categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

           

 

THIÊN LƯ MĂ

Diệu Trân

 

Một thi sỹ Trung Hoa có nói: “Nơi dấu chân đoàn chiến mă hung hăn, ào ạt băng qua, nơi đó, mười năm sau cỏ chưa thể mọc và gió c̣n tanh mùi máu!”

Mỗi lần nhớ tới câu nói này, tôi lại nghĩ đến con ngựa già đă đưa Ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh.

Nơi đoàn ngựa chiến băng qua, dư vị tang thương chết chóc khiến gió hôi tanh, cỏ chẳng mọc, th́ dặm trường thiên lư mà con ngựa già đưa người phát đại nguyện đi thỉnh kinh để trao truyền lời Phật dạy tới nhân gian khắp cơi, dặm trường đó, chẳng phải chỉ mười năm, mà trăm năm, ngàn năm, đời này, đời sau, muôn đời sau nữa, chắc hẳn gió c̣n thơm ngát hương chiên-đàn, cát c̣n long lánh kim cương, sông suối c̣n ngọt ngào Ba-la-mật.

 

Tôi không thích những nhân vật và những t́nh tiết thần thông xoay quanh câu chuyện này nên chưa bao giờ thực sự cầm một cuốn sách nào viết về giai thoại lịch sử cực kỳ quan trọng mà vị pháp sư đời nhà Đường đă làm nên. Nhưng tôi lại rất muốn biết về con đường gian nan, hiểm nguy cùng cực mà Thầy Huyền Trang đă trải qua khi vượt sa mạc Qua Bích mênh mông khắc nghiệt dài hơn 800 dặm. Sa mạc đó, trên trời không chim bay, dưới đất không thú chạy, không cây, không nước, không một dấu hiệu của sự sống!

 

Trong gia đ́nh tôi, từ cha mẹ, cho tới anh chị em, ai cũng say mê những bộ truyện kiếm hiệp của Kim Dung và ai cũng đă từng đọc qua Tây Du Kư. Mỗi người, bị mỗi câu chuyện đó lôi cuốn ở mỗi giai thoại, mỗi khía cạnh khác nhau nên những bữa cơm tối, chỉ cần ai đó nói lên truyện nào là thành ngay những “đại hội bất thường” sôi nổi.

Tôi lơm bơm biết đến những nhân vật lừng danh của Kim Dung như Vô Kỵ, Triệu Minh, Chu Chỉ Nhược, Tạ Tốn, những môn phái hắc bạch trong chốn giang hồ, là do ngồi dự khán những đại hội đó chứ chẳng thể nhớ được ai bạn, ai thù, ai thiện, ai ác, ai ở bộ truyện nào.

 

Cũng thế, tôi biết về sự tích Ngài Huyền Trang đi thỉnh kinh là do các “diễn giả không chuyên nghiệp” tŕnh bầy. Nhưng v́ đă rắp tâm chỉ ghi nhận những ǵ muốn biết và loại bỏ ngay những ǵ không thích biết nên tôi cũng đă tự phác họa cho ḿnh một bức tranh về sự kiện lịch sử này. Bức tranh h́nh thành do góp nhặt những lời kể chủ quan của thành phần gia đ́nh nên tất nhiên sẽ có những chi tiết đúng với người này mà sai với người kia. Xin vị nào đọc tới bài này đừng quá nghiêm khắc với chi tiết. Nếu không đúng ư ḿnh nghĩ th́ xin xem như …. Thần thông biến hóa ra như thế!

 

Tôi ghi nhận được nhiều t́nh tiết nhất là từ cha tôi, những t́nh tiết không có Tôn Ngộ Không, Chư Bát Giới đại náo vào.

 

Ngài Huyền Trang xuất gia ở đâu, lúc bao nhiêu tuổi th́ cha không  rơ, nhưng những địa danh mà Ngài bôn ba cầu đạo th́ cha biết có vẻ tường tận lắm.

Ngài là một người cầu học tận gốc, cầu biết tận ngọn chứ không phải học để làm dáng trí thức. Nên ở Xuyên Đông, Xuyên Tây, Ngài t́m đến các danh sư mà không ai giúp Ngài thỏa măn những khúc mắc, bèn lặn lội qua Sơn Đông, Hồ Bắc, miệt mài khắp các tỉnh miền Bắc Trung Quốc mà càng đi, ḷng càng khắc khoải, khổ đau. Chẳng lẽ khắp trong thiên hạ không t́m ra minh sư ư?

Khi ấy, Ngài chợt nhận ra rằng đa số Chư Tăng, trí thức, chưa thấu triệt lẽ đạo v́ kinh điển lưu hành quá ít! Phần phiên dịch lại nhiều sai sót, khó hiểu! Từ nhận xét này, Ngài Huyền Trang đă nảy ư định tới Ấn Độ thỉnh kinh, v́ nơi đó là gốc phát sinh Đạo Phật, nơi Đức Thế Tôn thành đạo và lập tăng đoàn đầu tiên hoằng pháp. Nơi đó mới có hy vọng c̣n giữ những văn kinh bản gốc.

Nhưng thời đó, ư định Tây-du của Ngài Huyền Trang là hoang đường, là điều không tưởng v́ đường từ Trung Hoa sang Ấn Độ quá xa xôi, hiểm trở, không có một phương tiện tương đối an toàn nào có thể thực hiện được chuyến đi. Chưa kể, dù có tới đích th́ hy vọng đạt được sở nguyện cũng chỉ mơ hồ v́ biết có ai c̣n đủ quan tâm ǵn giữ kho tàng kinh điển xưa không?

Ấy thế mà dũng mănh phát tâm không hề lay chuyển. Ngài âm thầm hoạch định lộ tŕnh và thấy rơ đường xa vạn dặm đó không đoạn nào thiếu hiểm trở, gian nguy, thú rừng, cướp bóc …. Kinh hoàng nhất là phải vượt qua một sa mạc dài tới 800 dặm mà chỉ có băo cát mịt mù ngày đêm, nơi từng vùi xác bao người, ngựa muốn thử sức với khắc nghiệt thiên nhiên.

 

Để chuẩn bị cho chuyến đi gian khổ, Ngài đă lập nguyện nhịn ăn, nhịn uống, giăi gió dầm sương, luyện thân tâm thành sắt thép.

Cuối cùng, Ngài quyết khởi hành từ tỉnh Lương Châu v́ nơi đó giáp ranh đường về miền Tây Ấn Độ.

Khi đó Ngài Huyền Trang vừa ba mươi bốn tuổi.

Chính tại tỉnh Lương Châu này, Ngài gặp một người lái buôn bản xứ, cốt cách đạo mạo, nghiêm minh khiến vừa gặp, Ngài đă sanh ḷng tin yêu nên không ngần ngại thổ lộ ư nguyện của ḿnh.

Cũng chính nơi đây, Ngài có được bạn đồng hành, giúp Ngài thực hành tâm nguyện.

Bạn đồng hành rất quan trọng đó là con ngựa già của người bản xứ.

 

Tất cả những ǵ tôi được nghe, được biết về dặm trường thiên lư thỉnh kinh của Ngài Huyền Trang, đối với tôi, quan trọng nhất, cảm động nhất, mầu nhiệm nhất, là ở thời điểm này. Nhưng bất nhẫn thay, đại đa số những tác giả viết về Đường Tam Tạng thỉnh kinh, tới đây, đều lướt qua, để thêm vào đó những diễn viên thần thông dị hợm!  

Khi tới Lương Châu ít lâu, con ngựa của Ngài Huyền Trang không quen thủy thổ, bệnh mà chết! Ngài phải t́m mua con ngựa khác. Ấy thế mà khi gặp, và thổ lộ tâm tư với người lái buôn bản xứ, ông ta trầm tư giây lát rồi đề nghị đổi con ngựa già của ḿnh lấy con ngựa trẻ trung, tốt đẹp mà Ngài Huyền Trang đang dùng. Ông ta thưa Ngài rằng, Ngài cần con ngựa già này v́ nó rất thuộc đường tới phương Tây, nhất là, đă từng chở hàng hóa vượt sa mạc nắng cháy, đă quen dàu giăi tuyết sương nên tuy già mà vẫn khỏe, chứ chú ngựa non sáo đá đẹp đẽ kia không vượt nổi 10 dặm sa mạc gió cát đâu, nói ǵ 800 dặm!

Đối với người lái buôn bản xứ, chắc chắn con ngựa già quen đường này quư gấp bội hơn con ngựa non đẹp đẽ kia. Vậy mà sao ông ta sẵn ḷng đổi cho một người xa lạ chỉ vừa t́nh cờ gặp, khi người ấy thổ lộ muốn đi về phương Tây?

 

Có ai nh́n thấy sự cảm thông kỳ diệu giữa hai tấm ḷng này không?

Sự kỳ diệu đó có phải chỉ là ngẫu nhiên đời thường, hay đó chính là “Sự cảm thông không thể nghĩ bàn”?

 

Chưa hết đâu.

Sự kỳ diệu này chỉ là mở đầu của bao nhiêu mầu nhiệm mà người đó, ngựa đó đă cùng nhau chia xẻ trên dặm trường hung hiểm.

 

Với lương khô và những túi da đựng nước đeo trên yên, người và ngựa vượt qua bao đồng cỏ, bao đồn canh, bao hiểm nguy ŕnh rập, bao phen tưởng như thấy Diêm Vương, nhưng chưa quỵ th́ cứ nhắm suối Dă Mă ở hướng tây mà đi. Ngày đi, đêm nghỉ rồi cũng tới ranh giới sa mạc tử thần!

 

Không chút nao núng, con ngựa già băng băng lao vào sa mạc. Hai mươi dặm, ba mươi dặm, năm mươi dặm … Nhưng rồi, gió bỗng nổi lên, cát khắp phía mịt mù, cuồng lốc như muốn cuốn thốc cả đại địa. Ngựa, chắc đă từng trải qua như thế; c̣n người, th́ thân tâm đă chuẩn bị cho thử thách này nên băo cát cuồng phong không ngăn được quyết tâm của người và ngựa.

Đi suốt năm ngày như thế, th́ cả hai đều mệt lả! Túi da đựng nước đă văng đi đâu mất và phương hướng th́ mù tăm, bất định.

Trên sa mạc mà lạc đường, không nước th́ cái chết đă đâu đây!

 

Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Quan Thế Âm Bồ Tát, nếu thân tâm và trí tuệ của kẻ phàm phu này c̣n làm được ǵ lợi ích chúng sanh th́ xin ân đức Bồ Tát gia hộ cho con.”         

    

Chỉ một lời nguyện thành tâm, băo cát chợt dịu lại, và cơn gió mát từ đâu thoảng tới khiến người và ngựa đều choàng tỉnh. Cả hai gắng gượng lần ṃ đi thêm một đoạn đường ngắn nữa th́ con ngựa già bỗng hí vang! Nó vừa nhận ra một lối ṃn quen thuộc! Vừa tiếp tục hí, nó vừa phi nước đại vào lối ṃn đó. Không bao lâu, Ngài nghe thấy âm thanh róc rách của gịng suối ngọt, như nhạc trời đang tấu những khúc nhạc hồi sinh.

 

Suối kia rồi!

Ôi là mát!

Ôi là trong!

Bạch-mă yêu quư ơi! Hăy xuống uống đi! Hăy uống cho no nê! Hăy tạ ơn Bồ Tát Quan Thế Âm! Hăy uống đi! Ta cũng đang uống nước Cam-Lồ đây! Hăy uống đi, rồi cùng ta ngủ một giấc cho say! Bạch-mă ơi! Hăy ngủ cho say để khi ánh dương vừa rạng, chúng ta sẽ nhắm hướng nước Y-Ngô mà tới. Chắc Bạch-mă đă biết rằng, qua khỏi được sa mạc kinh hoàng này là biên giới Y-Ngô, từ đó, chúng ta dễ dàng đến Cao-Xương, sang Khuất-Chi, qua Đột-Quyết. Chúng ta sẽ vượt Hy Mă Lạp Sơn và sẽ thấy biên giới Ấn Độ. Chư Phật, Chư Bồ-Tát sẽ hộ tŕ chúng ta thỉnh được kinh điển, làm bản đồ cho khắp cơi chúng sanh t́m về đường Giác Ngộ, giải thoát.

 

Có lẽ, khi con ngựa già nhớ ra đường, t́m được gịng suối cứu tinh th́ Ngài Huyền Trang đă vô cùng hoan hỷ như thế.

 

Nhưng khi tôi hỏi cha, là Ngài Huyền Trang vượt được sa mạc, đến nước Y-Ngô rồi sao, th́ cha tôi vui vẻ, giơ cả hai tay lên trời mà nói rằng:

-Ồ, tới đây là “Qua cơn bỉ cực tới hồi thái lai rồi”. Từ đây, Ngài Huyền Trang đi qua nước nào cũng được vua nước đó trọng đăi và tặng bạc vàng, thực phẩm, lụa là, nhiều không biết bao nhiêu mà kể, v́ hạnh nguyện vĩ đại của Ngài đă được nhân gian truyền nhau, xôn xao từ xứ này sang xứ kia. Có cả những nước muốn giữ Ngài ở lại không được, vua nước đó sai quan quân tiễn Ngài bằng từng đàn ngựa quư! Ngài ở bên phương tây đến hơn 17 năm, sưu tập được hơn 600 bộ kinh cùng rất nhiều bảo vật từ thời Đức Phật tại thế. Khi trở về nước, Ngài lập tức bắt tay vào việc phiên dịch, miệt mài gần 20 năm và hoàn tất được 75 bộ kinh đồ sộ. Ngài đă đạt thành đại nguyện và trở thành vĩ nhân v́ sự đóng góp lớn lao đó cho Phật Giáo.

 

Tôi cũng được nghe từ thầy, cô, từ bạn bè về thành quả cực kỳ tốt đẹp, vinh hiển đó. Nhưng tôi đă không thể không hỏi cha về một chi tiết mà h́nh như không ai nhắc tới. Đó là bạn đồng hành trên đoạn đường gian khổ nhất với Ngài. Tôi hỏi cha rằng:

-Thế, c̣n con ngựa già đă cùng Ngài Huyền Trang vượt dặm trường thiên lư gian nguy th́ sao? Sau khi được tặng biết bao ngựa quư th́ Ngài có c̣n cưỡi con ngựa già đó mà đi tiếp hay không?

 

Cha tôi mở to mắt, nh́n sững tôi.

Có lẽ cha không hề nghĩ đến điều đó!

Có lẽ chẳng ai nghĩ đến điều đó!

Chẳng ai nghĩ đến bạn đồng hành tận tụy đó của Ngài Huyền Trang.

Chẳng ai quán chiếu rằng, nếu cơ duyên mầu nhiệm không xảy ra để người đó gặp được ngựa đó, th́ có lẽ đại nguyện của người khó mà thành tựu!

Vậy mà, qua cơn bỉ cực, con ngựa già lặng lẽ dừng vó nơi đâu, không ai nhắc tới!

 

Với tâm từ bi, tôi chắc Ngài Huyền Trang đă giao nó cho một người nhân ái nào, dặn ḍ chăm sóc nó chu đáo, cho nó được nghỉ ngơi, nhàn hạ lúc tuổi già.

Không hiểu sao, tôi tin như thế.

 

Nhưng c̣n tấm ḷng bạch-mă?

Chắc ǵ nó muốn nghỉ ngơi khi phải xa người mà nó kính yêu, ngưỡng phục. Thơ thẩn ra vào nơi chuồng đẹp, cỏ tươi, nó thường nhớ về cơn băo cát, tưởng đă chôn vùi một kiếp. Nhưng lạ lùng thay, chỉ một tiếng niệm Quan Âm mà gió đă ngừng, trăng đă sáng. Nó làm sao quên được giây phút nhiệm mầu ấy, giây phút như lằn chớp nhưng đủ cho nó mơ hồ thoáng thấy kiếp sau.

Kiếp đó, nó mặc áo phấn tảo, chân trần, ôm b́nh bát thong dong tự tại đi giữa bao chốn bụi.

Kiếp đó, nó hoan hỷ rao giảng bao công tŕnh mà người vừa cùng nó vượt hiểm nguy đă gom về được.

 

Nó rất an tâm chờ chuyển hóa, luân hồi. Nhưng nhớ cố nhân, đă nhiều đêm trăng sáng, nó ngước nh́n trời mà hí lên lời hoài vọng:

 

Thảng như con ngựa già vô dụng

Chủ bỏ ngoài trăng,

Đứng một ḿnh!”(*)

 

Diệu Trân

(Như-Thị-Am, đầu năm Đinh Hợi)

(*) Thơ Tô Thùy Yên (?)   

 

      

---o0o---

 

Cập nhật: 01-03-2007

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>