categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

           

                   KHÁCH TRẦN

                     Diệu Trân

         

          Khách ghé quán trọ, nghỉ một đêm hay lưu tạm dăm ba bữa, rồi khách cũng đi. Người chủ quán không di chuyển, vẫn ở đó, nhận diện rơ ràng từng người khách đến và đi. Người chủ quán rất b́nh an, thanh thản như thế, trước khi khách đến cũng như sau khi khách đi. Người khách này ra đi, có thể, người khách khác lại ghé, rồi cũng lại đi. Chủ quán chẳng v́ người trước hay kẻ sau mà di chuyển.

 

Hạnh phúc hay đau khổ, giầu nghèo hay sang hèn đều là khách trần, đến rồi đi.

Bản Tâm ta là chủ quán, trụ trong an tịnh, không đến cũng không đi.

Khách trần đến rồi đi là sinh diệt.

Bản Tâm không xao động, không di chuyển là thường hằng.

 

Tự thể của tâm là Không Tánh. Đó là tự tánh Bát Nhă, không trong không ngoài, không nhơ không sạch, không thêm không bớt ... Chỉ có gịng tương tục của tâm, khi xúc cảnh, khởi phân biệt mà bị nhận diện là có nhiễm ô phiền năo hay không mà thôi. Khi tâm đạt được thể Không Tánh, tức là trụ được trong bản chất đích thực th́ phiền năo thế gian sẽ chỉ như những khách trần, như những hạt bụi luôn xô đẩy nhau, lao xao biến hoại trong hư không mà chẳng hề khiến hư không giao động.

         

          Lư th́ như thế nhưng thực tế không hẳn hoàn toàn là thế. Khi học đạo, chúng ta thường được quư minh sư nhắc nhở phải giữ ư buông lời, nắm lấy chủ ư để khi thực hành, khi va chạm, biết tùy cảnh huống mà quán xét, chớ như ngài Huệ Khả, v́ chấp văn tự mà uổng phí bao năm đi t́m sự an tâm cho đến ngày gặp Tổ Đạt Ma mới chứng ngộ.

          Cũng thế, chẳng phải trước mọi cảnh huống tâm đều biểu lộ tự tại mới là tâm trụ nơi Không Tánh. Trong Đại Trí Độ nói rằng Bồ Tát Thường Đề thực hành Đại Bi Tâm, tu tập Bát Nhă Ba La Mật rất thuần nhuyễn, uyên áo, nhưng nh́n thấy chúng sanh quá trầm thống trong biển khổ nên đôi mắt ngài lúc nào cũng đẫm lệ. Lệ này chắc chắn không phải lệ bi thương ủy mỵ nên lệ này chẳng thể làm xao động tâm an trụ. Lệ này khởi từ ḷng bi mẫn chỉ khiến Bồ Tát xả thân nhiều hơn.

 

          Với tâm thế nhân th́ ư niệm yêu thương thường hạn hẹp, vị kỷ. Khi yêu thương ai, ta phải được đáp lại, được gần gũi mới là hạnh phúc trọn vẹn. Nhưng t́nh yêu của Đức Thế Tôn th́ khác. Thế Tôn yêu thương mọi người mọi loài b́nh đẳng nên suốt bốn mươi chín năm trên đường hoằng hóa, Thế Tôn đă độ cho bất cứ ai mà ngài có thể độ, từ em bé chăn trâu, người gánh phân, tên sát nhân cho tới hàng vua chúa, vương tôn công tử. Bước chân Thế Tôn tới đâu là quà tặng an lạc được trao tới đó. Kẻ nhận quà, nếu biết thụ hưởng th́ dù Thế Tôn c̣n đó hay đi xa, quà tặng đă trở thành gia tài của người nhận.

Điều này thể hiện rất rơ trước phút Thế Tôn nhập Niết Bàn. Giữa rừng cây sa-la đầy hoa trắng, Thế Tôn đă ân cần nói với các đệ tử thân yêu quanh ngài rằng “Sau khi ta diệt độ th́ Pháp và Luật mà ta để lại chính là ta, là đạo sư của các con. Tuân hành và tu tập theo Pháp và Luật đó chính là các con vẫn luôn ở gần ta, là ta không từng rời xa các con”.

          Nghe những lời dặn ḍ đó, tôn giả Anan cũng phải nín bặt khi đang úp mặt vào thân cây, nức nở khóc. Nhưng sự nín bặt đó cũng chỉ là h́nh thức ngưng lệ chảy mà thôi chứ đâu thể ngưng được ḷng buồn khổ. Chẳng phải riêng ngài Anan mà hầu hết những đại đệ tử của Phật đều không thể dễ dàng chấp nhận sự b́nh thản khi Thế Tôn ra đi, dù trên lư, các ngài đều đă hiểu rất rơ lời Thế Tôn căn dặn.

Ḷng hoài vọng nhớ thương Tôn-sư đă lồng vào Pháp và Luật,  nên suốt thời gian dài sau đó, Tăng đoàn tuy vẫn học, vẫn tu mà vẫn âm thầm buồn bă, v́ sự thiếu vắng h́nh bóng vị Thầy tột cùng tôn quư, là khoảng trống chẳng một ai có thể thay thế được.

 

Những đại đệ tử, những tỳ-kheo được thân cận và học hỏi trực tiếp từ Đức Phật mà c̣n khó ngăn cảm xúc như thế, huống chi  chúng ta, hàng hậu duệ vô minh cách xa Phật gần hai ngàn sáu trăm năm, tất nhiên c̣n yếu đuối tới đâu ! Điều quan trọng là khi ta biết ta yếu th́ hăy nhắm mắt, thở thật sâu, niệm hồng danh Đức Thế Tôn, xin Từ Phụ truyền năng lượng để ta trở về được chánh niệm. Đừng nản ḷng v́ những lời trách cứ thiếu từ bi của thế nhân như “Phật dạy mọi sự vô thường, sao lại bi lụy ở những cái vô thường vậy ?” hoặc những câu hỏi thiếu thiện chí t́m cầu mà chỉ nặng phần gay gắt như “ Quư vị được dạy là bản- thể-Như-Lai vốn thanh tịnh, sao c̣n phải tu để được thanh tịnh ?”

Chúng ta phải tập quen với tâm thế gian này, để nhẹ nhàng phân giải rằng, bản-thể-Như-Lai quả là vốn thanh tịnh nhưng v́ bị vô minh che lấp, duyên theo huân tập vô minh mà sanh ra hiện tượng khổ đau phiền năo.

Đó là trạng thái bản thể duyên ra hiện tượng.

Chúng sanh luôn ở trong trạng thái  này nên chúng sanh cần phải nỗ lực tu, vận dụng Tăng, Thượng, Huệ để đối trị tà kiến, ái dục, ngă mạn mà trở về bản thể trong sáng của ḿnh. Thành Phật là chuyển hóa trí tuệ, đạt tới vô thượng Bồ-Đề và giữ được tâm này thường hằng, không hề đứt đoạn.

 

Có lẽ Đức Phật là vị giáo chủ duy nhất không nhận ḿnh là giáo chủ, là thánh, là thần, là cao tột, khác biệt với mọi người. Ngài chỉ nhận là ḿnh đă thấy được lẽ vô thường, đă nhận ra bản chất đích thực cao quư trong mỗi tấm thân tứ đại vô thường, đă t́m ra cai ngục tên là Vô Minh, hằng nhốt chúng sanh trong luân hồi tăm tối. Ngài chỉ là người thấy trước nên ân cần chỉ dạy lại cho những ai muốn thoát khỏi quỹ đạo khổ đau này. Những ai TIN lời ngài, NGUYỆN theo đường ngài đi, PHỤNG sự tuân thủ những pháp môn ngài chỉ và HÀNH tŕ nghiêm chỉnh những ǵ học hỏi được th́ người đó cũng b́nh đẳng với ngài. Ngài là Phật th́ người đó cũng là Phật.

Lời ngài nói trung thực và đơn giản thế thôi.

 

Gần hai ngàn sáu trăm năm, Đức Phật đă là ông chủ quán nh́n tường tận nhất, những khách trần đến rồi đi, sinh rồi hoại. Ông chủ quán chưa hề rời quán v́ ông thường hằng hiển hiện sáng ngời qua Pháp và Luật ông để lại.

 

Lành thay, những khách trần sớm biết ḿnh là bụi để kịp dừng lại lao  xao mà tĩnh lặng với hư không trong vô sanh bất diệt.

Đó chính là những chúng sanh đă giác ngộ nên chuyển hóa được thân phận Khách Trần của ḿnh để trở thành Chủ Quán.  

         

          Tôi không nhớ mấy câu thơ không đầu không cuối này từ đâu, do vị nào viết, nhưng chính cái chất liệu lơ lửng này lại khiến ư thơ tràn đầy bát ngát. Xin tác giả cho phép ghi lại đây, thay búp tay sen để được dừng bút:

                   “Tâm sầu lắm ư ?

                   Thôi đi nhị kiến,

                   Chẳng c̣n ba, tư

                   Trên con đường thật

                   Người về với NHƯ”

 

                                                                             Diệu Trân

                                                          (Như-Thị-Am, tháng tám,2006)      

                

---o0o---

 

Cập nhật: 01-10-2006

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>