categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

 

 

 

TUỆ SỸ - THƠ và TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC

 

Nguyên Siêu

 

I.   Một Bóng Người Gầy

“Ngược xuôi nhớ nửa cung đàn
Ai đem quán trọ mà ngăn nẻo về”

 Ấy là hai câu thơ đầu trong tập Giấc Mơ Trường Sơn đă tạo dựng h́nh ảnh cho một Phương Trời Viễn Mộng.

Nói đến thơ và nền Triết Học lưu xuất từ Tư Tưởng Phật học Tánh Không hay một Triết lư phiêu bồng từ Đông sang Tây của thế tục đế, hầu như đă được tồn đọng trong con người gầy guộc, nhỏ nhắn, dáng dấp phiêu diêu, lăng đăng như sương sớm, mây chiều. Dáng dấp đó với đôi bàn tay nhẹ lướt trên phím đàn cùng những nốt trắng đen, cung bậc cao thấp để tạo thành những âm thanh cao vút đến đỉnh núi chơi vơi hay trầm lặng vọng về biển khơi muối mặn. Dáng dấp đó, cặm cụi bên ngọn đèn khuya nơi cửa sổ, để nghe tiếng tàu đêm śnh sịch lăn vào thành phố, mà mơ cho một chuyến viễn du làm thân lăng tử, làm người khai phá núi rừng, cho nương rẫy được tốt tươi từ vườn cà non đến luống khoai ngô sắn, vun xới tạo thành sức sống mănh liệt từ miền núi đồi hoang vu, man dă. Dáng dấp đó, đêm đêm thao thức dưới mái cḥi tranh lợp vụng để nghe tiếng côn trùng, dế mèn nỉ non dưới ḷng đất mới, mà mơ về một tương lai tươi sáng cho quê hương. Dáng dấp đó, một thời đă ḥa quyện với cỏ nội hoa ngàn, với bóng đêm soi đê nơi thôn dă để cùng hít thở không khí xóm làng, của đồng lúa vàng, lũy tre xanh của người nông dân cần cù hôm sớm, và cũng dáng dấp đó bên trong chắn song nhà tù đă ngồi làm thơ. Lời thơ người tù. Tâm thức người tù. Khí khái của người tù đă hiện hữu qua hai tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn và Ngục Trung Mị Ngữ.

Dáng người soi trên bờ đê, trong núi rừng Vạn Giả, bên làng Hiền Lương, rẫy vườn nuôi sức sống cho người dân lao nhọc, dáng người đó là Thầy Tuệ Sỹ, là kẻ độc hành kỳ đạo của phương trời viễn mộng thi ca, mà sáng nay, trước Thiền đường dưới rặng bông sứ, trên đồi Trại Thủy, Nha Trang, Thầy thanh thản bách bộ như đếm từng bước chân đi, trên lớp sỏi đá của ngọn đồi, tháng năm chuyên chở đời sống của bao lớp học Tăng Phật Học viện Hải Đức. Từng thời gian, âm thanh thi sắc kỳ hoạt, thản nhiên của Thầy, đưa chúng ta bước vào vườn thơ tâm thức.

 II.    Giấc Mơ Trường Sơn

Đá ṃn phơi nẻo tà dương
Nằm nghe nước lũ khóc chừng cuộc chơi
Ngàn năm vang một nỗi đời
Gió đưa cuộc lữ lên lời viễn phương
(Mộng Trường Sinh – Tuệ Sỹ)

 Đá ṃn là vết tích bào gọt của thời gian, dạn dày theo gió sương năm tháng, như “nước chảy đá ṃn”. Một sự kiên tŕ miên viễn, liên tục bất tận. Đá ṃn đó được phơi bày, hiển lộ chơ vơ, hiu hắt, phong sương. Xa xa nh́n tảng đá ṃn phơi thân dưới ánh tà dương, buổi chiều, hoàng hôn buông phủ, lại thấy cảnh đời hiển sinh gần như vụt tắt, trả lại cho mặt đất ch́m dần trong đêm tối. Người đi trong cuộc lữ là tâm tư của Thầy trong núi rừng Soi Đê giữa khuya u tịch nằm nghe tiếng nước thác ngàn đổ về đồng bằng, xuôi đi vạn dặm mà gào thét rầm rộ qua bao vách ghềnh, vực sâu, trong đục của cuộc lưu đày ḥa nhập vào đại dương muôn trùng. Một cuộc viễn hành không dừng chân cát bụi. Một cuộc rong chơi vô tận, chẳng hẹn ḥ, không bến đậu, không có thời gian để qua và không có không gian để yên nghỉ. Người đi vào cuộc lữ như cánh chim trời mà Thầy đă tự ví ḿnh như cánh hải âu ngh́n trùng bạt gió:

“Một ước hẹn đă chôn vùi tang tóc
Cánh chim trời xa măi giữa ḷng sâu
Nghe một nỗi hao ṃn trong thoáng chốc
Một mùa thu một vạn tiếng kêu gào”
(Tuệ Sỹ)

 Trong cuộc tồn sinh này có nhiều ước hẹn, ước nguyện, ước mong, nhưng tất cả những nỗi niềm ước mơ đó dường như đă bị dập tắt trong Thầy, đă chôn vùi trong đau thương tang tóc. Chúng ta đă không biết Thầy đă có ước hẹn ǵ? Với ai? Trong trường hợp nào? Mà qua lời thơ Cánh Chim Trời th́ ước hẹn đó “đă chôn vùi tang tóc”, gây xúc động cho người đọc: “một ước hẹn không thành”. Hăy thử lập lại: “Một ước hẹn đă chôn vùi tang tóc, Cánh chim trời xa măi giữa ḷng sâu”. Từ đây gây cảm xúc cho người đọc là một ước hẹn lên đường dựng lại quê hương, mà chí nguyện không thành? Hay ước hẹn làm người con dân của một quê hương không được trọn vẹn trong sự thanh b́nh, tự do, hạnh phúc? Tất cả những tâm tư đó, chí nguyện đó đă chôn vùi trong tang tóc của một kẻ sĩ nung chí quật cường? Hay tấm ḷng từ bi được trang trải đến những người dân cùng khốn nơi ven rừng hay phố thị?

Những chữ trong bài thơ: “... đă chôn vùi tang tóc... xa măi giữa ḷng sâu... hao ṃn trong thoáng chốc... một vạn tiếng kêu gào...” Tất cả những h́nh ảnh và âm thanh tan vỡ, sụp đổ, tuyệt vọng trong khốn cùng.

Hầu hết những bài thơ trong tập Giấc Mơ Trường Sơn của Thầy được sáng tác sau năm 75, do đó, những từ ngữ, biểu tượng được dựng nên nhằm mang nhiều ư nghĩa, ẩn hiện, hư thực cho một chặng đường lịch sử quê hương dân tộc lâm vào cảnh khốn cùng. Và cũng từ tâm trạng của một sỹ phu thời đại, của một người con dân nước Việt, chân t́nh của một bậc xuất gia thư thái đi trên con đường phụng hiến tâm nguyện cứu đời mà Thầy đă viết nên những lời thơ tâm thành khí phách đó, nhưng không thiếu phần xót xa, đoài đoạn như những lời thơ trên. Những lời thơ đă bật lên tiếng “thở hơi dài”. V́ sao Thầy phải “thở hơi dài” có lẽ “giấc chiêm bao” của Thầy đă không trọn, giấc chiêm bao đă bị cát bụi cuốn đi rồi. Giấc chiêm bao đó có thể là Thầy mong đem khả năng, trí tuệ của ḿnh mà dựng xây, bồi đắp cho một quê hương dân tộc được thấm nhuần nền phong hóa thuần hậu của Tổ tiên mà suốt ḍng lịch sử, tiền nhân đă hy sinh xương máu để ǵn giữ giang sơn gấm vóc được phú cường, thịnh vượng? Và cũng có thể giấc chiêm bao là sự hy vọng phát huy đạo Phật Việt, nền văn hóa giác ngộ cho tất cả mọi người, cho khắp nhân loại mà Phật giáo Việt Nam là một biểu tượng cụ thể? Giấc chiêm bao bị cát bụi cuốn đi, nên Thầy thở dài cho một vận nghiệp quê hương và Đạo pháp hôm nay?

Thế nhưng, dẫu cho giấc chiêm bao bị cát bụi cuốn đi, nhưng, “bên cửa sổ bên kia đồi sao mọc.” Người đọc có thể hiểu bên cửa sổ, nh́n qua phía bên kia núi đồi chập chùng c̣n có một điểm sáng. Điểm sáng trên quê hương, điểm sáng trong tâm thức mọi người. Điểm sáng của sự hy vọng tương lại. Điểm sáng bừng dậy sau một ngày dài đen tối.

Sao mọc cũng có nghĩa v́ Sao Mai, biểu hiện ngày sắp sáng và đêm sẽ tàn. Dân tộc và Đạo pháp Việt Nam trong kỳ vọng quang vinh bất diệt. Từ những tâm tư, trầm tịch, những nỗi niềm chôn sâu vào sự hưng khởi cho lư tưởng thực dụng, siêu thoát, nhưng khi nghĩ lại ḿnh th́ cát bụi đă đoanh vây, phủ kín. Từ những ư thức tận cùng tư tưởng, từ những lư giải, tra vấn tự thân để viết nên tâm tư hoài niệm. Nhớ về một kư ức xa xưa, hay ước mơ làm thân lăng tử vô định nơi chân trời, góc biển, bên cội thông già hay đứng nắng giữa ḷng sông.

Hoài niệm là tưởng nhớ những ǵ đă qua, về những suy tư, tâm thức. Trong bài thơ Hoài Niệm, Thầy dùng những từ ngữ nghe như buông thả, như bâng khuâng, như dật dờ sương khói. Như h́nh bóng người hóa thân vào cát bụi, bằng đôi chân trần, bàn tay khô.

Hoài niệm để thấy được ư nghĩ của ḿnh muốn làm cuộc lữ, muốn đi khắp bốn phương trời, muốn rong chơi đây đó, bỏ lại sau lưng bụi đường thời gian phủ kín. Sự hóa thân cho cuộc lưu đày sinh tử, hiện thành lục phàm, từ thánh mà hóa độ chúng sanh. Có làm một cuộc lữ, một cuộc lên đường th́ mới thấy được sự tàn phá hoại diệt hay sinh thành vượt thoát.

Chúng ta hăy nghe bài thơ Hoài Niệm như âm ba muôn trùng giữa ḷng tử sinh:

“Một đêm thôi mắt trầm sâu đáy biển
Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa
Miền đất đó trăng đă gầy vĩnh viễn
Từ vu vơ bên giấc ngủ mơ hồ
Một lần định như sao ngàn đă định
Lại một lần nông nổi vết sa cơ
Trời vẫn vậy vẫn mây chiều gió tỉnh
Vẫn một đời nghe kể chuyện không như
Vẫn sống chết với điêu tàn vờ vĩnh
Để mắt mù nh́n lại cơi không hư
Một lần ngại trước thông già cung kỉnh
Chẳng một lần lầm lỡ không ư?

Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến
Hai bàn tay khói phủ tóc tơ xa.”

(Hoài Niệm –Tuệ Sỹ)

 Chúng ta hăy lắng tâm thanh thản để nghe từng âm điệu hiu hắt chứa chan niềm mẫn cảm tuyệt cùng của ư thức. “Mắt trầm sâu đáy biển”, “Khói phủ tóc tơ xa”, “trăng đă gầy vĩnh viễn”, “giấc ngủ mơ hồ”, “như sao ngàn đă định”, “nông nổi vết sa cơ”, “mây chiều gió tỉnh”, “điêu tàn vờ vĩnh”.

Qua những lời thơ ấy, chúng ta thấy tâm tư Thầy đă hóa hiện vào ḍng luân hồi tử sinh, để có cái nh́n tổng thể một tức là tất cả, tất cả tức là một. Tất cả những lời thơ ấy là thực tại của pháp giới, là vốn liếng của chúng sanh, là chất liệu của sự sống và sự chết của thế tục đế, mà Bồ Tát độ sinh không thể thiếu những gia tài của phàm tục.

Cũng đôi mắt đó, cũng hai bàn tay đó. Cũng tóc tơ đó và cũng giấc ngủ đó, Thầy đă mang hành trang lên đường như câu: “Một lần định như sao ngàn đă định”, “Ngày mai nhé ta chờ mi một chuyến”. Dấn thân vào cuộc lữ tam giới để phụng sự hạnh nguyện cứu độ sinh linh vững chăi, quyết tâm “sao ngàn đă định”, và một chuyến ra đi là “vĩnh viễn con tàu”.

Đọc thơ Thầy Tuệ Sỹ, chúng ta thấy những lời thơ: “Đá ṃn, tà dương, nước lũ, viễn phương, cuộc lữ, tử sinh, đồng hoang, cát bụi, sương mù, gió lốc, tóc trắng, phiêu lưu, viễn mộng, đọa đày, kiêu hùng, trùng khơi, đồi hoang, khung trời hội cũ...” mà Thầy luôn đối diện với chính nó, với vách tường ủ rũ, với ngược nước xuôi ngàn, với trăng tàn núi lạnh, với hạt muối biển khơi... mà không là những chất liệu kiêu sa, hănh tiến, không là gấm vóc lụa là, một chất liệu b́nh dị thường nhật mà bao con người thường có trong cuộc sống, từ cái ăn cái ở cho đến cái trang nghiêm tự thân. Thầy tự trang bị cho ḿnh những ánh nắng và bóng nước. Những chiều tà hay sao mai, những đá cuội, bụi đường hay bên gốc thông già giữa sườn núi cao. Đó là hành trang của Thầy, cho người vào cuộc lữ, cho phương trời viễn mộng.

Để thấy rơ hơn nữa những lời thơ khắc khoải ấy, trong những năm tháng ở tù, lần thứ hai tại Sài G̣n 1978, qua bài Dạ Khúc:

Tiếng ai khóc trong đêm trường uất hận
Lời ai ru trào máu lệ bi thương
Hồn ai đó đôi tay gầy sờ soạng
Là hồn tôi t́m dấu cũ quê hương
 Ai tóc trắng đ́u hiu trên đỉnh tuyết
Bước chập chờn heo hút giữa màn sương
Viên đá cuội mấy ngàn năm cô quạnh
Hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường?

 Dạ khúc là khúc nhạc, khúc hát về đêm. Khúc ca của ai đó? Hay là khúc dương cầm của Thầy được tấu lên trong chốn lao tù? Khúc dương cầm không phiếm? Khúc vĩ cầm không cần? Khúc Tây ban cầm không dây? Khúc nhạc không lời, chỉ là đôi tay Thầy gơ nhịp xuống tường rêu, trên vách tường nhà tù của chế độ, để ḥa quyện vào “tiếng ai khóc trong đêm trường uất hận” để đi vào “lời ai ru trào máu lệ bi thương”. Khúc nhạc thống thiết, tâm cảm bi hoài để chia sẻ nỗi đau của nhân thế, của hồn ma bóng quế dật dờ, của đôi tay xương xẩu, gầy guộc mà sờ soạng, trong đêm đen t́m nhau d́u dắt. Nhưng chẳng ai xa lạ “trong đêm trường uất hận” chẳng ai “trào máu lệ bi thương”, chẳng ai có “đôi tay gầy sờ soạng” mà tất cả chính là “hồn tôi” đang đi “t́m dấu cũ quê hương”. Vậy “dấu cũ quê hương” theo Thầy là dấu cũ ǵ? và dấu cũ ấy ở nơi đâu? Người nghe qua “dấu cũ quê hương” có thể là con đường lịch sử hơn 4000 năm văn hiến. “Dấu cũ quê hương” là con đường của bao anh hùng liệt nữ đă đi qua c̣n in rơ những dấu chân kỳ tích. Là con đường của các bậc tiền hiền tổ đức đă đi để gây dựng cơ đồ, giang sơn gấm vóc cho giống ṇi Hùng Lạc Rồng Tiên. Dấu đi đó c̣n vang vọng theo hồn thiêng sông núi, theo tiếng gọi của quê Cha, theo lời ru của đất Mẹ. Và “dấu cũ quê hương” đó măi măi là di sản trân quư của dân tộc giống ṇi. “Dấu cũ quê hương” trải qua các triều đại thăng trầm, vinh nhục, thịnh suy, nhưng dấu cũ ấy, con đường lịch sử ấy vẫn in đậm trên quê hương, là cái nôi nuôi lớn chủng tộc Đại Việt, Đại Cồ Việt. Người đọc được nghe “viên đá cuội mấy ngh́n năm cô quạnh, hồn tôi đâu trong dấu tích hoang đường”.

Viên đá cuội có mấy ngh́n năm tuổi thọ? Viên đá cuội anh linh giống ṇi, viên đá tự tồn, độc lập từ thuở sơ khai đă lênh đênh thăng trầm cùng ḍng sử Việt từ thủa dựng nước.

Qua các bài thơ tù trong tập Giấc Mơ Trường Sơn, với những ư thơ, lời thơ mang nặng t́nh quê hương dân tộc, mang nặng tính tự tồn, tự chủ mà tâm tư Thầy luôn cưu mang nặng trĩu vận mệnh của nước nhà, của khúc quanh lịch sử. Một biến cố tan hoang, xé nát da thịt của quê hương:

“Tôi vẫn đợi những đêm đen lặng gió
Màu đen huyền ánh mắt tự ngàn xưa
Nh́n hun hút cho đêm dài lịch sử
Dài con sông tràn máu lệ quê Cha

 Tôi vẫn đợi suốt đời quên sóng vỗ
Quên những người xuôi ngược Thái B́nh Dương
Người ở lại giữa ḷng tay bạo chúa
Cọng lau gầy trĩu nặng ánh tà dương.”

(Tôi Vẫn Đợi – Tuệ Sỹ)

 Thầy như người con của quê hương bị giam hăm trong ngục tù thời đại, nhưng cũng từ ngục tù đó Thầy vẫn đợi một đêm gió lặng sóng êm. Một đêm tối trăng nhưng thanh b́nh an lạc để tự ḿnh nh́n sâu vào con đường lịch sử. Nh́n hun hút diệu vợi bằng đôi mắt đen huyền, bằng ánh mắt của tự ngàn xưa, để thấy trên con đường dài lịch sử ấy như một ḍng sông tràn máu lệ quê Cha. Ḍng sông lịch sử đó, từ đầu nguồn lịch sử cho đến hôm nay đă mang về bao phù sa màu mỡ làm tươi tốt ruộng đồng, dân sinh thịnh vượng. Ḍng sông lịch sử chuyên chở bao máu xương, nước mắt của nhiều thế hệ tiền nhân, những người đă hy sinh lót đường cho hàng hậu tấn tiến tới, cho hàng con cháu tiếp nối xây dựng cơ đồ non sông. Và cũng trong t́nh tự sông núi quê hương, trong thân phận người con dân nước Việt, tâm tư Thầy như không phút nào nguôi ngoai, phai lăng cái nhớ, cái nghĩ, cái suy tư, ước vọng để tựu thành ḍng sử mệnh quê hương, để tựu thành ḍng máu anh linh của dân tộc và để tựu thành cái hùng, dũng, trường tồn tịnh lạc cho giá trị sống của dân ḿnh. Do vậy, lời thơ và tâm thức Thầy ḥa quyện vào nhau không thể phân ly con người và quê hương. Bằng t́nh tự đó, quê hương dân tộc là ḿnh và ḿnh là quê hương dân tộc:

 “Tiếng trẻ khóc ngân vang lời vĩnh cửu
Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh
Tôi là cỏ trôi theo ḍng thiên cổ
Nghe lời ru nhớ măi buổi b́nh minh”

(B́nh Minh – Tuệ Sỹ)

 Tiếng trẻ khóc mà phải ngân vang lời vĩnh cửu, hay là lời thề nguyền xây dựng quê hương? Tiếng trẻ khóc đó là dân tộc Việt Nam? Là giống ṇi Lạc Việt? Là tiếng nói đầu đời của con dân Hùng Vương? Từ tiếng khóc đó vang dội về thủa nguyên sơ, buổi ban đầu vào thời lập quốc, từ thuở hồng hoang Tổ tiên khai phóng đất nước đem máu xương ḿnh tưới thắm ruộng đồng. Công đức ấy ngàn năm c̣n vang vọng, c̣n tồn tại vĩnh cửu trong ḷng người dân Nam.

Suốt một chiều dài lịch sử dân tộc, có lúc quanh co, khúc khuỷu, có lúc bằng phẳng, thênh thang nhưng Tổ tiên ḿnh, anh hùng của quê hương ḿnh, dân tộc yêu thương của ḿnh đă tốn hao bao xương máu: có lúc chống giặc ngoại xâm để giữ yên sơn hà xă tắc, có lúc phải canh tân đất nước để theo kịp nền văn minh tiến bộ của loài người và cũng có lúc phải xây dựng nền ḥa b́nh an lạc để khai mở, bảo tồn nền văn hóa dân tộc trong ư thức chống ngoại xâm. Bằng giá trị kiêu hùng của “sông máu thắm đồng xanh” th́ Thầy là ngọn “cỏ trôi theo ḍng thiên cổ” mà ngẩng đầu cao để nghe lời ru từ thủa b́nh minh.

Ví ḿnh như ngọn cỏ, sống trên mảnh đất quê hương, cùng nổi trôi theo vận nước dân tộc mà không tách ĺa khi đất nước điêu linh.

Đọc thơ Thầy Tuệ Sỹ, ta thấy rạt rào t́nh tự dân tộc, ngập tràn chí nguyện cho quê hương và luôn giữ ǵn kỷ cương giềng mối của Tổ tiên, làng nước, hầu như những bài thơ của Thầy đều thấp thoáng h́nh ảnh của cánh đồng, ruộng lúa, của nương khoai, luống cải, của đồi núi biển khơi, của sông tràn nước lũ và cát bụi mơ hồ khói sương tóc trắng.

Qua một số bài thơ tiêu biểu được trích dẫn trong tập Giấc Mơ Trường Sơn của Thầy Tuệ Sỹ: chúng ta đă thấy được đôi phần nỗi niềm tâm sự của Thầy, của người dân đang sống giữa ḷng quê hương, băn khoăn về vận mệnh đất nước.

 

III.   Ngục Trung Mị Ngữ

 Tiếp theo Giấc Mơ Trường Sơn là Ngục Trung Mị Ngữ. Thơ trong tập Ngục Trung Mị Ngữ là thơ chữ Nho được làm trong thời gian ở tù – mang bản án tử h́nh – nghe nói khá nhiều, nhưng đến với người đọc chỉ khoảng đôi mươi bài. Trong đôi mươi bài thơ chữ Nho ấy chúng ta thấy cái tâm hồn an nhiên tự tại, thư thái xuất trần siêu thoát, trong khí khái của một người tù mà không bị câu thúc giam hăm, qua bài Trách Lung:

      “Trách lung do tự tại
      Tản bộ nhược nhàn du
      Tiếu thoại độc cảnh hưởng
      Không tiêu vĩnh nhật sầu”

    Dịch:

      Lồng chật vẫn tự tại
      Qua lại như nhàn du
      Nói cười chơi với bóng
      Tiêu sái tù thiên thu

Đây là tâm lượng của người tu, thân tù mà tâm không tù. Dù ở trong bốn vách lao lung mà vẫn an nhiên tự tại qua lại nhàn du, vẫn nói cười với bóng h́nh của ḿnh, được xem như người bạn cố tri luôn có mặt để nói, để chia sẻ có nhau. Tâm tư này dù có ở bất cứ nơi đâu cũng không bị duyên trần ràng buộc, không bị chi phối bởi ngoại cảnh nhơn duyên, v́ đă tự làm chủ bản thân mà không bị hệ lụy, bị sự sai thù, chung biệt của thế gian, một khi tâm đă an th́ ba cơi cũng được an. Chúng ta hăy nghe tâm an nơi cơi Thiền qua bài thơ Biệt Cấm Pḥng của Thầy:

       Ngă cư không xứ nhất trùng thiên
      Ngă giới hư vô chân cá thiền
      Vô vật vô nhơn vô thậm sự
      Tọa quan thiên nữ tán hoa miên

 

    Dịch:   Xà Lim

     Ta ở tầng Trời không vô biên
      Nơi ấy tịch nhiên Thiền thật Thiền
      Không vật không người không đa sự
      Nh́n xem hoa vũ bởi Tiên thiên

 

Đọc qua những ḍng thơ này, chúng ta không dám lạm bàn v́ rằng đem cái tâm phàm tục, hữu hạn của ḿnh mà luận giải cái tâm vô tâm, cái tướng phi tướng, th́ làm sao dám b́nh luận, lư giải? Chỉ có điều là chúng ta hăy lắng tâm chiêm nghiệm một tâm thức siêu thoát, tùy theo chỗ ở thường an lạc của Thầy mà học mà tu, mà cầu mong thành đạt đôi phần như vậy. Và, chúng ta hăy theo Thầy tiến thêm bước nữa để thấy ḷng Thầy thanh thản như làn mây giữa bầu trời vô tận, qua bài Tự Vấn:

      Vấn dư hà cố tọa lao lung
      Dư chỉ khinh yên bán ngục khung
      Tâm cảnh tương tŕ kinh lữ mộng
      Cố giao già tỏa diện hư ngung

   

Dịch: Hỏi Ḿnh

      Hỏi ḿnh sao phải lao tù?
      Song thưa cửa ngục có tù được mây?
      Kiên tŕ cuộc lữ vàng bay
      Lời xưa c̣n đó phút giây không sờn

 Rơ thật, tâm không ba ngàn thế giới đại đồng. Tâm đă không th́ ai giam giữ được? Mây đă nhẹ bềnh bồng trôi th́ cửa ngục song thưa nào nhốt được ǵ?

Thầy như áng mây trôi giữa bầu trời vô định!

IV.   Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm

  Qua hai tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn và Ngục Trung Mị Ngữ đă chứa đựng những tâm t́nh chất ngất, có đủ mọi h́nh ảnh, tâm tư, tri thức hoặc vô thức, phân biệt hay vô phân biệt, được chuyển tải từ nơi đó. Giờ chỉ là Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm:

    Số 3.

Trên dấu thăng
âm đàn trĩu
nặng
Khóe môi in dấu hận ngh́n trùng
Âm đàn đó
ch́m sâu ảo vọng
Nhịp tim ngừng trống trải thời gian
Thời gian ngưng
mặt trời vết bỏng
vẫn thời gian
sợi khói buông chùng
Anh đi măi
thềm rêu vơi mỏng
Bởi nắng ṃn
cỏ dại ven sông

 

    Số 8:

Công Nương bỏ quên chút hờn trên dấu lặng
Chuỗi cadence ray rứt ngón tay
Ấn sâu xuống ưu phiền trên phím trắng
Nửa phím cung chỏi
nhịp lưu đày

 

Số 13:

Ô hay, giây đàn chợt đứt.
Bóng ma đêm như thật.
Cắn đầu tay giá băng.
Điệp khúc lắng trầm trong mắt.

 Rồi phím đàn lơi lỏng;
Chùm âm thanh rời, ngón tay rát bỏng
Chợt nghe nguyệt quế thoáng hương
Điệp khúc chậm dần theo dấu lặng.

   

Số 18:

Tiếng xe đùa qua ngơ
Cành nguyệt quế rùng ḿnh
Hương tan trên dấu lặng
Giai điệu tṛn lung linh

 Bầu trời thơ của Thầy đầy hương sắc, có đủ h́nh hài dáng dấp chân thân, thoạt hiện, thoạt biến, người viết chẳng có thể dùng lời diễn đạt, chỉ như bâng quơ đâu đó một vài cảm xúc hoang sơ, thô lậu để đóng góp cho cái gọi là đọc thơ cho nghe giữa một giảng đường đông thính chúng. Chỉ đọc không thôi, chúng ta đă thấy có một cái ǵ đó dị thường được ẩn kín trong thơ, th́ ta nào dám tỏ bày ngôn từ b́nh phẩm. Chúng ta hăy nghe triết gia Phạm Công Thiện đọc thơ Tuệ Sỹ: “Nói rằng thơ Tuệ Sỹ hay hoặc không hay th́ lố bịch. Chỉ có thể nói rằng thơ Tuệ Sỹ đáng được chúng ta đọc đi đọc lại nhiều lần và suy nghĩ lan man hoặc cảm nhận tùy hứng, Ít nhất có một người làm thơ đáng cho ta đọc giữa “sống chết với điêu tàn vờ vĩnh” để cho chúng ta c̣n có được “một buổi sáng nghe chim trời đổi giọng.” Đặc tính thứ ba và cuối cùng của thơ Tuệ Sỹ chính là tiếng thơ đổi giọng của một loài chim đi từ cơi xa xưa của vô biên tế kiếp trong ḷng sâu thẳm của tính mệnh quê hương.”

Và nơi đây chúng ta cũng thử nghe lời nói của Bùi Giáng, khi đọc thơ Thầy: “Tuệ Sỹ là một vị sư, ông viết văn quá nghiêm túc, nhưng sở tri của ông về Phật Học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia c̣n ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u...”

Và Bùi Giáng đă đi vào cơi thơ Tuệ Sỹ: “Mới đọc bốn câu thôi – trong bài thơ Khung Trời Hội Cũ, tôi cũng đă cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cơi dạ”

Rồi thi sĩ thảng thốt: “Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi và làm thơ tiếp nhiều cho, nếu không th́ nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn”

Đó là hai nhận xét của các bậc Triết gia, Thi sĩ của chúng ta, qua phạm trù thi ca, ngôn ngữ, triết lư của Thầy Tuệ Sỹ.

 IV.    Đôi Ḍng Tư Tưởng Triết Học

Song hành với ư thơ lời nhạc, Thầy như một học giả hay đúng hơn là nhà khảo cứu Tư tưởng Phật Học qua các công tŕnh tư duy triết lư Long Thọ và Biện Chứng Pháp, hay Cogito Bát Nhă – Dưới ánh sáng của hiện tượng luận để từ đó đưa đến sự so sánh các vấn đề Triết Học Đông Tây Cogito trong Triết Học Phật giáo, như là Thiền: Con đường thể nghiệm Cogito của Đức Phật.

Thầy đă dành nhiều thời giờ nghiên cứu Triết Học Tánh Không hay dịch thuật Kinh Luật Tạng là yếu chỉ của sự tu tập, là kỷ cương giềng mối, là mạng mạch của Tăng già để cho thế hệ tân học Tỳ Kheo đọc tụng. Ấy là hoài băo của Thầy trên con đường phụng sự cho thế hệ kế thừa.

Thầy xây dựng tư tưởng của ḿnh trên nền tảng Triết học thực dụng và chính đó là tiêu đích để trao truyền cho nhiều thế hệ mai sau.  Tư tưởng thực dụng ấy, được thể hiện qua bài thơ Tiểu Khúc Phật Đản của Thầy để thấy một Triết lư như thật. Một nhân sinh quan thực tại trong phạm trù thế gian và làm sao vượt thoát cái thực tại thế gian để có được một nền Triết học giác ngộ:

“Thời gian vỗ cánh ngang đầu
Sinh, già, bịnh, chết, tránh đâu vận cùng
 Khổ đau là khối t́nh chung
Ai nâng cơi thế qua bùn tử sinh”

 Thầy đă đóng góp cho nền văn học Việt Nam những công tŕnh khảo cứu, dịch thuật, thi văn, tư tưởng Triết học để khu vườn văn hóa Việt Nam thêm nhiều hương sắc. 

 

Đêm Thơ Nhạc Tuệ Sỹ và Trần Trung Đạo

Chicago – 21 tháng 10, 2006

Nguyên Siêu

 

 

---o0o---

Tŕnh bày: Phổ Trí

Cập nhật: 01-11-2006

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>