categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

 

TUỆ SỸ, THƠ và CON ĐƯỜNG TRUNG ĐẠO

 Nguyên Siêu

 

Những năm tháng dùi mài kinh điển trong các tự viện để thể nhập Phật học huyền vi, u hiển, một thời nào đó đă lầu thông giáo lư cao siêu giải thoát, hướng thân lập mệnh trên con đường giác ngộ, để rồi hôm nay là thành quả hiển nhiên có được tận cùng tâm hồn sâu thẳm mà Thầy đang phô diễn như ư nghĩa cao siêu của Đại Bi Tâm.

I.    Nhà Phật Học Uyên Bác

Qua các công tŕnh sưu khảo, trước tác, dịch thuật, nghiên cứu Phật Pháp được xem như hạnh nguyện độ sinh, thiết tha v́ sự b́nh yên và an lạc cho con người, Thầy đă gia công đóng góp cho nền văn hóa, học thuật Phật Giáo nước nhà:

a.  Tác Dịch Phẩm:

    -  Bộ A Hàm

    -  Kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết

    -  Truyện Pháp Cú

    -  Tuyển Tập Nikya A Hàm

    -  Thiền Luận Tập II & III

    -  Tứ Phần Luật Giới Bổn

    -  Yết Ma Yếu Chỉ

    -  Phật Học Bách Khoa Từ Điển

    -  Tinh Hoa Triết Học Phật Giáo

    -  Thiền và Bát Nhă

    -  Vô Môn Quan

    -  Thiền Quán Cương Yếu

    -  Thắng Man Giảng Luận

    -  Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng v.v...

 

b.   Các Luận Đề Phật Giáo:

    -  Tánh Không Luận là ǵ?

    -  Sự Hủy Diệt Của Một Trào Lưu Tư Tưởng.

    -  Dẫn Vào Thế Giới Văn Học Phật Giáo

    -  Quan Niệm Về Sự Kết Yếu Trong Tác Phẩm Đại Thừa

    -  Tư Tưởng Phật Giáo Đối Diện Với Hư Vô

    -  Trung Quán và Vấn Đề Thực Thể

    -  Hiện Tượng Học Là Ǵ?

    -  Hoa Nghiêm Pháp Giới Quán

    -  Tư Tưởng Là Ǵ?

    -  Khái Niệm Về Số Trong Kinh Dịch

    -  Giá Trị Đối Chiếu Trong Những Tương Quan Văn Hóa 

    -  Cơ Cấu Ngôn Ngữ của Michel Foucault. 

    -  Những Cuộc Vận Động Của Phật Giáo Việt Nam Cuối Đời Nhà        Đường.

    -  Kinh Dịch và Phật Học Trung Hoa v.v...

 

Một tư tưởng uyên bác được lư giải qua các phạm trù Kinh Luật Luận và Triết lư Đông Tây được giới thiệu một cách tổng quát ở trên là hạt mầm đủ nhân duyên để nảy nở và dâng tặng cho đời.

Qua Luận Đề Tánh Không Luận Là Ǵ? Thầy đă mượn lời nói của Heidegger:

“Aus der Erfahrung des Denkens.”

“Có thể vay mượn những lời nói như vậy để khởi đầu cho sự chờ đợi tiếng vọng đáp ứng của những ǵ đó đang ẩn ḿnh trong bóng tối.  Những lời nói vay mượn ấy không nhất thiết phải đồng thanh với những điều sắp đáp ứng.  Sự tựu thành của những đáp ứng này sẽ không xuất hiện trong những tiếng động náo nhiệt.  Đây là sự tựu thành của một cơn mưa như thác lũ, khi con bướm mùa hè đă chịu khép lại những đôi cánh mỏng để lắng nghe trong thầm lặng hơi thở của cỏ nội.  Chờ đợi kiên tŕ và dừng lại trong sự bế tắc của một thời chỉ có ánh sáng vĩnh cửu của mặt trời.  Kiên tŕ và dừng lại để chờ đợi trong sự bế tắc là liều lĩnh kư thác ḿnh cho một cuộc chơi ngoạn mục của thiên diễn, là liều lĩnh đứng lại giữa ḍng thác đổ của vạn hữu.”

Đây chính là thái độ nghịch thường của thế nhân mà:

“Không chịu tiệm tiến từng bước vững chắc, như những đợt nhảy của con chim hồng: nhảy bên bờ nước, nhảy đến tảng đá, nhảy trên đất cạn, nhảy trên cành cây, nhảy lên g̣ cao và cuối cùng bay trong thương khung để lông cánh làm đẹp cho bầu trời.”

Và sau nữa, Tánh Không Luận Là Ǵ?

“Khi con bướm mùa hè dừng lại trên đóa hoa, khép lại đôi cánh và đong đưa theo cơn gió của cỏ nội hoa ngàn.”

Hay một định nghĩa khác:

“Trong tư tưởng, mọi sự trở thành cô liêu và lững thững”

 

Ấy là triết lư của Tánh Không được nói bằng ngôn ngữ của Thầy.  Nhưng chưa đủ, đấy chỉ là một vài ngôn ngữ tiêu biểu.  Một đôi cảm xúc đột biến trong ḍng suy tư để hiện khởi triết lư Tánh Không qua từng cụm từ rơi rụng mà không mất, như hiện hữu, vĩnh hằng, Tánh Không duyên hợp.  Giở sang luận đề: “Sự hủy diệt của một trào lưu tư tưởng”, chúng ta thấy khởi đi bằng hai câu thơ của thi sĩ Bùi Giáng:

“Xin chào giữa bước chân ra

Chết từ sơ ngộ màu hoa, trên ngàn”

 

Và để từ đó Thầy dựng lên khung trời Tánh Không: “Từ trong ḷng Tánh Không Luận đi ra, người ta thử thay đổi các b́nh diện biểu lộ của nó, rồi qua những ǵ sẽ đạt được trong lănh vực suy lư cũng như trong lănh vực sinh hoạt thực tế, luôn luôn có những tiếng nói nghe ra như những cơn gió th́ thào giữa các sa mạc của hư vô.  Ư nghĩa của một cứu cánh nào đó – suy lư hay đời sống – như một ngôi sao trên bầu trời sa mạc.  Danh tướng phân biệt, nghĩa và vô nghĩa, nguyên tắc và các nguyên tắc: những dấu hiệu c̣n sót lại và c̣n măi, sau những cơn gió nóng bức và lạnh buốt của hư vô đă từng đi qua và đă từng hủy diệt tất cả.  Đó là sự hủy diệt của một trào lưu tư tưởng, từ trong Tánh Không Luận đi ra.”

Đây là phạm trù của Triết lư, tư tưởng, luận học, Thầy đă biểu tỏ con đường lịch nghiệm như cánh chim bằng giữa trời mênh mông vô tận, cho ta những ư vị tuyệt cùng của tri thức không lời hay tuyệt đỉnh của ngôn luận trong văn học Thiền được diễn đạt bằng h́nh ảnh của non Lô: “Lô Sơn hùng vĩ, phiêu bồng, nhưng u uẩn.  Ḷng núi giấu kín những tâm sự ngàn năm không nói; ḷng núi ủ kín những cuộc đời trầm mặc, những tấm thân gầy khô như hạc, như trúc, những tâm hồn nguội lạnh như tro tàn mùa đông.  Núi âm thầm, cho gió ngàn gào thét, cho mây trời vần vũ, và cho những ḍng thác từ trên tuyệt đỉnh cao mù đổ ào xuống.”

Như một nhà Thiền học, tâm cảnh duyên thông, sự sự  vô ngại để thừa tiếp bản thể của sự vật, Thầy đă ḥa đồng cái tâm liễu tri với sự tướng duyên khởi, mà tạo dựng h́nh hài của thế tục đế, qua sự tồn sinh của sóng biếc sương mù, qua vách đá và màu xanh rừng núi.  Nhưng h́nh hài của thế tục đế như một công án của Thiền, vẽ ra con đường đại ngộ, cho ai nhận chân được tâm cảnh câu không, nhơn pháp vô ngă: “Từ thế kỷ này đến thế kỷ khác, trên ḍng lịch sử trường mộng của nhân sinh đổ ầm xuống; có những cuộc thi gan tuế nguyệt diễn ra trong lạnh lùng, cô tịch.  Ngày và đêm, đày đọa h́nh hài và tâm năo, đứng chơ vơ, kinh đảm hăi hùng, trên chiếc cầu độc mộc bắc ngang qua ghềnh sanh tử.”

Thẩm thấu của Thiền là vô ngôn mà sự chứng ngộ của Thiền là tuyệt dứt h́nh tướng, nhưng duyên và tướng cũng là phương tiện để thiền sinh thấy được bản lai diện mục của ḿnh.  Qua lời giới thiệu dịch phẩm Vô Môn Quan, Thầy đă nâng tiếng cười và tiếng thét của các Thiền sư lên như là mấu chốt làm phá tung cánh cửa giác ngộ mà ngàn đời bị đóng kín.  Tiếng cười sang sảng, tiếng thét đinh tai, tiếng bổng chan chát là thành tố nhiệm màu cho một thế giới tâm linh bùng vỡ.

“Một thời xa xưa tại pháp đường của các Thiền viện, người ta nghe sang sảng những tiếng cười và tiếng thét.  Bao nhiêu lời lẽ luận bàn khúc chiết được gửi trả về cho dải sa mạc trên miền Cao Á, nơi đă từng ghi dấu cuộc hành tŕnh khổ nhục của những tâm hồn khát khao tuyệt đối.  Nơi đây, sa mạc vẫn cứ thiên thu cô tịch trong cơn gió bức bách của hư vô.  Lẽ sống và lẽ chết vẫn măi măi bồng bềnh trôi trên hư ảo.  Tâm hồn miệt mài nóng cháy, nhưng không cháy tan nổi những giấc mộng hăi hùng của hư vô và hủy diệt.  Rồi một ngày mai kia khi thời cơ đến, tiếng cười và thét trỗi lên làm đảo lộn cả nếp sống b́nh sinh.”

Đó là chân ngôn của Thiền được diễn tả qua phạm trù của tự tính linh giác.

Nơi đây nói lên giá trị Phật Học nghiêm túc, bằng ngôn ngữ Triết học, Triết gia Phạm Công Thiện đă gọi Thầy là: “Vị Thiền sư lỗi lạc nhất, thông minh nhất, uyên bác nhất, trong sạch nhất của Việt Nam hiện nay.” Và để giải thích cho những thắc mắc về câu trên, Triết gia Phạm Công Thiện viết tiếp: “Chỉ có những kẻ bỏ trọn cả đời ḿnh lặng lẽ sống chết với cái gọi là “Bồ Đề Tâm” hay “phát Bồ Đề Tâm” th́ may ra mới trực nhận đâu đó khí phách và thần dụng bảng lảng của “nghịch hành thiền”.

Cũng trong giá trị của nhà Phật Học, Giáo sư Nguyễn Minh Cần đă nói lên nỗi xúc động của ḿnh: “Nghĩ đến Thầy, nghĩ đến một tài năng của đất nước, một niềm tự hào của trí tuệ Việt Nam, một nhà Phật Học uyên bác.” Và ông đă dẫn lời nói của học giả Đào Duy Anh: “Thầy là viên ngọc quư của Phật Giáo và Việt Nam.” Khi gặp Thầy tại Phật Học Viện Nha Trang, năm 1976, ông nói tiếp: “Đọc đi đọc lại, tôi càng cảm thấy rơ rệt thi tài của một nhà thơ hiếm thấy thời nay và đặc biệt là cảm nhận sâu sắc tâm đại từ, đại bi cao thượng, rộng lớn của một Tăng sỹ với phong độ an nhiên tự tại, ung dung bất chấp cảnh lao tù khắc nghiệt...  Đạo vị và thiền vị cô đọng trong thơ của Thầy kết tinh lại thành những ḥn ngọc báu của thơ ca.”

 

II.   Tư Tưởng Và Hành Động Của Kẻ Sĩ Trước Thời Đại.

Trong thực thể của cuộc sống, Thầy không khác chi với mọi người, nếu có sự khác biệt th́ cái khác đó là tư tưởng và hành động.  Chính tư tưởng và hành động diệu thường này mà Thầy đă sống một cách trọn vẹn trong cái nhân sinh quan của Thầy.  Thầy sống bằng cảm nghĩ thuần hậu và việc làm chân chánh cho một quê hương giống ṇi, dù gặp bao nghiệt ngă của thời đại.

Tư tưởng và hành động này đă được diễn đạt qua lời nói khẳng khái của Thầy trước bạo lực: “Không ai có quyền kết án tôi, th́ cũng không ai có quyền ân xá tôi.” Một tinh thần khí khái bất khuất, Thầy đă thể hiện tinh thần nhà Phật là Bi Trí Dũng, v́ ḷng từ bi ban vui cứu khổ mà Thầy ḥa ḿnh nhận chịu cái khổ trong nỗi khổ của con người, để được phần nào ban cái vui cho thiên hạ.  Bản án tử h́nh là một nỗi khổ, nhưng dưới cái nh́n của ḷng từ bi th́ nỗi khổ không cơm ăn, không áo mặc, không giáo dục học đường, không tâm linh tôn giáo, không đạo đức gia phong và không tự do tự chủ của hơn 80 triệu đồng bào vẫn là nỗi khổ to lớn hơn.  V́ vậy, mà ngồi trong tù, Thầy vẫn điềm tĩnh để làm bài thơ tù bằng tâm thành kính tự tại.  Bằng tấm ḷng xót thương khi nghĩ đến cuộc đời nhiều đau thương nước mắt, con người đang bị ch́m ngập trong cảnh bể dâu:

Cúng Dường

Phụng thử ngục tù phạn

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn

 

             Hai tay dâng bát cơm tù

             Cúng dường Tối Thắng Đại Từ Thế Tôn

             Cơi trần máu hận trào tuôn

             Tay bưng b́nh bát lặng thầm lệ rơi

             (Cúng Dường – Ngục Trung Mị Ngữ)

 

Thầy đă ḥa ḿnh trong nỗi đau của kiếp người để cùng chia sẻ nỗi đau ấy với cộng đồng chúng sinh, v́ công hạnh của Bồ Tát là cứu độ chúng sinh.  Nhưng bằng trí tuệ siêu việt và đức tính đại hùng, đại lực, là cái Dũng của nhà Phật th́ Thầy không tùng phục trước bạo quyền và chẳng có bạo quyền sắt thép nào giam hăm được Thầy:

Trách Lung

Trách lung do tự tại

Tản bộ nhược nhàn du

Tiếu thoại độc cảnh hưởng

Không tiêu vĩnh nhật sầu

 

             Lồng Chật

             Trong lồng chật hẹp mà thanh thản

             Đi tới đi lui thật nhàn tản

             Cười cười nói nói chỉ ḿnh nghe

             Cũng trôi qua ngày tù bất tận.

             (Trách Lung – Ngục Trung Mị Ngữ)

 

Cái tâm đă liễu tri vô sự, thiểu dục tri túc, thiểu cầu an lạc mà Thầy đă tạo dựng cho đời sống của một tù nhân.  Nhưng chính cái tâm ấy th́ không có một nhà tù nào có thể giam giữ được Thầy, dù có mang h́nh tướng của một người tù, cái tâm ấy vẫn tự tại như niềm vui của thiền định qua bài Biệt Cấm Pḥng:

Ngă cư không xứ nhất trùng thiên

Ngă giới hư vô chân cá thiền

Vô vật vô nhơn vô thậm sự

Tọa quan thiên nữ tán hoa miên

 

             Xà Lim

             Ta ở Trời không vô biên xứ

             Cảnh giới hư vô thật rất thiền

             Không vật, không người, không lắm chuyện

             Ngồi xem hoa rải bởi chư Tiên.

             (Ngục Trung Mị Ngữ)

 

Một tư tưởng bất khuất, một hành động kiêu hùng mà từ thủa xa xưa đă có bao anh hùng dân tộc, một Trần B́nh Trọng nghĩa khí ngất trời, chết vinh hơn sống nhục: “Ta thà làm quỷ nước Nam c̣n hơn làm vương đất Bắc.” Nhưng, “anh hùng tử chứ khí hùng nào tử”, oai danh Ngài vẫn vang lừng với những trang sử nước nhà qua bao thế kỷ.

Cũng với cái nghĩa khí của người xưa mà không ai có thể giam hăm được tâm thức tỉnh lặng của Thầy:

Tự Vấn

Vấn dư hà cố tọa lao lung?

Dư chỉ khinh yên bán ngục khung

Tâm cảnh tương tŕ kinh lữ mộng

Cố giao già tỏa diện hư ngung

 

             Tự Hỏi

             Hỏi ḿnh sao phải ngồi tù?

             Bảo rằng làn khói giam từ trong lao

             Cảnh tâm trong mộng khiếp sao

             Lời xưa đă dạy ngẩng cao nh́n trời.

             (Ngục Trung Mị Ngữ)

 

Ḍng máu anh hùng bất khuất con Lạc cháu Hồng dựng nước, giữ nước, tự ngàn xưa vẫn luân lưu trường tồn trong ḍng máu dân Việt, đă vượt qua bao nhiêu thác ghềnh băo tố đánh đuổi các đoàn quân xâm lược ra khỏi bờ cơi để tạo dựng non sông, ḍng máu đó đă hiện tướng trên thân người con nước Việt, mà nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo đă diễn tả trong bài Đêm Sâu:

“Tuệ Sỹ ngồi đó, chiếc bóng sậy gầy.  Sững như một ngọn gió.   Đôi mắt tṛn to, long lanh.   Măi long lanh với miệng cười.   Như Niêm Hoa Vi Tiếu...  Trông ông khỏe hơn mấy năm trước thật, lúc mới ra tù được một tháng.  Ngày ấy, đầu ông như đóng trốc, da bọc sát sọ, mường tượng như Thế thân Thiền sư Vũ Khắc Minh, không ngồi kiết già nhập đại định ở chùa Đậu nữa, mà đi lại, mà nói cười, nhập vào cơn huyễn mộng.

Nay da đầu đă nhuận thắm, những vết chốc ghẻ biến mất, nhưng cái ót sọ ông vẫn nhô ra quá khổ với thân ḿnh.   Quá khổ đối với thế tục.   Chắc nó phải cứng, khiến bạo quyền lui lại.”

 

Tư  tưởng của Thầy luôn đề khởi quan điểm sống đúng trên phạm trù của con người.  Sống có ích cho tha nhân, dẫu chỉ là một lời nói hay một hành động.  Thầy đă thể hiện một nhân sinh quan thiết yếu cho chính bản thân ḿnh.  V́ thế, Thầy luôn luôn t́m ṭi học hỏi, sưu khảo, làm việc để tự thăng tiến bản thân và giúp mọi người cùng đạt đến chân thiện mỹ bằng ư hướng chân chính.  Thầy hằng quan tâm đến những thế hệ kế thừa, tầng lớp quan trọng của tương lai dân tộc, đạo pháp.  Tầng lớp này phải được đào tạo, giáo huấn kỹ lưỡng, được tiếp nhận những tiến bộ khoa học, chuyển hóa ư thức để tài bồi xây dựng một quê hương giàu đẹp.  Lịch sử nước nhà có oanh liệt, hào hùng, hay bạc nhược lạc hậu là do trách nhiệm của những người lănh đạo dân tộc.  Đề khởi cho một hướng đi và trao truyền ḍng tư tưởng giác ngộ, Thầy đă tâm sự với thế hệ trẻ: “Các con hăy tự hào, với niềm tự hào trong trắng và vô tư của tuổi trẻ, từ thời điểm cột mốc này, đă một lần và măi măi đứng thẳng trên đôi chân của chính ḿnh, bằng đôi mắt trí tuệ và hùng lực mà nh́n thẳng mà không khiếp sợ vào quyền lực xấu ác của thế gian, tự định hướng đi cho bản thân để làm những việc cần làm cho chính ḿnh và cho mọi người.”

Đứng trước một đất nước mà mọi giá trị đạo đức bị băng hoại, tŕnh độ hiểu biết, kiến thức lỗi thời lạc hậu.  Đời sống túng cùng, quẫn bách chỉ biết t́m cầu phương kế sinh nhai càng khiến cho quê hương khó có cơ hội phát triển.  Thầy thường suy tư  để t́m phương cách đóng góp như thế nào cho ích nước lợi dân, làm bằng cả nhiệt tâm chân chính để “giữ vững con thuyền đạo pháp trong ḷng dân tộc”, cũng như để có một xă hội lành mạnh, mang nhiều phong thái đặc thù đẹp đẽ, mà không để lôi cuốn theo những phù phiếm của thế tục.  Thầy đă nhắn nhủ với thế hệ kế thừa:

“Nhẫn nhịn đời nhưng không để cho quyền lực đen tối của đời sai sử.   Tùy thuận thế gian, nhưng không tự đánh ch́m trong ṿng xoáy ô trược của thế gian.   Các con hăy tự rèn luyện cho ḿnh một tín tâm bất hoại; một đức tính dũng mănh vô úy; nỗ lực tự huân tập trí tuệ bằng văn, tư, tu để nh́n rơ sự tướng chân ngụy, để thấy và biết rơ ḿnh đang ở đâu, đang đi về đâu; không nhắm mắt phóng càn theo cỗ xe lộng lẫy bên ngoài nhưng rệu ră bên trong, đang lao xuống dốc dài không định hướng.”

Thầy đă hướng dẫn tư tưởng cho các thế hệ sau v́ bản thân của Thầy đă kinh qua những sóng gió cuộc đời, những năm dài lao lung trong chốn ngục tù.  Bằng tinh thần vô úy, bằng hành dộng dũng cảm của Bồ Tát Đại Thế Chí, bằng phát nguyện độ tận chúng sinh nơi địa ngục của Bồ Tát Địa Tạng và bằng lời thành khẩn của Tôn Giả A Nan phụng thỉnh Đức Thế Tôn từ bi chứng minh cho con, đời ác năm trược con xin nguyện bước chân vào trước.  Thầy mang hành trạng của một Bồ Tát v́ đời mà độ sinh, nên Thầy không màng đến an nguy của bản thân.  Không khiếp sợ trước bạo lực hung tàn của chế độ.  Thầy đi ra từ nơi thai tạng của Bồ Tát, để trú ngụ chốn lầm than, nơi cơ cực mà chia sẻ, đồng cảm với nỗi đau thương của dân tộc, qua bài viết “Một Khía Cạnh Của Vấn Đề Nhân Quyền Tại Việt Nam – Tham Nhũng Một Quốc Nạn”

“Hoàn cảnh đất nước Việt Nam như thế cho nên dân ta phải chịu quá nhiều đau thương và tủi nhục.  Đối với giới trí thức nói riêng, mà xă hội Việt Nam truyền thống rất tôn trọng, điều tủi nhục lớn nhất là họ không thể thay những người dân thấp cổ bé miệng nói lên một cách trung thực tất cả những uất ức, những khổ nhọc mà họ phải chịu.  Bởi v́, tại Việt Nam ngày nay những người có thể nói th́ ng̣i đă bị cong; những người muốn nói th́ ng̣i bút đă bị găy.

Nhưng tôi rơ một điều, và điều đó đă được ghi chép trong lịch sử.  Tri thức chân chính của Việt Nam không bao giờ khiếp nhược.”

 

Đời sống vốn đă cơ cực lầm than, lại c̣n phải gánh chịu những áp bức bất công từ giai cấp cầm quyền, người dân oằn ḿnh gánh chịu những đau thương thiệt tḥi trong cảnh đời khốn khó.

Không thể khoanh tay an nhiên nh́n người dân lao đao nghèo đói khốn cùng, Thầy viết Giác Thư gửi cho nhà nước, nói lên tiếng nói của một tri thức chân chính, cảnh báo những người lănh đạo đất nước về thực trạng của quê hương dân tộc mà các nhà lănh đạo đất nước đă chẳng hề lưu tâm đến. 

Viết Giác Thư gửi đi, nhưng Thầy cũng không hy vọng đến tay người nhận:

“Tôi cũng biết rất rơ, trong thủ tục hành chánh của bộ máy quan liêu được cấu tạo với đại bộ phận cán bộ chuyên sách nhiễu và trấn áp dân, đầy dăy tham ô hủ bại, hơn là làm vinh quang cho đất nước, như từng được rêu rao, th́ Kháng Thư sẽ phải qua nhiều cấp, trước khi đến cổng của các vị lănh đạo tối cao, luôn t́m cách chối bỏ trách nhiệm của ḿnh, chỉ nhận những ǵ được tâng bốc là vinh quang và vĩ đại.”

Chính v́ nhận thức như vậy, và biết thật như vậy, hệ thống hành chánh quan liêu, cửa quyền, nên:

“Qua Kháng Thư này, và với nhiều lư do như tôi đă tŕnh bày, mà không được đạo đạt lên Đảng và Nhà nước theo đúng các quy định hành chính phiền hà của pháp chế Xă Hội Chủ Nghĩa.  Tôi muốn tự ḿnh dẫn thân đến trước cổng bạo lực chuyên chính, dù biết chắc sẽ bị nghiền nát trước khi thoáng thấy những bóng mờ trên chín tầng vời vợi của uy quyền tuyệt đối; tự dấn thân đến đó để cáo tri cùng quốc dân, đồng bào, bày tỏ sự hèn kém, bất lực của ḿnh trước vô vàn thống khổ mà đồng bào phải âm thầm chịu đựng.”

Đó chính là một trong những phương thức đóng góp cho quê hương đất nước của Thầy.

 

III.    Đại Bi Tâm Trong Thơ Tuệ Sỹ

Thầy làm thơ theo cách điệu tục đế hay gửi gấm tâm t́nh theo dáng dấp chân như? Ngôn ngữ là tiếng nói của thế gian nhưng ẩn tàng đâu đó t́nh thương chúng sinh vô phân biệt.   Một khi âm thanh đă được chuyển hóa bằng lời thánh ca cho sự trùng phùng thi thể chân tâm th́ đâu là lời thơ và đâu là trái tim Bồ Tát? Từ đây, ḍng máu của trái tim nhỏ xuống làm xanh tươi núi rừng thầm lặng qua bao tháng ngày hội tụ, làm sống lại như thủa ban sơ của trời đất hạo nhiên thanh thản.  Ḍng máu đó là ngôn ngữ của Bồ Tát cứu đời lầm than, để tồn tại cùng cái tánh tự nhiên thiên hà, chúng sinh, chủng loại mà h́nh ảnh Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền làm tươi thắm giang sơn cẩm tú:

“Sư tử hống thời phương thảo lục

Tượng Vương hồi xứ lạc hoa hồng.”

            

             Sư tử hống thời cỏ hoa xanh biếc

             Tượng Vương quay lại hoa hồng xinh tươi

 

Những chốn đau thương là quốc độ của Bồ Tát, nên Bồ Tát chẳng xa rời chúng sinh.  Bồ Tát không ở những thế giới nguy nga tráng lệ; Bồ Tát độ sanh để giải thoát chúng sinh và trang nghiêm quốc độ chúng sinh bằng Đại Bi Tâm.  Chúng ta hăy cùng lắng nghe những lời cứu khổ:

“Ta không buồn

Có ai buồn hơn nữa?

Người không đi

Sông núi có buồn đi

Tia nắng mỏng xoi ṃn khung cửa

Để ưu phiền nhuộm trắng hàng mi

....

Ta lên bờ

Nắng vỗ bờ róc rách

Gió ở đâu mà sông núi th́ thầm?

Ḱa bóng cỏ nghiêng ḿnh che hạt cát

Ráng chiều xa, ai thấy mộ sương đầm?

(Tĩnh Thất - Bốn – Tuệ Sỹ)

 

Dù đời có nghiệt ngă, Bồ Tát vẫn mang Đại Bi Tâm lao vào nơi khó khăn, đói nghèo cứu khổ độ mê cho chúng sinh.  Ḷng từ bi không cho Bồ Tát rũ đời buông xuôi mặc cho muôn loài đắm ch́m trong băo tố, nắng mưa:

“Ḱa bóng cỏ nghiêng ḿnh che hạt cát.”

 

Dẫu là phận cỏ hoa nhỏ nhắn nhưng vẫn mang chút t́nh với cát mà che chở đem bóng mát cho những hạt cát chung quanh, bởi v́ “t́nh dữ vô t́nh giai cộng thành Phật đạo.”

Đại Bi Tâm là ngôi nhà Bồ Tát trú ngụ, Đại Bi Ngôn là lời thề độ tận chúng sinh, và Đại Bi Hạnh là thị hiện vào đời bằng đôi tay cứu độ, bằng việc làm lợi ích, để chuyển khổ thành lạc, chuyển mê thành ngộ, chuyển phàm thành thánh.

Đất nước rơi vào thảm trạng khốn cùng, ngay đến muôn thú cũng cảm thấy chơ vơ, lạc lơng:

“Con trâu trắng thẫn thờ góc phố

Nỗi hoài hương nhơi măi nhúm trăng ṃn

Đám sẻ lạnh gật gù trên mái đỏ

Sương chiều rơi có thấy lạnh nhiều hơn?

Một chuỗi rắn ŕnh ṃ trong hẻm nhỏ

Không bụi đường đâu có chỗ đi hoang?

(Tĩnh Thất - Mười Lăm – Tuệ Sỹ)

 

Một ước mơ cơi nhân gian thành Tịnh Độ để thấy các vị Bồ Tát bất thối là bạn lữ, và cơi Tịnh Độ là thất bảo lưu ly.  Đó là hạnh nguyện hay sức mạnh của chân tâm để tác thành thế giới Chơn Đế.  Thầy đă trang trải tấm ḷng với ước mong một ngày được thành tựu:

“Người không vui ta đi về làm ruộng

Gieo gió Xuân chờ đợi mưa hè

Nghe cóc nhái gọi dồn khe suối

Biết khi nào phố chợ chắn bờ đê.”

(Tĩnh Thất - Hai Mươi Chín –  Tuệ Sỹ)

 

Mang chân tâm đóng góp cho quê hương nhưng ước muốn không đạt, đành lui thân về ở ẩn.  Chỉ mong một ngày đất nước được phát triển thực sự đem lại niềm vui cho đến tận xóm làng xa xôi hẻo lánh, cho người dân bớt lầm than.

Nh́n đời qua những chấn song của nhà giam chế độ, nhưng tâm quán chiếu ba cơi không yên giống như nhà lửa, đang thiêu đốt thế gian và ướt lệ xót thương.  Lệ rơi từ trái tim Bồ Tát.  Lệ nhỏ từ đức tánh từ bi, nh́n chúng sinh quằn quại trong khổ đau.  Thầy hai tay nâng chén cơm tù lên ngang trán, mắt nhắm lại, cúi đầu thành kính, quán niệm:

“Thượng cúng Chư Phật chi pháp, hạ thí đàn việt chi thực.”

- Đây là chén cơm tù, trên con thành kính dâng lên cúng dường Chư Phật và dưới là bố thí món ăn cho pháp giới chúng sinh được no đủ.

 

Đại Bi Tâm tràn đầy pháp giới.  Từng điệu nhạc trời chúc tụng, từng dăy hoa trời đâu miên tung lên tán thán Đại Bi Tâm rạng ngời khắp chốn:

Cúng Dường

“Phụng thử ngục tù phạn

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn

 

             Đây bát cơm tù con kính dâng

             Cúng dường Đức Phật đấng Tôn Thân

             Thế gian ch́m đắm trong máu lửa

             Lệ nhỏ không lời, ḷng xót thương.

             (Cúng Dường – Ngục Trung Mị Ngữ)

 

Đó là những ẩn ngôn của Đại Bi Tâm, không phải là ngôn ngữ thế gian để ca tụng hạnh nguyện vào đời của Bồ Tát độ sinh.

 

IV.   Trung Đạo Là Con Đường Tu Chứng Và Giáo Hóa Tha Nhân / Phương Pháp Tinh Yếu
Cứu Nguy Quê Hương Dân Tộc.

 Con đường chánh đạo là lối về của người t́m cầu giác ngộ, và giác ngộ th́ không rời thế gian mà có.  Sống trong thế gian không hệ lụy với thế gian.  Sống trong ṿng đối đăi mà không bị đắm ch́m trong khổ và lạc, đó chính là chủ điểm của bậc xuất trần vi Thượng Sỹ.

Khi xưa Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ, sống đời b́nh thường thế tục, h́nh tướng cũng giống như mọi người, nhưng tâm thức thiền vị của Ngài siêu phàm, tâm không vướng bụi trần, an nhiên tự tại ung dung như mây trời bất phân sai thù.

Đạo lộ tu chứng là con đường từ phàm đến thánh, tâm niệm không thiên chấp thánh phàm, rộng bước thênh thang trên con đường Trung Đạo, để không bị vướng chấp ở cuối đường giác ngộ.  Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ mang hành trang vào đời để thăng hoa cuộc sống thánh thiện cho quê hương dân tộc.  Rộng bước trên con đường của ư thức tự tồn, độc lập, giữ vững giềng mối của Đạo thể nhập nơi đời.  Ngài không v́ sự mong cầu tu chứng mà rời xa đất nước quê hương, và cũng không v́ hệ lụy quê hương dân tộc mà không tu chứng giải thoát.  Ngài mở ra một chân trời sống hạo nhiên, huyền nhiệm v́ giá trị: “B́nh Thường Tâm Thị Đạo” hay “Huyền Chi Hựu Huyền”.  Đấy là hương thơm của đóa hồng liên đang rực cháy trong ḷ lửa đỏ.

Tuệ Trung Thượng Sỹ, đề cao tinh thần phụng sự chúng sinh ngay trên quê hương dân tộc của ḿnh.  Ngài đă nhập thế một cách trọn vẹn, đem chí nguyện của kẻ sỹ để an bang tế thế, đem hết sức ḿnh phụng sự xă tắc sơn hà, đem đạo thiền để vượt thoát trên tâm lượng phàm tục.  Ngài đă đượm nhuần chơn đế dẫu sống trong đời tục đế, siêu xuất thế gian dù sống trong thế gian.  V́ thế, đâu cũng là quốc độ của Bồ Tát, và đạo lộ Bồ Tát ứng xử.

Không có một vị Thiền sư chơn chánh nào nh́n thấy quê hương dân tộc trong cảnh đau thương khốn cùng mà không đưa tay cứu giúp, không ḥa ḿnh sống và chết cho ṇi giống Tổ tiên.  Trung Đạo là triết lư của sự tự độ rồi độ tha, tự giác rồi giác tha, là con đường nhiệm màu được đề khởi bằng tấm ḷng hộ quốc an dân.  Ngài Khuông Việt Thiền sư mở rộng con đường Trung Đạo, cứu nguy dân tộc.  Ngài đă gác tam y, cất b́nh bát để làm ông lăo chèo đ̣ tiếp đón sứ giả nước Tàu, nương vào nhơn duyên đó, chuyển khốn thành thông, chuyển bại thành thắng để cho Quốc Tổ thái ḥa, thịnh trị an vui.  Phải chăng đó chính là sự tu tập trong chốn khốn cùng và chứng đắc giữa quê hương, là tánh Trung Đạo diệu dụng, lư sự vô ngại.

Chúng ta thường nghe lời ca: “Thiền sư xuống núi cứu nguy cho đời”.  Đời nguy, Thiền sư không thể ở trên non cao mà thiền định.  Thiền sư tu chứng, nhưng không có tâm độ sinh, thời sự tu chứng ấy chưa được rốt ráo viên dung.  Sự tu chứng và sự nguy nơi đời là hai mé đường của Trung Đạo, luôn song song và hỗ tương cho nhau.  Sự cứu hộ quê hương dân tộc là một thềm đường Trung Đạo của thế gian và chuyển hóa thế gian thành Tịnh độ là thềm đường thứ hai của cảnh giới Niết Bàn.

Sự tu tập cẩn trọng nghiêm minh con đường Trung Đạo để vượt thoát ra ngoài nhị biên, đối đăi, chấp ngă, sai thù.  Hành trạng hộ quốc an dân của Chư vị Tổ đức Thiền gia c̣n rạng ngời trong sử  sách.  Thầy đă bước theo dấu chân của Ngài Tuệ Trung Thượng Sỹ, của Khuông Việt Thiền sư - vị Thiền sư pḥ tŕ nước Việt - sống trong quê hương để hộ độ quê hương, ḥa cùng nhịp sống của dân tộc để cứu nguy dân tộc, vững vàng trên con đường Bồ Tát Đạo. 

Bằng chí nguyện của bậc xuất trần, không rời xa đất nước dân tộc, Thầy luôn ḥa ḿnh thân cận và khuyến nhủ thế hệ kết thừa, nhằm trao truyền cho các thế hệ sau này kiến văn phụng sự nhân sinh, có sự hiểu biết sâu xa về lịch sử dân tộc, và thấu hiểu giá trị đạo đức, vị tha trong cách hành sử giữa người với người.

Sen vươn ḿnh từ ao nước bùn lầy, tỏa hương khoe sắc làm đẹp cho đời.  Chư vị Thiền gia Tổ đức Tông phong mở bày con đường Trung Đạo để thăng hoa quê hương gấm vóc ngày thêm tươi sáng. 

“Anh hùng hào kiệt thời nào cũng có”.

 Tiếp nối ḍng máu kiêu hùng từ ngàn xưa của Cha Ông, đất nước Việt Nam ngày nay vẫn không thiếu những tấm ḷng son sắt của các vị thức giả sĩ phu, không sờn ư chí, không ngại gian nguy.  Chư vị đă mạnh dạn nói lên tiếng nói chân chính của con tim nồng nhiệt t́nh quê hương dân tộc, yêu chuộng tự do dân chủ, kiên cường đấu tranh cho nhân quyền, cho tự do tôn giáo, cho lương tri, lương thức Việt Nam để có một ngày mai thực sự phú cường, hạnh phúc.

Con đường Trung Đạo dài hun hút trong ḷng quê hương và dân tộc Việt Nam.

 

 

 Xem tiếp

---o0o---

 

Cập nhật: 17-09-2006

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>