categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản 1981

CÂU CHUYỆN VỀ THI CA

HUYỀN KHÔNG

 

LỜI MỞ ĐẦU

Nhà thi sĩ nói: “ Con người sống ở đời như nhà thi sĩ.” Phải chăng, đời là một cơi mộng và con người là kẻ đi trong cơi mộng này? Phải chăng, đời là một cơi thực và con người không ai là không có riêng cho ḿnh một cơi mộng từ trong những khổ lụy của cái cơi thực kia? Hay phải chăng, đời chỉ là một cơi của lưu đày và con người chỉ là kẻ mang niềm hoài vọng không nguôi, đi t́m lại quê hương đă mất của ḿnh? Câu nói lơ lững như chính cái lơ lững của cuộc đời và của thi ca.

Nhưng chính v́ thế mà, người ta có thể nói rất nhiều về thi ca, nói măi cũng không cùng mà lại vẫn như không nói được ǵ. Cũng như con người, như cuộc đời…Tất cả vừa như hiển bày ra đó mà lại cũng vừa như một ẩn số muôn đời, kêu gọi và thách thức mọi t́m kiếm, khám phá. Th́ ra, cái cụ thể nhứt-tưởng chừng như dễ hiểu nhứt-lại cũng là cái bất định nhứt và như khó hiểu nhứt. Triết lư, nghệ thuật, văn chương, thi ca…vốn không nằm trên một đường thẳng cho con người dễ dàng định được nẽo tiến đường lui. Và v́ thế mà, những tŕnh bày về thi ca ở đây chỉ là một “ CÂU CHUYỆN VỀ THI CA”, một câu chuyện góp thêm vào muôn ngàn câu chuyện mà bao người đă nói trong suốt cả cuộc đời dài. Nó không phải là một công tŕnh nghiên cứu, biên khảo để nhằm đưa ra một kết quả về mặt lư luận hay về lịch sử và khuynh hướng của thi ca. Nó chỉ là một trao đổi những kinh nghiệm về một số khía cạnh của thi ca mà chính thi ca đă tự mở ra trên con đường đi của nó; những khía cạnh về bản sắc của thi ca và về mối tương quan của nó với chân lư, triết lư, với cuộc đời, tôn giáo…Sự thiếu sót, do đó là điều không thể tránh. Ở một hai khía cạnh về mối tương quan, nó lại chỉ mới nói được một phần rất nhỏ với riêng một lănh vực. Âu là xin mượn cái phần nhỏ với riêng một lănh vực đó mà nói chung cái phần lớn với những lănh vực tương tự vậy. Thêm nữa, nếu cuộc đời chỉ là cuộc đời với tôi trong ư nghĩa mà tôi đă cho nó th́ thi ca với tôi, trong ư nghĩa mà tôi đă cho nó. Cái khách quan của những nhận định ở đây, đo đó cũng là điều không thể đáp ứng được.

            “Khách lại bất vấn nhân gian sự,

            Chỉ bạng lan can khán thúy vi”

Ngày xưa, có một người khách đă đến với cuộc đời không một câu thăm hỏi như thế. Người khách đến chỉ là để nh́n ngắm mây trời màu trời. Bởi hơn bất cứ ai, người khách biết rằng , có thăm hỏi, mở lời nói năng th́ cũng chẳng biết thăm hỏi, nói năng sao cho cùng. Thôi th́ chỉ c̣n IM LẶNG. Nhưng ai dám bảo ẩn sau cái im lặng kia, người khách đă không gởi lại cho đời cả một tấm ḷng?

Nghệ thuật, thi ca rồi cũng sẽ đi trên con đường về của im lặng. Nhưng trên đường về của im lặng này, nghệ thuật , thi ca đích thực rồi sẽ c̣n măi những âm hưởng vô cùng của cả một tấm ḷng mà hơn một lần, nó đă được đem dâng hiến cho đời.

“CÂU CHUYỆN VỀ THI CA” ở đây chỉ là câu chuyện về những tấm ḷng đó đây mà người trao đổi đă từng gặp gỡ cũng bằng cả cái tấm ḷng của ḿnh. Hay là bởi cái rung động của tấm ḷng kia vốn chân thành thi thiết mà không hay, th́ đó do cái vụng về của người trao đổi vậy.

Los Angeles, cuối xuân Tân Dậu

HUYỀN KHÔNG

 

I - ĐẶT VẤN ĐỀ

Trước khi phân tích thi ca, chúng ta hăy thử minh định lại vấn đề THI CA LÀ G̀? Trong khuôn khổ của phần này th́ quả thực đây chỉ là thủ tục, nhưng đồng thời cũng là một thủ tục cần thiết, như thủ tục chiếu khán nhập nội đối với một du khách trước khi đi vào một xứ lạ vậy.

Thi nhân đi vào đời với cảm nghĩ… “một con chom đến từ xứ lạ, ngửa cổ hát chơi.” (X.D) Chúng ta cũng sẽ đi vào thế giới thi ca với đôi mắt ṭ ṃ, tra hỏi về những tiếng hát lạ của những con chim lạ.

Trên căn bản câu hỏi “ Thi ca là ǵ” chúng ta sẽ đi vào những câu hỏi chi tiết hơn, cụ thể hơn như thế này:

-Điều ǵ giúp chúng ta phân biệt đối tượng thông thường của cảm quan tri giác với đối tượng của thi ca, của nghệ thuật?

Điều ǵ làm cho một câu thơ khác với một câu văn, một bài thơ và một bức họa, một điêu khắc phẩm?

-Điều ǵ làm cho một bài thơ hay khác với bài thơ dở?

-Điều ǵ làm cho tho Đạo khác với thơ Đời? Làm cho thơ nhà Phật khác với thơ thông thường?

Đại để đó là những câu hỏi thủ tục mà chúng ta không thể bỏ qua trước khi nói đến thi ca. Và chúng ta sẽ dần dần đi vào từng câu hỏi một như đă nêu trên.

 

II - ĐỐI TƯỢNG CỦA THI CA. ĐỐI TƯỢNG CỦA CẢM QUAN.

Nhắc đến thi nhân, người ta vẫn thường lien tưởng đến những kẻ lêu bêu không tưởng, những người chỉ nói lên những chuyện đâu đâu. Homère nói đến thế giới huyền thoại với những tác phẩm trường thiên: Illiade và Odyssée.Dante nói đến Thiên Đàng và Hỏa Ngục với Comédie Divine. Nguyễn Du với văn tế Thập Loại Chúng Sanh ảo dị. Phái Dada ở Pháp làm thơ bằng cách xổ số ngôn từ: Viết trên mỗi miếng giấy một chữ, ṿ lại và bốc ra gặp chữ nào th́ ghi chữ ấy kết lại mà thành “ câu thơ” bất kể ư nghĩa. Bích Khê thích nói về Tinh Huyết. Huy Cận trước kia muốn đốt cháy cả cuộc đời để có ánh Lửa Thiêng.

Những sự kiện vừa nêu ra đă tạo cho chúng ta ấn tượng. Cuộc đời của thi sĩ khác hẳn cuộc đời của thế nhân b́nh thường và thi sĩ nh́n thấy những đối tượng mà đôi mắt trần tục của những con người thường như chúng ta không hề nh́n thấy, không thể nh́n thấy.

Quả thực đó chỉ là một cách thần tượng hóa nhà thơ, thần tượng hóa thi ca. Trước khi LÀ một thi sĩ, th́ thi nhân ĐĂ LÀ một người. Trước khi ngôn ngữ trở thành tiếng thơ th́ ngôn ngữ ĐĂ LÀ tiếng người.

Thơ không phải là điều từ trời cao rơi xuống, là một thiên ân phú bẫm hay một quà tặng của “Nàng Thơ”. Thi nhân không phải là kẻ bị phát văng xuống trần v́ phạm tội trên thiên cung. Nhà thơ là một người, và đối tượng của thơ, hay ít ra chất liệu của thơ là cuộc đời. Không sống th́ không có thơ, không có cuộc đời th́ cũng không có thơ, dù thơ có thể là một cách bạo hành với đời, một cách chạy trốn cuộc đời, một cách vượt thoát hiện hữu.

Nói như vậy không có nghĩa là xác nhận “ nghệ thuật vị nhân sinh” hay phủ nhận “ nghệ thuật vị nghệ thuật”, nghĩa là làm sống lại cuộc đời căi vă chẳng đi đến đâu từng kéo dài bao thế hệ qua; thơ mà chỉ muốn v́ đời sống th́ tức là đă cực đoan đẩy thơ đến chổ ḥ vè , ḥ bài cḥi, ḥ giả gạo, văn công, thi công”. Thơ mà chỉ muốn vị nghệ thuật tức là đă tự ly khai khỏi hiện hữu, tự trừu tượng hóa cuộc đời. Có thơ v́ có hiện hữu, nhưng không phải làm thơ là chỉ v́ hiện hữu, chỉ cho hiện hữu thường thái này.

Đối tượng của thơ và đối tượng của hiện hữu thường thái, từ căn bản thực hữu, chỉ là một. Đối tượng đó chính là “ muôn sự của chung” là “ kho trời chung” vậy.

Những đối tượng của thi ca và nói cung của nghệ thuật lại cũng không phải chỉ là đối tượng của tri giác thông thường. Nếu chỉ có “ kho trời chung” mà không có “ vô tận của ḿnh riêng”(NCT) th́ sẽ không có thơ, không có nghệ thuật.

Sống là ở đời, nghĩa là mặc nhiên tạo nên những quan hệ giữa tự ngă với người đời. Quan hệ đó có hai đặc điểm, quan hệ sống mặc nhiên và quan hệ tra hỏi.

Chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật hay quan niệm “ bài thơ hay nhất là bài thơ không bao giờ được viết ra” chẳng hạn là những chủ trương và quan niệm đă bỏ quên cái quan hệ hiện hữu mặc nhiên đó. Thi sĩ chẳng phải là kẻ trời sai xuống, chẳng phải là kẻ có một sứ mệnh thiêng liêng hoặc ân thiên khải nào. Thi ca cũng chẳng phải là một món quà ngoại thế, nhưng chính là sản phẩm của một cách thế ở đời, một cách thế nh́n đời khác thường. Một cách thế nhận thức về cái “ kho trời chung’ theo quan điểm “ vô tận của ḿnh riêng”.

Thi sĩ chính là người có cái nh́n vô tận, những ước vọng vô cùng khác thường đó. Khả năng lănh hội, khả năng nhận thức vô tận, vô cùng đó đă biến những đối tượng thông thường của tri giác và cảm giác thông thường thành đối tượng của thi ca, thành đối tượng của thơ. Thi ca chẳng nói điều ǵ khác đời, không phải của đời. Đối tượng của thơ cũng chẳng ǵ khác hơn là trăng, là gió, là mây nước, là nhớ thương, là người yêu, người ghét, người buốn,người giận. Nghĩa là những đối tượng thông thường, những sự việc b́nh thường đă tạo ra thành đời sống b́nh thường.

Tuy nhiên , trăng được đem vào thơ th́ không c̣n là trăng thường nữa. Và gió, và mây, và người yêu, ngươi ghét cũng thế. Chẳng v́ thi sĩ có chiếc đủa thần hay có một huyển lực nào đó làm cho đối tượng thông thường trở thành khác thường. Đối tượng trước sau vẫn là đối tượng đó. Khác chăng chỉ là cái nh́n về đối tượng ấy mà thôi. Thi ca là một CÁI NH̀N BIỆT THUỘC về những đối tượng, những tương giao b́nh thường.

Những tâm trí bất thường, những người điên, những người bị bệnh thần kinh cũng có thể có những cái nh́n biệt thuộc như thế. Và như vậy th́ phải chăng những hạng người đó cũng là thi sĩ? Rất có thể. Trang Chu có thể là kẻ đă mộng thấy ḿnh là bướm. Nhưng ai dám chắc là không phải bướm đă mộng thấy ḿnh là Trang Chu? Lư Bạch lầm trăng dưới ḷng sông là trăng thật nên mới chết đuối, hay chính v́ Lư Bạch đă thấy rơ trăng trên trời và bóng trăng dưới ḷng sông cũng đều là trăng giả, và tất cả mọi sự đều là ảo hóa, giả tạm. Hiểu như vậy, th́ cái chết của Lư Bạch lại chính là một hành động “tự tử” tuyệt đối phủ nhận cuộc đời chứ chẳng phải Lư Bạch đă chết v́ say, v́ nhận lầm.

Giữa say với tỉnh, điên với không điên, mộng với thực…biên giới quả là mong manh. Thi ca nằm ngay trên biên giới đó. Những điểm đặc sắc của thi ca, điều làm cho thi ca không phải là một chuyện điên khùng, ảo hoặc chính là ở chỗ thi ca cần có sự THÔNG CẢM, THƯỞNG THỨC của kẻ khác. Giá trị của thi ca không phải chỉ tùy thuộc vào bài thơ, hoặc chỉ tùy thuộc người thưởng thức hay độc giả nhưng là tùy vào TƯƠNG QUAN GIỮA BÀI THƠ VÀ NGƯỜI ĐỌC THƠ. Thi sĩ có thể là một con người cô đơn, nhưng thi ca không thể tồn tại trong sự cô độc, thơ không phải là một cách độc thoại mà là một cách truyền đạt kinh nghiệm cho tha nhân. Giá trị của thi nhân là một giá trị cần được tha nhân bảo chứng. Thiên tài có thể là người nhiều kiêu hănh và tự đắc,. Không có niềm kiêu hănh và tự đắc đó th́ cũng không có thi ca, không có nghệ thuật, nhưng kiêu hănh và tự đắc không phải là điều kiện tất yếu của thiên tài.

Không thiếu ǵ những thi sĩ chán ghét tha nhân, thù hằn với hiện hữu của chính ḿnh; cũng không thiếu ǵ những thiên tài chỉ sống với niềm kiêu hảnh của sáng tạo, và đă tự xem như là Thượng Đế của thế giới kinh nghiệm và cảm xúc của riêng ḿnh. Nhưng kiêu hănh, hận đời, yếm thế và tự hào đến bao nhiêu chăng nữa th́ thi nhân vẫn không thoát khỏi lệ định của sự sáng tạo: sự vật được sáng tạo phải có, nghĩa là phải tồn tại. Và bài thơ, cũng như bất cứ một sự vật nào khác, cũng chỉ TỒN TẠI CÓ Ư NGHĨA với một ư thức, nghĩa là với tha nhân, với đọc giả, với người thưởng ngoạn mà thôi. Đây là điều kiện vinh quang mà cũng là nguyên ủy sa đọa của thi sĩ, nhưng đây cũng là điều bất khả kháng. Nghệ thuật hay riêng thi ca, không phải là tất cả những ǵ đă được sáng tác, trái lại là những sáng tác đă được thưởng thức và c̣n được nhớ đến , nhắc nhở đến. Có những thiên tài lịm chết hay qua đi trong lăng quên là v́ vậy.

Thi ca vẫn được xem là một nỗ lực thoát khỏi cuộc đời b́nh thường, cái nh́n b́nh dị. Nhưng giá trị của thi ca th́ vẫn gắn liền với cuộc đời , với thế nhân. Không có sự gắn bó đó th́ giá trị của thơ chỉ c̣n là một giả định. Không có nổ lực đó th́ thơ cũng sẽ không c̣n là thơ nữa.

Nếu với nhà thơ “ trăng gió” chỉ là trăng gió theo nghĩa thông thường được ghi trong tự điển hay trong các sách khoa học th́ trăng gió TRONG thi ca sẽ không phải là trăng gió CỦA thi ca. Nhưng thi sĩ lại cũng không phải là kẻ có toàn quyền sáng tạo ra những Ư NGHĨA hoàn toàn mới cho ngôn ngữ thông thường, hoặc sáng tạo ra những NGÔN NGỮ hoàn toàn mới. Nỗ lực của thi nhân là khám phá ra những ư nghĩa c̣n đang bị che dấu, những khía cạnh c̣n đang bị khuất mờ của thực tại chứ không phải là sáng tạo một thực tại mới mà những quan điểm, những bận tâm, những chú ư khác đă không khám phá ra được. Giá trị của thi nhân tùy thuộc ở nổ lực vượt thoát và cố gắng khám phá vừa kể.

Thi ca không làm cho đời vui thêm hay buồn thêm. Thi ca chỉ làm cho đời thêm “ mới lạ”. Và mỗi sự mới lạ đều chỉ là mới lạ khi được so sánh với các cái cũ, cái đă có và sẵn có mà thôi.

Khám phá điều mới lạ của cuộc đời không phải là chạy trốn đời nhưng là đến gần đời hơn, sống nhiều với đời hơn, để có thể yêu đời hơn. Cũng như yêu một người th́ phải làm cho người yêu không c̣n là người thường nữa. Thi ca và thi nhân cũng thế. Thấy sự khác lạ của cuộc đời và làm cho cuộc đời trở nên mới lạ là căn bản sáng tạo của cuộc đời và làm cho cuộc đời trở nên mới lạ là căn bản sáng tạo của thi ca và của nghệ thuật nói chung vậy. Theo nghĩa ấy mà xét th́ ai cũng có thể là thi sĩ cả. Tuy nhiên điều khác biệt ở đây chính là chổ thi nhân đă quyết định và lựa chọn một “KỸ THUẬT” biệt thuộc để diễn tả kinh nghiệm khác lạ và mới lạ của ḿnh. Kỹ thuật đó là kỹ thuật thi ca vậy. Mặt khác, thơ cũng chỉ là thơ chứ không phải như văn hay những h́nh thái diễn đạt khác không phải là thơ. Nói cách khác thơ chỉ là thơ khi nào thi nhân MUỐN TÔN TRỌNG KỸ THUẬT của thơ, và đọc giả cũng muốn nh́n thơ theo nhăn quan kỹ thuật đó.

Tóm lại, đến đây th́ chúng ta có thể xác nhận vài điểm như sau về sự dị đồng giữa thi nhân và thường nhân, giữa cái nên thơ và cái b́nh thường: Giống nhau về ĐỐI TƯỢNG  và KINH NGHIỆM, khác nhau về  CÁCH NH̀N và LỐI DIỄN ĐẠT cái nh́n đó, kỹ thuật diễn đạt kinh nghiệm đó.

 

III - BẢN SẮC CỦA THƠ

Điều ǵ làm cho một bài thơ LÀ một bài thơ, một bài thơ KHÁC một bài văn? Thơ là những nghệ thuật, nhưng thơ KHÁC VỚI NHỮNG NGHỆ THUẬT KHÁC như thế nào?

Trước tiên hăy nói đến thơ văn. Phải nhận rằng thơ chỉ là thơ khi người làm thơ tự nhận ḿnh là nhà thơ và ḿnh làm thơ chứ không phải làm văn. Mặt khác, thơ cũng chỉ là thơ và ḿnh làm thơ chứ không phải làm văn. Mặt khác, thơ cũng chỉ là thơ khi nào người đọc nhận cái điều ḿnh đang đọc là thơ chứ không phải ǵ khác. Bản sắc của thơ do đó mà tùy vào một sự XÁC QUYẾT và đồng thời, một thừa nhận. Thơ là một quy ước để diễn tả một kinh nghiệm, và đồng thời để lănh hội sự diễn tả một kinh nghiệm.

Ngày xưa người ta có rất nhiều cách xác quyết hay định nghĩa về thơ, nhưng tiêu chuẩn chính của sự xác quyết ấy th́ trước sau vẫn là NIÊM LUẬT. Niêm luật là định chuẩn, là khuôn thước của thơ, không có niêm luật th́ không có thơ.

Nhưng niêm luật để làm ǵ? Bằng trắc để làm ǵ? Đă hẳn người ta có thể trả lời để cho bài thơ được nhận như là bài thơ. Thế nhưng đó chỉ là một định nghĩa vụ h́nh thức. Rất nhiều bài thơ dùng niêm luật nhưng lại không được nhận là một bài thơ. Và đă là thơ mà không hay th́ cũng chẳng cần đến thơ hay kỹ thuật thơ làm ǵ nữa!

Niệm luật không phải tiêu chuẩn thiết yếu để định nghĩa thơ LÀ thơ v́ lẽ d6ẽ hiểu là không hề có một niêm luật đơn nhứt tuyệt đối. Có rất nhiều thể thơ, nghĩa là có rất nhiều loại niêm luật. Mà đă có nhiều loại niêm luật th́ cũng không c̣n là niêm luật nữa.

Niêm luật không phải là bản sắc của thơ, mà chỉ có điều kiện làm cho bản sắc của thơ có thể hiển lộ. Bản sắc đó chính là NHẠC TÍNH của thơ, nội dung của thơ vậy. Nhạc tính là một H̀NH THÁI ÂM THANH của thơ, nội dung của thơ vậy. Nhạc tính có một H̀NH THÁI ÂM THANH  của thơ, là nhịp điệu, tiết điệu và âm điệu của thơ. Không có tiết điệu và âm điệu th́ thơ không c̣n ǵ là thơ nữa. Thơ viết ra để mà NGÂM chứ không phải để mà đọc, như một bản nhạc được viết ra để mà hát, mà tŕnh tấu chứ không phải để mà đọc vậy. Thi nhân ngày xưa thường đi đôi với “cô đầu”, ca kỷ là vậy.

Tiết điệu, âm thanh, nhạc tính là bản sắc của thi ca. Niêm luật là một phương thế lm àcho bản sắc ấy được hiển lộ. Cũng như những kỷ thuật tập luyện thể dục đă tạo điều kiện cho bản sắc một lực sĩ đẹp được hiển lộ vậy. Do đó, làm thơ mà cứ bo bo bám lấy niêm luật, để cho niêm luật ám ảnh th́ cũng chẳng khác ǵ một người vừa cúi nhắc cặp tạ vài cái đă ngỡ ḿnh là lực sĩ đẹp vậy. Thơ bảo đảm cho sự hiệu dụng của niêm luật, chứ không phải niêm luật bảo đảm cho sự thành công của thơ. Bảo đảm cho sự thành công của thơ chính là âm thanh, tiết điệu và nhạc tính của thơ vậy. Bảo đảm ở chỗ đó là những CHỈ SỐ, những dấu hiệu cho thấy được sự thành công của nhà thơ, của bài thơ. Thành công cái ǵ? Điều ǵ?

V́ quên mất hiện hữu uyên nguyên, kinh nghiệm uyên nguyên về cuộc đời cho nên nhiều lúc người ta cũng đă quên luôn bản chất của thơ là một kinh nghiệm, và cụ thể là một cách diễn tả kinh nghiệm về cuộc đời. Thơ là một cách hiểu, một cách sống với đối tượng, sống với hoàn cảnh. Có nhiều cách thế hiểu biết, hiểu biết thường nghiệm, hiểu biết thực nghiệm, hiểu biết siêu nghiệm. Hiểu biết gần với bản năng, hiểu biết thực nghiệm liên hệ với trí huệ, hiểu biết siêu nghiệm gần với linh giác, trực giác. Hiểu biết thường nghiệm chỉ là một cách né tránh hay sở hữu đối tượng, nghĩa là một cách kinh nghiệm trong đó CHỦ THỂ chiếm ưu thế. Hiểu biết thực nghiệm như khoa học là một kinh nghiệm trong đó ĐỐI TƯỢNG chiếm ưu thế. Hiểu biết siêu nghiệm th́ chẳng c̣n ưu thế của ĐỐI TƯỢNG mà cũng chẳng c̣n ưu thế của CHỦ THỂ. Bergson gọi đó là trực quan. Trực quan hay linh giác là một hiểu biết trong đó chủ thể và đối tượng đă không c̣n một  biên giới ngăn cách cụ thể nào. Connaitre la co-naitre ( hiểu là cùng sanh thành).

Hiểu biết đích thực không phải là biết ḿnh, biết người,nhưng là hiểu  được “ ḿnh với ta tuy hai mà một” vậy. Nói cách khác, hiểu biết đích thực là một sư H̉A ĐỒNG, ḥa hợp vươn khói bản năng và trí tuệ vậy. Ḿnh với ta tuy hai mà một, có nghĩa là không c̣n ḿnh, cũng không c̣n ta nữa. Trong tŕnh độ hiểu biết này, chủ thể đă tự xóa ḿnh là chủ thể, để xóa luôn những ngăn cách trí huệ, bản năng, thành kiến, lư luận giữa chủ thể và đối tượng.

Không xóa được những ngăn cách đó th́ cô thôn nữ sẽ không thế nào “ múc ánh trăng vàng”, th́ Huy Cận sẽ không thể nào mời gọi:

“Chiều ơi hăy đến thăm ta với

Thiên hạ đ́u hiu đời trống không”

Người ta vẫn thường gọi những cách hiểu nên thơ ấy là “nhân cách hóa”, là tỉ dụ, hoán dụ…Thực ra , đó là một sự ḥa đồng, ḥa hợp. Không có được sự ḥa đồng, ḥa hợp đó, không có được t́nh trạng đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu đó th́ thơ khó mà c̣n là thơ nữa.

Âm thanh, tiết điệu, nhạc tính, niêm luật…chính là những điều phát xuất từ kinh nghiệm ḥa đồng ḥa hợp ấy, và mặt khác là những phương tiện mở đường cho người đọc thơ sống với, và sống lại kinh nghiệm ḥa đồng ḥa hợp đó của thi nhân.

Làm thơ không chỉ là thấy sông LÀ sông, núi LÀ núi, nhưng là thấy được sông núi HỮU T̀NH, nghĩa là sông núi  có một mối giao ḥa với con người , với thi nhân. Thể nghiệm được mối giao ḥa đó là SỐNG THƠ, diễn đạt được mối giao ḥa la LÀM THƠ, truyền đạt được kinh nghiệm giao ḥa đó cho kẻ khác tức thành công của thơ. Âm thanh, tiết điệu, nhạc tính giữ một vai tṛ tối quan trọng trong sự thành công đó.

Nếu văn, họa, điêu khắc cột chặt người thưởng ngoạn vào tác phẩm, th́ trái lại, thơ và nhạc lại đưa người ta vào một thế giới không c̣n nghệ phẩm, không c̣n nghệ sĩ, không c̣n chủ thể thưởng ngoạn nữa. Bản sắc của thơ do đó cũng là siêu thực. Siêu thực không phải không tưởng nhưng là sống với thực tạu bằng một ư thức cao hơn ư thức duy sinh, duy dụng, duy lư. Ư thức cao hơn là thấy được sự vật NHƯ LÀ sự vật, không theo một thành kiến, một nhăn quan thực tiễn nào, hoặc chỉ theo thành kiến hay nhăn quan của “ con tim” nghĩa là của cảm xúc, của rung động mà thôi.

Siêu thực không phải là phủ nhận sự vật nhưng chính là thấy được sự vật như là sự vật vậy. Có thể nói chính hiện hữu thường nhật, chính sự tính toán, suy luận, phân tích, đo lường thực nghiệm, thực dụng mới là những cách phủ nhận sự vật. Với cuộc sống thường nhựt, cái bàn chỉ ĐỂ MÀ viết, ghế ĐỂ MÀ ngồi, với cái nh́n thực nghiệm th́ không bao giờ có cái hoa ĐẸP, v́ theo quan điểm thực vật học chẳng hạn, hoa chỉ là một  cơ quan sinh dục.

Muốn thấy được sự vật như là sự vật th́ phải ly khai với cái nh́n thường nghiệm, thực nghiệm nghĩa là với thành kiến này hay thành kiến khác. Thơ là một nổ lực ly khai ấy. Một sự ly khai gần như là phú bẩm, tự nhiên. Chính khả năng diêu thực hóa thực tại, khả năng ly khai ấy đă giúp cho thi nhân biến “ kho trời chung” thành “ vô tận của ḿnh riêng”vậy.

Càng sống, càng lớn, càng già, con người càng xa nguồn sống, càng xa thế giới uyên nguyên, hiện hữu nguyên. Thế giới đó đă bị “ tiến bộ” vượt bỏ, lư trí phủ nhận, nhưng thế giới đó vẫn tồn tại trong kư ức của mỗi người, mỗi dân tộc; thế giới huyền thoại, nguyên thủy, trong đó người, cỏ cây và muôn thú đều hữu t́nh, hữu ngôn. Thi ca chính là một cách phục hồi khả năng tái hoạt thế giới ấy, một cách gọt giũa lại cái cảm xúc, rung động, đă chai lỳ, cùn nhựt của kiếp người chỉ c̣n biết những ǵ là hữu ích, hữu dụng, hữu lư mà thôi.

V́ muốn phục hồi và có khả năng phục hồi thế giới đích thực và uyên nguyên ấy, phục hồi tính cách tự tại của sự vật, tính cách thường hằng của đối tượng nên thi ca đă trở thành siêu thực, thi ca phải ly khai. Ly khai với thành kiến, với chấp kiến, vốn là những hàng rào ngăn cách con người với thực tại đích thực, không cho con người thấy được bản chất đích thực của thực tại. Thành bại hay giá trị của thi ca tuy thuộc ở khả năng siêu thực, khả năng ly khai, và đồng thời là khả năng giao ḥa như vừa nói vậy.

Nói đến thành bại, giá trị đó của thơ là điều rất khó.

Bài thơ hay đă hẳn không phải là bài thơ chưa hề được viết ra.

Nhưng bài thơ hay cũng chưa hẳn là bài thơ từng được số đông nhận là hay hay bài thơ đă được trúng giải này nọ. Đó cũng chẳng qua chỉ là những lệ định. Hội đủ tất cả những điều kiện cụ thể của một bài thơ hay chưa hẳn đă là có được một bài thơ hay. Thơ là một kinh nghiệm sống thực chứ không phải là một sự kiện, sự vật. Vấn đề tiên quyết đặt ra là kinh nghiệm sống thực đó có giúp thi nhân, và kẻ thưởng ngoạn về sau đạt đến cùng đích của hiện hữu là giao ḥa với vũ trụ, với cuộc đời, với môi trường sống hay không. Nói đến giá trị của thơ do đó là nói đến một giá trị TƯƠNG ĐỐI, không phải tương đối theo nghĩa TƯƠNG QUAN hoàn cảnh sống thực của nhà thơ khi sáng tạo cũng như của người thưởng ngoạn khi đọc, khi ngâm hay được nghe ngâm bài thơ đó vậy.

Càng sống thực th́ thơ càng hay, và thơ càng hay th́ càng cho người đọc nhiều cơ hội sống thực; Sống thực không phải là sống với cái cụ thể, mà đồng thời cũng là cái phù ảo. Sống thực chính là sống với cái thường hằng, siêu thực, vĩnh cữu. Sống thực là ḥa t́nh người với t́nh núi sông, cây cỏ, là ḥa tiểu ngă với đại ngă, là ḥa hợp hồn cá nhân với hồn vũ trụ.

Sự ḥa hợp đó cũng chính là sự ḥa hợp có tính cách tín ngưỡng vậy.

 

IV- THI CA VÀ CHÂN LƯ, CHÂN LƯ CỦA THI CA.

Thi ca là một lối sống, và là một lối nhận thức, một lối dùng ngôn từ tiết điệu để diễn tả một kinhnghiệm. Mục tiêu của sự sống , của nhận thức và nền tảng giá trị của sự diễn tả kinh nghiệm đó là chân lư.

Thi ca có thể đạt đến chân lư không? Chân lư của thi ca có những đặc điểm nào?

Từ Platon và Aristote, thi ca đă được xem không phải như một hành động sáng tạo mà chỉ là một hành động mô phỏng, bắt chước. Thi ca là của cảm giác, của tưởng tượng, hữu hạn và sai lầm. Chỉ có lư trí, trí huệ mới là dụng cụ đích xác giúp con người đạt đến chân lư. Đạt đến chân lư là đạt đến ư niệm, đạt đến yếu tính trừu tượng và phổ  biến của sự vật. Trong khi đó cảm giác và tưởng tượng lại chỉ đạt đến h́nh sắc cụ thể. Thi ca không phải được xem như một sư say sưa uỷ mị mà c̣n là một con đường lầm lạc.

Sự độc quyền lư trí thời trung cổ đă được yểm trợ bằng sự độc tài của đức tin. Trung cổ Tây phương là thời đại khó khăn khắc kỷ. Thi ca chỉ được phục hồi khi con người Tây phương chán ngán kinh hoàng với nền độc tài của đức tin và lư trí. Sự chán ngán đó là một trong những nguyên ủy của thời phục hưng, thời lăng mạn và siêu thực.

Thi ca Tây Phương chỉ sống động khi con người đă chán ngán với những công thức sống, những mệnh lệnh nhận thức, những áp đặt của thần học. Sinh kh́ Thi Ca Tây phương chỉ được phục hoạt khi con người muốn từ bỏ mọi rào cản của lư trí, của tín lư, của đạo đức đă điều hướng cuộc sống và kinh nghiệm của ḿnh để tự ḿnh trở về với chính ḿnh, tự ḿnh t́m đến với nhân giới và nhiên giới, khi con người không c̣n muốn chỉ sống với lư trí, trí huệ mà c̣n muốn sống bằng t́nh cảm, bằng tưởng tượng, bằng cảm xúc. Thi ca là một làn hơi ấm thổi vào thế giới lạnh lung giá buốt của lư trí, một làn gió mát thổi vào thế giới nóng bức của mặc cảm tội lỗi và ḷng kinh sợ hỏa ngục.

Bằng con đường t́nh cảm, cảm xúc và tưởng tượng, thi ca quả cũng đă đạt đến một chân lư nào đó.Một chân lư nồng nàn,sinh động và hữu hạn, hữu t́nh. Chân lư thi ca chấn động con tim và khiêu khích khối óc, đề cao tưởng tượng và xem thường lư trí, lựa chọn cái độc sáng đặc thừ và vứt bỏ cái phổ biến trừu tượng. Thi ca nói lên một kinh nghiệm đơn nhứt, biệt thuộc, ngay bây giờ và lúc này. Kinh nghiệm đó giúp con người trực tiếp với đối vật, sanh thành với đối vật.

Thi ca lănh hội được những điều mà lư trí và đức tin không muốn thấy, không thể thấy. Nhà khoa học không thấy NƯỚC mà chỉ thấy OH2. Thi nhân lại chỉ thấy nước của một bến đ̣ tiễn biệt, của một ḍng sông hẹn ḥ, của một mặt hồ quạnh vắng, của một cái giếng hun hút rợn người. Đó không phải là hai chân lư ( của khoa học và của thi ca) nhưng là hai cách nh́n về một chân lư-một thực tại. Cái nh́n thực nghiệm và cái nh́n nên thơ. Lư trí lănh hội đối vật như người ta hiểu một người qua bức h́nh chụp bằng quang tuyến X của người đó. Thi ca lănh hội một người như một người thực, sống động, đơn nhứt, “ không giống ai” và không ai có thể thay thế. Lư trí làm cho tất cả giống nhau ( như những con số trên sổ thông hành). T́nh cảm và cảm xúc làm cho tất cả đều khác nhau.

Có người bảo thi ca là hăo huyền, là “ tưởng tượng” theo nghĩa không nói có, có nió không. Thực tế th́ thi ca đă nh́n thấy những điều mà nhận thức thường nhật và nhận thức khoa học không thấy được mà thôi. Nói cách khác, thi ca không chỉ nh́n thấy những ǵ khả dụng, khả lượng, khả tri. Khả dụng là đối tượng của cái nh́n thường nhựt, khả lượng là đối tượng của cái nh́n khoa học,khả tri là đối tượng của cái nh́n triết lư. Thi ca có thể nh́n thấy cái hữu dụng của điều vô dụng và cái vô dụng của điều hữu dụng. Thi ca có thể nh́n thấy cái khả tri như vô tri, cái vô tri như khả tri.

Người ta thường nhân danh thực tại, nhân danh lư trí, nhân danh thực nghiệm để phán đoán về chân lư của thi ca. Nhưng nh́n bằng mắt chưa phải là thấy được sự thật, và diễn đạt một điều hợp lư chưa hẳn là hợp với thị giác. Như cây gậy cắm vào nước th́ GẢY, như hai đường tàu song song. Mắt nh́n cây gậy gảy trong nước, nhưng lư trí lại thấy chắc là không gảy. Mắt nh́n hai đường rầy chụm lại theo đúng phép phối h́nh viễn cận, nhưng thực tế, th́ hai đường tàu không hề chụm lại, và nếu vẽ lên hai đường tàu không hề chụm lại th́ mắt nh́n thấy không đúng…Một ngày bằng 12 giờ là một chân lư, nhưng “nhứt nhựt tại tù, thiên thu tại ngoại” lại cũng là một chân lư. Điều nào đúng? điều nào sai? Thực tế th́ cả hai đều đúng. Tuy nhiên , có lúc nhân danh chân lư, người ta đă phủ nhận thi ca. Thái độ đó đă hàm ẩn nhiều hệ luận.

-Chân lư chỉ có một, và nhứt là chỉ có một cách đạt đến chân lư đó. Thi ca không phải là cách ấy.

-Chân lư là điều bó buộc ta phải hiểu dù ta không muốn hiểu, ta phải nhận dù ta không muốn nhận.

-Chân lư là điều có thể diễn tả đầy đủ trọn vẹn và thi ca bất lực trong khả năng diễn tả ấy thôi.

-Chân lư là chân lư của nhiều người phải được nhiều người công nhận.

Thi ca đă phủ nhận hoàn toàn quyết đáp độc tôn độc tài về chân lư ấy, và đồng thời xác quyết khả năng thành đạt và diễn đạt chân lư của ḿnh:

            “Bút mực tôi ai cướp giật đi,

            Tôi sẽ cầm dao viết văn lên đá…”

                                                ( Phùng Quán)

Hiện tượng luận đă chứng minh “ chơn lư chỉ có một”, chỉ một giả định, một cuồng vọng. Con người chỉ đạt đến những chơn lư tùy quan điểm, tùy hoàn cảnh sống mà thôi. Hột ‘ nhứt lục” là một nhưng không bao giờ người ta có thể thấy MỘT LƯỢT  cả sáu mặt của hột nhứt lục. Điều quan trọng không phải là những chơn lư khách quan, con người chẳng mấy ai chịu hy sinh cho những chơn lư khách quan như thế. Galilée “ thấy rơ” quả đất quqay chung quanh mặt trời, nhưng ông đă không dại ǵ mà chết cho sự thấy rơ ấy. Điều đáng cho người ta sống chết là những lư chủ quan, những chơn lư đến với người qua ngơ con tim, qua lời cảm xúc, qua đường t́nh cảm. Người ta chỉ sống chết với những điều thông thường hay tầm thường đă được nhận như là “độc nhứt vô nhị” không thể thau thế: tự tử v́ t́nh! Chơn lư của thi ca chính là chơn lư sống thực và có tác dụng làm cho con người sống chết đó.

Khoa học, triết học, thần học đă không c̣n đủ khả năng giúp con người lănh hội chơn lư. Phương thức diễn đạt và lănh hội chân lư hữu hiệu nhứt là thi ca. Đó là kết luận của Heidegger về thơ của Holderlin.

Điều đó, Đông phương đă quyết đáp từ mấy ngàn năm trước.

 

V- THƠ VÀ ĐẠO.THƠ VÀ CHƠN LƯ. THEO QUAN ĐIỂM ĐÔNG PHƯƠNG.

Người ta không thể đặt ra tương quan giữa thơ với Đạo, nếu không xác định được Đạo là ǵ?

Thơ là một kinh nghiệm nhận thức nặng phần cảm xúc, đầy h́nh sắc và âm thanh. Thơ vạch cho ta thấy một khía cạnh “KHÁC” của thực tại nếu không muốn nói là một khía cạnh sống động, đích thực của thực tại mà những lề lối nhận thức khác đă không vạch ra được hay không muốn vạch ra. Thơ đă giúp chúng ta thưởng thức được cái “ĐẸP” của thực tại, giống như vị tinh (bột ngọt) giúp cho chúng ta thưởng thức được vị ngon của thức ăn vậy.

Trí thức, khoa học chỉ có thấy cái khía cạnh  LƯỢNG CHẤT  của thực tại. Triết lư chỉ cho ta thấy khía cạnh siêu cảm, trừu tượng, lư luận chỉ cho ta thấy khía cạnh hữu lư hay vô lư. Chỉ có nghệ thuật, và riêng thơ, mới cho ta thấy được cả cái hữu lư của cái vô lư, cái vô lư của cái hữu lư. Nhăn quan b́nh thường cũng không phải là nhăn quan của thơ. Đó là một nhăn quan thực tiển, chỉ đủ cho ta phân biệt cái hữu dụng với cái vô dụng, cái lợi và cái bất lợi. Dưới nhăn quan đó, mọi sự đều trở thành thông thường, mà đă là thông thường th́ không c̣n ǵ là kỳ diệu, hấp dẫn, mới lạ th́ cũng không c̣n là thơ nữa. Thơ là một thứ “ CON MẮT THỨ BA”, một lối nh́n “MỚI” ( so với lối nh́n b́nh thường),một lối nh́n khác (so với cái lối nh́n chuyên biệt của luân lư, của khoa học, của triết học). Cái nh́n mới, khác đó có lien hệ ǵ với ĐẠO? với T̀N NGƯỠNG?

Muốn trả lời câu hỏi này th́ trước tiên phải trả lời câu hỏi ĐẠO là ǵ?TÍN NGƯỠNG  là ǵ?

Câu trả lời đúng nhứt đă hẳn là yên lặng v́, như Lăo tử nói: “Đạo khả đạo phi thường đạo”. Thế nhưng chính lăo tử lại cũng phải dùng cả một quyển Đạo Đức kinh để minh giải lư do tại sao lại bất khả đạo về phi thường đạo. Ngôn từ là một sự bất lực , nhưng là một sự bất lực cần thiết, chính với ư thức đó và trong giới hạn đó mà ta có thể đtạ Đạo về Đạo vậy.

Đạo là con đường theo nghĩa Trung Hoa, đạo là sự ràng buộc ( religare) theo nghĩa Tây phương. Con đường dẫn đến đâu? Và ràng buộc với cái ǵ? Làm thế nào để đi đến đích? Và đi bằng cách nào?

Có rất nhiều cách trả lời. Đạo là đi về cơi khác, lên Niết-bàn xuống địa ngục, lên Thiên Đường. Trở về với Phật tánh chơn như, trở về với Thượng Đế, trở về với Đại Ngă, trở về với chơn giá trị của tự ngă…Bằng đức tin, bằng lư trí, bằng trí tuệ, bằng cách xóa bỏ tự ngă, bằng cách “ Minh Minh đức” , hay sáng giá của tự ngă. Tóm lại ta có thể có hàng  trăm cách trả lời khác nhau, và bao giờ nhơn loại c̣n tồn tại th́ có lẽ sẽ c̣n hàng trăm cách trả lời khác nhau, và bao giờ nhơn loại c̣n tồn tại th́ có lẽ sẽ c̣n hàng trăm , ngàn cách trả lời khác nữa. Quả vậy, nếu Đạo là một vấn đề được  giải quyết th́ nhân loại sẽ không c̣n tồn tại nữa, v́ câu hỏi tối hậu đă được giải đáp, như một bài toán sẽ không c̣n là bài toán nữa khi ta t́m ra đáp số, như cuộc t́nh đă tự hủy v́ mất “ VUI” mất “ĐẸP” khi “ĐĂ VẸN CÂU THỀ”,khi “KHÔNG C̉N DANG DỞ” ( Hồ Dzếnh).

C̣n hiện hữu, do đó,là c̣n Đạo, c̣n những câu hỏi và những cố gắng giải đáp về Đạo. Những giải đáp nêu trên, và nói chung những quan điểm bội tạp của con người về Đạo, tuy có xung đối, khác biệt nhưng có lẽ gặp nhau ở một điểm sau đây: HIỆN HỮU CÁ NHÂN VÀ CUỘC ĐỜI NÀY KHÔNG PHẢI LÀ MỘT SỰ TOÀN THIỆN, TỰ TẠI.Hiện hữu do đó là đi, đi về, đi măi cho đến ngày xuôi tay nhắm mắt.

Ư thức về lộ tŕnh tối hậu đó là Ư THỨC ĐẠO ĐỨC, ư chí dấn thân vào lộ tŕnh tối hậu đó là Ư CHÍ ĐẠO ĐỨC.

Sống Đạo và sống với Đạo là trở về. Đông Phương cũng đă có rất nhiều quan niệm trở về. Vệ Đà và Do Thái Giáo th́ trở về có nghĩa là về với thần linh. Nhưng tổng quát mà xét th́ Đông Phương đă rất sớm thoát khỏi quan niệm hữu thần đó. Upanishad, Vedanta và Jaina của Ấn Giáo, Phật Giáo và Nho Giáo cũng như Lăo Giáo đều là những khuynh hướng muốn thoát khỏi con đường tín ngưỡng hữu thần sơ thủy của ư thức về Đạo. Vấn đề Thần Linh đă không bị phủ nhận, nhưng cũng không c̣n cấp thiết, sắc bén như trong khuynh hướng hữu thần. Trở về ở đây là trở về với Đại Ngă (Ấn Giáo) , với Chân Như ( Phật Giáo) , với Thiên Địa ( Nho Giáo), với Phi Thường Đạo ( Lăo Giáo). Nh́n chung th́ những khuynh hướng này đều có mấy đặc điểm sau đây:

-Với ĐỐI TƯỢNG TÍN NGƯỠNG  th́ chú trọng đến khía cạnh vô ngă hơn là hữu ngă, chú trọng đến tha nhân hơn là bản ngă.

-Với CHỦ THỂ TÍN NGƯỠNG  th́ chú trọng đến tự lực hơn tha lực. Nói cách khác, bản sắc của Đạo Đức Đông Phương là ĐƯA VÀO TỰ LỰC ĐỂ ĐẠT ĐẾN , ĐỂ TRỞ VỀ VỚI MỘT ĐỐI TƯỢNG VÔ NGĂ. Mà tự lực để đạt đến một đối tượng vô ngă tức là tự lực xóa bỏ hay giảm thiểu bản ngă vậy. Đạo học Đông Phương có tính cách vừa VỊ THA ( với thế giới bên ngoài) vừa có tính cánh KHẮC KỶ ( với chính tự thân) là v́ vậy.

Và đó cũng  chính là ư nghĩa của ĐẠO H̉A của Đông Phương. Ư thức Đạo là Ư thức Ḥa, ư chí Đạo lấy chí Ḥa. Ḥa là đạt đến, là trở về, là thông hợp với một đối tượng khác không phải để làm cho bản ngă thêm phong phú, lớn lao hơn nhưng là để giảm thiểu phạm vi của bản ngă, giảm thiểu tầm mức của ư thức tự ngă.

Nhưng thông thường th́ t́m đâu cho ra cái ĐỐI TƯỢNG đó? T́m đâu cho ra những điều kiện H̉A đó? Đương nhiên là trong nhân giới hay nhiên giới vậy.

Nhưng thông thường th́ t́m đâu cho ra cái ĐỐI TƯỢNG đó? T́m đâu cho ra những điều kiện H̉A đó? Đương nhiên là trong nhân giới hay nhiên giới vậy.

Muốn H̉A th́ trước tiên phải đừng đặt nặng bản ngă. Ư thức tự ngă vốn là một ư thức pḥng vệ, tham lam, muốn tất cả là của ḿnh, muốn vo tất cả vào cho ḿnh. Ư thức tự ngă như vậy là một ư thức làm cho tự ngă ngăn cách và xa cách với đối tượng của ḥa, là làm trở ngại cho sự ḥa hợp. Xóa bỏ ngăn cách và trở ngại đó là một hành động đạo đức. Nhưng với Đông Phương th́ không chỉ đạo đức mới làm được công việc ấy. Đó là một trong những ư nghĩa của qun niệm “ văn dỉ tải đạo” vậy.

Lâm-Ngữ-Đường đă cho rằng, với người Trung Hoa, thơ đă thế vai tṛ của Đạo. Câu nói đó có thể làm cho người ta hiểu lầm là người Trung Hoa không có đạo, như người ta đă có thể hiểu lầm với quan niệm của Phùng-Hữu-Lan. Người ta có thể hiểu rằng Nho,Lăo cũng như Phật Giáo chủ trương “ vô đạo” khi người ta quan niệm đạo là trở về với Thần LInh, với Thượng Đế. Hay nói cách khác, khi người ta dựa vào một đối tượng của Đạo để định nghĩa hành động Đạo. Vô đạo ở đây là đồng nghĩa với vô thần. Tuy nhiên, nếu hiểu đạo là một ư hướng ḥa tuyệt đối, nghĩa là giảm thiểu tối đa bản ngă th́ Phật, Nho, Lăo đều là Đạo, đều là hữu Đạo. Thơ văn Trung Hoa chính là một cách sống Đạo của người Trung Hoa vậy. Bằng chứng là một trong những “ Thánh Kinh” của Nho Giáo là Kinh Thi cũng như “ Thánh Kinh” của Lăo Giáo là tập thơ trường thiên “Đạo Đức Kinh” vậy . Phật Giáo là một biệt lệ. Kinh điển Phật Giáo không có thơ, thế nhưng một trong những cách sống Đạo và Hoằng Đạo cụ thể sống động nhứt của Phật Giáo lại cũng là thơ. Văn chương Thiền của Trung Hoa, Nhựt Bổn, Cao Ly, Việt Nam chẳng hạn là những bằng chứng.

Thơ là một cách sống Đạo, hay là một phương thế giúp người đông phương sống Đạo, hành Đạo và hoằng Đạo v́ thơ là phương tiện giúp cho con người H̉A dễ dàng nhứt với đối tượng.

Lư trí, trí tuệ chỉ tạo sư ngăn cách và xa cách. Chỉ có t́nh cảm, chỉ có cảm xúc, trực giác mới đem lại sự gần gủi, thân thiết, mới tạo sự cảm thông, mở đường cho sự “ chung sống” nghĩa là mở đường cho một sự hiểu biết đích thực, ḥa hợp đích thực với đối tượng. Đó là công việc của thơ vậy.Không H̉A, không CẢM là không có thơ, không SỐNG THỰC với đối tượng là không có thơ.

Chúng ta hăy đi vào vài nhận định cụ thể hơn, để thấy rơ tương quan giữa Đạo và Thơ, và mặt khác, thấy rơ điểm dị đồng giữa quan niệm về tác dụng của thơ ở Đông Phương cũng như ở Tây Phương.

 

VI- TỪ HOMÈRE ĐẾN HOLDERLIN HAY CON ĐƯỜNG THI CA TÂY PHƯƠNG.

Tổng quát mà xét, Thơ và Đạo của Đông Phương gắn bó với nhau bao nhiêu th́ trong diễn tŕnh phát triển ở Tây Phương, Thơ và Đạo lại càng xa nhau nếu không muốn nió là chống nhay bấy nhiêu.

Nói như vậy không có nghĩa là từ khởi nguyên tư tưởng, Tây Phương đă không biết đến thơ. Trái lại nữa là khác.

Đúng vậy, theo quan điểm tín lư độc tôn, người ta vẫn nói Thánh Kinh Thiên Chúa Giáo là một sản phẩm mặc khải, nghĩa là do Thượng Đế “đóc” cho MỘT lúc nào đó. Những lời lẽ của Thánh Kinh do đó chỉ có một nghĩa, phải đọc hiểu theo một nghĩa duy nhứt, như ngôn ngữ toán học hay khoa học mà thôi: nói cách khác, phải được hiểu theo quan điểm luận lư đồng nhất rằng A là A chứ A không thể là “không A” hay là B được.

Trước ngôn ngữ của Thánh Kinh, con người hoặc chỉ nhận hoặc không nhận chứ không thể nhận một cách khác hay theo quan điểm riêng tư của ḿnh. Cơ quan hay tổ chức có nhiệm vụ xác định ư nghĩa của Thánh Kinh như thế là Giáo Hội. Giáo Hội là cơ quan độc quyền làm tự điển tôn giáo. Ngoài những định nghĩa của Giáo Hội, ngôn từ của Thánh Kinh sẽ không có một giá trị hay tác dụng khác được. Ai không chấp nhận ư nghĩa đó, ai muốn định nghĩa một cách khác th́ sẽ không phải tín đồ và hơn nữa là phản đồ, phản Thượng Đế. Trường hợp Luther, Calvin là bằng chứng cụ thể. Luther và Calvin là những kẻ không hề nuôi tham vọng thành lập một tôn giáo mới, trái lại chỉ là những kẻ muốn ĐỊNH NGHĨA và GIẢI THÍCH KHÁC HƠN Thánh Kinh mà thôi. Họ là những kẻ không hề làm “cách mạng” để triệt hạ tôn giáo của ḿnh, trái lại họ chỉ nuôi ước vọng cải tạo (reforme) Thiên Chúa Giáo bằng cách phủ nhận sự độc quyền giải thích Thánh Kinh của Giáo Hội. Cũng v́ vậy, đạo Tin Lành mới gọi là Đạo cải cách (Le Reformisme) hay cải lương Giáo Hội. Nhưng khốn nổi, quyền lực của Giáo Hội lại hoàn toàn dựa trên sự độc quyền kiến giải Thánh Kinh. Cũng v́ vậy, muốn phủ nhận độc quyền kiến giải Thánh Kinh của Giáo Hội lại hoàn toàn dựa trên sự độc quyền kiến giải Thánh kinh của Giáo Hội để nhằm cải cách tôn giáo th́ đồng thời Luther và Calvin cũng đă trở thành những nhà cách mạng cố ư hay vô t́nh lật đổ quyền lực của Giáo Hội vậy. Điều này giải thích lư do tại sao trước đây Giáo Hội La Mă đă khắc khe với tín đồ Tin Lành c̣n hơn cả với những kẻ ngoại đạo nghĩa là xem họ HOÀN TOÀN chưa biết hoặc hoàn toàn không muốn biết đến Thiên Chúa Giáo.

Nhưng chủ trương hiểu Thánh Kinh một chiều như vậy h́nh như đă không phải là tinh thần nguyên thủy của Thiên Chúa Giáo. Nói cách khác, ngôn ngữ nguyên ủy của Thánh Kinh không phải là ngôn ngữ toán học hay khoa học.

Thật vậy,nếu chủ trương “ nói thế nào th́ phải hiểu thế ấy” th́ người ta sẽ không thể nào hiểu được những điều đă nói trong Cựu Ước Kinh, nhứt là trong sách Sáng Thế Kư. Dần dần người ta buộc ḷng phải hiểu những điều nói trong Thánh Kinh như là những kư hiệu,những biểu tượng, những cách ví dụ mà thôi, và đă là biểu tượng th́ mọi người có thể hiểu mỗi cách tùy tŕnh độ, tùy tâm trạng, tùy hoàn cảnh và thời gian của ḿnh.

Khổng giáo hay Nho giáo đă rất sớm tránh được t́nh trạng mâu thuẫn giữa lư trí và đức tin, giữa lư trí và t́nh cảm như Thiên Chúa Giáo bằng cách hướng mục địch tín ngưỡng về chính chủ nhân tín ngưỡng chứ không phải đối tượng tín ngưỡng.

Chủ trương thờ phượng Thượng Đế của Nhứt Thần Giáo th́ cũng chẳng khác ǵ chủ trương thờ phượng tổ tiên của Nho giáo vậy. Nếu chỉ chú trọng đến đối tượng thờ kính mà thôi và cho đó như là yếu tính của hành động tín ngưỡng th́ đến một lúc nào đó chủ thể tín ngưỡng sẽ vấp phải NHỮNG CÂU HỎI không thể nào bỏ mà cũng không thể nào nhận được như là hiển nhiên, minh bạch, hợp lư. Những câu hỏi đó là:

-Thượng Đế có thực hữu hay không ‘(với Nhứt thần giáo) hay tổ tiên chết rồi có tồn tại nữa (để có thể hưởng dùng những phẩm lễ con cháu dâng cúng)hay không (với Nho giáo)?

-Thượng Đế là ǵ, là ai? Linh hồn tổ tiên ở đâu, như thế nào?

Nhứt thần giáo đă giải quyết vấn đề đó bằng chủ trương tín đồ phải chấp nhận tuyệt đối lối giải thích hay trả lời chính thức của Giáo Hội, không được băn khoăn, thắc mắc riêng tư. Nho giáo th́ trái lại, đă giải quyết vấn đề theo một chiều hướng ôn ḥa hơn bằng cách thừa nhận con người có hai cách hiểu biết khác nhau. Biết bằng lư và biết bằng t́nh. Trường hợp đối với tổ tiên và linh hồn của người tháo yên sau khi chết th́ Nho giáo cho rằng nếu đứng về LỲ mà xét th́ không thể quả quyết có linh hồn cha mẹ, tổ tiên đă khuất được. Nói cách khác, quả quyết tổ tiên cha mẹ vẫn “ c̣n sống” sau khi đă chết là một quả quyết VÔ LƯ và BẤT TRÍ. Tuy nhiên, nếu chỉ v́ như cầu của lư trí mà cho rằng chết là hết, con cháu với ông bà sẽ không c̣n một liên hệ nào sau khi chết th́ đó là một quả quyết VÔ T̀NH, BẤT NHÂN, tàn nhẫn với chính ḿnh.Con người không thể vô lư, mà cũng không thể vô t́nh và nếu theo quan điểm độc tôn mà xét th́ cũng như vấn đề Thượng Đế thực hữu của Nhứt Thần giáo, trong trường hợp này con người hẳn phải lựa chọn một trong hai đường: hoặc theo lư bỏ t́nh, hoặc theo t́nh bỏ lư.

Nho giáo quả thực đă không muốn dẫn con người đến chỗ cực đoan như vậy. Do đó, Nho giáo đă đưa ra giải pháp theo đó điều quan trọng của một hành vi tín ngưỡng không phải chỉ là đối tượng của tín ngưỡng mà c̣n là chủ thể tín ngưỡng nữa. Nói cách khác, điều quan trọng không chỉ là “ tin cái ǵ” mà là “ tin như thế nào”, “để làm ǵ”, “ có ích ǵ cho người tin” trong việc ở đời với chính ḿnh và với kẻ khác. Đó chính là căn bản tôn giáo tổ tiên hay đạo Hiếu của Nho giáo. Thờ kính tổ tiên chẳng phải v́ tổ tiên, vẫn c̣n sống sau khi chết nhưng chính là v́ sự thờ kính đó sẽ làm cho con người trở nên tốt với nhân quần xă hội. Kẻ bất hiếu không phải là kẻ vô tín hoặc biết tôn trọng những yêu sách của lư trí, kẻ bất hiếu chính là kẻ bất nhân vậy. Nói cách khác, nho giáo đă khuyến cáo người ta “tin” chẳng phải v́ đối tượng của đức tin đ̣i hỏi như vậy,( như Thượng Đế đ̣i hỏi con người phải tin Thượng Đế, và chỉ tin Thượng Đế nếu không sẽ bị trừng phạt)mà chính là v́ điều ấy có ích cho nhu cầu của cá nhân và xă hội.

Nhứt thần giáo đă không thể quay về con đường tâm đạo và đạo nhân theo kiểu Nho giáo. Nói cách khác, Nhứt Thần giáo không chấp nhận tôn giáo như là MỘT SẢN PHẨM CỦA CON NGƯỜI mà là MỘT SẢN PHẨM CỦA THƯỢNG ĐẾ CHO CON NGƯỜI. Điều tiên quyết do đó là phải chấp nhận lời Thượng Đế NHƯ LÀ  lời Thượng Đế nói về Thượng Đế chứ không phải như là lời của con người nói về Thượng Đế.

Hiểu như vậy th́ kinh điển tôn giáo sẽ chỉ là một bài toán khó khăn chặt chẻ một chiều một nghĩa mà thôi. Tuy nhiên, nếu ta có thể nh́n Thánh Thư, Thánh Điển Nhứt Thần giáo, Nho giáo, Lăo giáo th́ có lẽ ta sẽ có dịp thấy rằng THÁNH KINH của Thiên Chúa Giáo đă có rất nhiều giá trị của thi ca, hiểu theo nghĩa là có rất nhiều GIÁ TRỊ BIỂU TƯỢNG. Sáng Thế Kư, sách của tiên tri Jeremie, của Isaie, sách của Job, của Thánh Kinh quả đă chứa đầy nững h́nh ảnh những t́nh cảm đầy giá trị tượng trưng, chủ quan, sống động và nên thơ vậy.

Một nguyên ủy tư tưởng khác của Tây Phương cũng không thiếu màu sắc thi vị đó là tư tưởng Hy Lạp chưa phân biệt rơ đâu mà lư đâu là t́nh, đâu là thơ và đâu là triết lư, đâu là huyền thoại và đâu là lịch sử, đâu là siêu h́nh học và đâu là khoa học. Người ta phải tự hỏi giữa Homère và Platon th́ ai là kẻ đánh động lương tâm và ư thức nhiều nhứt, người ta cũng có thể tự hỏi tại sao suốt đời “hành đạo” mà Socrate lại không hề viết một chữ nào? Socrate không biết chữ hay Socrate đă ư thức rơ chữ nghĩa chính là điều để đưa con người đến chỗ cực đoan, quá khích , độc tôn?

Về tôn giáo, triết lư cũng như tư tưởng nói chung ta có thể nói rằng ĐIỀU HỢP LƯ là điều dễ nhớ, nhưng điều mà ai cũng thích nhớ, muốn nhớ lại chính là điều nên thơ là những ǵ gần gũi, sống động, là tiếng nói của con tim vậy.

Nguyên ủy nên thơ của tư tưởng Tây phương đă dần dà tàn lụi với sự thành h́nh của siêu h́nh học của Platon, luận lư học của Aristote để rồi trở thành những phương tiện cho Thánh Thomas và Thánh Augustin xử dụng để hợp lư hóa và thuận lư hóa…Thi ca đă bị loại khỏi phạm vi tư tưởng thời Trung cổ để rồi trở thành một phương tiện đào thoát và phản ứng tiêu cực thời Phục hưng trước những áp bức và độc tài tín ngưỡng. Phong trào Phục hưng Tây phương có thể nói là phong trào quay về với tư tưởng tiền Socrate, quay về với thiên nhiên, nghĩa là quay về với biểu tượng và Thơ vậy.

Nhưng phản ứng của thời phục hưng lại chỉ mở đường cho sự phục hoạt của lư trí chứ không hẳn là của t́nh cảm , phục hưng chỉ có lợi cho khoa học và cho những khuynh hướng mới chứ không có lợi cho văn học và thi ca bao nhiêu. Thơ văn chỉ là phương tiện của lư trí sống động tự do dùng để chống lại độc tài lư trí, và độc tài tín ngưỡng. Khoa học và triết lư đă thế vào khoảng trống do sự rút lui của độc tôn để lại . Cảm quan, con tim, biểu tượng vẫn không t́m thấy được một chổ đứng đích thực.

Nếu thời phục hưng là phản ứng của lư trí chống độc tài tín ngưỡng th́ thời lăng mạn là một phản ứng của t́nh cảm, của con tim, của con người sống  động toàn diện chống lại độc tài lư trí trên cả hai b́nh diện tâm linh và xă hội. Một phản ứng nhân danh “ những lư lẽ mà lư trí không hiểu thấu được”.

Nhưng có thực, theo quan niệm trên đây, nghệ thuật nói chung , và thi ca, chỉ là một kinh nghiệm về cái phi lư ( nghĩa là cái lư trí không thể hiểu được) không? Theo quan điểm Tây phương về thế lưỡng biến chân-ngụy, lư trí –t́nh cảm, thiêng liêng- trần tục, vô h́nh- hữu h́nh, khách quan- chủ quan th́ thi ca thường chỉ được gán cho những đặc điểm t́nh  cảm, trần tục, hữu h́nh, chủ quan, ngụy, nghĩa là giả ảo, vô thường mà thôi. Thi ca không giành được một chổ đứng đáng kể nào trong sinh hoạt thực tiễn cũng như sinh hoạt tri thức vậy.

Trong những nổ lực đáng ghi nhận nhằm xác định một vị thế cho thi ca và nghệ thuật nói chung trong diễn tŕnh nhận thức có lẽ là nỗ lực của Hegel  (1770-183) với giảng văn mỹ học ( Esthetique) mà Hegel đă đào sâu để giảng dạy tại Đại Học Berlin từ năm 1818-1828 và sau được học tṛ của ông góp lại in thành sách.

Nhưng cho đến ngày nay, một khẳng định về vị thế của thi ca vẫn như chưa được giải quyết một cách dứt khoát và thỏa đáng. Và v́ thế, con đường thi ca của Tây Phương vẫn như chưa được khai thông để ta có thể thấy trước được viễn tượng của nó.

 

VII- THI CA VÀ CUỘC ĐỜI.

Người làm thơ mà nói về thơ th́ chẳng khác chi vũ công vừa múa vừa nh́n vào gương để xem ḿnh múa vậy. Bản thể của thi ca cũng như cuộc đời là “chạy trốn” trước mọi ư hướng bắt đầu bằng ngôn từ…Suy nghĩ về thơ, th́ thơ chỉ c̣n là một sự kiện, lặng đứng, nằm im bất động trong khi thực sự thơ là sống, thơ là một lối sống, một ḍng sống, một nhịp sống cùng khởi động, cùng tan biến, cùng lịm tắt với những cảm xúc có một không hai duy chỉ có người làm thơ mới có. Suy nghĩ về thơ, nói về thi ca do đó là một sự mất mát, là mân mê những đất, những cát, những vôi hồ mà ḷng th́ vẫn nghĩ đang nâng niu một báu vật.

Cách nói về thi ca và cuộc đời hay nhứt là nói bằng thơ. Dù vậy, ngoài nhịp sống của thi ca lại c̣n những nhịp sống khác, cũng dung dị, thường t́nh: nhịp sống của cảm thông, truyền đạt và đối thoại. Buổi nói chuyện hôm nay, do đó, không phải đối thoại về thi ca mà là đối thoại với thi ca. Tất cả chúng ta sẽ cùng nói về thơ, và cùng nói với thơ vậy.

Và nói về thơ quả thật đă là một thất bại, như sự thất bại của một vị vua hào hoa, đa t́nh, điên cuồng thương nhớ đến độ muốn “đập vở kính ra t́m lấy bóng. Xếp tàn y lại để dành hơi”vậy.

Mỵ Nương nhớ Trương Chi th́ h́nh ảnh người thương hiện ra trong đáy chén, nhưng Mỵ Nương nghĩ đến cuộc t́nh tan vỡ của ḿnh mà thầm khóc cho duyên kiếp th́ h́nh ảnh người yêu tan . Nói về thi ca th́ cũng vậy. Đó là điều khiến chúng tôi e ngại. Và ước vọng của chúng tôi là âm thanh tan biến th́ sẽ không phải chỉ c̣n lại hư vô im lặng nhưng là c̣n lại âm hưởng của thơ, c̣n lại một chút ǵ rất thơ.

Nói đến thi ca và sự liên hệ giữa thi ca và cuộc đời th́ trước hết phải nói đến thi nhân. Nhưng thi nhân là ǵ?

Đă hẳn thi nhân là người làm thơ. Tại sao lại là làm thơ mà không làm chiến tranh, không làm ḥa b́nh, quan hay lính, thiên đàng hay hỏa ngục? Tất cả đều là thơ, và ngay cả cái chết của chính ḿnh cũng là thơ nữa. Cũng bởi v́ vậy mà Cao Bá Quát đă nh́n thấy:

Một chiếc cùm lim chân có “đế”

Ba ṿng xích sắt bước th́ “vương”

Thi ca đă thực hiện cho nhà thơ Cao Bá Quát những điều mà một Cao Bá quát phiến động đă không thực hiện nỗi bằng gươm đao vậy.

Xuân Diệu bảo rằng thi sĩ chỉ là một con chim đến từ núi lạ, ngứa cổ hát chơi.Mà thật vậy, chỉ khi nào con người ư thức được rằng ḿnh muốn tất cả chỉ là đồ chơi và ngay cả hành động của ḿnh cũng chỉ là tṛ chơi, th́ mới có thơ vậy. Muốn làm chơi nghĩa là chẳng muốn đến đâu cả, chẳng muốn đạt đến mục đích nào cả, xa lạ với mọi mục đích, mọi phương tiện của đời này. Mà xa lạ với chính lối nh́n, với chính những mục đích và phương tiện của đời này cho nên, có thể nói, thơ là một cách trốn thực tại, và trong cuộc đời này nhà thơ chỉ là một người xa lạ giữa loài người xa lạ:

            “Ba mươi chín trung thu về trước

            Một gă Kim đồng rơi xuống trần

            Giữa lúc trăng thanh lùa gió mát

            Nam Tào ghi sổ: Kiếp thi nhân

            Ḷng ngóng thơ ngây, trời bắt được

            Lại đày Ngọc Nữ xuống trần gian

            Cho chừa những thói “trăng hoa” ấy

            Nhưng đày hai đứa đi hai ngă

            Bắt lạ lùng nhau suốt một đời

            Kẻ ở đầu sông người ở cuối

            Xa vời mây nước, lá vàng trôi…

            Trần giới bao giờ trang trắng nợ

            Hạc vàng trở lại chốn Thiền môn

            Chư tiên chờ đón mừng rơi lệ

            “ Cửu biệt trùng lai nghệ sĩ hồn?

                                    ( Nguyễn Tố. Trung Thu nhớ Tiền Thân)

V́ là một người xa lạ ở đời này, cuộc đời thực tế và bon chen này cho nên ngôn ngữ của thi ca đă trở thành một ngôn ngữ xa lạ . Trăng không c̣n là trăng, nước không c̣n là nước và hiện hữu cũng chẳng c̣n lạ hiện hữu nữa. Cũng v́ thế mà Lư Bạch đă cố sống trọn vẹn với trăng bằng cái chết của chính ḿnh.

Thi ca không phải nói lên những ǵ mà chúng ta đă biết, biết bằng suy tư, luận lư.

Phân tích phê b́nh, giảng giải thi ca bằng đôi mắt ṭ ṃ, bằng thái độ “ g̣ gè bớt một thêm hai” sẽ giết chết tinh thể thi ca và đuổi thi nhân ra khỏi thiên đường mộng ảo của họ. Thi ca cũng không phải phụng sự cho mục đích này, hay một mục tiêu nọ như nhiều người đă cưỡng chế và mong muốn. Một cách trung thực, thi ca là thi ca, là tiếng nói của ḷng người, là cảm xúc chân thành, là nói lên cái ước vọng của con người muôn thuở và muôn nơi, là tiếng kêu thương hay niềm hoan lạc của con người trước thực trạng mà nó đang sống trong đó, một cuộc sống vốn bằng những cảm hứng và ảnh tượng, và do vậy, thi nhân ở bất cứ thời nào và bất cứ ở đâu đều mang cái “Tâm t́nh một nẽo Quê Chung, Người về cố quận muôn trùng ta đi”(H.C).

Nếu cuộc đời chỉ là cuộc đời thông thường mà không phải là nghịch thường , khác thường th́ không có thi ca, không c̣n là thi ca nữa. Nhưng cuộc đời b́nh thường lại không phải là cuộc đời thật mà chỉ là cuộc đời đă bị vặn méo v́ những lo âu, những bận tâm, những hăm hở, những thất vọng và hy vọng b́nh thường. Cuộc đời b́nh thường là cuộc đời đă bị phóng thể. Sự phóng thể có thể là đối tượng của thi ca nhưng cuộc đời bị phóng thể đó th́ không. Ư thức của thi nhân về cuộc đời đă bị phóng thể đó là một ư thức lưu xứ, lưu đày, một ư thức u hoài và bi đát:

            Một chút linh hồn nhỏ

            Mang mang thiên cổ sầu

                                    (Huy Cận)

            hay:

            Ai người trước đă qua

            Ai người sau chưa đẻ

            Nghĩ trời đất vô cùng

            Một ḿnh tuôn giọt lệ.

                                    (Trần Tử Ngang-Vơ Liêm Sơn dịch)

Cuộc đời của thi nhân là cuộc đời không bị phóng thể, cuộc đời như là cuộc đời, hay nói như Husserl, cuộc đời đă bị đóng ngoặc đối với mọi thành kiến, thiên kiến, chấp kiến.Nhà danh họa Kandinsky, một buổi chiều đến pḥng làm việc, bỗng thấy trong pḥng ḿnh có một bức tranh quá đẹp, sắc màu ḥa hợp diệu vợi trong ánh nắng chiếu lung linh. Kandinky sửng sờ trên ngưỡng cửa, băn khuăn tự hỏi chẳng hiểu kiệt tác đó của ai, nếu là của ông th́ ông đă vẽ lúc nào? Và cuối cùng ông đă khám phá đó chỉ là một bức tranh do chính ông sáng tác, và nó đă trở thành kiệt tác đó của ai, nếu là của ông đă vẽ lúc nào? Và cuối cùng ông đă khám phá đó chỉ là một bức tranh do chính ông sáng tác, và nó đă trở thánh kiệt tác chỉ v́…nó bị treo ngược.Chính kinh nghiệm đó đă khởi đầu cho phong trào nghệ thuật siêu thực.

Thơ chỉ là thơ, họa chỉ là họa khi núi sông không chỉ là sông núi trở ngại mà là sông núi vô thường, khi cuộc đời không chỉ để mà sống chết mà là cuộc đời “như là” cuộc đời, cuộc đời đă làm cho Roquentin của Sartre phải choáng váng, rợn ngợp. Khách quan chỉ là khách quan với chủ quan, và một khi đă trở thành vô thường tuyệt đối cũng sẽ trở thành chủ quan tuyệt đối. “Ta với ḿnh tuy một mà hai” (Tản Đà) và cũng v́ vậy mà “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.Sự thế chỉ v́ biên cương giữa thi nhân và cuộc đời đă không c̣n nữa, nhờ vậy mà thi nhân không c̣n nh́n về cuộc đời, mà chính cuộc đời trong thi nhân đă nh́n về cuộc đời như Lamartine đă nói. Le spectacle est dans les yeux (cảnh ở trong đôi mắt)

Và bởi v́ cuộc đời với thi nhân là một, cho nên cuộc đời của thi ca cũng đă chuyển thái theo nhịp sống của thi nhân.

Cuộc đời đối với em bé là b́nh minh nắng dịu, là cỏ xanh, trời hồng. Đâu đâu cũng thấy hiển hiện hoa và phảng phất hương.

Sang đến tuổi thanh niên, cái tuổi rực rỡ, huy hoàng và tươi sáng, họ không c̣n đuổi bướm hái hoa. Thế giới của họ mở rộng và mời gọi thiết tha từ những hương sắc trong vườn hoa, trong công viên: đó là bầu trời đầy sao, mặt đất ướp đầy hương, đó là thế giới trong huyết quản, v́ t́nh lư c̣n sôi sục miên man, v́ t́nh yêu muôn thuở vẫn là hương, biết mấy ḷng thơm nở giữa đường” nên họ cảm thấy yêu đời một cách cuồng nhiệt, vội vàng: “Mau với chứ vội vùng lên với chứ! ( Xuân Diệu).

Rồi lớn hơn, ở cái tuổi tam thập nhi lập, khi mà những ngậm ngùi, cay đắng của t́nh đời, khi mà nợ áo cơm và thê nhi ràng buộc níu kéo, họ trực nhận ra rằng đời thôi hết là màu hồng, thôi không c̣n những đam mê thời xuân sắc, bây giờ chính là lúc cảm nhận những ê chề, những thương đau vô lư mà thấy hồn ḿnh se sắc:

            Trời hỡi trời! Hôm nay ta chán hết

            Những sắc màu h́nh ảnh của trần gian.

                                                            (Chế Lan Viên-Tạo Lập)

hoặc:

            Thời gian chảy đá ṃn, sông núi lở

            Ḷng ta muôn c̣n măi vết thương đau.

                                                            ( Chế Lan Viên-Thời Oanh Liệt)

Trước cái nỗi đời cơ cực như vậy làm sao chúng ta không kinh hoàng trước sự đổi thay và tàn phai của cuộc sống:

            Trưa! một ít trưa, lạc vào lăng tẩm

            Nhập làm hồn những tượng xưa u thảm

            Trưa, theo tàu, bước xuống những sân ga

            Dựng buồn lên xa gởi đến Muôn Xa

                                                            (Chế Lan Viên-Trưa Đơn Giản)

Với thi nhân, sống với cuộc đời là thể nhập với  đời. Sông núi là ta, ta là sông núi. Nhịp đập của con tim là nhịp rung động của cành là, ta nói là đời nói, đời nói là ta nói. Cuộc đời trở thành thần thoại, thi nhân trở thành thần tiên và ng̣i bút, ngôn từ của thi nhân chính là chiếc đủa thần. Thi nhân gọi tên sự vật là sự vật “ phải có” thi nhân trở thành phù thủy để có thể bắt tràng nằm sóng soải trên cành liễu (HMT) , bắt gió hôn trên má xuân nữa như Xuân Diệu đă làm, hoặc tự buộc kiếp sau của ḿnh phải làm cây thông đứng giữa trời mà reo như Nguyễn Công Trứ.

Không có ngôn từ ma thuật, thần thông đó th́ thi ca sẽ không c̣n là thi ca nữa. Không có cái nh́n thần tiên huyền thoại đó th́ cuộc đời này sẽ không c̣n là cuộc đời của thi nhân nữa. Và ngôn từ thần thông, cái nh́n huyền thoại đó, nói cho cùng chính là cái nh́n giúp thi nhân trực nhận được bản thể của cuộc đời. Trực nhận được bản thể của cuộc đời chính là một trực nhận triết lư vậy.

 

VIII- THI CA VÀ TRIẾT LƯ.

Trong kho tàng thi ca không thiếu ǵ “ thơ triết”. Nhưng thơ triết thường không có nghĩa là triết lư bằng thi ca. Nhà thơ không thể đi vào con đường triết lư. V́ lẽ triết lư là phần tỉnh, là lui để nh́n về, nh́n lại trong khi thi ca là trực nhận, là sống thực , là sống trực nhiên. Có sao sống vậy, hay “ c̣n ăn hết nhịn” thi ca chạy t́m cái tuyệt đối trong khoảnh khắc, chạy t́m “một phút huy hoàng rồi chợt tối” ( Xuân Diệu), trong khi bản chất của triết lư là perennis philosophia, là chân lư tự tại, miên viễn.

Thi nhân chạy theo triết lư th́ chỉ làm cho thi ca trở thành khô cằn, cứng nhắc, chỉ làm cho nàng thơ chạy trốn. Thi ca có thể là đối tượng của triết học, nhưng thi nhân không thể đi vào con đường triết lư. Triết lư có những giới hạn, thi ca th́ vô cùng. Triết lư dừng lại ở biên giới tột cùng của lư luận. Thi ca th́ vược biên giới đó bằng chính sự rung cảm, bằng chính cái nh́n và ngôn-từ thần-thoại,ma thuật của ḿnh. Cũng  v́ thế, khi đă thất bại với Zein und Zeit, th́ Heidegger mới có thể quay về với Rilke, với Hoderlin. Quay về với Rilke, với Holderlin v́ thi nhân sẵn có những giải pháp riêng của thi ca cho những bế tắc triết-lư.

Giải pháp triết lư “ riêng’ của thi ca chính là chỗ thi nhân đă sống với triết lư mà không suy nghĩ theo lề lối của triết gia. Chỉ có sự sống, chỉ có hành động mới giải quyết được những mâu-thuẫn và bế tắc của tư tưởng. Mọi vấn đề, mọi cảm nghĩ được đẩy đến chỗ tuyệt đối trở thành siêu h́nh, trở thành triết lư cả. Thi nhân khi sống với rung động của tâm hồn đă trở thành những triết gia vô thức và đă đặt những vấn đề triết lư một cách vô t́nh.

Một Tản Đà với những cuộc t́nh bơ vơ trong mộng, với nỗi đời cơ cực, với định mệnh oan-nghiệt của một người đứng giữa cơn giao-động mănh-liệt của buổi giao-thời ly-loạn, của những yêu sách đổi thay giữa mới và cũ. Thế mà sống trọn vẹn với đời, Tản Đà vẫn giữ được cái phong thái thung dung, cái chí trượng phu của một người thơ.

Điều đặc biệt đáng chú ư là những thất bại liên tiếp trên đường đời đă khiến cho Tản Đà chán nản, tuyệt vọng để từ đó thơ. Người đầy chất “ ngông” và “rượu”. Ấy thế mà, một hôm đẹp trời nào đó, Tản Đà đă cảm nghiệm sâu xa lư thuyết luân hồi Phật Giáo:

            “Non xanh đă biết hay chưa?

            Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.

            Nước non hội ngộ c̣n luôn

            Bảo cho non chớ có buồn làm chi.

                                                ( Tản Đà-Thề Non Nước)

Ở Chế Lan Viên ảnh -hưởng Phật Giáo rơ rệt hơn mà ít ai ngờ tới bởi lẽ trong thơ ông, chúng ta không t́m thấy một thuật ngữ nào của Phật Giáo. Và ngay đến cả Chế-Lan-Viên có lẽ cũng không ư thức được, v́ Phật Giáo đă thâm nhập vào hồn ông tự bao giờ trong yên lặng:

            “Sao ở đâu mọc lên trong đáy giếng

            lạnh như hồn u tối vạn yêu ma?

            Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta

            Ư của ai trào lên trong đáy óc?

            …………………………………

            Ai bảo giùm: Ta có ta không?”

                                                ( Chế-Lan-Viên Ta)

Nói đến Phật Giáo là nói đến luân- hồi,kiếp trước, thời gian xa xăm muôn vạn kiếp:

            Ḷng em nhớ ḷng anh từ vạn kỷ

            Gặp hôm nay nhưng hẹn đă ngàn xưa

                                                (Huy Cận-T́nh tự)

            hoặc……………………………….

            Về đâu, về đâu thời gian đă

            In dấu mong manh trên càng đào

            …………………………………….

            Về đâu hạt bụi vàng thao thức?”

                                                (Huy Cận)

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương cũng nói đến cái Ta như Chế Lan Viên, nhưng ở họ Vũ, ảnh hưởng của đạo Phật c̣n đậm đà hơn.

            “…………………………………

            Nhớ thuở xưa khi chưa có ta hề đường đi thênh thênh,

            Kịp đến khi có ta hề chông gai mông mênh.”

Tác giả “ Quê Ngoại” th́ lại gợi lên một mối cảm hoài nhẹ nhàng từ những h́nh ảnh, sắc màu, âm thanh hiện thực:

            “Hàng năm tôi đi lễ chùa

            Chuông vàng khánh bạc ngày xưa vẫn c̣n

            Chỉ hơi thấy vắng trong hồn

            Ít nhiều hương phấn khi c̣n ngày thơ

            Chân đi, đếm tiếng chuông chùa

            Tôi ngờ năm, tháng thời xưa trở về”

Một thi sĩ khác: Lưu Trọng Lư mà tiếng thơ của người thi sĩ đầy mộng mơ này đă làm ḷng ta thổn thức với những vang vọng thiết tha của những cuộc t́nh dang dở…Kiếp này không thỏa ước-nguyện, nhà thơ đă hẹn với người yêu ở kiếp luân hồi mai sau.

            ………………………………………..

            “Đợi đến luân hồi sẽ gặp nhau

            Cùng em nhắc lại chuyện xưa sau

            Chờ anh bên gốc sim già nhé

            Em gái đưa anh đóa mộng đầu”

                                                (Lưu Trọng Lư-Một Chút T́nh)

Trong bài Đi Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, chúng ta chứng kiến t́nh yêu chớm nở của hai nhân vật chánh trong không khí trầm hương, đạo vị, ḷng mộ đạo thiết tha của ông bà thân sinh ra thiếu nữ, chúng ta c̣n bắt gặp h́nh ảnh một đức Phật bao dung, giúp cho những người yêu nhau thành đạt những mơ ước của đời sống thế tục:

            …………………………………………

            “Em đi, chàng theo sau

            Em không dám đi mau

            Ngại chàng chê hấp tấp

            Số gian nan không giàu

            Mẹ bảo đường c̣n lâu

            Cứ vừa đi ta cầu

            Quán Thế Âm Bồ Tát

            Là tha hồ đi mau”

            Em ư? Em không cầu

            Đường vẫn thấy đi mau

            Chàng cũng cho như thế

            Ra ta hợp tâm đầu

            ………………………

            Ngun ngút khói hương vàng

            Say trong giấc mơ màng

            Em cầu xin giời Phật

            Sao cho em lấy chàng”

Nhưng trong trường hợp của Hàn Mạc Tử là một trường hợp khá đặc biệt, cần lưu ư. Hàn Mạc Tử vốn là người được nuôi dưỡng trong Thiên Chúa Giáo, bổn tánh vốn hiền ḥa, ngoan đạo và sự ngoan đạo ngày càng lớn mạnh, vững chắc khi căn bệnh càng trầm trọng.thế mà khi làm thơ, Hàn Mạc Tử đă mặc nhiên nói lên cái ảnh hưởng của Phật Giáo:

            …………………………

            “Thơ tôi thơm huyền diệu

            Mọc lên đạo từ bi”

            hoặc

            …………………………

            “Trời từ bi cảm động ứa sương mờ”

Ngay đến cả bài “ Thánh Nữ Đồng Trinh Maria”. Hàn Mạc Tử cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng bàng bạc và sâu xa của Phật Giáo:

            …………………………

            “Tôi ưa nh́n Bắc Đẩu với b́nh minh

            Chiếu cùng khắp ba ngh́n thế giới”.

Làm sao chúng ta có thể cắt nghĩa được hiện tượng như hiện tượng của Hàn Mạc Tử mà không chấp nhận rằng tư tưởng Phật Giáo đă lắng sâu trong hồn dân tộc, trong nếp sống hàng ngày, gần gủi và thân thiết với chúng ta như cơm ăn, nước uống mà nhiều khi chúng ta không ư thức được.

Với lối kiến trúc đặc biệt, những ngôi chùa bao giờ cũng ẩn dấu sau lũy tre xanh, dưới gốc cây đa, ở một nơi thanh tịnh như bổn chất khiêm cung, mộc mạc, hồn nhiên, thích ứng và ḥa hợp của Phật Giáo. Mái chùa c̣n chất chứa một sức mạnh vạn năng của đời sống tâm linh và tư tưởng Việt:

            ………………………….

            “Mái chùa che chở hồn dân tộc

            Nếp sống muôn đời của tổ tông”

                                                (Huyền Không-Nhớ Chùa)

            Đây nhà thơ Nguyễn Bính:

            ……………………………

            “Quê tôi có gió bốn mùa

            Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm

            Sương hôm gió sớm trăng rằm

            Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi

            Mai này tôi bỏ quê tôi

            Bỏ trăng bỏ gió, chao ôi bỏ chùa.”

            Hay:

            …………………………….

            “Trên đường cát mịn một đôi cô

            Yếm đỏ khăn thâm, rẫy hội chùa

            Gậy trúc dắt bà già tóc bạc

            Lần tần tràng hạt niệm nam mô…”

                                                (Nguyễn Bính-Xuân Về)

Chúng ta nhận thấy rằng mỗi khi nói đến cuộc sống thanh b́nh, an lạc của quê hương là các thi nhân không làm sao quên được ngôi chùa, tiếng chuông điệu mơ, tiếng nam mô…

T́nh đạo không chỉ thấp thoáng trong t́nh đời mà lắm khi t́nh đạo c̣n thay thế cả t́nh đời. Phật Giáo đă trở thành gịng suối mát không chỉ cho “ những anh hùng mạt vận”, mà cho cả những tâm hồn thường thái bị” thiên hạ bỏ đ́u hiu”

Đúng như thế, yêu là hy vọng, là quả quyết, là van xin, là thề hứa. Như Lưu Trọng Lư đă hẹn “đến luân hồi”, như Huy Cận nhớ về muôn kiếp:

            ……………………………..

            “Ḷng em nhớ ḷng anh từ vạn kỷ

            Gặp hôm nay nhưng đă hẹn ngàn xưa”

                                                            ( Huy Cận-T́nh Tự)

Như Xuân Diệu đă khẩn cầu một t́nh yêu sắt son không lay chuyển:

            ………………………………..

            “Em hăy là nơi mấy khóm dừa

            Dầm ḿnh trong nước đứng say sưa

            Để anh là kẻ qua sa mạc

            Tạm lánh hè gay thế cũng vừa”

            “Vừa” trong t́nh yêu chính là vừa tuyệt đối. Và bởi nhịp đập con tim chỉ là hữu hạn, sắt son chỉ tồn tại với kiếp người cho nên yêu cũng là thất vọng, thề nguyện cũng là một cách hứa hẹn phản bội khiến cho đóa mộng đầu trở thành mật đắng. T́nh yêu muôn mặt cho nên t́nh lỡ và thất vọng cũng muôn h́nh. Thi ca trở thành những âm thanh thổn thức v́ thực tế phủ phàng, v́ hờ hững, v́ trắc trở, v́ lăng quên, v́ phản bội.

Thi ca trở thành bách khoa tự điển về nổi thống khổ của con tim. Và chính v́ t́nh yêu bao la của Phật Giáo đă không đ̣i hỏi một trả đáp nào, đă không chối từ một ai ngay cả những kẻ đă từ bỏ ḿnh, đă như người mẹ tựa cửa chờ đứa con hoang đăng trở lại. Thế nên, thất vọng với t́nh đời thi nhân cũng như con người thường quay về với t́nh đạo. Lúc hy vọng và men t́nh ngây ngất người ta đă “ cầu Quán Thế Âm Bồ Tát” ( Nguyễn Nhược Pháp) th́ lúc thất vọng người ta cũng chỉ c̣n một đường để đi:

            “Cửa Phật đây rồi tôi đến đây

            Van xin nước tịnh gội đêm say

            Tôi người mê muội ham cùng cả

            Xóa nhạt trăm năm hận một ngày”

                                                            (Thanh Tịnh)

Phật giáo quan niệm rằng cái nhỏ nhứt chứa trọn vẹn cái lớn nhứt, cái lớn nhứt thâu vào trong cái nhỏ nhứt. Một là tất cả, tất cả là Một..(tiểu nhi vô nội, đại nhu vô ngoại). Quan niệm này thể hiện trọn vẹn trong bốn câu thơ của Thi sĩ Thạch Trung Giả sáng tác cách đây trên 20 năm.

            “Trâu đi vết lại

            Thăm thẳm in trời

            Ngàn ánh sao rơi

            Mấy đời tang hải”

Bước chân trâu in vết trên đường quê vào một ngày mưa để rồi đêm đến, khi trăng lên, ngàn sao xuất hiện, cả bầu trời cao xanh thăm thẳm, thanh tịnh, hiện ra tṛn đầy trong vết chân trâu.

 

XI- MÀU SẮC TÔN GIÁO TRONG THI CA.

Chính v́ có khả năng hội nhập với những vấn đề tuyệt đối, có khả năng giải quyết vấn đề tuyệt đối đó bằng hành động, nghĩa là bằng tâm t́nh và cảm xúc, bằng cả hiện hữu toàn diện cho nên thơ đă rất gần với Đạo. Điều này giải thích lư do tại sao những tôn giáo nguyên thủy đều đă dùng “văn cùng thơ” để có Đạo. Vệ Đà của Ấn giáo; Kinh Dịch, Kinh thi của Nho giáo; Đạo Đức Kinh của Lăo gáo; Thánh Kinh của Cựu Ước…đều là thơ, là cách dùng thơ để đem ḷng người đến gần Đạo, thể nhập ư Đạo với thơ.

Sư liên hệ giữa thi ca với Phật giáo, nhứt là thi ca Việt Nam với Phật giáo Việt Nam lại c̣n cụ thể hơn nữa. Những bài thơ Việt đầu tiên là những bài kệ, những bài thị chúng, những nhà thơ Việt đầu tiên là những thiền sư, những cư sĩ Phật tử. Tư tưởng Phật giáo trước tiên đă đi vào tâm hồn người Việt không phải bằng những giáo lệnh không phải bằng những giới răn, không qua trung gian của quyền lực thế tục bằng những giới răn, không qua trung gian của quyền lực thế tục bằng những chỉ dụ, sắc lệnh của vua chúa nhưng là bằng lời thơ, bằng phong thái thi nhân của các Phật tử.

Đạo Phật gần với thơ v́ cả hai đều có và đều muốn đạt đến một cái nh́n giống nhau về cuộc đời. Nh́n đời như một sự kiện vô thường, nh́n đời như một sự kiện “ như thị, như thị”, hay nói như J.Paul Sartre, nh́n đời như “ il est la comme ca?”

Tư tưởng Phật giáo đă lắng sâu, lắng măi vào tận tâm hồn dân Việt, tạo nên một sức sống tràn đầy cho dân tộc. Tư tưởng Phật giáo đă thể hiện hồn nhiên, dung dị trong toàn diện nếp sống tâm linh của dân tộc.

V́ chất liệu tâm linh dạt dào, phong phú đó nên những nhà thơ Việt Nam, qua những thi phẩm đă mang nặng màu sắc Phật giáo. Chẳng hạn, nữ sĩ Anh Thơ qua Bức Tranh Quê đă thể hiện hồn nhiên dung dị trong toàn diện nếp sống tâm linh của dân tộc.

            “Trong chùa điện hương đèn nghi ngút sáng

            Tiếng mơ, chuông ḥa nhịp trống bên đ́nh.

            Lời cầu cúng truyền theo làn khói thoảng

            Quyện cô hồn nương gió lại nghe kinh…”

                                                            (Anh Thơ-Rằm tháng bảy)

Sau khi đă chán nản mọi sự, chùng ḿnh trong cái buốt lạnh của đêm tàn cô đơn, Tản Đà chỉ c̣n biết tha thiết chờ đợi tiếng chuông chùa:

            “Ngồi hết đêm sương, sương chẳng hết,

            Chùa xa ai điểm mấy hồi chuông…?

Với Lam Sơn, tiếng chuông chùa như một bóng mát, một an ủi, vỗ về, xoa dịu:

            “Chùa xa đưa lại lời an ủi

            Của tiếng chuông ngân dịu vỗ về…”

Trần gian đầy những khổ đau, những gạt gẫm phỉnh phờ, u tối. Thanh Tịnh đă t́m thấy trong ngôi chùa mầu nhiệm, ánh đèn đầu lung linh lóe sáng, nụ cười bất diệt và giải thoát của Đức Phật hiện lên làm cho nhà thơ măn nguyện:

            “Gió luồn khe cửa chao đèn Phật,

            Một nụ cười xưa măn thệ nguyền…”

Chùa cũng c̣n là nơi trú ẩn cho những tâm hồn đau khổ, nơi đón nhận những kẻ sa cơ, lỡ vận, điều này chứng tỏ có sự liên hệ mật thiết giữa thi nhân và cửa Thiền.

            “Phù thế đă nhiều duyên nghiệp quá,

            Lệ ḷng mong cạn chốn am không

            Cửa Thiền một đóng duyên trần dứt

            Quên hết người quen chốn bụi hồng…”

                                                            ( J. Leiba-Bến Giác)

Đạo Phật đến với cuộc đời bằng t́nh yêu, cho nên sống với t́nh yêu th́ con người cũng như thi nhân sẽ gặp đạo Phật. T́nh đời đi gần với t́nh Đạo, và trong t́nh đời đă thấp thoáng t́nh Đạo.

Các thi nhân thời tiền chiến sống một hoàn cảnh mà lịch sử có nhiều biến thiên lớn lao., nhiều đổi thay mau chóng và bị ảnh hướng nặng nề thi ca Pháp, tâm hồn họ đă bị Âu hóa đến chỗ sâu nhứt trong hồn. Ấy vậy mà ảnh hưởng của Phật giáo cũng phát lộ mạnh mẽ và sâu xa trong các thi phẩm của họ. Thế mới biết cái ảnh hưởng của Phật giáo trong thi ca t́nh yêu lớn mạnh đến ngần nào.

Chẳng hạn bài Rằm Tháng Giêng của Hồ Dzếnh:

            “Ngày xưa c̣n nhỏ…ngày xưa

            Tôi đeo khánh bạc lên chùa dâng nhang

            Ḷng vui quần áo xênh xang

            Tay cầm hương, nến , đinh vàng mới mua

            Chị tôi vào lễ trong chùa

            Hai chàng trai trẻ khấn đùa hai bên

            “Ḷng thánh lễ vật đầu tiên

            Cầu cho tiểu được ngoài giêng đắt chồng

            Chị tôi phụng phịu má hồng

            Vùng vằng suưt nữa quên bồng cả tôi

            Tam quan ngoài mái chị ngồi

            Chị nghe đoán thẻ, chị cười luôn luôn

            Quẻ thần, thánh mach mà khôn

            Số nàng chồng đắt, mà con cũng nhiều

            Chị tôi nay đă xế chiều

            Chắt c̣n nhó măi những điều chị mơ…”

Ở đoạn cuối bài thơ, thi nhân tỏ lộ niềm hoài vọng về một quá khứ, trong một khung trời thơ mộng đượm màu sắc Phật Giáo.

T́m đến cửa Phật bởi v́:

            Phù thế đă nhiều duyên nghiệp quá

            Lệ ḷng mong cạn, chốn am không

            Cửa Thiền một đóng duyên trần dứt

            Quên hết người quen chốn bụi hồng

                                                ( J. Leiba- Bến Giác)

 

X- KẾT THÚC: SỰ CHÂN THÀNH CỦA THI NHÂN

Đời không có thơ, đời vẫn có. Thơ không có đời, thơ không có.Nhưng bám chặt cuộc đời với đôi mắt thế nhân thường t́nh th́ cũng không có thơ, ngay cả khi thi nhân hướng nh́n những cảnh thông thường, b́nh dị nhứt như thi nhân vô danh nh́n người thôn nữ tát nước tưới ruộng.Người thôn nữ có thể đẹp nhưng đối tượng của thơ chính là những “ánh trăng vàng” bị người thôn nữ múc đổ đi.

Đời, do đó chỉ là chất liệu cho thi nhân tô điểm, làm cho hồng thành hồng thắm, xanh thành xanh biếc, âm u trở thành hắc ám. Tắt một lời, làm cho đời trở thành một sự kiện tuyệt đối, một sự kiện đáng sống, đáng yêu, và do đó, cũng có thể trở thành đáng chán, đáng ghét. Thi ca là một cách sống, một cách nh́n, và hơn nữa, thi ca là một cách sống tuyệt đối, là một cái nh́n bản thể. Thi nhân là kẻ lật mặt nà cuộc đời, để tô thêm hồng thắm, mà cũng có thể để bôi thêm lem luốc. Nhưng ǵ đi nữa th́ thái độ tất yếu của thi nhân vẫn là sự chơn thành. Sự chơn thành của thi nhân là chơn thành với đời và với chính ḿnh.

            ………………………………

            Bút giấy tôi ai cướp giật đi

            Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá.

                                                ( Phùng Quán)

Không có sự chơn thành đó th́ thi nhân sẽ không c̣n là thi nhân, và đời cũng chỉ là đời đă bị phóng thể v́ ư thức hữu dụng. Ư thức đó làm cho con người không c̣n mơ mộng, nghĩa là không c̣n làm thơ, làm cho cuộc đời trở thành thực, nghĩa là không c̣n nên thơ nữa. Và như vậy cũng sẽ không đủ khả năng để thúc con người dám liều:

            Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt

            C̣n hơn buồn le lói suốt trăm năm

                                                ( Xuân Diệu)

Cuộc đời hôm nay, con người hôm nay đang đi vào những lo sợ của Aldous Huxley, của George Owens, của Alain Toffer. Phải chăng, đến lúc và đă có lúc con người phải lựa chọn giữa “Người máy và hoa sen”, giữa kỉ thuật là thi ca.

Trở lại với thơ, nếu không phải là điều tất yếu th́ ít ra cũng là một điều cần thiết để c̣n có thể tiếp tục dấn thân, để khỏi chai đá, để khỏi trở thành máy móc giữa một khung cảnh đang ngập khói xe và tiếng động cơ giới.

 

ĐÂY NGÀY PHẬT ĐẢN

Đây cả non sông c̣n vẹn mới

Đường vừa khai mạc đón người đi

Đây niềm hoài vọng ngàn thiên giới

Gót ngọc vờn qua lưu lại ǵ

Đây nắng ban đầu mưa gió dứt

Cỏ cây hớn hở đượm vui nhiều

Đây người cô quạnh nằm ray rức

Như được ḷng đời đón ấy yêu

Đây cảnh thanh b́nh đang hé dậy

Muôn chim rộn rịp hót trên cành

Đây vàng, đây bạc vừa t́m thấy

Nhựa sống dâng đầy ngập tuổi xanh

Đây ánh trăng rằm soi xứ vắng

Đêm dài quên ngủ măi vui say

Đây hồn dân tộc đang thầm lặng

Theo tiếng chuông ngân vọng tháng ngày

Đây cảnh chia ly vừa hội ngộ

Cảm thông, hoan lạc tận bao giờ

Đây niềm giao cảm qua hơi thở

Vũ trụ ch́m trong thế giới thơ

Đây phố phường trong ngày Đại Hội

Hát ca vang dội khắp đô thành

Đây đàn con dại về bên gối

Ḷng mẹ bao la bát ngát t́nh

Đây nước sông Hương ngừng đứng lại

Soi h́nh Phật Đản những năm qua

Đây đoàn rước Phật đi, đi măi

Mạch sống dâng cao khắp nước nhà

Đây những sen xinh bừng nở mạnh

Mừng ngày Phật Đản thuở xa xưa

Đây đàn chim dại vừa tung cánh

Sắc nước, trời xanh vẫn đợi chờ

Đây lá cờ thiêng hồn Phật Giáo

Năm màu sắc Phật lộng muôn phương

Đây hương ḷng thoảng thềm tôn giáo

Phật Đản: Ngày vui khắp nẻo đường

NHỚ CỐ HƯƠNG

Gởi Nguyên Đạt và tất cả anh em, với niềm thương nhớ Quê Hương không nguôi.

Mưa gió chiều nay thấy nhớ nhung

Trời ơi, sao lạnh thấm vô cùng

Chuông xưa ngân lại trong chùa mới

Người Việt muôn đời vẫn thủy chung

Thấm thoát bao ngày nhớ cố hương

Ruộng đồng, sông núi nặng tơ vương

Thời gian đếm măi từng giây phút

Đất nước  vời xa mấy dặm trường

Xứ lạ quê người mây trắng bay

Cố hương nhớ măi suốt đêm ngày

Tên đường, phố cũ c̣n nguyên đó

T́nh cảm bao giờ có đổi thay

Đất mới trăng rằm cũng sáng trong

Nh́n lên Bảo Điện gợi đau ḷng

Quê nhà khuất bóng từ khi ấy

Chín tháng qua rồi, có nhớ không?

Los Angeles, chùa Việt Nam cuối March 1978.

PHẬT ĐẢN: NHỚ QUÊ HƯƠNG

Kỷ niệm ba năm xa quê hương

Ba năm rồi sống xa quê

Đến ngày Phật Đản chưa hề dám quên

Ở đây, bàng bạc hương Thiền

Việt Nam Phật Giáo triền miên muôn đời

Ngày xưa dưới cánh hoa tươi

Hôm nay Thái Tử ra đời độ sinh

Thế gian c̣n đó ảnh h́nh

Vô Ưu hoa nở tươi xinh sắc màu

T́nh người vẫn giữ trước sau

Nhớ ngày Phật Đản ḷng đau không cùng

Ai mang một mối t́nh chung

Quê Hương, Đạo Pháp trùng trùng nở hoa

Bây giờ ray rức tâm ta

Bèo mây phận nước, xót xa phận ḿnh

Thắp lên một nén hương trinh

Cho ngày Phật Đản đượm t́nh Việt Nam

Cúi đầu dưới ánh Từ Quang

Cầu mong Phật độ vô vàn đó đây

Xa cành chim nhớ thương cây

Nửa ṿng trái đất mang đầy tâm tư

Quê hương nhớ tự bao giờ

Mái chùa, dân tộc, hồn thơ, ruộng vườn

Ngày Phật Đản: nhớ Quê hương

Niềm đau xin gởi mười phương kiếp người

Los Angeles, Mùa Phật Đản 2524

ĐẠT ĐẠO

Qua Thiền Môn: thấy trời xanh

Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang

Khói hương quyện, cảnh mơ màng

Hư không là chiếc y vàng quấn thân

Thiền Môn xưa sạch phong trần

Kim Cang kinh phép trầm luân thoát rồi

Ta từ sanh tử về chơi

Ngồi trên chót đỉnh mỉm cười với trăng

Thân ta là giải đất bằng

Tâm ta là nước sông Hằng mênh mông

T́nh ta là đóa hoa hồng

Ư ta là cả cánh đồng tâm linh

C̣n đâu nữa Kim Cang kinh

Thiền Môn biến mất mà ḿnh vô ngôn

B́nh minh về ngập hoàng hôn

Kêu lên một tiếng tỉnh hồn ngàn xưa

Los Angeles, mồng 9 tháng 9 Canh Thân

BÊN CÁNH SONG

Không thể làm sao tả hết lời

Khi chiều thu vắng bóng chiều rơi

Bao nhiêu thương nhớ với mây nước

Ḷng mẹ bao la gởi cuối trời

Quê cũ ngh́n năm quá phũ phàng

Mà sao ḷng mẹ ngập không gian

Mùa thu mang lại niềm vui cũ

Dù mẹ không c̣n giữa thế gian

Chuông vẳng đâu đây xao động ḷng

Mục Liên sống dậy: nước sông trong

Phù Tang mây quyện Vu Lan đến

Hiếu hạnh đương về bên cánh song

Lư trí thua rồi với tháng năm

Ôi, t́nh mẹ sáng hơn trăng rằm

Bấy nhiêu ôm trọn t́nh lưu luyến

Đất lạ, Vu Lan về viếng thăm.

Tokyo, Vu Lan Nhâm Dần

NHỚ CHÙA

Từ thuở ra đi vắng bóng chùa

Đường đời đă nhọc chuyện hơn thua

Trong tôi bừng dậy niềm chua xót

Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa

Thấp thoáng đâu đây cảnh tượng làng

Có con đường đỏ chạy lang thang

Có hàng tre gợi hồn sông núi

Im lặng chùa tôi ngập nắng vàng

Có những cây mai sống trọn đời

Bên hàng tùng bách măi xanh tươi

Nh́n lên phảng phất hương trầm tỏa

Đức Phật từ bi miệng mỉm cười

Tôi nhớ làm sao những buổi chiều

Lời kinh giải thoát vọng cao siêu

Đây ngôi chùa cổ ngày hai buổi

Cầu nguyện dân làng sống mến yêu

V́ vậy làng tôi sống thái b́nh

Sớm khuya gần gủi tiếng chuông linh

Sắn khoai gạo bắp nuôi dân xóm

Xây dựng tương lai xứ sở ḿnh

Mỗi tối dân quê đón gió lành

Khắp chùa dào dạt ánh trăng thanh

Tiếng chuông thức tỉnh lan xa măi

An ủi dân hiền mọi mái tranh

Trầm đốt hương thơm bay ngạt ngào

Thôn trên xóm dưới dạ nao nao

Dân làng tắm gội lên chùa lễ

Mười bốn, ba mươi mỗi tối nào

Biết đến bao giờ trở lại quê

Phân vân ḷng gởi nhớ nhung về

Tang thương dù có bao nhiêu nữa

Cũng nguyện cho chùa khỏi tái tê

Chuông vẳng nơi nao nhớ lạ lùng

Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông .

Sài G̣n 1956

TỈNH GIẤC CHIÊM BAO

Viết cho Tánh Thiện (Đ.Phước) với những buổi công phu khuya đầy thiền vị

Hôm qua mộng thấy tụng kinh

Tỉnh ra mới biết chính ḿnh là trăng

Bao nhiêu cát của sông Hằng

Là bấy nhiêu kiếp đă tằng tử sinh

Lang thang, nghiệp chướng, tội t́nh

Con chim nó hót, b́nh minh đến rồi

Thời gian phủ mộng đầy nôi

Mĩm cười bé ngủ xa xôi kiếp nào

Nôi hồng tràn ngập chiêm bao

Mà nay ta đă đi vào trần gian

Đêm ngày ngồi tụng Kim Cang

Sắc không mộng huyễn cưu mang với người

Trong mơ thấy đóa hoa tươi

Bây giờ tỉnh dậy ta cười với ta

Giang tay đón cả Ta Bà

Ḷng nghe rợn ngợp hằng sa kiếp rồi

Ngày xưa Trang Tử bồi hồi

Giữa ḿnh và bướm ai ngồi ngắm nhau

Bây giờ xuân đến ḷng đau

Ai mang áo cũ bạc màu mùa đông

Cho xin một đóa hoa hồng

Đem về cắm giữa gịng sông cuộc đời

Hương thơm bát ngát t́nh người

Say sưa tụng măi những lời kinh xưa

Los Angeles, cuối Xuân Canh Thân.

ĐƯỜNG HOLLYWOOD

gởi Linh Chi

Thấy không sao rụng lề đường

Tên ai gắn bó đang vương kiếp này

Ngh́n năm c̣n đó mây bay

Đôi chân bước măi tháng ngày nghe đau

Nơi đây sáng chói sắc màu

Nhân gian rộn rịp, hồn đau bao lần

Lại qua những dấu phù vân

Người ơi, có thấy tinh thần độc tôn

“Quê nhà khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng gợi buồn ḷng ai!”

Patrioge Bookstore, một chiều tắt nắng.

HỒN CHÂU Á

Gió vờn qua cây cành

Rung rinh hàng tre xanh

Gió đi không trở lại

Trời xanh mây hiền lành

Hồ thu con nhạn sang

Nước trong tim mơ màng

Trăng treo cao lồng lộng

Bóng nhạn ch́m mênh mang

Ngàn năm không giữ gió

Hàng tre đứng âm thầm

Hồ trong không lưu bóng

Nhạn qua rồi bặt tăm

Thao thức sao bóng chiều

Hồn Châu Á cao siêu

Ngàn năm ngàn năm vẫn

Như gấm dệt hoa thêu

TRẺ THƠ

Chùa xưa mái ngói cũ

Trèo lên nắm cây sào

Đêm khuya rồi không ngủ

Kéo rụng bao nhiêu sao?

NỤ CƯỜI

“Niêm hoa vi tiếu…” Gởi Pháp hữu Nhất Hạnh

Khát khao một nụ cười

Khi thấy cành Sen tươi

Mơ về ba ngàn cơi

Vào ra vạn cuộc đời

Bao giờ nh́n hạt cát

Là vũ trụ mênh mông

Ta-Bà là Cực-Lạc

Ta nhập với vô cùng

Ngày xưa ngài Ca Diếp

Nh́n hoa cười tự nhiên

Nụ cười qua muôn kiếp

Ngào ngạt làn hương Thiền

Cười khóc đă bao lần

Những tâm t́nh thế nhân

Vui buồn bay thấp thoáng

Trời xanh mây xoay vần

Khuya nay vừa tỉnh mộng

Ta cười đếm ngón tay

Ô, ḿnh là Vang Bóng

Ngoài hiên, trăng sáng đầy

RA ĐI

Ra đi: biển cả vô cùng

Tâm tư góp lại, nhớ nhung gởi người

Biển ḷng sóng vỗ mù khơi

Quê Hương, Đạo Pháp, Nụ Cười c̣n đây

Trăm năm vẫn ánh trăng đầy

Ngh́n năm sau nữa vẫn mây cuối trời

Ta mang chút lửa trong người

Đem về sưởi ấm cuộc đời lao sinh

Ô hay! non nước của ḿnh

Mà sao ta phải dứt t́nh ra đi?

Los Angeles, ngày 6-4-1978

THIỀN MÔN C̉N ẢNH H̀NH THẦY

Kính tặng: Giác Linh H.T. THÍCH THIỆN MINH kỷ niệm ngày giỗ đầu của Ḥa Thượng.

Trời chẳng bao giờ vắng bóng mây

Thiền môn c̣n đó ảnh h́nh Thầy

Tối khuya chuông vẳng nơi nào nhỉ

Có thấy ḷng buồn khắp đó đây

Cách biệt Thầy ơi, mới tháng nào

Cuộc đời như thế giấc chiêm bao

Bích Khê c̣n đó, hồn quê cũ

Mường tượng từ dung bỗng nghẹn ngào

Ḷng nghẹn chưa từng nói được đâu

Làm sao hết được nỗi u sầu

Mai này lá rụng xin về cội

Đốt nén tâm hương LỄ GIỖ ĐẦU

Thâm cảm thân người kiếp khổ không

Ngàn năm vẫn nhớ nổi đau ḷng

Con đường lịch sự Thầy qua đó

Phật giáo dâng lên một đóa hồng

Tôi đă đêm đêm tưởng nhớ Thầy

Mái chùa, sông núi quẩn quanh đây

Đời như mộng huyễn sao ḿnh khóc

Lệ đổ dâng cao nổi hận này

Los Angeles, ngày 17-10-79

VU LAN ĐẾN GIỮA L̉NG NGƯỜI

Xót xa giữa bến trần gian

Phút giây rợn ngợp, Vu Lan lại về

Cô đơn bao hủ bốn bề

Trời xanh c̣n lại hồn quê trong ḷng

Bao giờ rũ áo chờ mong

Thị phi rồi cũng xuôi gịng thời gian

Đi lên tột đỉnh đồi hoang

Một ḿnh ḿnh biết, cơ hàn ai hay

Dừng chân trong mái chùa này

Sớm khuya kinh kệ, tháng ngày đi qua

Đi lên tột đỉnh đồi hoang

Một ḿnh ḿnh biết, cơ hàn ai hay

Dừng chân trong mái chùa này

Sớm khuya kinh kệ, tháng ngày đi qua

Ngậm ngùi nhớ nước nhớ nhà

Vu Lan đến giữa ḷng ta phiêu bồng

Lạnh lung như cả mùa đông

Nắng vàng không ấm, mây hồng bay xa

Hôm nay cầu nguyện quê nhà

Qua cơn hoạn nạn, rồi ra môi cười

Vu Lan đến giữa ḷng người

Mục Liên ẩn hiện sáng ngời độ sinh

Nhớ quê, tụng một thời kinh

Lắng nghe tất cả đạo t́nh mênh mông

Chùa Việt Nam, mùa Vu Lan 2524

NẮNG MỚI

Nắng mới

Sương sa

Hoa mới nở

Ḷng Xuân phơi phới đổi ḷng trời

Đạo Pháp chưa tṛn

Quê Hương nợ,

Việt Nam gọi măi suốt muôn đời

Kỷ niệm Một Xuân mới trên đất mới Los Angeles, chiều 8 June 1978

GỌI TÔI

Có ai gọi măi tên tôi

Hai năm xa xứ đứng ngồi không yên

Quê Hương, Đạo Pháp chưa quên

Con tim ôm trọn ba miền nhớ thương

Gọi tôi chi suốt đêm trường

Chuông chùa vang vọng trên đường tôi đi

Gọi tôi, tôi biết làm ǵ

Nắng mưa đổ xuống lầm ĺ thời gian

Trăm năm trong chiếc áo vàng

Hoàng hôn đứng đợi đ̣ ngang không bờ

Tôi đi giữa phố bơ vơ

Hai tay sờ soạng tôi chờ t́m tôi

Năm nay, năm mốt tuổi rồi

Đáy hồn ray rức nổi trôi kiếp người

Tha hương c̣n đó hoa tươi

Gọi tôi, xin gởi nụ cười đắng cay

Gọi tôi trên bến đ̣ này

Sông kia núi nọ chia tay thuở nào

Sàig̣n, c̣n đó chiêm bao

Gọi lên một tiếng, ngọt ngào ngh́n năm…

Los Angeles, S.Olive chiều 20-3-1979

TA GỌI XUÂN VỀ

Ta gọi xuân về, xuân ở đâu

Núi sông xa lạ nắng vương sầu

Tâm tư một kiếp c̣n nguyên vẹn

Thế sự bao lần hóa biển dâu

Ta gọi xuân về, xuân vẫn đang

Mênh mông trời biển gió lang thang

Ngồi trong đêm lạnh quê hương nhớ

Chùa cũ, vường xưa hoa cải vàng

Ta gọi xuân về, xuân đến chưa

Hồn xuân chưa đến giữa mong chờ

Hương xuân chưa ấm hồn dân tộc

Ngày tháng đi về trong ước mơ

Ta gọi xuân về, xuân quá cao

Lệ đâu ray rức măi tuôn trào

Chuông xưa không đánh mà vang vọng

Tiếng pháo giao thừa măi khát khao

Ta gọi xuân về, xuân đại dương

Khói chiều lam quyện bóng quê hương

Sóng dâng dào dạt t́nh thương nhớ

Nam Việt kêu hoài vẫn nhớ thương

Ta gọi xuân về, xuân ở đây

Hai tay nâng một đóa hoa này

Đong đưa cánh bướm vàng bay đến

Đă thấy xuân về với cỏ cây

Ta gọi xuân về, xuân bướm bay

Trang Sinh nằm mộng biết bao ngày

Thời gian dù có ngàn năm nữa

Xuân đến lâu rồi, ai có hay

Ta gọi xuân về, xuân của ta

Tâm xuân tô điểm cả Ta-Bà

Như trăng chiếu xuống khắp trần thế

Mỗi một con người mỗi đóa hoa

Ta gọi xuân về, xuân tự nhiên

Thoáng trong hơi thở có hương Thiền

Cành mai, khóm trúc vương mùi Đạo

Thế giới trong ta lắng năo phiền

Ta gọi xuân về, xuân lặng thinh

Đẹp như trời mộng Kim Cang Kinh

Trước chùa một cánh đào xinh nở

Là cả vườn xuân của thái b́nh

Los Angeles, Xuân Tân Dậu

 

---o0o---

Vi tính: Kim Thư - Tŕnh bày: Anna

Cập nhật: 01-03-2007

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>