categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

 

GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT
CÔNG TR̀NH DỊCH THUẬT KINH, LUẬT, LUẬN
và TRIẾT HỌC, THI CA CỦA THƯỢNG TỌA TUỆ SỸ

 

Dịch Thuật Kinh Tạng:

Dịch Thuật Luật Tạng

Dịch Thuật Luận Tạng

Các Chủ Đề Đạo Học và Triết Học Đông Tây.

Thi Ca, Nền Văn Học Hiện Đại.

 

Xuyên suốt tầm nh́n để làm việc xâu kết một công tŕnh học thuật có tầm cỡ là một điều vô cùng khó khăn. Hơn nữa, một công tŕnh học thuật lại là của một bậc Thầy, của một nhà nghiên cứu Phật học uyên bác, của một nhà tư tưởng, thi ca đương thời th́ quả thật lại càng không nên.

Nếu nói về số lượng của công tŕnh học thuật ấy cũng đủ để cho chúng ta kính trọng, ngưỡng mộ cái khả năng bền bỉ, liên tục, làm việc không biết mỏi mệt, để ngày hôm nay đă tác thành những bộ kinh được luận giải, chuyển ngữ từ Phạn bản, Hán tạng ra Việt ngữ. Bao nhiêu tư tưởng triết học từ Đông sang Tây được viết thành những chủ đề lớn để thấy được hai nền văn hóa Đông Tây gặp nhau dưới ng̣i bút của Thầy. Và c̣n biết bao những áng văn thơ khác nữa.

Nếu nói về phẩm, qua công tŕnh học thuật ấy, th́ Thầy có một trí tuệ hoằng viễn, một công tŕnh giảng luận to lớn qua các tác dịch phẩm đă được ấn hành. Do vậy, nhân buổi lễ giới thiệu tác phẩm “Huyền Thoại Duy Ma Cật” hôm nay, người viết xin phép được giới thiệu một cách tiêu biểu các tác dịch phẩm, các chủ đề biện bàn Triết Học Tư Tưởng Đông Tây, Tư Tưởng Phật Học và một số bài thơ mang t́nh đạo vị, quê hương, dân tộc, để thấy một người con dân nước Việt đă sống trong ḷng quê hương, lớn lên trong t́nh tự dân tộc đă cùng chia sẻ, cưu mang những bước thăng trầm của vận nước và từ đó đă đi theo định nghiệp của ḿnh, như lời tựa, Thắng Man Giảng Luận: do Ban Tu Thư Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức Nha Trang ấn hành năm 2001:

“Bản Kinh Thắng Man này được dịch và giải vào một thời điểm mà dấu ấn của nó sẽ măi măi không phai mờ trong tâm trí của những chứng nhân lịch sử. Mỗi cá nhân nh́n theo góc độ nhăn quan của ḿnh. Bằng hữu trí thức có thể t́m thấy đâu đó, giữa hai hàng chữ dịch và giải, dấu ấn mơ hồ của thời gian. Một cọng cỏ non yếu, cố vươn ḿnh đón bắt ánh sáng cho lẽ sống, dưới sức nặng tàn bạo của khối đá vô tri lầm ĺ. Bản dịch và giải chỉ mới hoàn tất phần đại cương. Nhưng cũng phải tạm thời xếp vào góc tối của giá sách. Người viết đi theo định nghiệp của ḿnh. Hay của cả dân tộc?”

Dịch Thuật Kinh Tạng:

Trong thời gian nhập thất Thầy đă dịch xong bộ A Hàm (Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhứt A Hàm và Tạp A Hàm) làm Kinh học cho các lớp chuyên khoa Phật Học, đồng thời cũng để cho các thế hệ kế thừa có cái nh́n thấu triệt về đời sống, và công cuộc thuyết pháp hóa độ thường nhật của Đức Thế Tôn và hàng Thánh chúng.

Nội dung bốn bộ Kinh A Hàm, Đức Phật thuyết pháp cho đủ mọi giới, từ thế giới chư thiên đến hội chúng Thánh đệ tử, từ xă hội loài người đến các loài chúng sinh khác. Đức Phật không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, vua chúa, cùng đinh, trí thức hay yếu kém, thành thị hay thôn quê, bất cứ ai có đủ nhân duyên th́ Đức Phật đều hóa độ. Như kinh Angulimala, chàng Vô Năo, Đức Phật hóa độ kẻ sát nhân thành Thánh quả. Kinh Amparali Đức Phật hóa độ người kỹ nữ thành thánh thiện, người gánh phân thành A La Hán, bậc vua chúa thành người hộ pháp và hàng trưởng giả thành đại thí chủ. Trong kinh Giáo Thọ Thi Ca La Việt, Đức Phật hóa độ chàng Thiện Sanh lạy lục phương trong Thánh pháp luật. Kinh Phạm Thiên thỉnh Phật, hóa độ qua các cung trời. Kinh Thủy Tịnh Phạm Chí, hóa độ hàng Bà La Môn ngoại đạo, mà cách thức tu hành của họ là lơa thể, hay khổ hạnh theo cách sống của loài súc vật – Ngưu hành giả, Cẩu hành giả, bắt chước cách ăn như trâu và ngồi chồm hổm như chó.

Cũng trong nội dung bốn bộ A Hàm đă nói lên đời sống thật đơn giản, ít nhu cầu và an nhiên tự tại của Đức Phật: Ngày chỉ ăn một bữa, tối ngủ dưới gốc cây một lần, với ba tấm y, một b́nh bát, một đăy lọc nước, một túi kim chỉ, tọa cụ và cây gậy. Gia tài Đức Phật chỉ có chừng đó. Bất cứ nơi nào cũng là chốn an nghỉ của Ngài, khi th́ trong ngôi nhà trống, khi th́ nơi đống rơm, trong căn pḥng của người thợ đồ gốm, khi th́ dưới gốc cây hay bên triền núi...

Nền văn học Kinh văn A Hàm đă làm sống lại thời Đức Thế Tôn tại thế, cũng như hàng Thánh chúng trong sự tu tập, thiền định hằng ngày. Trong sự tu tập thiền định ấy, quán chiếu tự thân, thọ, tâm, pháp để ư thức từng cảm giác, động tác nơi chính ḿnh, loại trừ vô minh, cấu uế, chấm dứt phiền năo ô trược của tham sân si, để chuyển thành vô tham, vô sân, vô si...

Thầy phiên dịch bốn bộ kinh A Hàm chứa đựng bao nhiêu tinh túy, thâm áo của nền kinh viện Nguyên Thủy Phật giáo, đă làm tỏ rạng, đậm nét từng bước chân đi của Đức Phật in dấu trên khắp mọi nẻo đường hóa độ, th́ đồng thời, Thầy cũng dịch thuật những bộ kinh thuộc nền kinh viện Đại Thừa, phát huy Bồ Tát đạo. Những vị Bồ Tát sống đời tại gia, h́nh dung, dáng dấp không khác một ai, nhưng tâm tư, ư niệm lại là hóa thân của Đại Bồ Tát, mang hành trang Bi nguyện làm đẹp cuộc đời, cứu vớt trầm luân. Những bản kinh hàm súc nội dung ấy là: Thắng Man Giảng Luận, Duy Ma Cật Sở Thuyết, Huyền Thoại Duy Ma Cật, Pháp Thoại Duy Ma Cật...

Yếu chỉ của những bộ kinh ấy đă dạy cho chúng ta thấy con đường của Bồ Tát đi, chí nguyện của Bồ Tát phát và hành động của Bồ Tát làm để phụng sự lư tưởng giác ngộ. Dù trên con đường phụng sự ấy, gặp phải muôn ngàn chướng duyên, nghịch cảnh, Bồ Tát cũng không nao núng ư chí độ sinh. Bởi v́ Bồ Tát có đủ Đạo, Nguyện, Hành, có đủ Bồ Đề tâm, ḷng giác ngộ cho ḿnh và cho người.

Trong Thắng Man Giảng Luận, Tiết 2: Phát Bồ Đề Tâm, Thầy viết: “Hạt giống Bồ đề không được gieo vào một cánh đồng trừu tượng nào xa xôi, cũng không chờ đợi gieo vào một vùng đất hứa thần thoại nào khác, mà nó được gieo xuống ngay trên sa mạc sinh tử này, khô cằn với những đau khổ triền miên của chúng sinh này. Rồi hạt giống ấy cần phải được tưới bằng nước ngọt của từ bi để lớn mạnh, để đến thời trổ hoa giác ngộ. Do đó, quá tŕnh Quy, Giới, Nguyện và Hành của Bồ Tát đạo là những giai đoạn gieo xuống và vun tưới hạt giống Bồ đề. Nói cách khác phát Bồ Đề tâm và thành tựu Bồ đề quả là trọn vẹn tất cả sự nghiệp của Bồ Tát.”

Thầy tiếp tục lư giải bước đầu của Bồ Tát phát tâm phải như thế nào? Bằng cái nh́n thẩm thấu xuyên suốt ba đường ác đạo, bằng cái khổ miên man trên ngọn lửa thiêu đốt, chúng sinh măi lang thang trong rừng vô minh, đại dương sinh tử mà chưa từng có ư niệm vượt thoát sông mê. Từng những ư niệm ban sơ cứu độ, từng những cảm xúc đến những nỗi khổ của chúng sinh, Bồ Tát phát khởi chí nguyện gieo hạt mầm giác ngộ trên mảnh đất phiền năo thế gian - phiền năo tức Bồ đề, để từ đó hương vị giải thoát được vươn cao, thành tàng rộng che mát thế gian nhiều nắng quái và tiếp tục nuôi dưỡng bằng ḍng sữa từ ái lớn khôn trên con đường chuyển mê khai ngộ, từ phàm thành thánh.

Để thấy rơ ư nghĩa đích thực của Bồ Đề tâm mà một vị Bồ Tát hay hành giả đi trên con đường cứu độ phải thân chứng, thật chứng tánh đức vị tha ấy. Thầy viết:

“Bồ Đề tâm là ǵ? Bồ Đề tâm đó là chí nguyện nóng bỏng của một chúng sinh tự thấy ḿnh đang sống trong cảnh tối tăm giữa đọa đày khổ nhục, mong t́m một con đường sáng không những để giải thoát bản thân khỏi những đe dọa áp bức mà c̣n để giải thoát cho tất cả những người cùng cảnh ngộ. Bồ Đề tâm, đó là ư chí kiên cường bất khuất của một người bị cột trói trên ngọn lửa rực cháy, bị chà đạp dưới những sức mạnh tàn khốc của tham vọng, điên cuồng của chính ta và của một tập thể ma quái chung quanh ta. “Vui cười ǵ, thích thú ǵ, giữa ngọn lửa không ngừng thiêu đốt? Bị bao phủ trong bóng tối, sao không đi t́m ngọn đuốc?”

Không có tâm nguyện đó, không có ư chí đó, Bồ Tát đạo chỉ là một con đường xa xôi, không tưởng, thần thoại hoang đường. Và Phật thừa không hơn một tiếng nói suông của một người mê sảng trong giấc ngủ ngày.”

Từ  sự suy tư hiện thành lư giải, giảng luận, chúng ta thấy Bồ Đề tâm mang nhiều ư nghĩa qua sự sưu khảo nghiên cứu từ Đại Tạng Kinh, từ những bộ luận lớn cho người học Phật một kiến thức Phật pháp, một cái học đầy hứng thú, một kiến giải Phật pháp thâm uyên. Và cũng từ sự học Phật đó để trang bị cho ḿnh, hay nói cho đúng hơn, chớ có đánh mất Bồ Đề tâm, mà phải luôn nhớ, và luôn luôn hiện hữu, dù bất cứ sống chết trong loài chúng sinh nào. Bởi v́ Bồ Đề tâm là tâm giác ngộ. Trên con đường tu tập mà quên đi cái tâm giác ngộ th́ tu tập để thành cái ǵ? Bồ Đề tâm là nhân tố, là những điều kiện tất yếu cần có trên con đường thăng tiến cầu đạo Vô thượng, là những phẩm tính siêu việt nâng đỡ để Bồ Tát thành tựu ước nguyện.

Trong phần chú thích, Thầy đă dẫn giải:

“Bồ Đề tâm (SKT Bodhicitta), nói đủ là vô thượng Bồ Đề tâm, hay A nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề tâm (SKT Anuttara-Samyak-Sambodhi-citta) tức tâm nguyện thành tựu sự giác ngộ tối thượng. Đại trí độ: “Bồ Tát sơ phát tâm, lấy vô thượng bồ đề làm đối tượng, nói rằng: Mong tôi sẽ thành Phật. Đó gọi là Bồ Đề tâm.” Bồ Tát Di Lặc nói với Thiện Tài: “Bồ Đề tâm là hạt giống của hết thảy Phật pháp. Bồ Đề tâm là ruộng phước v́ nuôi lớn pháp bạch tịch. Bồ Đề tâm là cơi đất lớn, v́ nâng đỡ hết thảy thế gian. Bồ Đề tâm là tịnh thủy, v́ rửa sạch tất cả cáu bợn phiền năo...”

Thắng Man Giảng Luận là bộ kinh lấy tên người con gái của Vua Ba Tư Nặc và Mạt Lỵ phu nhân để đặt tên. Nguyên do, sau khi tiếp nhận thư của vua cha và mẫu hậu tán thán những phẩm tính siêu việt của Như Lai mà Thắng Man đă phát khởi niềm tin thâm thiết, và phát nguyện rộng lớn, ấy là chí nguyện đại thừa Bồ Tát, thượng cầu hạ hóa. Một chí nguyện hy hiến thân mạng để tôn sùng Đạo pháp, để lợi lạc chúng sinh. “Thắng Man phu nhân phát khởi chí nguyện. Chí nguyện ấy là mong học hỏi và thấu triệt vô lượng vô biên Phật pháp; và không chỉ có thế, chí nguyện phu nhân c̣n hướng đến những thực hành cao cả, tự ḿnh gánh vác trách nhiệm lớn lao, sẵn sàng xả bỏ thân mạng v́ sự tồn tại của chánh pháp và v́ lợi ích của tất cả chúng sinh.”

Tên người Thắng Man, biểu tượng công hạnh Bồ Tát của nữ giới. Từ biểu tượng Bồ Tát này, chúng ta thấy h́nh ảnh Bồ Tát Duy Ma Cật trong Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh, hay Huyền Thoại Duy Ma Cật, mà Thầy đă giới thiệu và luận giải. Để rơ duyên do và ư thú của Kinh, trong chương II Phương Tiện Quyền Xảo, Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh đă nói:

“Bấy giờ, trong thành Tỳ Da Li có vị trưởng giả tên Duy Ma Cật, hằng cúng dường vô lượng Phật, trồng gốc rễ thiện, chứng đắc vô sanh pháp nhẫn, có tài biện thuyết vô ngại, hiện du hí thần thông, nắm vững các tổng tŕ, đạt được vô sở úy, khuất phục mọi thù nghịch quấy nhiễu của Ma, thấu hiểu mọi pháp môn sâu thẳm, dẫn đến giác ngộ... An trú trong oai lực nhiệm mầu của Phật, tâm ông luôn trải rộng như đại dương. Được chư Phật ca ngợi, hàng Đế Thích và Phạm Thiên kính phục.”

Một vị Bồ Tát hiện thân Trưởng giả, có đủ đời sống ngũ dục mà không bị chi phối bởi ngũ dục. Ở trong hương sắc của thế gian mà không bị thế gian đắm nhiễm. Vui chơi trong cuộc sống mà lúc nào cũng trụ trong đạo tràng thanh tịnh – Tùy sở trú xứ thường an lạc.

Đây là tư tưởng Đại thừa Phật giáo, bàng bạc trong Kinh văn Duy Ma Cật. Có lần Duy Ma Cật Trưởng giả gặp Ngài Xá Lợi Phất đang tĩnh tọa trong khu rừng vắng, Duy Ma Cật hỏi Ngài Xá Lợi Phất:

“Thưa Ngài Xá Lợi Phất, bất tất ngồi như thế mới là tĩnh tọa... không khởi diệt tận định (Samjnàvedita -Nirodha-Samàpatti) mà hiện các oai nghi, đó mới là tĩnh tọa... không đoạn phiền năo mà nhập Niết Bàn, ấy mới là tĩnh tọa...”

Đó là cung cách của Ngài Xá Lợi Phất – bậc A La Hán. C̣n đối với chư vị Bồ Tát, có lần Duy Ma Cật lên cung trời Đâu Xuất (Tusita) viếng Bồ Tát Di Lặc (Maitreya) và hỏi:

“Thưa Ngài Di Lặc, Thế Tôn thọ kư cho Ngài, một đời nữa sẽ thành Phật. Nhưng Ngài được thọ kư theo đời nào? Quá khứ chăng? Quá khứ đă qua rồi. Vị lai chăng? Vị lai chưa đến. Hiện tại chăng? Hiện tại không dừng?”

Huyền Thoại Duy Ma Cật, tác phẩm được giới thiệu hôm nay, hàm tàng một nội dung ẩn mật phô diễn hành trạng của vị Bồ Tát hóa thân vào đời để thi thiết Bồ Tát đạo, lập thệ sâu xa Bồ Tát nguyện và tác thành chân thân Bồ Tát hạnh giữa biển đời sinh tử trầm luân. Huyền Thoại Duy Ma Cật là tác phẩm mới nhất được Thầy dịch giảng, luận giải bằng sở tri uyên thâm Phật pháp, bằng nghệ thuật văn phong lịch nghiệm để từ đó hiến dâng, trao tặng cho tất cả bằng hữu tri thức, cùng pháp giới chúng sanh thấm nhuần ân pháp nhũ.

Như vậy, riêng về phần phiên dịch Kinh tạng, Thầy đă phiên dịch hai hệ kinh điển Nguyên Thủy Phật giáo – Kinh A Hàm và Đại Thừa Bồ Tát – Duy Ma Cật, Thắng Man để giúp người học Phật có cái nh́n tổng quát qua hai hệ kinh điển của Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ theo từ ngữ thời bấy giờ. Nhưng, cho đến hôm nay, có lẽ cái nh́n được cởi mở và thấu triệt hơn nên Thầy đă phiên dịch Kinh điển để cống hiến sự lợi ích cho mọi người và cũng để góp phần xây dựng nền học thuật kinh điển nước nhà ngày thêm phong phú.

Dịch Thuật Luật Tạng

Về Tạng Luật, Thầy đă để phần lớn thời gian hiệu đính, chú thích kỹ lưỡng v́ tầm quan trọng của giới luật. Tỳ Ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ – Luật tạng được vững bền th́ Phật pháp cũng được bền vững. Là cột trụ của ngôi nhà Phật pháp, nên giới luật không thể khinh suất, từ đó Thầy đă hoàn thành bộ Tứ Phần Luật gồm có sáu quyển cũng như bộ Yết Ma Yếu Chỉ, nhờ vậy mà các thế hệ chúng Tăng hôm nay có đủ bộ luật để học trong các tự viện và các trường Phật học, mà không c̣n tùy thuộc vốn liếng chữ Hán. Bộ Luật Tứ Phần cũng như Yết Ma Yếu Chỉ đă được ấn hành tương đối đầy đủ cho các Tăng sinh trong những mùa an cư kiết hạ hay những khóa học Phật pháp. Thiết nghĩ bộ Luật Tứ Phần và Yết Ma Yếu Chỉ cần được giảng dạy cho Tăng chúng, nhất là môi trường ở hải ngoại này.

Nếu ai đó ưu tư về mạng mạch của Tăng già, tuổi thọ Phật pháp và làm thế nào để phát huy và giữ vững nếp sống của cộng đồng Tăng lữ ngày một hưng thịnh, th́ Thầy là một trong những bậc Tôn túc thiết tha, tâm lượng đến tuổi thọ và sức sống ấy. Nỗi ưu tư suy tưởng đă hiện thành việc làm cụ thể, thích hợp qua công tŕnh phiên dịch luật tạng hôm nay. Trong khi phiên dịch hay hiệu đính, chú thích là việc làm hoàn toàn tùy thuộc vào khả năng, kiến thức về luật tạng, nếu không đủ năng khiếu về ngôn ngữ, mà nhất là thứ ngôn ngữ cổ: Phạn, Pàli, Hán th́ khó mà dịch hay hiệu đính cho đúng. Do vậy, làm một công tŕnh thuộc văn học luật, văn hóa Phật, đ̣i hỏi sự thận trọng, tôn trọng lời Phật dạy, nếu không sẽ gây tai hại cho nhiều thế hệ mai sau. Trong khi phiên dịch, những điều sai sót về chữ nghĩa, ngôn từ là điều không phải không có, như trong phần Tự Ngôn, Thầy viết:

“Có nhiều trường hợp căn cứ trên các Phạn bản, chủ yếu là bản Pàli để chỉnh lư những điểm sai sót trong bản Hán do sao chép. Thí dụ, trang 85-1a, bản Hán chép là Bà La Bạt Đề, đây là tên của một cô gái đọc theo Pàli là Sàlavat́, do đó biết rằng Hán đă chép nhầm từ Sa thành Bà vậy từ đúng là Sa La Bạt Đề, thay v́ là Bà La Bạt Đề trong các ấn bản Hán.”

Sự sai sót này đ̣i hỏi người dịch, hiệu chính, chú thích phải thông hiểu thấu đáo ngôn ngữ và kiến thức Phật học, đọc qua nhiều Đại Tạng ngôn ngữ khác nhau để đối chiếu, t́m ra chỗ đúng và chỗ không đúng. Trong khi làm việc này, Thầy xem như không khó lắm, có nghĩa là rất dễ dàng đối với Thầy trên phạm vi ngữ pháp. Thầy viết:

“Mặt khác, những sai sót do sao chép thường nhầm lẫn tự dạng mà Khuy Cơ (Thành duy thức luận thuật kư tự) nói là suyễn phượng ngoa phong, quai ngư mậu lỗ.” Chữ phượng nhầm lẫn với chữ phong, chữ ngư lẫn lộn với chữ lỗ; những trường hợp như vậy rất thường xuyên, và chỉnh lư không khó khăn lắm, tùy thuộc tŕnh độ ngôn ngữ, và tŕnh độ nhận thức giáo nghĩa.”

Việc làm của người nắm vững mực thước, quy củ, Thầy đă nhiều lần thấy tầm quan trọng của giới luật, mà khi xưa một thời chư bậc Tổ đức Thiền gia đă giữ ǵn như giữ tṛng con mắt, không thể khinh suất. Chính v́ vậy mà quư Ngài là chỗ nương tựa của chúng Tăng, là bậc Long Tượng trong rừng thiền, là gốc cây đại thọ ngàn năm rợp bóng cho nhiều thế hệ núp bóng. Những bậc tuyên dương giới luật làm rạng ngời nếp sống phạm hạnh huân tu, măi măi cho đến bây giờ, mỗi khi nh́n lên bàn thờ Tổ, vẫn thấy nét thâm nghiêm thanh tịnh c̣n hiển hiện. Đạo phong trác việt, tánh đức uy nghi như là bài học sống động suốt thời gian chẳng phai mờ. H́nh ảnh của chư vị Kỳ Túc Tổ Sư thờ nơi hậu Tổ như luôn nhắc nhở hàng hậu học, mỗi khi lễ Tổ thỉnh sư hành lễ. Những h́nh ảnh ấy, khi c̣n sanh tiền hay giờ này đă chích lư Tây quy, nhẹ bước về miền tịnh địa th́ cũng vẫn là hương xưa c̣n phảng phất, âm hưởng chẳng bặt tăm. Nghi dung một thời đĩnh đạc trong chốn ṭng lâm, làm tấm gương soi cho hậu thế. Nghĩ đến những tấm gương làu làu sáng rỡ, chẳng chút bụi trần mà Thầy viết lời Tự Ngôn đượm nhuần t́nh tự của kẻ kế thừa, nối gót theo sau:

“Ḥa thượng là một số rất ít trong các Tỳ Kheo tŕ luật của Tăng già Việt Nam, kể từ khi Phật giáo được trùng hưng, Tăng thể được chấn chỉnh và khôi phục. Thế hệ thứ nhất trong phả hệ truyền thừa luật tạng của Tăng già Việt Nam thời trùng hưng hiện đại bao gồm bóng mờ của nhiều bậc Thượng tôn, Trưởng lăo, uy nghi đĩnh đạc nhưng khó h́nh dung rơ nét đối với các thế hệ tiếp bước theo sau. Các Ngài xứng đáng là bậc Long Tượng trong chốn ṭng lâm, mà đời sống phạm hạnh nghiêm túc, phản chiếu giới đức sáng ngời, tịnh như băng tuyết, măi măi ghi dấu trên các nẻo đường hành cước, tham phương, hoằng truyền chánh pháp.”

Bằng tầm nh́n suốt một chặng đường lịch sử hoằng truyền chánh pháp chấn chỉnh tông môn, th́ luật tạng là điều trọng yếu trong công cuộc hoằng truyền và chấn chỉnh, mà dư hưởng một thời của chư bậc Tổ Đức c̣n âm vang làm chất liệu cơ năng cho sự bảo lưu nền văn học luật tạng, Thầy đă đi trên ḍng lịch sử bảo lưu ấy.

Có thể nói, thế hệ của Thầy là điểm gạch nối giữa thế hệ cha ông và thế hệ tử đệ của Thầy. Do vậy, Thầy đă uống được ngụm nước đầu nguồn tươi mát đó mà tưới tẩm vun bồi cho thế hệ kế thừa và nhiều thế hệ sau nữa. Cho nên Thầy phải làm và làm thật nhiều những ǵ cần làm để xây dựng, tạo lập một kho tàng pháp bảo bằng khả năng hiện có của Thầy, ngơ hầu góp phần xây dựng chung cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam ngày thêm vững chắc, trong khả năng hiểu biết của một vị tăng với sứ mệnh phụng sự Đạo pháp và cộng đồng Tăng.

Nhân danh một cá nhân tăng để san bằng tất cả những khúc mắc, gập ghềnh chung và bổ túc những khiếm khuyết nếu có qua công tŕnh biên khảo, dịch thuật của chư vị dịch giả khác. Tâm nguyện phụng sự của Thầy được dàn trải qua các “Lời Tựa, Tự Ngôn, Tiểu Dẫn...”. Trong tập Yết Ma Yếu Chỉ, phần Tiểu Dẫn, Thầy đă tŕnh bày thực trạng của cộng đồng Tăng lữ Việt Nam bị tŕ kéo bởi nhiều thế lực thế tục, mà Tăng già không ư thức trách nhiệm tự tồn sẽ bị vong thân theo những thế lực ấy. Đó là nỗi đau thường hằng và trực diện. Nỗi đau hằn lên tâm khảm thành những vết tích loang lở của thời đại đă xé nát thân thể tăng già Việt Nam. Thầy viết:

“Trong mấy thập niên trở lại, với mặc cảm tự ti của một quốc gia nô lệ, xă hội Việt Nam có xu hướng bứt rễ truyền thống để đua kịp người khác. Các học thuyết triết học phương Tây được mô phỏng một cách vội vă, từ chủ nghĩa Duy Tâm Nhân Vị, cho đến Duy Vật Vô Thần, thật sự đang để lại trên cơ thể Việt Nam những rạn nứt vô cùng đau nhức. Trong bối cảnh xă hội đó chưa thấy cộng đồng Tăng lữ ở quốc gia nào mà chịu nhiều rạn nứt như ở Việt Nam.”

Những thẩm định ấy được xác lập bằng định nghiệp của chính Thầy hay cộng nghiệp chung của cộng đồng dân tộc trong đó có Phật giáo Việt Nam, phải băng vượt qua bao nhiêu thác ghềnh thời đại, bao nhiêu thế lực và tham vọng độc tôn. Đây là bài học xương máu mà cộng đồng Tăng lữ Việt Nam phải chiêm nghiệm.

Dịch Thuật Luận Tạng

Như bao nhiêu Luận sư khác, Thầy đă dịch thành Duy Thức Luận, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận... tất cả những bộ luận này đều được giảng dạy trong các Phật Học Viện, cũng như thời gian Thầy đảm trách vai tṛ Học Vụ tại viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức. Thầy dạy Duy Thức Học, Câu Xá Luận, Nhơn Minh Luận Đại Trí Độ Luận... Tất cả những bộ luận này đều đă ấn hành và là giáo tŕnh cho Tăng Ni sinh. Có thể nói, công tŕnh phiên dịch của Thầy đă đem lại nhiều sự lợi ích và phương tiện cho những ai nghiên tầm kinh Phật, thực tập kinh Phật và tu chứng kinh Phật. Những bản dịch thuật, luận giảng, được Thầy ghi chép đầy đủ xuất xứ, rơ ràng, mạch lạc, cũng như dẫn chứng và chú thích những từ ngữ khó hiểu, kiến văn giảng giải của Thầy khiến cho người đọc say mê thích thú.

Từ phạm trù Kinh, Luật, Luận bước sang lănh vực Thiền học và Triết học, tiêu biểu những tác dịch phẩm: Bộ Thiền Luận của Daisetz Teitaro Suzuki. Thiền và Bát Nhă. Tinh Hoa Triết Học Phật giáo. Triết Học về Tánh Không. Đại Cương Thiền Quán... Những tác phẩm này, tư tưởng chính là Thiền, Bát Nhă và Tánh Không.

Thiền học, Thầy tiếp tục dịch bộ Thiền Luận của cụ Trúc Thiên mới dịch được quyển thượng, nhưng trước khi quyết định dịch giáo nghĩa Thiền, Thầy nói môn đó không phải là sở trường của Thầy và trong các tác phẩm, Thầy như không muốn chạm vào phong thái Thiền. Nhưng qua bộ Thiền Luận tập II và III mọi người đă thấy được khả năng dịch thuật sâu sắc, phong phú của Thầy, và chẳng phải là việc làm của tay trái, dù lúc đó Thầy mới khoảng 27 tuổi. Thiền Luận tập II, phần I, Một Kinh Nghiện Siêu Việt Tri Kiến, trang 56, Thầy dịch:

“Này, tâm của ngươi đă được an rồi đó”. Bồ Đề Đạt Ma xác nhận “Sự xác nhận về phía Tổ Sư đă làm sáng mắt Huệ Khả. Đại Huệ lại nhận xét: “Như rồng lặn xuống nước, như cọp tựa vào đá. Ngay giây phút này, Huệ Khả không thấy có Tổ Sư ở trước mặt, không có tuyết, không có cái tâm rong ruổi theo vật, không có cả sự chứng ngộ mà tâm Ngài sở đắc. Tất cả đều tan biến khỏi tâm thức của Ngài, tất cả đều không.”

Ấy là sự lịch nghiệm Thiền bặt dứt ngôn ngữ, văn tự đi thẳng vào ḷng người để kiến tánh thành Phật. Bởi v́ tất cả là không, th́ có ǵ để hỏi và đáp. C̣n có ǵ để mê và ngộ. C̣n có ǵ giữa ngă và ngă sở, trong giây phút đó, Huệ Khả đă đổi đời từ hố thẳm của sự chết chuyển thành sự sống bất diệt.

Cũng trong phần Tu Tập Công Án, Phương Tiện Chứng Ngộ, Thiền Luận II, trang 59, chúng ta thấy sự biểu tỏ của trực tính Thiền, như gơ vào vách đá tạo thành tiếng vang, gặp bậc Thánh giả mê vọng sớm trừ, chỉ c̣n thuần lại chất liệu giác ngộ. Như Ngài Huệ Năng gánh củi bán dạo, nhân nghe được câu kinh Kim Cương: “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” mà quyết định đi t́m Ngũ Tổ để học Thiền. Sau khi đến núi Hoằng Mai để gặp Tổ Hoằng Nhẫn, Tổ hỏi:

“Nhà ngươi ở đâu đến? Đến đây để làm ǵ?”

“Tôi là tên quê mùa ở Tân Châu đến, muốn làm Phật.”

Tổ nói:

“Vậy ra ngươi từ Lĩnh Nam tới, nhưng người phương Nam không có Phật tính, sao nhà ngươi lại mong thành Phật được?”

Tổ Huệ Năng đối lời:

“Người có Nam Bắc, nhưng Phật tính đâu có phân biệt Bắc Nam?”

Bát Nhă, một bộ kinh dày 600 quyển, nhưng rút gọn lại chỉ c̣n 270 chữ, tính luôn đề kinh, nhiệm mầu, siêu việt trên mọi tự tính. Thầy đă chứng minh sự nhiệm mầu ấy trong cuốn Thiền và Bát Nhă, phần dẫn vào kinh văn Bát Nhă do Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức, Ban Tu Thư Phật Học ấn hành năm 2004, trang 11, như sau:

“Mạc hạ diên, mà phương Tây gọi là sa mạc Gobi, sách xưa gọi là Sa Hà, một băi cát mênh mông dài trên 800 dặm, nối liền hai nền văn minh tối cổ của nhân loại, trên không chim bay, dưới không thú chạy, cỏ không, nước cũng không, Huyền Trang một ḿnh một bóng đă vượt qua khỏi đoạn đường đầy kinh sợ và thường xuyên làm nản ḷng những người kiên cường nhất, duy chỉ bằng vào lời kinh “Ma ha Bát Nhă ba la mật đa tâm kinh“

Ấy là năng lực hiệu nghiệm của kinh, là sự gia tŕ của Bồ Tát khi ḷng ḿnh thanh tịnh, hay quán thấy thật tướng của các pháp là không, không có thật thể, mà vượt qua tất cả khổ nạn, như lời kinh thường tụng đọc: “... Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách... Bồ Tát y Bát Nhă ba la mật đa cố tâm vô quái ngại. Vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng...”

Tư tưởng Bát Nhă, trí tuệ vô lậu là nhân tố đủ để làm thành con đường chuyển tải sự giác ngộ, là chiếc bè đưa người qua ḍng bộc lưu, ḍng nước xoáy của sông sinh tử. Bát Nhă là điều kiện duy nhất để con người thành Phật, dù con người trải qua bao nhiêu chặng đường sinh tử. Nhưng một khi trí Bát Nhă bừng dậy đốt cháy vô minh, dập tắt phiền năo th́ con đường giác ngộ là đấy. Do vậy, Bát Nhă là Mẹ của chư Phật và Bồ Tát.

“Nói rằng Bát Nhă là nguyên lư chỉ đạo của các Ba La Mật ấy là v́ các nhà Đại Thừa quan niệm nó cấu thành nhất thiết trí (Sarvajnătà). Tức là, trí tuệ viên măn mà bậc toàn trí đă thành tựu. Do đó, Bát Nhă là ánh sáng rọi khắp mà chúng ta phải chiêm ngưỡng. Nó đứng trên tất cả ảnh hưởng ô nhiễm của các vật thể trần gian. Nó soi sáng tất cả bóng tối trong thế giới đối đăi nhị nguyên, và do đó mang lại thanh b́nh và an ổn cho mọi loài. Nó cung cấp ánh sáng cho người mù, nhờ đó y có thể yên lành đi xuyên qua đêm tối của vô minh. Nó dẫn những người lạc lối trở về con đường chính. Nó vén mở cho chúng ta thấy chân lư của vạn hữu, và chân lư đó là Nhất Thiết Trí (Sarvajnătà). Nó là nơi nương tựa của mọi loài, khiến chúng hoàn toàn không sợ hăi, là người có năm con mắt soi rơ trọn cả thế gian. Là chân lư vượt lên sống và chết, vượt lên tất cả mọi tạo tác và khát ái mà chính là tính Không. Là kho lẫm của hết thảy mọi chân lư (dharmakosa). Là Mẹ của hết thảy chư Phật và Bồ Tát.”

Tánh Không từ Thiền Bát Nhă, chúng ta bước sang Triết Học và Tánh Không, hai phương trời lồng lộng tư tưởng giải thoát. Từ tư tưởng giải thoát, giác ngộ này đă phá đổ tất cả những điều sai biệt nhị biên của thế tục, để dựng thành một thế giới trang nghiêm đạo quả Bồ Tát. Từ nền Triết học Tánh Không và Bát Nhă này, người học Phật không thể không có cái nh́n, cái suy tư nghiêm túc là giữa cuộc đời trần gian nhiều mộng ảo, huyễn tướng là nơi sinh trụ của Bồ Tát, của những tâm hồn Đại sỹ. Triết học và Tánh Không là cái học cao siêu, cái học thực thể về tính chất không thật của sự vật. Tính chất không thật này được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ Triết lư Phật giáo. Vậy th́, Bát Nhă và Tánh Không cùng gặp nhau ở một điểm là san bằng mọi nếp suy tư, tưởng và không tưởng; thật và không thật, hay bất cứ cái có thể diễn đạt hay không nói thành lời. Chân trời của Bát Nhă và Tánh Không không vướng vấp, và đọc qua những ngôn từ của thế tục đế, qua lằn vết, biên giới của tâm tư, Bát Nhă và Tánh Không vượt thoát con đường tục đế nhưng hàm tàng và hiện hữu khắp mọi thời, mọi chốn.

Chúng ta đọc Thiền, Bát Nhă và Tánh Không là làm một hành tŕnh quay về nguồn để đối diện với cái chân như uyên nguyên vô sinh, bất diệt, mà từ vô thủy cho đến nay, người và chúng ta măi lặn lội, ṃ mẫm trong đêm trường sinh tử theo ḍng thác lũ, cuồng thức. Thầy viết trong Thiền và Bát Nhă, trang 198, như sau:

“... Cái cày nằm trong đôi tay, nhưng cày đất lại bằng tay không. Ngồi trên lưng ngựa, nhưng trên yên lại không kỵ sĩ, dưới yên không kỵ mă. Bước qua cầu nước không chảy mà cầu trôi. Thanh văn vẫn c̣n “bên này”, dù đă chứng đạo, cho nên sự chứng đạo đó lại khác hẳn với kinh nghiệm của ḿnh. Ư niệm đích thực về Tánh Không đang cản trở sự sống thực của ḿnh. Với Bồ Tát th́ Tánh Không không c̣n là Tánh Không, Bồ Tát sống thực đời sống ḿnh không bị phân vân giữa cái không hay Bất không, giữa Niết Bàn và sinh tử, giữa giác ngộ và vô minh. Cái đó Bát Nhă nói là “ở trong Không tam ma địa mà không thủ chứng thực tế”. Và đấy là một trong những thái độ đặc sắc nhất của Bồ Tát đối với cơi đời.”

Từ đây, chúng ta thấy đạo Phật hiện hữu trong thế gian, xây dựng cho thế gian một nếp sống tịnh lạc, an lành, không ĺa khỏi thế gian để t́m cầu giác ngộ. Bồ Tát không chối bỏ chúng sinh, để t́m hạnh phúc cho riêng ḿnh. Bồ Tát sống ngay giữa ḷng đời tử sinh để độ thoát tử sinh, chúng ta hăy tu học theo bài kệ:

Phật pháp tại thế gian

Bất ly thế gian giác

Ly thế mích Bồ đề

Do như cầu thố giác

Dịch:

Phật pháp ở nơi thế gian này

Chẳng ĺa khỏi thế gian để cầu giác ngộ

Ĺa khỏi thế gian để tu chứng giác ngộ

Giống như đi t́m lông rùa sừng thỏ

 

Các Chủ Đề Đạo Học và Triết Học Đông Tây.

Ngoài công tŕnh dịch thuật, trước tác, Thầy c̣n viết những loạt bài chuyên đề về tư tưởng Phật Học, Triết học Đông Tây. Những nhận định, quan điểm... lúc c̣n là Giáo sư Đại học Vạn Hạnh và Tổng Biên Tập tạp chí Tư Tưởng. Những bài viết về các chủ đề này một phần đă đăng trong tạp chí Tư Tưởng Vạn Hạnh, một phần đăng rải rác trên các báo chí, tập san, hay trên các trang báo điện tử: trang nhà Phật Việt, Quảng Đức, Pháp Vân... Qua những bài viết này, một số lấy tên là Như Thị, như bài: Cogito Bát Nhă Dưới Ánh Sáng Hiện Tượng Luận. Tạp chí Vạn Hạnh số 8 và 9, kỷ niệm Phật đản, Phật lịch 2510, trang 114. So Sánh Các Vấn Đề Triết Học Đông Tây Cogito Trong Triết Học Phật Giáo, tạp chí Vạn Hạnh số 1, kỷ niệm Phật đản, Phật lịch 2500, trang 49, v.v...

Những chủ đề như trên, Thầy viết khá nhiều, người viết xin giới thiệu một số tiêu biểu:

Lệ Ngôn.

“Cogito là một danh từ La Tinh có nghĩa là “tôi suy tưởng” rút trong nguyên lư triết học của Descarts “Cogito ergo sum: tôi suy tưởng vậy có tôi” (ji peuse je suis). Theo Decarts th́ đó là một chân lư hiển nhiên sau khi ông đă hoài nghi phủ nhận sự hiện hữu của mọi sự vật trong vũ trụ. Vậy Cogito chỉ là một thể nghiệm về sự hiện hữu của chủ thể, với trí thức trực giác về hữu thể của chủ thể ấy.

Sau này Husserl, Sartre, Heidegger lần lượt theo Descarts suy nghiệm về bản thể của tri thức và đem lại cho danh từ Cogito những nội dung khác nhau. Do đó, chúng tôi cũng có ư mượn danh từ Cogito đặt làm một đề mục cho sự nghiên cứu bản thể tri thức siêu nghiệm của Đức Phật, trong loạt bài So Sánh Triết Học Đông Tây của chúng tôi.” (Tư Tưởng Vạn Hạnh, quyển 1, Kỷ Niệm Phật Đản Phật lịch 2509, trang 49)

Thi Ca, Nền Văn Học Hiện Đại.

Nói đến thơ của Thầy, hầu như ai cũng biết tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn và Ngục Trung Mị Ngữ. Ngoài hai tập thơ này c̣n có các thơ khác qua nhiều dạng thức, được đăng trên các tạp chí, đặc san từ trong nước đến hải ngoại. Nhiều bài trong Tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn đă được phổ nhạc và đă được các ca nghệ sĩ ngâm, hát thơ Thầy.

Những ư thơ của Thầy đă tạo nhiều ấn tượng cho giới thưởng ngoạn, những h́nh ảnh thâm trầm của quê hương dân tộc, những t́nh tự và ước nguyện muôn trùng của “cuộc lữ”, phương trời mộng. Đọc thơ Thầy, để thấy tâm hồn của người nghệ sỹ, thi sỹ hay đọc thơ Thầy để cảm nhận, chia sẻ tâm thức của kẻ sỹ luôn hướng về đất nước bị đọa đày? Một đất nước đói nghèo đầy tủi nhục, một dân tộc lầm than khốn cùng, và ư chí ấy đứng thẳng để thấy quê hương và dân tộc Việt hào hùng trong ư thức tự tồn, độc lập. Thơ của Thầy mang nhiều cảm tính dạt dào t́nh người, t́nh đạo, t́nh non sông gấm vóc. Một t́nh cảm chân thật mà suốt ḍng lịch sử quê hương c̣n mênh mang trong ư thơ mượt mà, hùng tráng:

Người đi đâu bóng h́nh ṃn mỏi

Nẻo tới lui c̣n dấu nhạt mờ

Đường lịch sử

Bốn ngàn năm dợn sóng

Để người đi không hẹn bến bờ

(Tĩnh Thất 24, 2000-2001)

Hay:

Tiếng trẻ khóc ngân vang lời vĩnh cửu

Từ nguyên sơ sông máu thắm đồng xanh

Tôi là cỏ trôi theo ḍng thiên cổ

Nghe lời ru nhớ măi buổi b́nh minh

 

Buổi vô thủy hồn tôi từ đáy mộ

Uống sương khuya t́m sinh lộ viễn tŕnh

Khi nắng sớm hôn nồng lên nụ nhỏ

Tôi yêu ai, trời rực sáng b́nh ḿnh.

(B́nh Minh - Tĩnh Tọa,  tháng 9-1983)

 

Tiếp theo Giấc Mơ Trường Sơn là Ngục Trung Mị Ngữ, tập thơ làm trong thời gian ở tù bằng chữ Hán. Đọc Ngục Trung Mị Ngữ để thấy được tinh thần an nhiên tự tại của Thầy dẫu là những bài thơ trong lúc ở tù. Một tâm hồn thư thái nhẹ như mây và thong dong như gió, nhưng đầy ắp ḷng thương yêu trần gian khổ lụy, đầy huyết lệ tuôn trào, mỗi khi bưng bát cơm tù. Từ những bi hoan của cuộc sống tù đày ấy, Thầy đă viết thành những lời thơ nói lên tâm cảm của ḿnh, qua bài Cúng Dường:

“Phụng thử ngục tù phạn

Cúng dường Tối Thắng Tôn

Thế gian trường huyết hận

Bỉnh bát lệ vô ngôn.”

Dịch:

“Đây bát cơm tù con kính dâng

Cúng dường Đức Phật Đấng Tôn Thân

Thế gian ch́m đắm trong máu lửa

Lệ nhỏ không lời, ḷng xót thương”

 



Từ trái sang: HT Trí Chơn, HT Chơn Thành & TT Nguyên Siêu
H́nh ảnh buổi giới thiệu tác phẩm
Huyền Thoại Duy Ma Cật của Thượng tọa Tuệ Sỹ tại Santa Ana, ngày 11 tháng 8-2007

H́nh ảnh buổi giới thiệu tác phẩm
Huyền Thoại Duy Ma Cật của Thượng tọa Tuệ Sỹ tại Santa Ana, ngày 11 tháng 8-2007

 

 

Ngoài ra c̣n có những bài thơ mà không ở trong hai tập nói trên, như bài Tiểu Khúc Phật Đản, Những Điệp Khúc Cho Dương Cầm... Thầy đă viết:

“Sườn non một bóng đạo già

Trầm tư năm tháng bên bờ tử sinh

Nh́n sao mà ngỏ sự t́nh:

Ai người Đại Giác cho ḿmh quy y?”

 

Để rồi từ đó, Thầy gởi gấm ḷng ḿnh qua ư thơ: Cuộc sống quá nhiều khổ đau, con người cứ măi lang thang trên những bước đường sinh tử trầm luân, mà chẳng biết khi nào được thoát khỏi ṿng quanh quẩn ấy:

“Thời gian vỗ cánh ngang đầu;

Sinh, già, bệnh, chết tránh đâu vận cùng

Khổ đau là khối t́nh chung

Ai nâng cơi thế qua bùn tử sinh?”

 

Đọc xong hai tập thơ Giấc Mơ Trường Sơn và Ngục Trung Mị Ngữ cũng như một số các bài thơ khác, chúng ta không thể không nghĩ đến tác phẩm “Tô Đông Pha, Những Phương Trời Viễn Mộng” mà Thầy đă dịch giảng lời thơ văn bay bổng, chơi vơi. Người viết xin được trích một đoạn trong “Tô Đông Pha, Những Phương Trời Viễn Mộng”, trang 240, để giới thiệu tác phẩm tầm cỡ của nền văn học, thi ca hiện đại của Thầy:

“... Giang Sơn như họa

Một thời hào kiệt anh hùng”

 

“Ngọc đường Kim mă bỗng vang lên những tiếng gào thét đoạn trường. Chim hồng giật ḿnh tung cánh bay cao. Biết nơi nào là cố quận, nơi nào là tha hương để chim hồng đậu lại.

Trạch tận hàn chi bất khẳng thê

Tịch mịch sa châu lănh

 

Đường ra đi, qua trăng ngàn, qua gió băi, mây vần vũ, núi non sụp xuống, nắng chiều đỏ như máu. Đau khổ, kinh hoàng nên kêu réo, nên ngậm ngùi và uất hận.

Sơn ức Hỉ hoan lao viễn mộng

Địa danh Hoàng Khủng khấp cô thần.

 

Đất khách là mười tám cái ghềnh thác kinh hoàng đổ xuống, nước mắt của một lăo thần cô quạnh cũng đổ xuống. Nhưng đất đó đọa đày thân xác mà không đọa đày viễn mộng. Quê hương với ân t́nh thắm thiết kia mới thực là đọa đày viễn mộng.

Núi nhớ Hỉ hoan đọa đày viễn mộng

Đất tên Hoàng Khủng lệ khóc cô thần”

 

Tất cả những ǵ được giới thiệu hết sức tiêu biểu công tŕnh học thuật, thi ca của Thầy, chỉ là tiếng nói của cảm nghĩ sâu xa, tồn đọng nơi người học tṛ qua bao thập niên, lănh thọ từ sự giáo huấn, tài bồi ân đức của bậc Thầy trong sự truyền đạt, nuôi dưỡng thế hệ con em. Do vậy, không sao tránh khỏi những điều khiếm khuyết. Kính mong Thầy từ bi lượng thứ, cũng như chư vị Thức giả cao minh vui ḷng chỉ giáo.

 

Buổi giới thiệu tác phẩm Huyền Thoại Duy Ma Cật của Thượng tọa Tuệ Sỹ tại Santa Ana, ngày 11 tháng 8-2007

Thích Nguyên Siêu

 

 

---o0o---

Tŕnh bày: Phổ Trí

Cập nhật: 01-09-2007

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>