categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

 

 

NGUYỄN DU

ĐĂ CHỊU ẢNH HƯỞNG PHẬT GIÁO NHƯ THẾ NÀO?*

 

ĐẠI LĂN

 

Viết về cụ Nguyễn Du mà chúng ta không nói đến ḷng thương vô hạn của cụ đối với chính ḿnh đối với tha nhân, đối với xă hội th́ đó là một vấn đề thiếu sót; viết về Nguyễn Du mà không nói đến Phật giáo th́ đó cũng là một thiếu sót quang trọng, v́ toàn bộ sự nghiệp văn thơ của cụ đều phát xuất từ hai quan điểm này để từ đó cụ gởi gắm tâm sự của cụ lại cho người hậu thế. V́ vậy cho nên khi nghiên cứu về văn thơ của cụ th́ bắt buộc chúng ta phải biết về nhân sinh của chính cụ và qua quan niệm khổ của Phật giáo. Theo giáo lư của đức Đạo sư th́ nền tảng căn bản của việc học Phật được đặt trên ba học Giới-Định-Tuệ, cho nên Thiền định được coi như là một pháp môn tu học chung cho cả hai thừa Đại và Tiểu trong việc hoàn thiện ba nghiệp thâ-khẩu-ư thanh tịnh để chấm dứt khổ đau mà đức Đạo sư đă căn cứ vào những hiện tượng duyên khởi-hiện hữu-vô thường-biến dịch của nhân sinh và vũ trụ mà xác nhận rằng: “Thế gian là giả tạm, bất toàn, trống rỗng, là đau khổ”. Ngay đến những trạng thái mà người đời cho rằng hạnh phúc an vui cũng luôn bị luật vô thường chi phối nên chúng chỉ là những trạng thái có được giả tạm không thật hữu, nên chúng cũng thuộc về đau khổ. Do đó, đau khổ bao gồm tất cả mọi ư nghĩa được quan niệm có được phát xuất từ ba phương diện: Khổ-khổ (Dukkha-dukkha), hoại-khổ (viparināma-dukkha), và hành-khổ (samkhāra-dukkha) [ba phương diện này chúng tôi đă giải thích phẩn dẫn nhập], bằng vào giải thoát khổ đau do ba nghiệp sinh ra, khi hành giả đạt được giải thoát hoàn toàn khổ đau th́ tự nhiên an lạc hạnh phúc hiển bày.

Và theo cái học của Thiền th́ gồm có: Thiền Thế gian, và Thiền Tiểu thừa - Thiền Đại thừa (Như lai Thiền) cuối cùng là Thiền của Tối thượng thừa (Tổ sư Thiền). Ba loại Thiền trước được y cứ vào văn tự của kinh điển để học và thực tập, nhưng riêng Tối thượng thừa Thiền th́ không y cứ vào văn tự của kinh điển thông thường mà chỉ tạm mượn những kinh nào khế họp với căn cơ bén nhạy tạo ra những nghi t́nh bất hợp lư đối với thế trí biện thông của thế gian, cộng với những duyên sống để khai mở những vướng mắc của vô minh khổ đau cho hành giả mà thôi, nên Tổ sư Bồ-đề Đạt-ma đă chủ trương “Dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn tự.[1]”  Ở đây Nguyễn Du tiên sinh cũng đă từng học Thiền và thực tập thiền qua kinh Kim cương (một quyển Kinh mà Thiền tông Trung hoa mượn làm duyên, để y cứ cho những người mới bước chân vào Tối thượng thừa Thiền thực tập của Hoàng Mai ngũ tổ và, cũng nhờ Kinh Kim cương mà Tổ Huệ Năng thành vị tổ sư thứ sáu của Thiền tông Trung hoa[2]. Nhưng v́ sao tiên sinh đă từng thực tập Thiền bằng cách độc tụng tư duy về kinh Kim cương hàng ngh́n lần mà cũng vẫn chưa ngộ được chỗ rốt ráo của kinh, trong khi chỉ qua cái nh́n lại “dưới chân đài phân kinh” của Thái tử Lương Chiêu Minh xưa kia c̣n để lại, th́ ngộ ra được cái bổn lai diện mục rốt ráo của Kinh Kim Cương chính “Vô Tự” thị chân kinh (Tối thượng thừa Thiền)? Thật ra ở đây cụ Tiên Điền, nếu trước đó đă không độc tụng hàng ngh́n lần kinh Kim Cương th́ chưa chắc qua cái nh́n đó cụ có thể ngộ ra được chỗ rốt ráo của kinh được! Nhưng chính nhờ đă huân tập hàng ngh́n lần về nghi t́nh “Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm, 應無所住而生其心[3] (nên sinh tâm ḿnh vào nơi không có chỗ trụ). Vậy nơi nào là nơi không có chỗ trụ? Đây chính là cái nghi t́nh được tạo ra bỡi thiền Công Án hay Tham Thoại Đầu của Tổ sư Thiền mà cụ đă được huân tập kinh qua đến mức vừa đầy; bây giờ chỉ cần giọt nước cuối cùng đổ vào nghi t́nh đó th́ cái nghi t́nh đó sẽ bùng vỡ. Ở đây chính cái nh́n lại “Dưới chân đài phân kinh” là giọt nước cuối cùng để Tiên sinh ngộ ra được “Vô tự” chính là chân kinh, cũng chính là không chỗ trụ. Giờ đây đích thị Nguyễn Du tiên sinh đă trở thành một Thiền sư. Nhưng trước khi để trở thành một Thiền sư th́ Nguyễn Du tiên sinh trước đó cụ đă kinh qua những năm tháng dài độc tụng tư duy, nghiền ngẫm về kinh Kim Cương, và trước đó nữa tuy chúng ta không biết được cụ đă học tập những kinh sách nào được ghi lại qua văn thơ, nhưng qua tư tưởng Phật giáo, mà cụ đă thể hiện trong văn thơ để lại ngoài truyện Kiều ra, cho chúng ta thấy rằng Phật giáo Tiểu thừa đă ăn sâu vào trong tiềm thức của cụ qua nhân quả báo ứng của mỗi cá thể được thay thế bỡi mệnh Trời, thể hiện tư tưởng nhân duyên sống của nhân sinh, qua đó chúng bị luật vô thường luôn chi phối đổi thay. Mệnh Trời ở trong truyện Kiều chỉ là một tiền đề được cụ nêu lên để đại diện cho một quan niệm của Nho giáo, bằng vào nhân bản tính qua tác nhân tạo nghiệp của con người theo luật tắc nhân quả báo ứng của Phật giáo mà phủ định đi tính siêu h́nh Định mệnh hay Thiên mệnh của Nho giáo, điều này nếu không muốn nói là điều sai lầm của Nho giáo mà cụ nh́n ra được. (việc này chúng tôi sẽ bàn kỹ qua nghiên cứu truyện Kiều).

 

1/ NGUYỄN DU VÀ CUỘC ĐỜI.

 

Qua tiểu sử của cụ, ngoại trừ mười năm của thời thơ ấu an ổn sống trong ṿng tay của mẹ và gia đ́nh tại Thăng Long và quê nhà Tiên Điền, Hà Tĩnh; nhưng sau đó những biến cố cứ măi dồn dập đổ lên đầu cậu bé Nguyễn Du: mười tuổi cha mất, mười hai tuổi mẹ lại qua đời không ǵ bất hạnh và đoạn trường hơn là làm đứa trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ vào cái tuổi đang c̣n ham chơi, đang cần chỗ nương tựa … và cũng từ đó bắt đầu cụ nếm mùi thăng trầm khổ ải  tủi nhục trong nương nhờ ở tạm từ nơi này qua nơi khác và, cũng luôn tùy thuộc vào sự thăng trầm của những người thân. Việc đổi thay triều đại, việc lên voi xuống chó chỉ trong tích tắc và, những hậu quả đầy khổ đau tất yếu theo sau qua chánh báo (cá nhân) cùng y báo (gia đ́nh-xă hội), đă nói lên được tính vô thường khổ đau luôn hiện hữu qua cuộc sống nhân sinh và riêng cá nhân cụ. Hơn bốn mươi ba năm c̣n lại trên cơi đời, trong khoảng thời gian này, nhất là mười năm giang hồ cát bụi, sống xa mái ấm gia đ́nh lúc nào cụ cũng mang một nỗi buồn đau rộng lớn, thương ḿnh, thương những người thân, thương cho những đồng loại phải chịu đày đọa khổ cực. Cửa nhà tan nát đổi thay trong kiếp người bên cạnh những đổi thay của ngoại cảnh thiên nhiên, thời thế loạn lạc chia ly, kế sinh nhai mịt mờ phía trước, thân phận ăn đậu ở nhờ tủi cực khôn nguôi, nỗi lo lắng luôn dằn vặt trong nếp tư duy suy nghĩ, đến nỗi mới ba mươi tuổi trên đầu mà tóc trắng bạc phơ, tư tưởng muốn sống nơi vắng vẻ vô sự cũng bắt đầu xuất hiện:

 

 “… Hà năng lạc phát quy lâm khứ,

Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân.”

          

           

(Tự thán II)**

Dich:

… Làm sao xuống tóc về rừng ẩn,

Nằm nghe tùng hát gió đưa mây.”

 

Tư tưởng muốn xuống tóc vào rừng ở ẩn làm một người vô sự trước cuộc sống là một dấu hiệu tự quy hướng vế chính ḿnh để dọn đường cho việc nghiên cứu Phật pháp và thực hành độc kinh Phật, trở thành một hành giả tu tập thiền sau này của cụ. Tư tưởng này xuất hiện trong khoảng thời gian mười năm lưu lạc giang hồ cát bụi đă h́nh thành qua những kinh nghiệm sống, kinh qua trong những đắng cay khổ nhục của cuộc sống lưu đày rày đây mai đó của một thân lữ thứ trên quê hương rộng mà không có nhà, có thể đây là thời gian từ năm 1786-1795. Sau mười năm lưu lạc giang hồ cụ đă trở về sống với núi rừng dưới chân núi Hồng Lĩnh bên ḍng Lam giang và, cuối cùng cũng không tránh được phải ra làm quan với một thái độ bất đắc dĩ, để từ đó cụ ghi lại cuộc đời ḿnh qua những vần thơ chữ Hán đầy thương đau và buồn chán, nghiệt ngă cho chính ḿnh và tha nhân cùng xă hội. Những h́nh ảnh cụ ghi lại qua thơ văn không ngoài cái quan niệm vô thường-khổ-không của Phật giáo như trên chúng tôi đă tŕnh bày đối với cuộc đời qua khổ-khổ, hoại khổ, hành khổ, đầy ngậm ngùi đớn đau, đầy xúc động trong một cái nh́n sâu xa từ hiện tượng đến bản chất của chúng. Cái nh́n tận căn đẽ này chính là cái nh́n chánh kiến của Phật giáo, từ mê qua ngộ. Khi là mê th́ các pháp trở thành pháp thế gian, pháp hữu lậu, pháp khổ đau; c̣n khi chúng ta ngộ ra rồi th́ các pháp này trở thành pháp xuất thế gian, pháp vô lậu, pháp an vui giải thoát.

Từ một cậu bé tuổi vừa lên năm đă theo gia đ́nh về quê nội tại Tiên Điền, Nghi Xuân, Hà Tĩnh dưới núi Hồng Lĩnh, cạnh sông Lam, khi cha ḿnh cáo lăo từ quan về quê vào năm Tân măo 1771[4]. Đây là dấu hiệu mở màn của bước chân đầu cho những bước phong trần khổ ải sau này của cụ. Sau khi cậu bé Nguyễn Du theo cha và gia đ́nh về quê th́, năm năm sau người cha mất đi và, tiếp hai năm nữa là mất luôn cả người mẹ thân yêu. Bây giờ cậu bé Nguyễn Du thật sự đă trở thành trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ; mới mười hai tuổi đầu mà cậu bé phải chịu một nỗi mất mát đớn đau đoạn trường đến thế th́ cuộc đời của cậu sẽ ra sao sau này? Đây là những kí ức được Nguyễn Du tiên sinh ghi lại khi nhớ lại ngày mới bước chân về lại làng quê nội trên bến Giang Đ́nh cùng cha ḿnh và gia đ́nh, trong đó có cậu bé Nguyễn Du lúc 5 tuổi và, từ đó cho đến những năm biến động sau này cho cả gia đ́nh và cá nhân cậu bé. Những h́nh ảnh đó và những biến động trong cuộc sống của gia đ́nh sau này được cụ ghi lại một cách tổng quát, nhưng chúng nói lên được cái quan niệm vô thường-khổ đau của đạo Phật luôn hiện hữu trong cuộc sống và, chính cụ là người đă trải qua và kinh nghiệm trong cuộc sống của chính ḿnh, của gia đ́nh, của xă hội qua bài thơ Giang Đ́nh hữu cảm:

 

“Ức tích ngô ông tạ lăo th́,

Phiêu phiêu bồ tứ thử giang mi.

Tiên chu kích thủy thần long đấu,

Bảo cái phù không thụy hạc phi.

Nhất tự y thường vô mịch xứ,

Lưỡng đê yên thảo bất thăng bi.

Bách niên đa thiểu thương tâm sự,

Cận nhật trường an đại dĩ phi.[5]

           

           

           

           

           

           

           

           

(Giang Đ́nh hữu cảm)

Dịch:

Nhớ lúc xưa, cha ta cáo lăo,

Tấp nập ngựa xe bến sông này.

Thuyền tiên rẽ nước rồng giao đấu,

Lọng quư trên không hạc gieo lành.

Từ khi xiêm áo không t́m thấy,

Khói cỏ đôi bờ chịu bi thương.

Cận nhật kinh thành nhiều khác lạ,

Trăm năm nhiều ít chuyện thương tâm!

 

Qua bài thơ này Nguyễn Du tiên sinh đă ghi lại những kí ức những cảnh tượng đă xảy ra khi cha cáo lăo từ quan về làng, khi ḿnh c̣n là một cậu bé vừa lên năm nào ngựa xe trên bến dưới thuyền, cờ lọng quư che phủ rợp trời cho đến khi áo xiêm lộng lẫy không c̣n t́m thấy nữa và, những biến động gia đ́nh xảy ra sau đó; mọi việc vô thường đều đổi thay một cách nhanh chóng, từ h́nh thức trạng thái tâm lư này đổi sang hính thức trạng thái tâm lư khác. Ngay đến khói cỏ bên đôi bờ đê không c̣n xanh nữa mà đă theo ḷng người bi thương không kém và, những biến động khác thường nơi kinh đô cũng thay đổi. Ḷng người thay đổi, thế sự đổi thay. Từ những thay đổi này: nếu là ĺa xa những người chúng ta thương yêu quí mến như cha mẹ, anh chị em, bà con quyến thuộc bạn bè , những hoàn cảnh yêu thích của ta (thuộc về ái biệt ly); cùng những ǵ mà chúng ta mong muốn đạt được: như mong cùng chung sống với nhau, không chia ĺa ngăn cách, nhưng chúng không thuận t́nh với mong ước của chúng ta (thuộc về cầu bất đắc) th́, tất cả những điều đó mang đến cho cá nhân Nguyễn Du tiên sinh và cả cho chúng ta những đều đau khổ thương tâm hết.

Trên là những nét chấm phá về cuộc đời long đong ch́m nổi khổ đau mà Nguyễn Du tiên sinh đă kinh qua và nh́n thấy ngay trong cuộc sống của chính ḿnh và tha nhơn trong xă hội. Trước hết cá nhân tiên sinh đối với với gia đ́nh anh em họ hàng thân thích và, nơi quê hương cố chủ; v́ biến cố gia đ́nh: cha mẹ mất sớm sau đó mang đến t́nh trạng gia đ́nh ly tán, thậm chí đến nơi ở cũng không c̣n nữa. Ngay bản thân của Nguyễn Du tiên sinh phải cậy nhờ vào anh em cùng những thân nhân khác mà sống lay lất qua ngày. Thời gian ly tán này (ái biệt ly) là một thời gian tạo ra những biến động về tâm lư cho cậu bé Nguyễn Du, một cảm thức đau khổ về nỗi chia ly và một mặc cảm ăn nhờ ở đậu sinh ra đau buồn và hận cho chính thân ḿnh không làm ǵ được trong khi đầu đă bạc mà thời gian cứ qua đi:

 

“… Hồng Lĩnh vô gia huynh đệ tán,

Bạch đầu đa hận tuế thời thiên …”

           

           

(Quỳnh Hải nguyên tiêu)[6]

Dịch:

… Hồng Lĩnh không nhà anh em vắng,

Bạc đầu hận lắm tháng năm qua…

hay:

“ … Cố hương đệ muội âm hao tuyệt,

Bất kiến b́nh an nhất chỉ thư.”

           

           

(Sơn cư mạn hứng)**

Dịch:

… Đệ muội quê nhà bặt âm tín,

Thư báo b́nh an chẳng thấy nào! 

 

Từ ly tán cửa nhà, anh em mỗi người mỗi ngả theo sự thăng trầm của chánh báo và y báo, v́ vậy tin tức quê nhà và cả anh em cũng bặt vô âm tín. Đây là một thứ t́nh cảm mong muốn được tin nhau, được gặp lại nhau mà không được nên mang bộ mặt “Cầu bất đắc”, th́ sẽ sinh ra khổ đau, từ đó:

 

“ … Nhất phiến hương tâm thiềm ảnh hạ,

Kinh niên biệt lệ nhạn thinh sơ…”

           

           

(Sơn cư mạn hứng)**

Dịch:

… Bao năm lệ biệt đầu tiếng nhạn

Một tấm ḷng quê nhớ dưới trăng…

Hay:

“ … Ky lữ đa niên đăng hạ lệ,

Gia hương thiên lư nguyệt trung tâm…”

           

           

(Xuân dạ)**

Dịch:

… Bao năm làm khách đèn chong lệ,

Ngh́n dặm quê nhà trăng dơi tâm …

 

Lệ nhỏ dưới đèn, dưới trăng biểu hiện cho h́nh ảnh cụ Nguyễn Du đang là người lữ khách sống nương nơi quê người, một thân một ḿnh cô độc vào những lúc nhớ nhà, nhớ quê, nhớ người thân mà không được toại nguyện trong việc gặp lại nên phải âm thầm chịu đựng nỗi dày ṿ thương nhớ khổ đau. Nó là h́nh ảnh giải tỏa nỗi nhớ nhung khổ nhục qua giọt lệ âm thầm rơi dưới đèn dưới trăng; chỉ có đèn và trăng là vật chứng giám nỗi niềm riêng tư cho lữ khách. Cho dù cụ lúc nào cũng nghĩ nhớ đến quê nhà, nhưng không có cách nào để giải quyết nỗi nhớ thương đó nên đành chấp nhận nó như chấp nhận nỗi bất hạnh của chính ḿnh:

 

“… Hành nhân hồi thủ xứ,

Vô ná cố hương sầu.”

       

       

(Tái du Tam Điệp sơn)**

Dịch:

“… Người đi quay đầu nh́n quê cũ,

Đành vậy! thương sầu cố hương thôi.”

 

Đành chấp nhận thân tàn xin gởi quê người, v́ thân xác này trở thành trở ngại cho việc đi đứng trở về thăm quê, nhưng hồn người, tư tưởng người không phải là vật có chất ngại nên tự do tự tại trong việc đi về thăm viếng cố hương. Đây cũng là một h́nh thức để an ủi và chia sẻ làm vơi đi nỗi thương nhớ v́ xa quê:

 

“… Đỗ vũ nhât thinh xuân khứ hỉ,

Hồn hề quy lai bi cố hương.”

           

           

(Ngẫu thư công quán bích I)**

Dịch:

… Một tiếng cuốc kêu xuân đă qua,

Hồn ơi về lại, thương cố hương.”

 

Và cứ như vậy nỗi thương nhớ quê nhà cứ dày ṿ tâm hồn và thân xác cụ như vậy là mười năm trường, vẫn là kẻ khách lữ phong trần tha phương cầu thực, sống bám nhờ vào người, trong khi trên đầu tóc bạc lại bạc thêm:

 

“Thập tải phong trần khứ quốc xa,

Tiêu tiêu bạch phát kư nhân gia…”

                 

                 

(U cư II)**

Dịch:

Mười năm gió bụi quê xa cách,

Tóc bạc phất phơ cậy nhà người…”

 

Mười năm gió bụi khổ đau thương nhớ cũng đủ đề cho cụ nh́n rơ ra được chân tướng của cuộc đời qua khía cạnh “ái biệt ly” là khổ, “cầu bất đắc” là khổ. Đây chỉ mới là hai khía cạnh của tám khía cạnh khổ theo đức Đạo sư đă dạy. Trong thời gian mười năm giang hồ cát bụi và, những năm c̣n lại trên cơi đời cụ c̣n có những nỗi khổ khác nữa được thể hiện qua trong cuộc sống như: Sống, già, bệnh, tử[7], oán thù đối mặt nhau, năm uẩn không đều ḥa. Đây là những hiện tượng tất yếu phải kinh qua của đời người cho bất cứ một cá nhân nào hiện hữu th́ phải bước qua và, chúng cũng trở thành những nguyên nhân đưa đến những kết quả khổ đau khác trong cuộc đời mà cá nhân cụ và mọi người phải gánh chịu: Hoàn cảnh loạn lạc của chiến tranh cũng đưa đến chia ĺa chết chóc người thân, tan nát nhà cửa về gia đ́nh cũng như xă hội về măt kinh tế, chúng là hậu quả của “Oán tắng hội” sinh ra đau khổ đổ lệ u hoài cho kiếp người;

 

“… Tang tử binh tiền thiên lư lệ,

Thân bằng đăng hạ sổ hàng thư

Ngư long lănh lạc nhàn thu da,

Bách chủng u hoài vị nhất sư.”

           

           

           

           

(Bát muộn)**

Dịch:

… Bà con dưới đèn vài tin nhắn,

Quê nhà binh lửa, lệ rơi xa

Đêm thu tịch mịch cá rồng lặng

Trăm mối u hoài một chưa vơi.”

 

Ai trong chúng ta không lo không sợ cho những người thân yêu của ḿnh trước cơn binh lửa nơi quê nhà, khi chúng ta từ ngh́n dặm xa không giúp ǵ được cho họ, chỉ biết cầu nguyện và dùng nước mắt của ḿnh để tạm vơi đi niềm đau khổ đang dày ṿ; trong khi đó cụ ở xa quê cũng phải kiên dè và sợ sệt lẫn nhau khi ở quê người.

 

“… Dị hương dưỡng chuyết sơ pḥng tục,

Loạn thế toàn sinh cửu úy nhơn …”

           

           

(U cư I)**   

Dịch:

… Quê người tỏ vụng pḥng thế tục,

Đời loạn luôn sanh sợ mọi người…”

 

Đây là một kế sống an toàn dành cho những nạn nhân tha hương của thời thế loạn lạc, kẽo không vô t́nh sẽ làm đối tượng cho mọi sự đối đầu thù địch nghi ngờ. Hay chiến tranh loạn lạc cũng có thể đưa người về cơi chết hay tù tội, điều đó chúng ta không thể nào lường trước được. Ngay bản thân cụ Tiên điền Nguyễn Du cũng là nạn nhân của tù tội do oán ghét chế độ Tây sơn đang hiện hữu trước mắt cụ vào lúc bấy giờ mà ra:

 

“ … Tứ hải phong trần gia quốc lệ,

Thập tuần lao ngục tử sinh tâm …”

           

           

(Mỵ trung mạn hứng)**

dịch:

Gió bụi khởi khắp nơi, lệ nước nhà,

Lao ngục mười tuần, ḷng lo sống chết …”

 

Chỉ có ngục tù Nguyễn Du tiên sinh mới có đủ thời gian để ngồi tư duy suy nghĩ về nỗi sống chết. Con người th́ ai cũng có tâm lư ham sống sợ chết, đó là một thứ tâm lư b́nh thường, nhưng đối với cụ v́ một chút tâm sự không biết ngơ cùng ai, v́ nó sâu thẳm như ḍng Quế giang dưới chân núi Hồng Lĩnh, đó chính là nỗi khổ tâm của cụ:

 

“… Ngă hữu thốn tâm vô dữ ngữ,

Hồng sơn sơn hạ Quế giang thâm.”

           

           

(Mỵ trung mạn hứng)**

Dịch:

Ta có tấc ḷng không biết bày tỏ cùng ai,

V́ nó sâu thẳm như sông Lam dưới núi Hồng. 

 

Tấc ḷng sâu thẳm như thế nào mà không biết đem nó ra để bày tỏ cùng ai? Cái sâu thẳm ở đây v́ nguy hiểm khó nói ra, hay là cái sâu thẳm không ai ḍ biết được như đáy ḍng sâu Lam dưới núi Hồng? Ở đây đối với cụ Nguyễn Du chúng ta có thể hiểu theo nghĩa nào cũng được, v́ hiện thực một nghĩa và cũng có thế: “Bất tri tam bách dư niên hậu, thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.” Đó là những nỗi đau của riêng cá nhân cụ Nguyễn Du; nhưng cũng có thể là nỗi đau chung của mọi người qua kiếp người. Thật ra cuộc đời đâu chỉ giới hạn trong những trạng huống có thể gây ra đau khổ như vậy đâu (nhơn tai), mà c̣n nữa: Nào là cái đau khổ vỉ thiên nhiên (thiên tai) có thể ập đến cho chúng ta bất cử giờ phút nào:

 

“… Cố hương  hạn cửu phương nông,

Thập khẩu hài nhi thái sắc đồng …”

           

           

(Ngẫu hứng IV)**

Dịch:

… Cố hương hạn hán hại nhà nông,

Mười đứa con thơ mặt xanh rờn…

 

Một thân một ḿnh nơi tha hương đất khách, nhưng cụ vẫn canh cánh bên ḷng về mười đứa con thơ tại quê nhà lâm vào thiên tai hạn hán mất mùa, không đủ cái ăn cái mặc, thân thể xanh như lá rau, không sắc tố hồng cầu do thiếu ăn. Và có ǵ đau khổ lo lắng hơn khi thân đang mang bệnh nặng nằm liệt giường, c̣n phải lo cái ăn cho mười miệng trẻ đang đói chờ ăn từ nơi quê nhà đang réo gọi nữa!

 

“… Thập khẩu đề cơ hoành lĩnh bắc,

Nhất thân ngọa bệnh đế thành động …”

           

           

(Ngẫu đề)**

Dịch:

… Mười miệng đ̣i ăn, bắc hoành sơn,

Một thân nằm bệnh, đông kinh thành …

 

Một thân một ḿnh nơi đất khách lại bị bệnh, người thân không có, bạn bè mới nơi ở cũng không nhiều nên đành âm thầm chịu đựng với con bệnh cũ dằn dai, cô đơn buồn khổ trong những ngày xuân:

 

“Trường đồ nhựt mộ tân du thiểu,

Nhất thất xuân hàn cựu bệnh đa…”

           

           

(U cư II)**

Dịch:

Đường dài chiều tối, bạn mới ít,

Xuân lạnh một nhà bệnh cũ mang…

 

Trong khi sống nơi đất khách quê người thân th́ nhiều bệnh tật, tâm th́ lúc nào cũng buồn bực, nhưng khi cụ đă về lại quê nhà rồi mà bệnh tật càng ngày càng tăng chứ không giảm và nổi buồn đau cũng theo đó mà tăng thêm, càng ngày bệnh càng trầm trọng hơn:

 

“Đa bệnh đa sầu khí bất thư,

Thập tuần khốn ngọa Quế giang cư …”

           

           

(Ngọa bệnh I)**

Dịch:

Mười tuần nằm khổ bên sông Quế

Nhiều bệnh nhiều sầu khí chẳng thông…

 

Không có buồn nào bằng cái buồn người bị bệnh nặng mà không người chăm sóc hỏi han và, như vậy bệnh càng nặng hơn. Nhiều lúc buồn quá cụ Nguyễn Du phải nghĩ đến làm sao t́m loại thuốc tiên nào để cụ uống cho mau lành bệnh, hoặc xin thấy được ánh sáng vi diệu hiển hiện chiếu xuống cơi trần gian phá tan màng u ám cho nhân loại được nhờ:

 

“… Thập niên túc tật vô nhân vấn,

Cửu chuyển hoàn đan hà xứ tầm.

An đắc huyền quang minh nguyệt hiện,

Dương quang hạ chiếu phá quần âm.”

           

           

           

           

(Ngọa bệnh II)**

Dịch:

Mười năm tật bệnh không người hỏi,

T́m đâu thuốc tiên luyện chín lần?

Mong hiện ánh sáng trăng màu nhiệm,

Ánh dương chiếu xuống phá quần âm.

 

Qua những bài thơ trích đoạn ở trên, chúng tôi chỉ trích ra một ít trong những số bài thơ chữ Hán được cụ Nguyễn Du gởi gắm tâm sự của ḿnh vào những khổ đau buồn thương nỗi nhớ mà cụ đă trải qua trong những biến động của gia đ́nh trong loạn lạc chia ly, nhà tan cửa nát, con thơ nheo nhóc đói khổ, thiên tai hạn hán, chiến tranh, tù tội, tật bệnh vây quanh suốt kiếp người cụ Nguyễn Du cũng như mọi người trong chúng ta. Chúng là những nguyên nhân đưa đến khổ đau cho nhân thế. Ở đây là những nguyên nhân trực tiếp giáng xuống đầu người, chúng có thể nh́n thấy rơ được:

 

“Tráng sĩ bạch đầu bi hướng thiên,

Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên.

xuân lan thu cúc thành hư sự,

hạ thử đông hàn đoạt thiếu niên.”

       向ẻ  

            

           

           

(tạp thi I)**

Dịch:

Nh́n trời tráng sĩ buồn đầu bạc, 

Kế sống, hùng tâm vẫn mịt mờ.

Xuân lan thu cúc thành chuyện huyễn,

Hạ nóng đông hàn cướp tuổi hoa.”

 

Những điều đó cụ Nguyễn Du cũng không ngoài ngoại lệ. Cụ buồn đau v́ chí lớn, kế sống riêng cá nhân ḿnh vẫn c̣n mờ mịt, cộng thêm gia đ́nh ly tán mỗi người v́ miếng cơm manh áo mà phải lầm than phiêu bạc khắp nơi nên đầu đă bạc lại bạc thêm. Đây là những điều mà chính Nguyễn Du tiên sinh đang kinh qua và chứng kiến trong chính cuộc đời của cụ, nỗi khổ đau buồn lo đến đỗi mới ba mươi tuổi mà đầu đă bạc trắng, trong khi công danh sự nghiệp chưa thành qua bài thơ “tự thán” cụ viết;

 

“Sinh vị thành danh thân dĩ suy,

Tiêu tiêu bạch phát mộ phong xuy.”

           

           

(Tự thán I)**

Dịch:

Sống chưa thành danh thân đă suy

Lưa thưa tóc bạc gió chiều lay.

 

Chính vô thường mang lại cho chúng ta cái khổ đau. Qua đó, v́ tâm tư ư nghĩ vô thường luôn luôn thay đổi (tâm vô thường), v́ hoàn cảnh hiện tượng, vật chất chung quanh cuộc sống chúng ta vô thường luôn thay đổi (vật vô thường) chúng ta không giữ được, nên sinh ra đau khổ cho mọi người như chúng ta đă thấy qua những lời dạy của đức Đạo sư. Nguyễn Du tiên sinh thời gian nương nhờ nơi Quỳnh Hải, Cụ đau ḷng khi nh́n đám cỏ xanh nơi quê người khi mùa xuân đến mà liên tưởng nhớ về Nam Phổ, nh́n nụ hàn mai mà nghĩ đến mùa xuân qua bài Xuân nhật ngẫu hứng.

 

“… Nam phố thương tâm khan lục thảo,

Đông hoàng sinh ư lậu hoàng mai ...”

           

           

(Xuân nhật ngẫu hứng)**

Dịch:

Nh́n cỏ xanh thương tâm Nam Phổ,

Nhú mai vàng chớm ư Đông Quân…

 

Nhưng c̣n những nguyên nhân giáng tiếp mà chúng ta trong nhất thời khó h́nh dung ra được, đối với Cụ, Cụ nh́n thấy tất cả từ hiện tượng bên ngoài đến bản chất bên trong, đó chính là vô thường biến hoại, là thủ phạm chính cho mọi bất toàn trong cuộc sống của chúng ta, tạo ra không biết bao nhiêu là khổ nạn cho kiếp người:

 

“… Cổ kim vị kiến thiên niên quốc,

H́nh thế không lưu bách chiến danh.

Mạc hướng thanh hoa thôn khẩu vọng,

Điệp sơn bất cải cựu thời thanh.”

           

           

           

           

(Vị Hoàng doanh)**

Dich:

Nước ngh́n năm xưa nay chưa thấy,

H́nh thể mất, c̣n danh trăm trận.

Đừng ngóng nh́n thôn Thanh Hoa nữa,

Điệp sơn như ngày nào vẫn xanh.

 

Triều đại nào tồn tại ngh́n năm chúng ta chưa thấy! Ngay đến doanh trại Vị Hoàng ngày xưa là nơi đóng quân trấn giữ đời nhà Lê; nhưng nay h́nh thể quân trại không c̣n nữa, mà chỉ c̣n trên cái danh là nơi xưa kia đă từng xảy ra trăm trận chiến thôi. Đừng nh́n những cảnh đổi thay đó nữa mà hăy nh́n rặng Điệp sơn vẫn c̣n xanh như ngày nào! Bản chất của màu xanh th́ không bao giờ thay đổi, nhưng chỉ thay đồi nơi hiện tượng h́nh dáng bên ngoài thôi. cũng giống như Triều đại th́ có thể thay vua đổi chúa, thay đổi chế độ, chứ c̣n dân tộc đất nước th́ muôn đời không đổi v́ nó là bản chất. Trong cuộc sống có những thay đổi b́nh thường về h́nh thức chúng ta thấy được, nhưng cũng có những biến đổi tinh thần chúng ta không nh́n thấy được, v́ nó thuộc về vô h́nh. c̣n hiện tượng th́ luôn tùy thuộc vào thời gian mà thay đổi như:

 

“ Đào hoa đào diệp lạc phân phân,

Môn yềm tà phi nhất viện bần.

Trú cửu đốn vong thân thị khách,

Niên thâm cánh giác lăo tùy thân…”

           

           

           

          

(U cư I)**

Dịch:

Hoa lá cây đào rơi lác đát,

Nhà nghèo cổng đóng cửa liêu xiêu.

Ở lâu quên hẵn ḿnh là khách,

Năm tháng càng qua thân càng già…”

 

Những hiện tượng như lá đào hao đào, cổng đóng, cửa liêu xiêu chúng ta có thể dùng mắt để thấy được cái thay đổi của nó; nhưng thời gian qua đi th́ chúng ta khó mà h́nh dung được sự thay đổi này trong nguyên nhân, mà chỉ nh́n được qua kết quả của nó chúng ta mới nhận thấy được sự thay đổi của chúng. Thời gian vô thường đă tác hại và biến hoại tất cả từ con người đến mọi vật xung quanh trong cuộc sống, không ǵ là không bị lệ thuộc vào chúng: Hoa lá cây trái, nhà cửa, thân người nói chung là chỉ cho vật chất vật lư v.v… không ǵ không bị biến hoại thay đổi:

 

“Thập tải trần ai ám ngọc trừ,

Bách niên thành phủ bán hoang khư…”

           

         

(Bát muộn)**

Dịch:

“Mười năm bụi phủ mờ thềm ngọc,

Thành quách trăm năm nửa hoang tàn…”

Hay:

“…Thành quách suy di nhận sự cải,

Kỷ xứ tang điền biến thương hải…”

           

          

(Long Thành cầm giả ca)**

Dịch:

Thành quách đổi thay việc người đổi,

Bao cảnh ruộng dâu biến biển khơi…

 

Vô thường biến đổi luôn tạo ra những cú sốc đau cho những người cố chấp luôn muốn sở hữu mọi thứ về cho ḿnh, cho bản ngă, cho cái ta trường tồn bất diệt mà nuôi lớn ḷng tham lam, sân hận, si mê; biến chúng ta thành những kẻ nô lệ cho chúng mà đẻ ra không biết là bao nhiêu đau khổ đắng cay cho chúng ta, nhưng cuối cùng chúng ta sẽ được ǵ khi chúng ta nhắm mắt buông tay, cũng chỉ hai bàn tay trắng. Nguyễn Du tiên sinh đă nh́n ra được bản chất của mọi sự vật là vô thường mang đến khổ đau nên đă khuyên chúng ta:

 

Cổ thời minh nguyệt chiếu tân thành,

Do thị Thăng Long cựu đế kinh.

Cù hạn tứ khai mê cựu tích,

Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.

Thiên niên phú quư cung tranh đoạt,

Tảo tuế thân bằng bán tử sinh.

Thế sự phù trầm hưu thán tức,

Tự gia đầu bạch diệt tinh tinh.[8]

          

          

           跡

管  弦  一   變  雜   新  聲

千  年  富   貴  供  爭   

早  歲  親     半  死  生

世  事  浮   沈  休  嘆   

自  家  頭  白   亦  星   星。

(Thăng Long 2) 

Quách Tấn dịch:

Thành mới trăng xưa bóng tỏ mờ

Thăng Long ngh́n trước chốn kinh đô

Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa

Điệu mới xô bồ nhịp trúc tơ

Danh lợi mồi ngon đua cướp giựt

Bạn bè lớp trước sống lưa thưa

Nổi ch́m thế sự đừng tham nữa

Mái tóc ḿnh đây cũng bạc phơ

 

Danh lợi quyền lực là những món mồi khá hấp dẫn đối với những ai ham danh lợi và quyền lực; rốt cuộc những thứ đó cuối cùng cũng để nuôi lớn ḷng tham lợi, tham danh, tham quyền lực nuôi lớn bản ngă chúng ta mà thôi. Nhưng có ai trong chúng ta được cái này rồi mà không muốn đạt được cái nhiều hơn, cao hơn để bỏ đầy túi tham của ḿnh không? Tâm lư thông thường của chúng ta là “được voi đ̣i tiên,” hay “đứng núi này trông núi nọ”, cũng với mục đích là để thơa măn ḷng thanh danh, tham lợi, muốn biến mọi vật chung quanh thuộc về sở hữu cá nhân ḿnh, gia đ́nh ḿnh … Nhưng càng chạy theo nó th́ những khổ nhọc cay đắng càng theo sau và, những oán đối củng tùy theo đó mà h́nh thành tạo thành nghiệp nhân oán đối với tha nhân theo sau đó. Chúng ta c̣n được ǵ sau khi nhắm mắt xuôi tay? cũng chỉ:

 

“… Bá đồ dẫn diệt thiên niên hậu,

Cổ mộ hoàn lương tam xích thu…”

           

           

(Á phụ mộ)[9]

Dịch:

Mộ xưa ba thước thu cỏ lạnh

Nghiệp bá tan tành sau ngh́n năm.

 

Theo Nguyễn Du tiên sinh th́, sự nghiệp đồ vương cũng tan tành theo mây khói ngh́n năm sau, xác thân nằm đưới ba thước đất, cỏ lạnh úa tàn bao phủ mùa thu chỉ c̣n lại là một nấm mồ cổ, nhiều khi không người coi sóc hoang phế điêu tàn, không một ai thấy mà không khởi lên tấm ḷng hoài cổ thương tâm, đối với những đổi thay biến hoại của những vật thể có h́nh th́ có hoại diệt, không có ǵ tồn tại măi trên thế gian này. Tuy chúng tạo cho mọi người trong chúng ta những cú sốc, những vết thương ḷng nhức nhối, những nỗi đau khổ triền miên; nhưng chúng ta phải nh́n lại chính chúng ta đă làm được ǵ trước định luật vô thường biến đổi luôn luôn đó, trong khi mỗi ngày qua đi tóc trên đầu chúng ta lại bạc thêm giỏi lắm cũng chỉ đến trăm năm!:

 

“… Thế sự phù trầm hưu thán tức,

Tự gia đầu bạch diệc tinh tinh.”

           

           

(Thăng Long II)**

Dịch:

… Thôi đừng than thở chuyện đời ch́m nổi,

Tóc bạc đầu ḿnh từng sợi bạc phơ.

 

Cũng cái nh́n lại chính ḿnh này đă cảnh tĩnh được chính cụ trong cuộc sống tang thương đầy khổ cực này. Cho dù cái khổ về vật chất hay tinh thần đến đâu đi nữa cũng không làm cho cụ biến được bản chất chính con người cụ:

 

“… Phong trần đội lư lưu b́ cốt

Khách chẩm tiêu tiêu lưỡng mấn bồng.”

           

           

(Trệ khách)**

Dịch:

… Tóc rối hai màu bơ phờ, gối khách

Vẫn giữ thân trong gió bụi muôn ngàn.

 

Sở dĩ cụ Nguyễn Du tiên sinh đă giữ được thân ḿnh trong cát bụi phong ba là chính nhờ vào cụ có một cái nh́n tinh tế và sâu thẳm đối với cuộc đời cũng như đối với các sự vật chung quanh cuộc sống, đó là cái nh́n trong vô thường bến dịch vẫn c̣n có cái thường c̣n không biến đổi, nó chính là bản thể của sự vật. Tuy mọi hiện tượng bên ngoài của sự vật luôn bị vô thường biến khác nhung bản chất của chúng vẫn trường tồn trong cái không trường tồn. Chúng vẫn trong sáng như ngày nào, chúng vẫn xanh như ngày nào, chúng vẫn hồng như mọi buổi chiều ráng hạ, chỉ có sắc màu (của ráng chiều th́ lúc nào cũng màu hồng, lá của cây rừng th́ lúc nào cũng là một màu xanh, ánh sáng mặt trời mặt trăng vẫn sáng như ngày nào) là không đổi:

 

“Vô cùng kim cổ thương tâm xứ

Y cựu thanh sơn tịch chiếu hồng.”

           

           

(Mạn hứng II)**

Dịch:

Điều thương tâm xưa nay vô cùng tận

Núi biếc như xưa chiều chiếu ráng hồng.

 

2/ NGUYỄN DU VÀ PHẬT GIÁO.

 

Độc qua thơ chữ Hán của cụ Nguyễn Du chúng ta gặp những bài thơ Cụ thường nói đến, trong vô thường biến hoại luôn có cái thường c̣n bất biến mà đạo Phật thường gọi là “Vô thường tức thị thường”. Qua hai câu thơ trên Nguyễn Du tiên sinh cho chúng ta thấy rằng trong vô thường biến hoại của hiện tượng giới của sự vật theo nhân quả luôn luôn có sự hiện hữu của thường tồn bất biến của bản thể sự vật đó chính là thật thể: Như vầng trăng sáng không bao giờ thay đổi bất cứ nơi đâu bất cứ thời đại nào, lúc nào nó cũng sáng như màu nguyên thỉ; hay lá cây xanh, ráng chiều hồng cũng là những h́nh ảnh của những ẩn dụ cho những chân lư bất biến theo giáo lư Tiểu thừa giáo nhà Phật, hay:

 

“… Đạt nhân tâm cảnh quang như nguyệt

Xử sĩ môn tiền thanh giả sơn…”

           

           

(Tạp ngâm 2)**

Dịch:

Tấm ḷng đạt nhân vầng trăng sáng,

Trước nhà ẩn sĩ núi giả, xanh.

 

Chính nhờ có cái nh́n muôn vật giữa cuộc đời này nó mang ư nghĩa “Vô thường tức thị thường” của Phật giáo nên cụ Nguyễn Du cho dù lúc nào cũng sống trong khổ đau của cuộc đời mà cụ vẫn không bị cuộc đời quật ngă, vẫn hiên ngang sống. Người đạt đạo, nhà ẩn sĩ được cụ Nguyễn Du đem sánh với vầng trăng sáng, với màu xanh của núi xanh là những h́nh ảnh cụ lấy làm ẩn dụ cho chân lư, cho tấm ḷng trong sáng của ư đạo mà theo thuật ngữ chuyên môn của Phật giáo gọi là: “Tâm vô phân biệt”  là “Chân tâm” là “Tâm vô sự”.

Từ cái nh́n đạt lư này, đă đưa cụ về với Phật một cách tự nguyện và tự biến thành ḿnh là hành giả tu tập thiền định sau này. Qua mười năm biến động xa quê nhà, những ǵ mà cụ đă kinh qua trong đau thương tiếc nhớ khi lăng lóc giữa cát bụi phong ba của cuộc đời: Một mặc dù cụ nh́n thấy rơ bộ mặt thật của cuộc đời trong khổ đau qua vô thường-khổ-không theo quan điểm của Phật giáo và mặc khác cũng từ đây cụ đâm ra không thích sống với đời nữa, muốn xuống tóc vào rừng ẩn tu làm người vô sự và, cũng từ đó cụ quyết tâm học Phật và thực hành trong tu tập như trong bài Đề Nhị Thanh động:

 

“ … Măn cảnh giai không hà hữu tướng…”

滿            相?

(Đề Nhị Thanh động)**

Dịch:

… Mọi cảnh đều không, có tướng sao?

 

Trước hết, từ khi cụ nh́n ra được hiện tượng và bản chất của mọi sự vật trên cơi đời này rồi th́, tư tưởng muốn xuống tóc ẩn tu làm người vô sự đă đưa cụ đến việc học Phật và thực hành theo những lời Phật dạy tùy căn cơ có được của ḿnh. Thật ra ở đây không ai biết được cụ đă học Phật từ bao giờ và học ở đâu? để đẻ ra cái kết quả là cụ đă trở thành một hành giả tu tập Thiền, đề có thời gian huân tập và ngộ đạo qua bài thơ: “Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch đài” nhân chuyến làm sứ đi Trung Quốc. Việc học kinh Phật cũng giống như cụ đă học Nho giáo vậy. Không biết cụ học Nho giáo vào lúc nào và học những kinh sách nào, học ở nơi đâu? với cuộc đời năm ch́m bảy nổi lênh đênh từ nơi này đến nơi khác, lo toan v́ miếng cơm manh áo cũng đủ đứt hơi rồi huống chi là học hành; thế mà theo như tiểu sử của cụ cho chúng ta biết rằng cụ đă từng đi thi và đỗ tam trường trong một kỳ thi Hương và sau đó cụ không đi thi tiếp nữa! Th́ việc học Phật của cụ cũng vậy, chỉ biết qua bài thơ chính cụ làm ra qua bài “Lương Chiêu Minh Thái tử phân kinh thạch đài” Như vậy cụ đă tập Thiền Công án qua hàng ngh́n lần độc tụng về Kinh Kim Cương và cũng đă ngộ được bản Kinh này qua “Vô tự” thị chân kinh. Theo chúng tôi nghĩ th́ có thể cụ bắt đầu học Phật Khoảng thời gian từ 1786-1795, đây là khoảng thời gian mười măn giang hồ gió bụi của cụ. V́ bài thơ cụ làm ra để tỏ tâm sự chán đời muốn xuống tóc vào rừng ẩn tu cũng trong khoảng thời gian này.

 

“… Hà năng lạc phát quy lâm khứ,

Ngọa thính tùng phong hưởng bán vân.”

           

           

(Tự thán II)**

Dich:

… Làm sao xuống tóc về rừng ẩn,

Nằm nghe tùng hát gió đưa mây.”

 

Có lẽ đây là giai đoạn quyết định chuyển ḿnh cho một bươc đi mới sau này của cụ. Theo chúng tôi trong hiện tại hoặc sau này, việc cụ không tiếp tục theo đuổi con đường thi cử để thực hiện “chí cỡi mây” của ḿnh theo cái học của Nho gia vào lúc bấy giờ, như bài thơ người anh ruột Nguyễn Nễ gởi cho cụ khi cụ c̣n lưu lạc trong đó có câu: “Tự hữu lăng vân chí” (Người vốn có chí cỡi mây) có hai lư do: Thứ nhất nhờ cụ đă nh́n rơ được cả hai bộ mặt thật của hiện tượng (vô thường-khổ đau) cùng bản chất của mọi sự vật là không, do nhân duyên ḥa hợp mà hiện hữu ở trên đời này nên đă quyết định không tiếp tục con đường khoa hoạn nữa. Thứ hai có lẽ cụ không muốn cộng tác với triều đ́nh Tây Sơn nên không tiếp tục ra thi cử nữa. Dù là lư do nào đi nữa th́ đây vẫn là quyết định không muốn “cỡi mây” nữa mà muốn làm người vô sự: “nằm nghe tùng hát gió đưa mây”. Từ đây cuộc đời của cụ cũng bắt đầu chuyển đổi cho việc học Phật và thực hành sống theo nếp sống vô sự của Phật, v́ cụ đă nhận thức rằng:

 

"Trướng vọng hồng trần diễu vô tế

Bất tri nhật nhật thử trung hành".

           

          

(Từ Châu Đê Thượng Vọng)**

Dịch:

Trông xuống bụi hồng xa mờ mịt

Sớm chiều trong đó bước quẩn quanh.

 

V́ lợi danh quyền lực cuối cùng cũng chỉ mang đến khổ đau và trói buc chân chúng ta vào ṿng dây oan nghiệt chạy quanh suốt đời măn kiếp trong chốn hồng trần không bao giờ thoát ra khỏi được chúng; chỉ v́ chúng ta không biết bước đi như thế nào để mang đến sự giải thoát khổ đau của ṿng luân hồi lẩn quẩn đó. Giờ đây cụ quyết theo bước đi vô sự như một vị Tăng an nhiên thả giấc ngủ dưới những làng mây cô đọng chung quanh giấc cô miên lăng đăng trong rừng núi hoang vu vắng vẻ. Một cảnh quan biểu hiện lên sắc thái tự tại thong dong trong cuộc sống:

 

"… Đ́nh vân xứ xứ tăng miên định

Lạc nhật sơn sơn viên khiếu ai

Nhất chú đàn hương tiêu tuệ nghiệp

Hồi đầu dĩ cách vạn trùng nhai".

           

           

           

             

(Vọng Quan Âm miếu)**

Dịch:

Mây đọng nơi nơi Thầy an giấc,

Chiều xuống non non vượn kêu thương.

Đốt nén hương đàn tiêu nghiệp tuệ,

Quay đầu đă cách vạn trùng nhai.

 

Ở đây chỉ cần biết quay đầu lại là bờ giác ngộ giải thoát, chúng cách xa bờ sinh tử luân hồi muôn trùng trên mặt sự tướng; nhưng trên mặt lư thể th́ sinh tử tức là Niết-bàn, khác nhau chỉ có mê và ngộ mà thôi. Quay đầu tức là ngộ, là Phật, là vô lậu, là giải thoát, là an vui; không quay đầu tức là mê, là chúng sanh, là hữu lậu, là trói buộc, là khổ đau. Đem tâm mê chúng sanh mà hiểu Phật th́ Phật cũng thành ma, như cụ đă từng viết:

 

“ … Sắc không cảnh giới mang bất ngộ,

Si tâm quy Phật Phật sinh ma …”

           

           

(Phân Kinh thạch đài)**

Dịch:

… Cảnh giới sắc không, mê chẳng biết,

Tâm mê hiểu Phật, Phật thành ma…

 

Nhờ cụ đă nh́n ra được chỗ ách yếu của phương cách tu hành và, cũng từ đó hành giả theo Phật có thể thực hành để đạt được sự thể ngộ chân lư qua cuộc sống bằng vào thực hành tu tập để đạt đến trạng thái hư linh không tịch rỗng rang này, chứ không phải mang kiến thức mê muội nhị nguyên để nói về cảnh giới Phật, cảnh giới thiền là có được. Sự có được này theo cụ cũng chỉ là kiến thức mê; khi mê mà nói về Phật th́ Phật đó cũng trở thành mê như Kinh Viên Giác đức Đạo sư đă dạy ngài Kim Cang Tạng rằng:

Kim Cang Tạng đương tri               Như Lai tịch diệt tánh

Vị tằng hữu chung thỉ                    Nhược dĩ luân hồi tâm

Tư duy tức toàn phục                    Đản chí luân hồi tế

Bất năng nhập Phật hải                 Thí như tiêu kim khoáng

kim phi tiêu cố hữu                       Tuy phục bản lai kim

Chung dĩ tiêu thành tựu                 nhất thành chân kim thể

Bất phục trùng vi khoáng               Sanh tử dữ Niết-bàn

Phàm phu cập chư Phật                 Đồng vi không hoa tướng

Tư duy do huyễn hóa                    Hà huống kết hư vọng

Nhược năng liễu thử tâm               Nhiên hậu cầu Viên Giác.

                                           

                                           

                                           

                                           

                                           

                                          

                             

                                           

                                          

       心                              

 

 

Kim Cang Tạng nên biết             Như lai tánh vắng lặng

Chưa từng có chung thỉ               Nếu dùng tâm luân hồi

Suy nghĩ cảnh giới Phật               Cảnh Phật thành luân hồi

Phật tánh tuy sẵn có                   Phải tu mới hiển hiện

Cũng như vàng sẵn có                Phải lọc quặng mới thành

Khi đă thành vàng y                   Không trở lại làm quặng

Sanh tử và Niết bàn                   Phàm phu cùng chư Phật

Thảy đều như hoa đớm             Tâm suy nghĩ đă huyễn

Nên lời nói cũng huyễn              Làm sao nhập được chơn

Nếu rơ được tâm này                Mới cầu được Viên giác.[10]

 

Nếu muốn có cuộc sống b́nh an vô sự theo cụ Nguyễn Du th́ cần phải đạt đến chỗ tâm linh rỗng rang (hư linh), sau đó chúng ta làm ǵ cũng không có lỗi với Đạo; nhưng trước hết chúng ta phải thực hành ngay trong cuộc sống:

“ … Tiện sát bắc song cao ngọa giả,

B́nh cư vô sự đáo hư linh.”

(Kư hữu)**

Dịch:

… Muốn làm người nằm cao nơi cửa bắc

Sống yên vô sự đạt đến hư linh.

 

Khi mà con người sống b́nh an vô sư th́ chính đó là cuộc sống của người đạt đến chỗ tâm linh rỗng rang, không bị cái ǵ trói buộc được. Đó là một điều mà ai là người tu Phật cũng mong muốn đạt đến cảnh giới như vậy và, ở đây cụ Nguyễn Du cũng vậy, mong muốn rằng cá nhân cụ có một cuộc sống b́nh yên vô sự như h́nh ảnh của vị sư và trẻ mục đồng mà cụ đă từng thấy qua:

 

“… Sơn tăng đối trúc lưỡng vô dạng,

Mục thụ kỵ  ngưu nhất bất như …”

(lạng sơn đạo trung)**

Dịch:

… Sư bên khóm trúc vô sự cả,

Đệ nhất mục đồng cưỡi lưng trâu…

 

Cụ đưa ra bốn h́nh ảnh: Nhà sư núi và khóm trúc bên nhau nhưng cả hai đều vô sự, trên mặt h́nh thức khác nhau không liên quan, trên mặt tinh thần cũng không can hệ với nhau, sư có nếp sống vô sự của sư, khóm trúc có cái thể hiện vô sự của nó; cũng vậy hai h́nh ảnh mục đồng và trâu cũng vậy mục đồng đang nghiêu ngao trên lưng trâu, mặc cho trâu thong thả trên đường về. Đây là những h́nh ảnh vô sự không can hệ lệ thuộc vào nhau để trở thành trói buộc, mà ngược lại nó là những h́nh ảnh vô ngại tự tại dung thông trong cuộc sống. V́ sống b́nh an vô sự chính là lối sống không bị lệ thuộc trói buộc vào bất cứ điều kiện nào, mặc dù người sống vẫn sống chung với các duyên sống chung quanh, nhưng người đó không bị nhiễm vào những tác nhân tạo ra nghiệp của thế gian. Ở đây cụ Nguyễn Du cũng đang thực hành cách sống vô sự này qua:

 

“Bất sầu cửu lộ triêm y duệ

Thả hỷ tu mi bất nhiễm trần".

           裔

           

(Dạ hành)**

Dịch:

Tay áo dầm sương không ngại ướt

Mày râu, mừng chẳng nhiễm trần ai.

 

Những h́nh ảnh ẩn dụ của cụ đưa ra cho chính bản thân ḿnh, đó chính là bước đi giải thoát vô ngại của đạo Phật. Vẫn bước đi trong cuộc đời chứ không phải lánh đời, mà vẫn sống, vẫn ăn, vẫn uống, vẫn hít thở, nói chung là vẫn làm tất cả mọi chuyện như người thế gian không khác; nhưng chỉ khác với người thế gian là sống với nó mà không bị đời làm nhiễm, không bị đời trói buộc qua tác nhân không chấp ngă, không chấp pháp, làm với quan niệm vô ngă, vô pháp th́ đó chính là hành động vô sự, không bị nhiễm, không bị trói buộc. Đó chính là lối sống của cụ:

 

“… Tiếu đề tuẫn tục can qua tế,

Giam mặc tàng sinh lăo bệnh dư.

           

           

(Tp Thi II)**

Dịch:

…Theo đời cười khóc qua thời loạn,

Già bệnh rồi im lặng yên thân.”

 

Vậy muốn cho cơi ḷng chúng ta lúc nào cũng trong sáng qua cuộc sống th́, chỉ có cách im lặng mà sống hay sống bằng cách vô sự, không nhiễm ô đời, không để chuyện đời vướng mắc vào tâm ḿnh, tức là chúng ta sống với tâm vô phân biệt. Đó là lối sống với tâm không c̣n phân biệt chấp trước vào sự vật; tùy duyên mà sống không cưỡng lại duyên, không cưỡng lại đời như chuyện khóc cười theo đời, theo thời cuộc thăng trầm, hưng phế; nhưng không để cho đời và thời cuộc trói buộc cuộc sống chúng ta. Nếu chúng ta để tâm chúng ta bị trói buộc vào những việc đó của đời, vào thời cuộc của đời th́ chúng ta sẽ bị đau khổ v́ sự trói buộc đó. Đau khổ là hậu quả của mọi tác nhân tạo ra nghiệp do cuộc sống của chúng ta mang lại. Theo đó cụ Nguyễn Du đă để lại cho chúng ta một kinh nghiệm sống của chính cụ qua tâm không sau khi nghiệp chướng đươc tiêu trừ:

 

“ … Lăo khứ vị tri sinh kế chuyết,

Chướng tiêu thời giác túc tâm không …”

           

           

(Thôn Dạ)**

Dịch:

… Già rồi vẫn c̣n vụng về sinh kế

 Khi nghiệp tiêu mới biết tâm không…

 

Tâm không ở đây chính là tâm trong sáng, tâm vô sự, tâm chân thật, khi nghiệp của chúng ta đă tạo ra đă được tiêu trừ rồi th́ chính ngay lúc đó chúng ta giải thoát được khổ đau và, cuộc sống của chúng ta cũng trở nên tự tại an lạc được thể hiện, nên cụ lúc nào cũng ao ước là phải thực hiện cho bằng được tâm vô sự này.

Bài thơ “Thôn dạ” ở trên, cụ nói đến cái quả khi chúng ta tiêu trừ được nghiệp chướng th́ tâm không c̣n ǵ để trói buộc, tâm trở nên rỗng rang, hay bảo là tâm không, hiện tiền; nhưng bằng cách nào để tiêu nghiệp nói chung, riêng cái nghiệp trí tuệ tức là cái nghiệp của thế trí biện thông, là nghiệp của trí tuệ thiện thuộc pháp hữu lậu.

Như kinh nghiệm ở trên cụ Nguyễn Du đă cho chúng ta biết rằng: Khi nghiệp chướng tiêu trừ th́ tâm chúng ta trở nên rỗng rang không ǵ trói buộc, đó là một kinh nghiệm tâm linh có được từ nơi cuộc sống đă dạy cho cụ, để từ đó cụ bắt đầu cho cuộc sống của chính ḿnh qua:

 

“ … Vị hữu văn chương sinh nghiệt chướng,

Bất dung trần cấu tạp thanh hư …”

           

           

(Ngọa bệnh I)**

Dịch:

… Chưa thấy văn chương sinh nghiệt chướng,

Không để bụi nhơ vấy rỗng trong.

 

V́ bụi nhơ chính là chướng nghiệp chúng có khả năng làm mờ đi bản tính rỗng rang thanh tịnh của chúng ta, và mặc khác chúng kéo chúng ta vào con đương sinh tử khổ đau. V́ vậy cho nên cụ Nguyễn Du dứt khoát đoạn trừ với bụi nhơ bằng cách không để chúng vấy vào tâm không rỗng rang của chúng ta và, lấy văn chương để tiêu khiển.

V́ chính văn chương không phải tự nó sinh ra chướng nghiệt, mà chính tâm vọng động của chúng ta tạo ra những nghiệp chướng bằng vào thân-khẩu-ư làm công cụ cho ba độc tham lam, sân hận, si mê phát triển nuôi lớn ngă chấp và pháp chấp tạo ra mọi thứ đau khổ ràng buộc mà đức Đạo sư gọi là nghiệp và, khi nghiệp đă trừ đi hết rồi th́ tâm sẽ trở nên vắng lặng trong sáng, tinh thần nhẹ nhơm an lạc tự hiện ra:

 

“… Tam lan song hạ ngâm thinh tuyệt,

Điểm điểm tinh thần du thái sơ.”

           

           

(ngọa bệnh I)**

Dịch:

… Dưới cửa tam lan im bặt tiếng,

Tinh thần nhẹ nhơm dạo thái sơ.

 

Tức là chỉ cho trạng thái tinh thần lân lân nhẹ nhơm rỗng rang vô tận nguyên sơ chưa bị nhiễm ô. Khi mà mọi duyên trần cảnh bên ngoài bị cắt đứt th́, tâm thần trở nên nhẹ nhàng thư thái lân lân, v́ tâm lúc này không bị ràng buộc bỡi các duyên trói buộc, dù là duyên tốt hay là duyên xấu cũng ảnh hưởng đế sự ràng buộc lệ thuộc làm cho tâm mất đi sự rỗng rang trong sáng vắng lặng. Đối với cụ Nguyễn Du lúc này cụ đă làm chủ được tâm ḿnh nên đối những cảnh sắc bên ngoài không làm ảnh hưởng đến cơi ḷng của cụ nữa, cho dù đó là việc hoa nở hay hoa tàn lá vàng hay lá xanh, lá rụng hay đâm chồi nẩy lộc, cũng không c̣n ảnh hưởng tác động làm cho nó lay động nữa:

 

"Diệp lạc hoa khai nhăn tiền sự

Tứ thời tâm kính tự như như".

           

           

(Tạp thi II)*

Dịch:

… Lá rụng hoa khai ngay trước mắt,

Cơi làng năm tháng vẫn không thay.

 

Tức là tấm ḷng của cụ vẫn trong sáng rỗng rang như cái bản lai diện mục của nó từ nguyên thỉ chưa nhuốm bụi trần phiền năo sinh tử vậy. V́ trong hiện tại cơi ḷng cụ được như như, như vậy là nhờ cụ đang trụ tâm ḿnh vào thiền định. Có lẽ cụ đang tham công án thiền: “Làm thế nào để tâm có thể trụ vào nơi không có chỗ trụ?” Đây là một Công Án Thiền cụ rút ra từ cốt tủy của bản kinh Kim Cương, một bản kinh nền tảng của Thiền Trung Quốc nói riêng cũng như Thiền của các nước Đại thừa Phật giáo khác nói chung, kể từ Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn trở xuống. Cụ Nguyễn Du đă đang nổ lực thực hành nó, cho nên tâm của cụ lúc nào cũng ở trong nghi t́nh thiền định này:

 

"… Măn cảnh giai không hà hữu tướng

Thử tâm thường định bất ly Thiền...”

滿            

           

(Đề Nhị Thanh Động)**

Dịch:

… Mọi cảnh đều không, có tướng sao?

Tâm này thường định, chẳng ĺa Thiền…”

 

Thời gian mà cụ bắt đầu có ư muốn xa lánh đời để xuống tóc ẩn tu là thời gian cuối những năm từ 1786-1795, lúc này cụ gần 30 tuổi và thời gian mà cụ sống không ĺa thiền đă thể hiện ra trong bài thơ này là vào những năm 1802-1804 tức là khoảng 36 hay 37 tuổi. Như vậy, việc chuyển hướng về với đạo Phật là khá sớm và, việc cụ tự nói lên sự tu tập độc tụng kinh Kim Cương đến hàng ngh́n lần không phải là những lời nói ngoa. (Ở đây chúng tôi xin mở ngoặc một tí, vấn đề tu tập của Phật giáo nó không mang bất cứ một h́nh thức nào nhất định hết, v́ bản thân của sự tu tập này nền tảng căn bản và mục đích cuối cùng của nó là làm thanh tịnh ba nghiệp thân-miệng-ư, để mọi người không tạo ra nghiệp khổ đau mà thôi, cho nên việc tu tập cũng có rất nhiều cách: độc, tụng, học hành, lễ bái hay làm bất cứ phương cách nào như chúng ta thường nghe là vô lượng pháp môn tu, ở bất cứ nơi đâu, ở chùa hay ở tại thế gian cũng có thể tu tập được hết, với mục đích là để làm cho ba nghiệp của thân-miệng-ư không tạo ra tác nhân nghiệp và, dành cho bất cứ ai muốn thực hành điều đó, chứ không phải chỉ dành cho các vị xuất gia vào chùa làm một tỳ kheo hay một tỳ kheo ni mới gọi là tu theo đạo Phật, c̣n những người không mang h́nh thức này không phải là người của Phật giáo. V́ quan niệm sai lầm này chúng tôi gặp rất nhiều khi đọc những bài viết b́nh luận phê b́nh trong Văn học Việt nam, khi viết về Phật giáo. Có nhiều người, họ cho rằng chỉ có người đi tu ở chùa theo Phật mới gọi là những người tu theo đạo Phật c̣n những tại gia không ở chùa th́ không phải là người của đạo Phật!.)

Sở dĩ cụ Nguyễn Du đă lựa chọn cho ḿnh một phương pháp tu cho thích hợp với cuộc sống và căn cơ của chính cụ cho nên Thiền Công Án là một phương pháp Thiền Định làm thanh tịnh ba nghiệp thân-miệng-ư của cụ. V́ trong Thiền Công Án này có nhiều cách để huân tập nghi t́nh trong lúc tu như: Tham thoại đầu về nghi t́nh công Án này, hoặc tham nghi t́nh Công Án bằng cách tụng đi tụng lại cho đến lúc miên mật ngay trong giấc ngủ cũng khởi lên, huân tập nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm như vậy cho đến khi nào nghi t́nh này lớn mạnh, chỉ cần nhờ một duyên cuối cùng tác động lên nó, th́ Công Án nghi t́nh sẽ bùng vỡ ngay, đó gọi là ngộ. Cũng vậy việc đọc kinh cũng giống như vậy, với mục đích là huân tập đọc đi đọc lai làm cho nghi t́nh càng ngày càng lớn hơn và, cho đến lúc nào đó, chỉ cần một duyên cuối cùng cũng đủ bùng vỡ, như trường hợp của cụ Nguyễn Du cũng vậy. Phân Kinh Thạch Đài là duyên cuối cùng, là giọt nước cuối cùng cho nghi t́nh Kinh Kim Cương của cụ bùng vỡ. Có nhiều người nghĩ rằng đọc kinh không phải tu, nhưng đó là một ư nghĩ sai lầm! V́ đọc kinh cũng là một phương pháp cắt đứt hết mọi duyên khác, chỉ định tâm vào bản kinh và, việc định tâm vào bản kinh chính là thiền định; v́ lúc chúng ta định tâm vào kinh th́ mọi duyên khác bên ngoài chúng ta cắt đứt, chỉ c̣n có biết bản kinh thôi. Lúc này thân chúng ta ngồi một chỗ, hay nằm một chỗ, thay v́ đọc bằng miệng như tụng, chúng ta dùng mắt để độc và miệng th́ giữ im lặng; như vậy th́ ba nghiệp thân-miệng-ư chúng ta đang định vào trong kinh không tạo ra các nghiệp. Vậy là ba nghiệp thân-miệng-ư chúng ta ngay lúc đó không tạo ra nghiệp dữ rồi, đó là một cách tu trong muôn ngàn cách tu khác. Ở đây ai trong chúng ta bảo đọc không phải là tu đây!!!? Tu chỉ có một cái nghĩa đơn giản là sửa và, thiền định là một cách sửa tâm hay nhất đối với những người có căn cơ này. Việc lựa chọn kinh Kim Cương để cụ Nguyễn Du tu tập bằng cách đọc kinh là một trong muôn ngh́n cách tu thiền định trong đạo Phật, với mục đích là để làm lắng động cái vọng tâm đang lăng xăng chạy theo vô minh tạo ra nghiệp khổ, mà cắt đứt dần mọi thứ tạp niệm của ư tạo ra những tạp niệm của thân tạo tác, miệng tạo tác. Lâu ngày chầy tháng dần nhờ sự cắt đứt này mà tâm từ từ trở nên trong sáng rỗng rang trở lại.

Theo Cụ Nguyễn Du, cũng giống như nước giếng xưa vốn vắng lặng trong sạch không bị người khuấy động, trăng sáng chiếu soi thấy bóng rơ ràng, v́ đó là bản chất vắng lặng của nước. Nếu khuấy động lên th́ chúng sẽ đục, ánh trăng sáng sẽ không c̣n thấy được nữa. Tâm của chúng ta cũng vậy không dao động trước mọi duyên th́ với bản chất trong sáng thanh tịnh của nó th́ tự nó sẽ chiếu soi khắp cả và, cũng có khả năng hiển thị tất cả qua bà thơ ẩn dụ đạo ư:

 

"Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh

Tỉnh thủy vô ba đào

Bất vị nhân khiên xả

Thử tâm chung bất giao

Túng bị nhân khiên xả

Nhất giao hoàn phục chỉ

Trạm trạm nhất phiến tâm

Minh nguyệt cổ tỉnh thủy".

       

       

       

       

       

       

       

       

(Đạo Ư)**

Dịch:

Trăng sáng chiếu giếng xưa

Nước giếng không gợn sóng

Không bị người khuấy động

Tâm này thật chẳng động

Nếu bị người khuấy động

Lay động rồi lại dừng

Một cơi tâm lắng đọng

Như trăng soi giếng xưa.

 

Thật ra đó chỉ là một thí dụ, cụ đưa để ví dụ cho tâm con người và nước giếng xưa tạm để chúng ta hiểu được rằng tâm ta khi định một chỗ th́ nó sẽ hiển thị ra công dụng sáng trong vắng lặng cũng giống như nước giếng xưa nếu khuấy động làm cho nó đục th́ nó sẽ không thấy vật ǵ hết, c̣n nếu để nguyên không khuấy động th́ nó sẽ lắng trong. Đó là một thứ kinh nghiệm được cụ rút ra từ cuộc sống của chính cụ, để cho ta thấy rằng sở dĩ thường ngày chúng ta không thấy được tâm trong sáng vắng lặng rỗng rang của chúng ta, mà chỉ thấy hoàn toàn là  những phiền năo khổ đau làm cho chúng ta đau khổ; tâm vật lư này luôn vô thường, luôn tạo ra cho chúng ta những thứ phiền năo khổ đau từ: xa ĺa người thân, những vật mà ḿnh đang sở hữu thuộc về của ḿnh cũng sinh ra đau khổ; những ai ḿnh ghét bỏ, thù oán, hoặc những vật mà chúng ta không thích, không ưa mà luôn xuất hiện trước chúng ta cũng tạo ra những đau khổ; những điều mà chúng ta ước muốn thuộc về chúng ta (vât chất lẫn tinh thần), mà chúng ta t́m cầu không được cũng làm cho chúng ta đau khổ; nói chung là mọi thay đổi trong cuộc sống bất như ư chúng ta là mang lại cho chúng ta những đau khổ. Chính những đau khổ này nó vấy đục tâm tư chúng ta, nó làm cho tâm tư chúng ta tối tăm u ám như nước giếng xưa đang trong lành bị chúng ta khuấy đục lên vậy, công dụng hiển thị sáng soi không c̣n nữa. Do đó chúng ta muốn tâm chúng ta trong lành sáng tỏ th́ đối với mọi sự vật từ tinh thần cho đến vật chất chúng ta chỉ cần không đắm nhiễm chạy theo nó để bị trói buộc bị khuấy dục lên th́ đó chính là tâm vô sự, đó chính là Phật, là tâm không như cụ đă từng viết:

 

“… Phật bổn thị không bất trước vật…”

           

(Phân kinh thạch đài)**

Phật vốn là Không, chẳng chấp vật.

 

Khi tâm chúng ta không chấp vào mọi sự vật chung quanh cuộc sồng từ tinh thần cho đến vật chất th́ đó chính là Phật. Phật này bản thể là tính không, tướng của Phật là không v́ sự hiện hữu của sắc thân nên Phật do nhân duyên tích hợp mà tác thành, thân Phật này không có thực thể, nó chỉ là một giả hợp của Năm uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là một tích hợp của đất, nước gió, lửa (thuộc vật chất); thọ, tưởng, hành thức là tích hợp của tinh thần (thuộc tâm). Vậy th́ từ vật chất đến tinh thần đều do nhân duyên ḥa hợp nà hiện hữu, nên sự hiện hữu của Phật này là một hiện hữu giả danh, v́ Phật chỉ là một giả danh nên Phật vốn là Không. Khi Phật đă không th́ tâm cũng không.

Vậy tâm chúng ta đục hay trong cũng từ nơi ta cả chứ không ai làm cho tâm ta lu mờ và sáng trong được, cho nên cụ khuyên chúng ta nên:

 

"… Nhân liễu thử tâm nhân tự độ,

Linh Sơn chỉ tại nhữ tâm đầu…"

           

           

(Phân kinh thạch đài)**

Dịch:

… Người rơ tâm này, người tự độ,

Linh Sơn[11] chỉ ở nơi tâm ngươi …

 

V́ thường th́ chúng ta hay cầu Phật ở nơi bên ngoài chúng ta, tức là vong thân cầu Phật tại Linh sơn, rất nhiều người nổ lực t́m cầu Phật bên ngoài mà bỏ quên ông Phật chính ḿnh nơi mỗi người, đó là một cái nh́n vô minh thiếu chánh kiến, nên lầm đường lạc lối cầu Phật bên ngoài. Theo cái nh́n thấu tâm đạt lư của cụ Nguyễn Du th́ khi chúng ta đă tỏ rơ bản tâm của ḿnh rồi th́ chính mỗi người phải tự ḿnh độ lấy chính ḿnh ra khỏi vô minh mờ tối của chính ḿnh tạo ra đó th́ tự nhiên tâm rỗng rang trong sáng của chính ḿnh hiện hữu chứ không cần phải dựa dẫm vào bất cứ thế lực nào khác ngoài chúng ta. Nhiều nhà nghiên cứu về Nguyển Du mà không biết chữ Hán hay biết mà không đọc những tập thơ cụ viết bằng chữ Hán để biết cuộc đời của cụ đă chịu ảnh hưởng Phật giáo như thế nào mà viết về Nguyễn Du và Phật giáo th́, đương nhiên có những cái nh́n tưởng tượng lệch lạc về vấn đề này. Qua những điều chúng tôi trích dẫn từ văn thơ của cụ như vậy, ai dám bảo cụ không phải là người của Phật giáo? không phải là người tu theo Phật nào?! Những điều chính cụ viết ra không chịu hiểu không chịu đọc rồi ngồi đó tưởng tượng sai lầm rằng Nguyễn Du ảnh hưởng tâm học của người này người kia v.v… đem áp đặt lên người cụ, trong khi thơ cụ không có bất cứ chỗ nào đề cập đến chủ trương tâm học. Bỡi v́ “Người rơ tâm này, người tự độ, Linh Sơn (chỗ Phật nói pháp) chỉ tại tâm ngươi” không phải là “tức tâm tức Phật, tức Phật tức tâm” Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm sao? Mà theo cụ th́ sở dĩ chúng ta không nhận ra được tự tánh tâm ḿnh, không nhận ra bản lai diện mục của chính ḿnh là v́ chúng ta t́m Phật bên ngoài, chạy rông từ kiếp này sang kiếp, từ nơi này đến nơi kia để t́m; nhưng rốt cùng t́m măi không ra chỉ v́ ngưởi chỉ đi t́m cái bóng của minh không thôi, trong khi bản lai diện mục lù lù nơi chính ta mà ta không biết, càng chạy đi t́m th́ càng lạc lối càng xa quê hương xứ sở nguyên sơ của chính ḿnh chỉ v́ vô minh phiền năo che lấp nên không thấy đó thôi:

 

"Niên niên thu sắc hồn như hử

Nhân tại tha hương bất tự tri".

           

           

(Giang Đầu Tản Bộ)**

Sắc thu hồn vẫn luôn như vậy

V́ măi xa nhà không biết thôi.

 

Tóm lại qua những bài thơ mà chúng tôi đă trích dẫn trong ba tập thơ chữ Hán của cụ Nguyễn Du cho chúng ta một cái nh́n đúng về nhà thơ đă ảnh hưởng sâu đậm Phật giáo trong đời sống “bất ly Thiền” hằng ngày của cụ, là một nhà thơ vĩ đại không những là của Việt Nam ta không thôi, mà cụ c̣n là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất thế giới nữa. Cái vĩ đại của Cụ nhờ vào hai yếu tố thứ nhất bỡi một thứ trí tuệ nghiệp được huân tập di truyền từ nhiều kiếp trước cộng với cái trí tuệ nghiệp được huân tập từ kiếp này, từ cuộc sống qua đó Phật giáo là một tác động quan trọng đối cuộc sống của cụ, nhất là Thiền tông là một nhân tố tác động chính yếu cho việc cụ khám phá ra bộ mặt thật của chính ḿnh cũng như mọi sự vật khác, để từ đó cụ sáng tác ra những tác phẩm mang tính nhân bản triệt để hơn qua Truyện Kiều và Văn Tế thập loại chúng sanh mang đậm tư tưởng Phật giáo trong việc phủ nhận thuyết Thiên mệnh của Nho giáo đă làm hủ hóa khiến con người không tự ḿnh vương lên trong cuộc sống được:

 

“ … Ngẫm hay muôn sự tại trời,

Trời kia đă bắt làm người có thân.

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao. …” (Kiều)

 

Với quan niệm mệnh trời như vậy th́ chúng ta c̣n làm được ǵ, đành phải bó tay bó chân thôi!

 

“… Thôi đành nhắm mắt đưa chân.

Thử xem con tạo xoay vần ra sao?...” (Kiều)

 

Đúng là với quan niệm như vậy nó làm cho con người trở nên yếu mền, nhu nhược. Đây mới là quan niệm làm cho con người bi quan yếm thế của Nho giáo đối với cuộc sống, chứ không phải quan niệm đời là khổ của Phật giáo là quan niệm bi quan yếm thế như nhiều người lầm tưởng. V́ đời chỉ là kết quả khổ, phát sinh từ nguyên nhân, chính con người của mỗi cá nhân mang đến kết quả đó mà thôi chứ đời không phải là nguyên nhân sinh ra đau khổ. Vậy muốn quả khổ này mất đi th́ chỉ cần triệt tiêu nguyên nhân sinh ra khổ th́ đời tự nhiên hết khổ thế thôi. Vậy th́ việc ǵ Phật giáo phải bi quan yếm thế như một số người hiểu biết lệch lạc sai lầm về Phật giáo vậy! Ở đây với quan niệm mệnh Trời bắt làm người có thân, bắt phong trần phải phong trần, cho thanh cao mới được phần thanh cao th́, đây mới chính là quan niệm làm cho con người trở nên bi quan yếm thế không tự chủ trước cuộc sống. Nhưng đó là quan niệm mệnh trời của Nho giáo mà cụ đưa ra làm tiền đề và, tiếp theo đó cụ đưa ra quan điểm tự tác tự thọ, của Phật giáo qua nhân quả báo ứng để kết luận, tức là tự con người làm th́ tự con người nhận lấy cái quả đó, mà phủ nhận cái quyền sinh sát của mệnh Trời kia. Thật sự nếu có Trời đi chăng nữa th́ Trời theo cụ chỉ là một cán cân mà thôi:

 

“Có đâu thiên vị người nào,

Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai. …”(Kiều)

 

Như vậy th́ Trời đâu có thiên vị và làm theo ư Trời được, mà phải lệ thuộc vào tác nhân của người tạo ra mà theo đó mới bắt người chịu những kết quả tương ứng với những tác nhân trước đó của họ. Vậy th́ mệnh Trời đă bị con người tước đoạt rồi, v́ Trời nếu có, bây giờ chỉ làm một cán cân, cân gúp cho con người trong việc cân tội phước, họa phúc, nặng nhẹ thế nào thôi. V́ vấn đề nặng nhẹ có được do chính con người tạo ra. Bây giờ con người đại diện cho chữ tài và Trời đại diện cho chữ mệnh cả hai b́nh đẳng như nhau trên mặt lư tính. Ở đây chúng tôi chỉ bàn sơ qua việc này để kết luận cho bài viết này, việc này chúng tôi sẽ bàn chi tiết hơn trong phần thứ hai, bài kế tiếp về “Từ Thiên mệnh đến Nhân mệnh” trong truyện Kiều.

 

……………………………….

* Bài này trích một phần từ bài viết:

- Nguyễn Du “Từ Thiên mệnh đến Nhân mệnh” trong truyện Kiều.

**Sách tham khảo:

- Tổng tập Văn Học Việt Nam tập 13, 14.

- Tố Như thi, Quách Tấn dịch, NXB An Tiêm, Sài G̣n 1973.

- Nguyễn Du toàn tập, Mai Quốc Liên chủ biên, NXB Văn học 1996.

- Nguyễn Du, niên phổ và tác phẩm của Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính, NXB Văn                 hoá thông tin.

 


 

[1] 以心傳心。立文字(Đ.T. 48, trang 03713b13 Huyết mạch luận, Thiếu thất lục môn).

[2] 為說金剛經。至應無所住而生其心。能言下大悟 Đ.T. 48, Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm hành do trang 0349a

[3] Đ. 48, Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm hành do trang 0349a

[4] Tổng tập Văn Học Việt nam  trọn bộ 42 tập (tập 14,) trang 650 phần chú thích.

[5] Tổng tập Văn Học Việt nam  trọn bộ 42 tập (tập 14,) trang 649.

[6] Tổng tập Văn Học Việt nam  trọn bộ 42 tập (tập 14,) trang 622.

[7] Tử ở đây mang ư nghĩa sống chết trong từng sát-na một. Chỉ cho sự  sống chết thay đổi nhau của những tế bào để tạo nên sự tiến hóa, kể cả tâm lư thay đổi. Sự thay đổi này chính là sự sống chết thay nhau trong từng giây từng khắc. Nếu không có sự thay đổi này th́ con người sinh ra lúc nào cũng vẫn là một giọt máu, không có những hiện tượng trẻ lên ba, trẻ lên mười, để trở thành thiếu niên, thanh niên và cuối cùng già yếu và chết đi. Ở đây nói đến tính hiện hữu của Duyên khởi tánh không của cuộc sống.

[8] Tố Như thi, Quách Tấn dịch, NXB An Tiêm, Sài G̣n 1973. trang 170

[9]  Nguyễn Du toàn tập, Mai Quốc Liên chủ biên, NXB Văn học 1996.

 

[10]  Đ. 17, No. 0842, Đại Phương Quảng Viên Giác Tu-đa-la liễu nghĩa,  trang: 0915c22 (HT. Thích Thiện Hoa dịch.)

[11] Linh Sơn: gọi cho đủ là Linh Thứu sơn, là chỉ cho núi Linh Thứu nơi đức Đạo sư nói pháp độ sinh khi Ngài c̣n tại thế. Có hai thời kỳ đức Đạo sư nói pháp ở nơi đây: Một, thời kỳ đức Đạo sư thuyết Kinh Pháp Hoa. Hai, thời đức Đạo sư phó pháp cho Tôn giả Ma-ha Ca-diếp (theo Thiền tông) “Dĩ tâm truyền tâm”.

---o0o---

Tŕnh bày: Nhị Tường

Cập nhật: 01-10-2007

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>