thân thương, tôn kính toát ra từ vị Sư Trụ Tŕ nơi các Tổ Đ́nh, Cổ Tự của nhiều thập niên, nhiều thế kỷ qua. H́nh ảnh ấy là biểu tượng của các bậc Thạch Trụ Thiền Gia, Long Tượng Thạc Đức, là bài thuyết pháp vô ngôn, thân giáo thanh tịnh, giới đức tinh nghiêm. Đó chính là nơi quy ngưỡng của hàng Phật tử bằng lư tưởng tu tập và phụng sự làm lợi ích, an lạc cho tha nhân.

Dưới mọi hành trạng, ứng xử thích nghi với đời, để thể hiện công hạnh độ sinh, ban vui cứu khổ mà tinh thần nhập thế của đạo Phật tùy duyên, vô tướng hiện bày khắp chốn, thời gian cho từng người, cho từng quốc gia, xă hội. Tinh thần nhập thế ấy, đă trải dài suốt một ḍng lịch sử Phật giáo Việt Nam mà cũng là ḍng lịch sử Phật giáo thế giới, qua bao thăng trầm vinh nhục của loài người.

Bằng bài học nhập thế, nhằm góp phần xây dựng quê hương thanh b́nh thịnh trị cho dân tộc được hạnh phúc, tự do cho những thế hệ kế thừa có t́nh thương đồng loại, Thầy Tuệ Sỹ đă đi trên con đường mà từ ngàn xưa chư vị Tổ Sư, Tiền Nhân đă đi, đă hành sử những hạnh nguyện mà các bậc Thầy đă ứng xử qua thái độ nhập thế như là một hiện thân v́ con người.

1.   Thái độ nhập thế qua công tŕnh trước tác, dịch thuật, thơ văn.

Để góp phần làm giàu đẹp cho gia tài văn hóa nước nhà, cũng như Đạo pháp, Thầy đă dành phần lớn thời gian, công sức để trước tác, dịch thuật Kinh Luật Luận, nghiên tầm các hệ phái triết học, tư tưởng Đông Tây và cũng chính từ đó, Thầy đă đi vào “Những Phương Trời Viễn Mộng.”

*   Lănh vực Đạo học, Kinh Luật Luận:

Bằng sở tri lịch lăm, kiến văn sâu xa mà nhất là cổ ngữ chữ Nho, Pàli, Sankrit là phương tiện duy nhất để phiên dịch Tam Tạng. Những bộ kinh Thầy đă hoàn tất như bộ A Hàm, Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết, Thắng Man Phu Nhân...

Bộ Kinh A Hàm được xem là bộ Kinh tiêu biểu cho nền tảng của Phật giáo Nguyên Thủy. Tất cả những thời kinh mà Đức Phật đă thuyết giảng trên con đường hoằng hóa, làm tươi mát cho mọi đời sống từ Vua quan cho đến hàng dân dă, từ tầng lớp đạo sỹ cho đến hàng nông nô, từ những tướng cướp giết người cho đến hàng kỹ nữ lang bạc, tất cả đều được hóa độ để trở thành bậc Thánh. Đó là tinh thần giáo pháp làm sống dậy t́nh người, ngày thêm hương sắc để đưa đến chân trời thánh thiện.

Thầy dịch bộ A Hàm, cho chúng ta thấy được rằng: lời Phật dạy xây dựng một đời sống chân hạnh phúc gia đ́nh quốc gia xă hội. Đây được xem như tinh thần nhập thế tích cực. Đời sống của người cư sỹ Phật tử hạnh phúc trong hiện tại và tương lai. Một cái nh́n rất nhân bản và cấp tiến trên t́nh thương yêu đồng loại, liên đới giữa cá nhân và cộng đồng loài người trên thế giới. Các mối tương quan tốt đẹp giữa Cha Mẹ và con cái, giữa Thầy và tṛ, giữa bạn bè và bà con xóm giềng, giữa người chủ và thợ... Thầy đă mang hành trang chữ nghĩa, ư kinh để làm nguồn cảm hứng giác ngộ cho những ai đem tâm sưu khảo, nghiên tầm và áp dụng giáo pháp vào đời sống hằng ngày, để từ đó chứng đắc giáo pháp nơi tự thân mà được giải thoát.

Tinh thần nhập thế thứ hai là Kinh Duy Ma Cật Sởû Thuyết và Thắng Man Phu Nhân, đây là hai bộ Kinh được tiêu biểu cho hạnh Bồ Tát tại gia của Trưởng giả Duy Ma Cật và Phu Nhân Thắng Man. Nơi đây, tinh thần nhập thế được mở rộng, hoàn toàn xả kỷ vị tha, phá trừ mê lậu vọng chấp, để thẳng tiến đến chân trời Phật tánh b́nh đẳng. Phiên dịch Tam Tạng Kinh Điển là điều Thầy thường khuyên nhủ học Tăng phải thông Hán học, giỏi Pàli và rành Sankrit v́ đó là những ngoại ngữ mà người muốn dịch thuật Kinh Luật Luận không thể không thông. Do vậy, Thầy đă dạy Phạn ngữ và Pàli hầu như suốt thời gian cho Tăng sinh Phật Học Viện để chuẩn bị cho nền dịch thuật sau này.

Thái độ nhập thế của Thầy được biểu lộ qua “Tự Ngôn” của bộ luật Tứ Phần: “Chúng tôi hy vọng những đệ tử kế thừa y bát của Ḥa Thượng sẽ chú tâm thực hiện các Phật sự này, một là để không phụ ân đức giáo dưỡng tài bồi của Sư Trưởng, hai là góp phần vào sự tăng trưởng hưng thịnh của Tăng già, tiếp nối mạng mạch của chánh pháp, làm chỗ nương tựa và phước điền cho thế gian.”

Như vậy, công tŕnh nghiên cứu dịch thuật của Thầy nhằm mục đích là hoàn thành bộ Đại Tạng Kinh Việt Nam để cho người Phật tử dễ dàng tŕ tụng, tham vấn mà không c̣n lệ thuộc vào ngôn ngữ cũng giống như các quốc gia khác. Đây là công tŕnh lâu dài và to lớn mà Thầy đă góp một phần quan trọng trong công việc phát huy và bảo tồn nền văn hóa, học thuật đạo pháp.

*   Lănh vực thế học thơ văn:

Mang hành trang vào đời bằng ngôn ngữ thi ca, Thầy đă tham cứu các tư tưởng triết học từ Âu sang Á. Trong bài Cogito Bát Nhă - Dưới ánh sáng của Hiện Tượng Luận, nơi đây Thầy đă gặp Descartes, Husserl là những nhà toán học, triết học, đă đề cập đến trong cuốn “Tư Tưởng Dẫn Đạo Vào Hiện Tượng Học”. Husserl định nghĩa:  “Hiện tượng học là một khoa học căn bản đặt nền cho triết học; nó được gọi là khoa học về hiện tượng.” Hay trong bài so sánh các vấn đề triết học Phật giáo, Thầy đă có lệ ngôn: “Cogito là một danh từ La Tinh có nghĩa là “Tôi suy tưởng” rút trong nguyên lư triết học của Descartes: “Cogito ergo sum - tôi suy tư tức tôi hiện hữu”... Sau này Husserl, Sartre, Heidegger lần lượt theo Descartes suy niệm về bản thể của tri thức và đem lại cho danh từ Cogito những nội dung khác nhau. Do đó, chúng tôi cũng có ư mượn danh từ Cogito là một đề mục cho sự nghiên cứu bản thể tri thức siêu nghiệm của Đức Phật, trong loạt bài so sánh triết học Đông Tây của chúng tôi mang tính triết học lồng vào tư tưởng Tánh Không Luận là ǵ ? Thầy đă mượn lời nói của Heidegger: “Aus der Erfahrung des Denkens”. “Có thể vay mượn những lời nói như vậy để khởi đầu cho sự chờ đợi tiếng vọng đáp ứng của những ǵ đó đang ẩn ḿnh trong bóng tối... kiên tŕ và dừng lại để chờ đợi trong sự bế tắc là liều lĩnh kư thác ḿnh cho một cuộc chơi ngoạn mục của thiên diễn, là liều lĩnh đứng lại giữa ḍng thác đổ của vạn hữu.”

Trong cái thường có cái bất thường. Trong cái thuận ḍng có cái nghịch ḍng được diễn bày thiên lưu thiên biến, trong ư niệm triết học, tư tưởng, tri thức mà Thầy đă tạo dựng nên khung trời nghịch thường đó: “Không chịu tiệm tiến từng bước vững chắc như những đợt nhảy của con chim hồng: nhảy bên bờ nước, nhảy đến tảng đá, nhảy trên đất cạn, nhảy trên cành cây, nhảy lên g̣ cao và cuối cùng bay trong thương khung để lông cánh làm đẹp cho bầu trời.” Và để từ đó trả lời Tánh Không Luận là ǵ?  Như là: “Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại đôi cánh và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn.” Hay một định nghĩa khác: “Trong tư tưởng, mọi sự trở thành cô liêu và lững thững.” Ấy là Triết học Tánh Không được nói bằng ngôn ngữ của Thầy với thái độ của kẻ sĩ nhập thế.

Từ chân trời triết lư phương Tây, Thầy đă trực nhập vào nền triết học Đông phương tiêu biểu là nền triết học Trung Hoa. Những nhà thơ Đào Tiềm, Dă Đảo, Lư Bạch, Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị ... Thầy đă đều gơ cửa ghé thăm để bầu trời thơ của Thầy phiêu diêu lăng đăng, như hương, như sắc hiến tặng cho đời.

Đại diện cho nền triết học Trung Hoa là Kinh Thi và Kinh Dịch. Nơi đây, chúng ta nghe Thầy nói:

“Kinh Thi và Kinh Dịch như đôi cánh của con chim nhạn chuyên chở định mệnh của lịch sử Trung Hoa bay lượn suốt mấy mươi thế kỷ trên ṿm trời Viễn Đông. Dịch trải rộng con đường cho những bước đi lịch nghiệm trong cuộc tồn sinh; Thi là tâm nguyện khẩn thiết và trung thực từ giữa chỗ sâu thẳm của t́nh người và ḷng người được mang ra để lịch nghiệm cuộc lữ mà Dịch đă phơi bày ra đó. Âm hưởng của Thi là tiếng vang của nhịp bước trong cuộc lữ.”

“Lư Bạch là một trong những tay lái cự phách và có thể là nhất. Lăng đăng với tài hoa vừa lăng mạn vừa kiêu hùng nên quyến rũ và tạo ra một trường say sóng. Say trong một buổi tiệc, lượm lặt những vật phế khí của trời đất, để thống ẩm cuồng ngông. Gậy lục ngọc của Lư Bạch được mượn để gơ lên đầu lịch sử, đẩy lịch sử vào mê cung bát trận đồ.”

“Thơ vẫn là một cuộc lịch nghiệm Riêng và Chung của Thời Đại và Lịch Sử. Từ cuộc Riêng, Thơ nương theo đôi cánh Thi và Dịch để đi về nơi Hoằng viễn, dẫn lịch sử uyên nguyên tụ hội với thời đại.”

Bằng cách nói của biện chứng pháp hay để kết thúc ư niệm triết lư, tư tưởng, Thầy viết:

“Bao lâu con người c̣n đắm ch́m trong triết lư, khái niệm và ngôn từ của triết lư, th́ bấy lâu, con người vẫn là một kẻ lữ hành trong đêm trường kinh khiếp.”

Thật sự Thầy muốn khơi dậy, đánh động tri thức tự tri, tự giác để đi trên con đường tu chứng hơn là triết lư, luận giải, phải thể hiện một đời sống thực tế có ích, có lợi cho chúng sanh, hơn là lư luận suông. Dù sự lợi ích ấy nhỏ nhặt, khiêm tốn, b́nh dị.

Phương trời viễn mộng, như là bầu trời thơ của Thầy đă kết tinh một tấm ḷng v́ quê hương, dân tộc, về một chặng đường lịch sử nguy nan, khốn khó mà con người phải mang nặng trên đôi vai sinh tử của thời đại. Phương trời viễn mộng đó, mênh mông những vần thơ mang tính tự tồn, độc lập, kiêu hùng của ḍng lịch sử quê Cha, đất Tổ mà Thầy luôn măi là đứa con của giống ṇi, lênh đênh theo ḍng sử mệnh quê hương.

“Tiếng trẻ khóc ngân vang lời vĩnh cửu

Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh

Tôi là cỏ trôi theo ḍng thiên cổ

Nghe lời ru nhớ măi buổi b́nh minh.

 

Buổi vô thủy hồn tôi từ đáy mộ

Uống sương khuya t́m sinh lộ viễn tŕnh

Khi nắng sớm hôn nồng lên nụ nhỏ

Tôi yêu ai, trời rực ánh b́nh minh.”

(B́nh Minh – Tuệ Sỹ)

 

Từ  thời lập quốc, từ thủa sơ khai của nước nhà Lạc Việt là thời thái b́nh, an cư lạc nghiệp, đó là buổi b́nh minh, là tiếng khóc đầu đời của dân tộc Việt có mặt trên dải đất dấu yêu. Để xây dựng cho giang sơn gấm vóc, bao anh hùng liệt nữ đă tô đậm non sông bằng máu đỏ của thân ḿnh để làm tươi thắm ruộng đồng, mà hôm nay Thầy tiếp nối ḍng sông lịch sử ấy, đem nước mát, phù sa ph́ nhiêu cho dân sinh nhuần đượm. Nhưng nay, thời thanh b́nh thịnh trị đó đă không c̣n để Thầy phải viết lên tâm tư qua “Bài Ca Cuối Cùng”:

“Chim trời xếp cánh

Hát vu vơ mấy tiếng trong lồng

Nhớ măi rừng cây thăm thẳm

Ủ tâm tư cho hạt thóc cay nồng

Rát bỏng với nỗi hờn tủi nhục

Nó nhịn ăn

Rồi chết gục

Ta đă hát những bài ca phố chợ

Người ăn mày kêu lịch sử đi lui

Chàng tuổi trẻ cụt chân từ chiến địa

Vỗ lề đường đoán mộng tương lai

Lộng lẫy chiếc lồng son

Hạt thóc căng nỗi hờn

Giữa tường cao bóng mát

Âm u lời ca khổ nhục

Nó nhịn ăn

Và chết.

 

H́nh ảnh này là thực trạng của quê hương Việt Nam chúng ta hôm nay. Thầy đă đi từng vỉa hè, góc phố, chứng kiến cảnh trạng đau thương từ muôn người đến muôn vật, từ t́nh cảm đơn côi đến cái nh́n nhăn quan tổng thể. Thái độ nhập thế không chủ quan, phiến diện mà là tâm trạng đau buồn cho quê hương, dân tộc, ngang qua những h́nh ảnh xót xa đau đớn. Nỗi đau của dân tộc cũng là nỗi đau của chính mỗi người trong chúng ta. Nỗi đau của người Mẹ mất con, nỗi đau của bà con ruột thịt chia ĺa, của cửa mất nhà tan, của một dân tộc bị lưu đày:

“Đêm qua chiêm bao ta thấy máu

Từ sông ngân đổ xuống cơi người

Bà Mẹ xoi tim con thành lỗ

Móc bên trong hạt ngọc sáng ngời

Lồng son hạt cơm trắng

Cánh nhỏ run uất hận

Tiếng hát lịm tắt dần

Nó đi về vô tận.”

(Bài Ca Cuối Cùng – Tuệ Sỹ)

 

Bằng cái nh́n thẩm thấu, v́ chan chứa t́nh thương đến mọi loài, vạn vật ngay cả loài vô t́nh cũng chiếu cố chẳng làm ngơ, khi mà tâm thức của Thầy bừng dậy như là sự sống của vạn loài chúng sinh.

“Lon sữa ḅ nằm im bên chợ

Con chó lạc

Đến vỗ nhịp

Trời mưa

Tôi lang thang

Đi t́m cọng cỏ

Nó nh́n tôi vô tư.”

(Tĩnh Thất 5 - Tuệ Sỹ)

 

Nỗi ưu tư của Thầy đă ḥa quyện cùng nỗi ưu tư của mọi người, của từng cái sống và cái chết, cái hữu t́nh, cái vô t́nh, cái sứ mạng thiêng liêng cao cả được hiện hữu nơi đây:

“Lời rao trong ngơ hẻm

Đồng hồ điện !

Cầu dao !

Công tắc !

Những lời rao chợt đến, chợt đi

Một trăm năm mưa nắng ra ǵ

Cánh phượng đỏ đầu hè ai nhặt?

(Tĩnh Thất 8 - Tuệ Sỹ)

 

Nhập thế để thấy thảm cảnh trên quê hương ḿnh hôm nay, mà ai trong chúng ta có chút suy tư về ḍng máu, con tim người dân nước Việt đều nhận chân ra một thực trạng như lời thơ của Thầy trong bài trường ca Tĩnh Thất:

“Con trâu trắng thẫn thờ góc phố

Nỗi hoài hương nhơi măi nhúm trăng ṃn

Đám sẻ lạnh gật gù trên mái đỏ

Sương chiều rơi có thấy lạnh nhiều hơn ?

Một chuỗi rắn ŕnh ṃ trong hẻm nhỏ

Không bụi đường đâu có chỗ đi hoang ?

 

Ngay đến những dă thú, loài vật cũng không có chỗ để đi trong ư nghĩa tự do của dân tộc ngay trên quê hương ḿnh. Nhưng, dẫu có tang thương đến hoa kia cỏ này đi nữa, Thầy vẫn một ḷng trung trinh với ḍng lịch sử mấy ngh́n năm văn hiến, được phát xuất từ núm ruột của Tổ tiên:

“Người đi đâu bóng h́nh ṃn mỏi

Nẻo tới lui c̣n dấu nhạt mờ

Đường lịch sử

Bốn ngh́n năm dợn sóng

Để người đi không hẹn bến bờ

(Tĩnh Thất 24 - Tuệ Sỹ)

 

Và, với bổn phận, trách nhiệm của người dân, Thầy tự đặt hướng đi cho chính ḿnh, việc làm cho chính ḿnh. V́, nếu không tự ḿnh có trách nhiệm với quê hương dân tộc, không xây dựng lại cơ đồ th́ ai sẽ đi xây dựng lại đất nước cho ḿnh? Dù tấm thân có nhỏ, đôi tay có gầy như cọng cỏ lề đường, th́ cũng mở ḷng che chở trong t́nh đồng loại để nghe tiếng th́ thầm của sông núi:

“ta không buồn

có ai buồn hơn nữa?

người không đi,

sông núi có buồn đi?

tia nắng mỏng xoi ṃn khung cửa

để ưu phiền nhuộm trắng hàng mi

 

ta lên bờ,

nắng vỗ bờ róc rách

gió ở đâu mà sông núi th́ thầm?

ḱa bóng cỏ nghiêng ḿnh che hạt cát

ráng chiều xa, ai thấy mộ sương dầm?

(Tĩnh Thất 4 - Tuệ Sỹ)

 

2.    Thái độ nhập thế qua cung cách giáo dục như là tư tưởng vượt thoát của con đường Bồ Tát Đạo

Thầy đứng trên bục giảng của Đại Học Vạn Hạnh thời rất trẻ, những giáo sư đồng nghiệp được xem như bạn vong niên, do đó mà Thầy được gọi là “Chú Sỹ”. Mặc dù nhỏ tuổi, nhỏ con nhưng ai cũng ngưỡng phục cái đầu không nhỏ, cái kiến thức rộng răi, cái chí nguyện cao vời và cái hạnh thâm trầm tinh tế của Thầy. Thầy đem sở học của ḿnh trao truyền lại cho sinh viên và luôn luôn lưu tâm đến thế hệ kế thừa. Thầy thường hay nói:

“Đất nước có giàu đẹp vững mạnh đều trông nhờ vào lớp người tuổi trẻ hôm nay. Nguồn năng lượng để cung cấp cho đất nước là khả năng và kiến thức của tuổi trẻ. Nếu ngày nay tuổi trẻ không được đào tạo, học hành kỹ lưỡng th́ đó là cái lỗi của thế hệ Cha Ông, chúng ta phải thấy điều đó mà ra công xây dựng tài bồi cho tuổi trẻ.”

Thầy luôn ưu tư đến con đường giáo dục và lúc nào Thầy cũng muốn dạy, dù có lớp học hay không, hoặc năm ba người mà dốc chí học, Thầy cũng không ngần ngại hướng dẫn. Hiện nay, Thầy có lớp giảng Duy Thức Học cho quư Thầy Cô cũng như Phật tử ở khắp thế giới trên Paltalk, đó là tinh thần giáo dục của Thầy. Từ nơi đại học phổ thông cho đến lớp cao đẳng chuyên khoa Phật Học, Thầy đem sự hiểu biết của ḿnh trong Kinh Luật Luận giảng dạy lại cho các thế hệ sau, như trong bài Đạo Phật và Thanh Niên, Thầy viết:

“Lời Phật cần ghi nhớ: “Chúng sanh là kẻ thừa tự những hành vi mà họ đă làm” và c̣n có lời Phật khác nữa: “Hăy là kẻ thừa tự chánh pháp của Như Lai, chớ đừng là kẻ thừa tự tài vật.”

“Các bạn trẻ học tập để chuẩn bị cho ḿnh xứng đáng là kẻ thừa tự. Kế thừa gia nghiệp của Cha Ông, của ḍng họ. Kế thừa sự nghiệp của dân tộc. Kế thừa di sản của nhân loại. Dù đặt ở vị trí nào, bản thân của các bạn trẻ, trước hết sẽ phải là người thừa kế thành công hay thất bại trong sự nghiệp kế thừa của ḿnh, đó là trách nhiệm của từng người, của từng cá nhân. Hăy tự đào luyện cho ḿnh một trí tuệ, một bản lănh để sáng suốt lựa chọn hướng đi, và dũng cảm nhận chịu trách nhiệm những ǵ ta đă lựa chọn và gây ra cho bản thân và cho cả chúng sanh.”

Giáo dục theo phương pháp tự tri, tự giác để thừa tiếp gia tài quê hương, dân tộc mà gia tài đó phải được đón nhận bằng đôi tay cẩn trọng, bằng trái tim nồng ấm của tuổi trẻ. Sự giáo dục con người, không phải chỉ giảng dạy bằng chữ, bằng nghĩa, bằng văn chương từ ngữ, mà Thầy luôn khơi tạo ư thức tự thân qua cái nh́n xuyên suốt ḍng lịch sử nước nhà. Sự giáo dục trách nhiệm cá nhân với chính nó. Sự giáo dục mối tương quan giữa ḿnh và người. Sự giáo dục t́nh cảm gắn bó giữa gia đ́nh và xă hội. Đây chính là sự giáo dục nhập thế mà Thầy đă vạch ra cho tuổi trẻ hôm nay, hướng thân lập mệnh trên hành tŕnh xây dựng đất nước. Tính chất giáo dục này chính là tư tưởng vượt thoát, không vướng mắc bởi những thế lực thế gian, đảng phái mà chỉ một ḷng hướng tâm thuần túy, trên sự hưng thịnh của quê hương dân tộc.

Sự giáo dục được thấm nhuần tinh thần Bồ Tát Đạo, biết hy sinh để cống hiến cho đời. Con đường Bồ Tát hành sử là hóa độ chúng sanh, tạo niềm b́nh an hạnh phúc cho kẻ khác. Giáo dục vượt thoát để không bị câu thúc nơi thế tục, quyền lực thế gian vây hăm. Nhưng, hôm nay, nền giáo dục vượt thoát, tự tri đó đă bị dập vùi, tẩy xóa, đó là nỗi đau thương của Thầy cũng như của bao người c̣n chút t́nh quê hương đất nước.

Thái độ giáo dục nhập thế như là cái nh́n sâu vào những vết hằn, vào những vết sẹo loang lổ trên thân h́nh dân tộc, quê hương, Đạo pháp, để thấy tận mắt bằng trái tim non của tuổi trẻ, bằng ư thức gầy dựng và bảo tồn di sản ngàn đời của Cha Ông, mà dường như bị ném vào bóng tối. Trong cung cách của nhà giáo dục nhập thế, Thầy đă vực dậy những ǵ đă bị sụp đổ, chỉ cho thế hệ trẻ nh́n thấy nỗi tủi nhục, thương đau, qua Thư Gửi Tăng Sinh Thừa Thiên-Huế:

“Thế hệ các con được giáo dục để quên đi quá khứ.  Nhiều người trong các con không biết đến Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất là ǵ; đă làm ǵ và cống hiến những ǵ cho sự nghiệp văn hóa, giáo dục, ḥa b́nh dân tộc, trong những giai đoạn hiểm nghèo của lịch sử dân tộc và đạo pháp của đất nước - Một quá khứ chỉ mới như ngày hôm qua, di sản vẫn c̣n đó nhưng đă bị chối bỏ một cách vội vàng - Di sản được tích lũy ṛng ră hằng thế kỷ, bằng bao tâm tư khổ lụy đau thương bằng máu và nước mắt của biết bao Tăng Ni, Phật tử; mà những người gầy dựng nên di sản đó bằng bi nguyện và hùng lực của ḿnh, có vị bị bức tử bởi bạo quyền, có vị suốt năm tháng dài chịu tù đày, bị lăng nhục.  Nhưng sống hay chết, vinh hay nhục, không làm dao động tâm tư của những ai biết sống và chết xứng đáng với phẩm cách con người, không hổ thẹn với phẩm hạnh cao quư của bậc xuất gia.”

Trước ngưỡng cửa vong thân của một thế hệ, và thấy đó là hiểm họa của dân tộc quê hương, v́ thế trên mọi lănh vực: văn hóa, giáo dục, thi ca... Thầy đều thể hiện tinh thần phụng sự của ḿnh cho công cuộc hồi sinh một quê hương quá nhiều đổ nát. Do đó, con đường giáo dục toàn diện là nền tảng quan trọng cần phải xây dựng, bảo tŕ. Thầy cũng như mọi người chúng ta đều nh́n thấy tương lai đất nước như thế nào, khi một quốc gia với hệ thống giáo dục lỏng lẻo, nhiều thế hệ con em bị thất học, dân trí thấp kém và đầy dẫy những tệ nạn xă hội ?

3.   Thái độ nhập thế qua bản án tử h́nh và cái dũng của sỹ phu.

Nếu là một con người b́nh thường, không lưu tâm đến sự thịnh suy của đất nước, không đặt hướng đi để kéo quê hương dân tộc dừng lại để không bị rơi vào hố thẳm suy vong, th́ chắc hẳn Thầy không bị bao lần tù tội, để đưa đến bản án tử h́nh năm 1984. Và nếu không phải là một Tăng sỹ với tâm nguyện xây dựng quê hương, đất nước được thanh b́nh, tự do và nhất là một thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất có tiếng nói trung thực, thẳng thắn th́ chắc rằng Thầy đă không bị canh gác, giam lỏng như trong một nhà tù lớn. V́ tâm lượng của một kẻ sỹ chân chính đối với đất nước, v́ tiền đồ của Đạo pháp đối với lư tưởng xuất gia mà Thầy đă khởi xướng ư thức độc lập, Thầy đă khuyên nhủ đàn hậu duệ qua Thư Gửi Tăng Sinh Thừa Thiên-Huế:

“Cầu mong các con có đủ dũng mănh để đi bằng đôi chân của ḿnh, nh́n bằng đôi mắt của ḿnh; tự xác định hướng đi cho chính ḿnh.  Thầy sẽ là người bạn đồng hành với các con trên đoạn đường bóng xế của đời ḿnh.”

Chính thái độ nhập thế trực diện với chính quyền Hà Nội hôm nay, mà Thầy được xem như người tù của chế độ, do đó nhà cầm quyền đă không ngần ngại trao cho Thầy bản án tử h́nh.

Thầy đă không khiếp nhược khi bị kết án tử h́nh, Thầy vẫn tích cực đấu tranh viết các văn kiện, kháng thư, giác thư gởi đến chính quyền Hà Nội, Tập Thơ Ngục Trung Mị Ngữ, các văn thư tường tŕnh Phật sự Giáo Hội được viết trong suốt thời gian ở tù cho đến ngày được thả, nhưng không kư giấy phóng thích, v́: “Không ai có quyền kết án tôi, th́ cũng không ai có quyền ân xá tôi.”

Thầy đă gửi cho Quốc hội Ḥa Lan bản văn Một Khía Cạnh Của Vấn Đề Nhân Quyền Tại Việt Nam, Tham Nhũng Một Quốc Nạn:

“Ở đây, tôi cũng xin bầy tỏ sự cảm kích sâu xa đối với cộng đồng Việt Nam hải ngoại đang đấu tranh cho một nước Việt Nam trong sáng và tự do. Tôi cũng xin gởi lời cám ơn đến các nhân sĩ Ḥa Lan, trong t́nh cảm nhân loại đă trực tiếp can thiệp với chính phủ Việt Nam cho tôi được sang thăm viếng đất nước Ḥa Lan, để có thể có điều kiện tự do hơn nói lên tiếng nói thầm lặng mà đă hơn một phần tư thế kỷ bị bóp nghẹt.”

Trong khuôn khổ một bài nói chuyện về thái độ nhập thế của Thầy, bị giới hạn bởi thời gian, hẳn sẽ có nhiều điều thiếu sót, có lẽ chúng ta nên đọc lại những bài viết của Thầy trong tác phẩm “Tuệ Sỹ Đạo Sư Thơ và Phương Trời Mộng” để nh́n thấy rơ tâm t́nh của Thầy ḥa quyện với non sông gấm vóc, với dân gian làng nước, một t́nh người đơn sơ thuần hậu, mộc mạc chân thành, luôn ấp ủ tinh thần quật cường, khí khái truyền thống của giống ṇi, dù chặng đường lịch sử ấy có thăng trầm, thành bại, kẻ sỹ vẫn ngẩng cao đầu không thẹn với đất trời:

“Hoàn cảnh đất nước Việt Nam như thế cho nên dân ta phải chịu quá nhiều đau thương và tủi nhục. Đối với giới trí thức nói riêng, mà xă hội Việt Nam truyền thống rất tôn trọng, điều tủi nhục lớn nhất là họ không thể thay những người dân thấp cổ bé miệng nói lên một cách trung thực tất cả những uất ức, những khổ nhục mà họ phải chịu. Bởi v́, tại Việt Nam ngày nay những người có thể nói th́ ng̣i bút đă bị cong; những người muốn nói th́ ng̣i bút đă bị bẻ gẫy.

Nhưng tôi rơ một điều, và điều đó đă được ghi chép trong lịch sử: Trí thức chân chính của Việt Nam không bao giờ khiếp nhược.”

 Thầy đă v́ quyền lợi của quốc gia dân tộc mà đạo đạt ư nguyện, giải bày nỗi thống khổ, bất công của người dân lên các cấp chính quyền, nhưng, giống như tiếng kêu trong sa mạc, âm vang của tiếng vọng từ xa, tiếng gào thét vẫn không đến tai những người cầm quyền, chi bằng tự ḿnh dấn thân đến cửa công quyền để tận tay gửi Giác Thư đến các lănh đạo:

“Qua Kháng Thư này, mà với nhiều lư do như tôi đă tŕnh bày, nó không được đạo đạt lên Đảng và Nhà nước theo đúng các quy định hành chính phiền hà của pháp chế xă hội chủ nghĩa, tôi muốn tự ḿnh dẫn thân đến trước cổng bạo lực chuyên chính, dù biết chắc sẽ bị nghiền nát trước khi thoáng thấy những bóng mờ trên chín tầng vời vợi của uy quyền tuyệt đối; tự dẫn thân đến đó để cáo tri cùng quốc dân đồng bào, bày tỏ sự hèn kém, bất lực của ḿnh trước vô vàn thống khổ mà đồng bào phải âm thầm chịu đựng.”

Đó là tâm t́nh và ư chí dơng mănh của Thầy trước bạo lực, không cúi đầu khiếp sợ, giữ vững lập trường đứng về phía dân tộc và Đạo pháp, và cũng chính v́ ư chí kiên cường đó mà Thầy phải chịu bản án tử h́nh của chế độ hôm nay. Thế nhưng, Thầy vẫn thanh thản, tự tại biểu hiện qua những bài thơ được viết ở trong tù, đó là chất liệu sống của bậc xuất trần không phiền, chẳng nhiệt, khi hiểu được rằng hóa độ chúng sanh cần phải giàu ḷng từ bi, hỷ xả. Chính đức tánh từ bi, hỷ xả là thái độ nhập thế vững chăi để chiến thắng mọi trở lực bạo quyền, mọi sức mạnh và chướng duyên của ḷng thù hận. Thầy đă đem tâm không để hóa giải tâm chấp thủ, đem ḷng vị tha mà hóa độ kẻ hẹp ḥi để tạo sự b́nh an và tịnh lạc cho tất cả. Thầy đă tự hỏi ḿnh trong tập thơ “Ngục Trung Mị Ngữ ” qua bài Tự Vấn:

Vấn dư hà cố tọa lao lung

Dư chỉ khinh yên bán ngục trung

Tâm cảnh tương tŕ kinh lữ mộng

Cố giao già tỏa diện hư ngung

Hỏi Ḿnh

Hỏi ḿnh sao phải lao tù?

Song thưa cửa ngục có tù được mây?

Kiên tŕ cuộc lữ vàng bay

Lời xưa c̣n đó phút giây không sờn.

 

Thân ở trong tù, nhưng tâm Thầy vẫn thư thái nhàn tịnh. Một tâm thức rỗng suốt để thấy ḿnh với người không khác. Nỗi bi lụy của thế gian là nỗi đau của chính ḿnh. Sự tù đày nghiệt ngă của các bậc Thầy Tổ, pháp lữ là nỗi đau rót vào trái tim của Chư vị Bồ Tát hóa thân v́ đời mà kham nhẫn. Một tâm thức sâu thẳm để hàm tàng, chứa đựng tất cả h́nh ảnh của sum la vạn tượng, như hồ nước lặng im trong vắt chiếu soi h́nh bóng sơn hà đại địa như nhiên. Từ sự tĩnh lặng của chân tâm mới thấy rơ những nét thật hư, giả huyễn, những máu và nước mắt của trần gian nhiều hệ lụy, mà tự thân Thầy cũng đang ở trong cơi đời đầy nghiệt ngă ấy, qua bài thơ Cúng Dường:

 

Phụng thử ngục tù phạn

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn

Cúng Dường

Đây bát cơm tù con kính dâng

Cúng dường Đức Phật đấng Tôn Thân

Thế gian ch́m đắm trong máu lửa

Lệ nhỏ không lời, ḷng xót thương.

 Tu hành là cầu mong giải thoát, nhưng sự giải thoát không từ bỏ thế gian. Tu hành từ nơi thế gian, nhưng cũng chính từ nơi thế gian để giác ngộ. Thầy đem tinh thần giác ngộ tung rải cho thế gian được tươi nhuận, thắm hồng.

Thái độ nhập thế ấy, bàng bạc trong tất cả thơ văn của Thầy, cũng như trong sinh hoạt thường nhật. Cuộc sống đơn sơ trong một căn pḥng nhỏ, chung quanh bốn vách tường là những giá sách, ban ngày dịch thuật, trước tác, tối ngủ ngay trên chiếc ghế làm việc, không giường, không vơng, không cầu kỳ trước tiện nghi vật chất. Bởi Thầy thấy được nỗi đau khốn cùng của người dân đói khổ, thấy đất nước nghèo nàn tụt hậu, mất hướng mà tự thân của Thầy cũng đang sống giữa ḷng quê hương đói nghèo, tụt hậu ấy. Trong tinh thần từ bi, Thầy đang chia sẻ từng bài thuyết pháp, từng buổi giảng kinh, từng lời giáo huấn cho mọi người, cho hàng hậu học nhằm xây dựng t́nh người được gần lại với nhau, để nh́n cho rơ h́nh ảnh quê hương, tự t́nh dân tộc mà dựng xây bồi đắp, qua bài Đạo Phật với Thanh Niên:

“Chúc các anh chị có đầy đủ nghị lực để chinh phục những vương quốc cần chinh phục, để chiến thắng những sức mạnh cần chiến thắng.”

Đó là thái độ của nhà Sư, là tinh thần nhập thế trong ư nghĩa mong cầu ḥa b́nh an lạc cho quê hương dân tộc Việt Nam hôm nay.

 

San Diego, ngày 17 tháng 09 năm 2006

Chiều Thơ Nhạc – Giới Thiệu Tác Phẩm

“Tuệ Sỹ Đạo Sư Thơ và Phương Trời Mộng”

Nguyên Siêu

 

 Xem tiếp

---o0o---

 

Cập nhật: 17-09-2006

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>