categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

 

NGỌC BÁU TRONG LỜI KINH

Cư sĩ Liên Hoa

Lặng lẽ nơi nầy, một sớm mai

Sương rơi lạnh ướt bóng trăng gầy

thoảng trong hương gió vang lời pháp

vạn cánh chim bay, hạc cánh dầy

Tượng đá ngàn xưa c̣n in dấu

ngôi nhà châu báu rộng thênh thang

lời kinh chuyển hoá bao thưong khổ

một hạt tùy duyên niệm tấm ḷng

Đất nút từ tâm rừng thơ mộng

hương trầm mật nhũ thở mê say

nghe chân kinh mở bao lời pháp

bồ tát vô sinh hiện khắp, đầy..

Minh Thanh

Trời vừa trút xuống cơn mưa, lúc hạt nặng, lúc như mưa rào, tung tăng trên mái nhà, mặt đường, nhưng cũng đủ làm dịu mát lại bầu không gian, sau bao ngày nóng bức.

Những ngày qua, ngày và đêm chạy theo cơn nóng. Nh́n đâu cũng thấy hơi nóng, bốc hơi từ con đường, sân cỏ, đất, cây cối, chạy đến trong nhà, nóng vẫn đuổi theo và làm như nũng nịu để có mặt khắp mọi nơi chốn. Gió có thổi, nhẹ nhàng, bâng khuâng dưới sức ép của nóng, nhưng lại không làm cho mát hơn, nên đành nhường ngôi cho cái nóng ngự trị. Mới bắt đầu qua tháng 7, mà đất trời nung đốt, không ai biết thời gian tới sẽ ra sao, v́ đôi khi tin tức khí tượng cũng bị sai lạc, v́ chỉ là tương đối.

Mọi người ai nấy đều cảm thấy là h́nh như ltrái đất ngày càng nóng hơn Theo Dịch học, trái đất như cơ thể của một con người cũng như vũ trụ, vạn vật đều hàm chứa “ tĩnh và động hoặc âm dương”, nhưng tương duyên tương sinh. Cho nên khi nh́n sự biến thiên của thiên nhiên, có thể đoán được những điều sẽ xẩy ra cho con người hay trái đất, chí đến bệnh tật. Những luân chuyển hỗ tương giữa năm Hành như: Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ vừa tương sinh, vừa xung khắc để mà tồn tại. Do đó, khi một hành không b́nh thường sẽ làm cho những hành khác chao đảo, mất ổn định, mất thăng bằng và gây bệnh tật, bất an.

Cái nóng dù là của thời tiết, của thiên nhiên, nhưng khi lên cao sẽ làm cho Tâm Hoả bừng bừng sôi động, và Thận Thủy sẽ bị khô kiệt, nên để tự bảo vệ, phải vươn lên để sống c̣n, tạo ra những cơn sống thần nguy hiểm, nhưng đồng thời lại làm cho Can Mộc phát triển, tăng trưởng, để tạo thêm nhiên

liệu cho Tâm Hỏa. Khi Can Mộc gồng ḿnh, sống vững, nhờ sự hỗ trợ của Thận Thủy, lớn mạnh và làm

vỡ vụn, trồi sụt Tỳ Thổ, nên Tỳ Thổ cần phải nuôi dưỡng Phế Kim để chế ngự bớt Can Mộc, làm dịu lại

t́nh thế để cân bằng. Những quá tŕnh tiến triển sinh diệt diệt sinh, khắc chế của thiên nhiên ảnh hưởng

đến muôn loài, đến cơ thể con người, tính khí, tâm sinh lư, bệnh tật và môi trường sống của con người

mà ai nấy đều đă trải nghiệm trong suốt cuộc đời.

- Tâm Hoả quá vượng, ảnh hưởng đến con người, sinh tâm bệnh, hay cau có, nóng giận, stress,

mặt đỏ bừng, stroke, đau tim của trái tim bị nghẽn mạch máu, máu không trở về tim nên gọi là trái tim

khô của các mùa (Hỷ thương Tâm). C̣n thời tiết th́ nóng bức sinh cháy rừng, hạn hán, thiếu vắng

những cơn mưa rào

 

- Thận Thủy v́ phải chống chỏi với Tâm Hoả, nên làm khô thận, mặt mày bơ phờ, viêm nhiễm, hay sợ hăi (Khủng thương Thận), ngủ hay mơ màng, giấc ngủ không b́nh yên, lênh đênh trên sóng biển. Đồng thời, gây nên những trận lũ lụt, sóng thần, gieo rắc tang thương.

- Can Mộc được Thận Thủy hỗ trợ, sanh nóng giận, mặt xanh mét, hung hăng, bất an, gây chiến

tranh, thù hận, tay chân run rẩy (Nộ thương Can). Có lúc làm như là can đảm, nhưng chiều sâu là sự

yếu đuối, bấp bênh, cùng lúc gây nên những trận cuồng phong băo tố cho cuộc đời, cho thiên nhiên.

- Tỳ Thổ bất b́nh Can Mộc và Thận Thủy, nên cần phù Phế Kim để chế khắc Can Mộc làm mặt

mày thay đổi nhan sắc màu vàng (Ưu thương Tỳ), gây đau bao tử, no hơi, viêm loét, hay lo lắng, khổ

đau và cũng làm cho những cơn động đất kinh hoàng cho nhân loại.

- Phế Kim do những hỗ tương, phù trợ của Tỳ Thổ và tương khắc của Can Mộc, nên hay bi quan, thương khóc (Bi thương Phế), khóc cho những mảnh đời lẽ loi, khóc cho cuộc t́nh mỏng manh, trên

ngọn t́nh sầu, hiu quạnh của ḿnh, bằng lời ca tiếng hát, rên rĩ, và cũng gây nên nạn cháy rừng, hiềm

khích với những trận gió nóng, làm khổ ḿnh, khổ người.

Sự mất quân b́nh của thiên nhiên qua những xung khắc, chế hoá của năm Hành như đă nêu trên hay các sự không điều hoà của Bốn đại : Địa Thủy Hoả Phong đưa đến bệnh tật, hoặc nạn tai, tang thương cho con người, môi sinh và vạn vật; nhưng với tâm hồn bất an, đau khổ của chính mỗi con người, sẽ đưa đến sự bất hạnh, trầm luân của chính ḿnh và di hại cho những con người đối tác kéo ch́m sâu trong bể khổ, có thể là oan báo, hay ân đền trong nhiều kiếp hiện tại và mai sau v.v

Nắng cười nứt nẻ dấu xưa

Gió mang nỗi nhớ nhạt nhoà hương câm

đất đi những bước thăng trầm

hoà trong vô vọng, nóng thời lên ngôi

thôi thôi chớ bắt tuổi đời

để cho hạt nắng chiếu ngời lặng yên

để cho nắng sớm mưa chiều

thuận theo hơi thở làm quà thiên nhiên…

Minh Thanh

Qua những bước đường rong chơi trong các luận chứng của Dịch học để thấy rằng: V́ sao mà ngày xưa, con người thường đi t́m và sống trong Đạo học phương Đông, luôn cố gắng sống làm sao để được tâm b́nh, hoà đồng, nhu thuận cùng trời đất, ít sinh bệnh tật, ít đau khổ, ít tổn hại môi sinh. Khi đời sống hiện tại thanh tịnh, an lạc, giải thoát th́ sẽ ảnh hưởng đến con đường thanh thản, siêu thoát khi rời bỏ thân xác nầy, theo tiến tŕnh biến diệt của Thân Trung Ấm. Hiện nay, chúng ta ai nấy đều biết rơ rằng mạng sống con người h́nh như ngày càng trở nên bất an, bấp bênh, không nhất định, dù rằng khoa học đă tiến bô vượt bậc, và dù đời sống có cao hơn, văn minh hơn.

Trong kinh, Đức Phật dạy:” Ba cơi không an, giống như nhà lửa” như nói lên đầy đủ tính bất định của vũ trụ, vạn vật, dù hữu hoặc vô h́nh và dù rằng chúng ta đang ở bất cứ nơi đâu trên cái hành tinh nhỏ bé nầy. Do đó, khi cái tâm bất an, đau khổ, dằn vặt bên bờ vọng tưởng, th́ cảnh giới cũng nương theo đó mà chiêu cảm tương ưng. Ôi, ngọn lửa nghiệp lực thiêu đốt con người đă và đang thống thiết khổ đau đến chừng ấy, nhưng cái nhân gây ra cũng chính do con người đă từng sai phạm, ác nhân, từng vô t́nh hay chủ ư dẫm chân trên những vọng kiến và hành nghiệp sai lầm và hậu quả là phải đối diện với muôn đường trăm ngả bấp bênh.

Trái đất trở nên thăng trầm, trồi sụt do tâm nghiệp lực đẩy đưa, chiêu cảm làm thời tiết thay đổi, thiên tai, động đất, dịch bệnh, chiến tranh và mỗi lần có sự cố xẩy ra, những thảm cảnh làm như được nhân lên, với số người chết, thiệt hại nhân mạng, nhà cửa, môi sinh.

Vừa xẩy ra sự đàn áp cho tiếng nói lương tâm, yêu chuộng hoà b́nh, thương xót nỗi đau bất hạnh của đồng loại mà những nhà sư Miến điện với đôi tay, với cái tâm mang đầy Từ Bi Hỷ Xả, với Trí tuệ nh́n thấy những tương duyên sinh của thân phận con người, đă mang chiếc y vàng ra gánh vác cho tấm ḷng “phụng sự chúng sinh tức là cúng dường chư Phật”, nhưng tiếng nói lại bị giết hại, dập tắt, chà đạp bởi vọng tâm, độc tài, với những bàn tay sắt máu. Nhưng cơn băo Nargis ở Myanmar (Cyclone) lại không  thương t́nh và đổ chụp xuống thân phận người dân Miến điện, gây nên nhà cửa sụp đổ, cuốn bay, chết chóc, chết không thương tiếc, chết thật nhiều, đă trên 140.000 người chết và mất tích, chết xót xa, khổ đau như từng tế bào bị xé nát của những con người trên hành tinh- đang xem trên các màn ảnh truyền h́nh hay nghe tin tức- khi mà trái tim họ không bị vô cảm, c̣n biết rung động, biết thổn thức, biết xót xa đến đồng loại

Hăy cùng đến bên người

mở tâm cùng chia sẻ

dù người ở nơi đâu

cùng chung quả tinh cầu..

(trích “xin đời một trái tim hồng” của Minh Thanh )

Tai nạn cho con người chưa kịp lành vết thương, chưa được hồi phục v́ những cảnh thương tâm hiện vẫn c̣n diễn tiến, th́ những cuồng giận, sắt máu toa rập với vũ khí, với ḷng thù hận lại chụp lên thân phận người dân Tây tạng. Có những con người ngă quị cho Hoà b́nh, có những nhà sư co ro, ngủ yên trong thân xác đầy máu, loang thấm áo cà sa. Khi ḷng thù hận che mờ tâm trí, th́ con người thường dùng đến sức mạnh hung tàn có oai lực mănh liệt, mong dập tắt tiếng nói của loài người biết thương yêu thân phận và giá trị tự do của con người, nhưng chắc chắn rằng không ǵ có thể diệt được màu áo vàng cà sa, v́ đó là hiện thân của đất lành nâng đỡ sự sống con người và v́ nơi đó là sự thâm sâu của tu tập tụ hội, thấm nhuần Bi trí Dũng, biết lắng nghe chia xẻ, nh́n thấy sâu xa khổ nạn của loài người nên lấy thân che phủ trên thân phận con người để bảo bọc, thương yêu và đó là tiếng nói của lương tâm mà mọi người trông đợi. Tấm ḷng đó có thể ngăn che, hoá giải được hận thù, dập tắt được vô minh, cởi bỏ được oan gia, dù rằng bây giờ đang bị hành hạ, chà đạp.

Và cũng một thời gian ngắn sau đó, một trận động đất dữ dội ở Tứ Xuyên (Trung quốc) đă gây trên 70.000 người chết lẫn mất tích, con số c̣n hơn nữa và những thiệt hại to lớn về vật thật và tài sản thật vô cùng. Biết bao nhiêu con người phải sống lầm than, thiếu ăn, thiếu nước uống, sống trong cảnh màn trời chiếu đất, nguy cơ bị bệnh dịch. Những bi cảnh xẩy ra ở những nơi đó, đă đánh động lương tâm nhân loại, làm cho mọi người gần nhau hơn, cần phải được thông cảm, chia sẻ nhiều hơn. Sự sống, sự chết, sự khổ đau, bất hạnh hay hạnh phúc v.v..có thể đến với bất cứ ai.

Đạo Phật là đạo của Từ Bi Trí Tuệ, là con đường Hoà b́nh qua sự thực hành, tu tập giáo Pháp đem đến, do sự chuyển hoá tâm, nên “Mắt thương nh́n cuộc đời”. Từ đó; Đạo Phật là ánh sáng tâm linh vi diệu có mặt bất cứ nơi nào mà con người đang khổ đau, bất hạnh kêu cứu, cầu tới để đem lương dược giải trừ tâm bệnh, đó là phương pháp Ban Vui, Cứu khổ hầu dập tắt những vấn nạn khổ đau của tâm, nơi đưa cuộc đời con người mông lung trong vô định, chấp trước. Đó là bản chất nhân bản của Đạo Phật v́ con người và cho con người, v́ Đạo Phật liên hệ mật thiết đến con người trong đời sống hằng ngày và đem lại những lợi ích thiết thực nếu biết linh hoạt áp dụng và thực hành.

Đó cũng là tâm niệm chí thành của những người trong đoàn hành Hương về đất Phật. Chiếc xe vẫn lao đi vội vă để đến nơi chốn mang dấu ấn tâm linh mà người con Phật đang t́m đến, bởi v́ hiểu được sự lợi ích lớn lao của Phật Pháp và càng thâm hiểu tường tận, th́ họ càng kính tín, củng cố niềm tin vào tánh Phật của chính ḿnh. Cho nên, lại càng bị thôi thúc muốn nh́n được tường tận những nơi chốn mà một con người b́nh dị, siêu thoát đă trú ngụ, đă xuất hiện trên cơi đời, với bước chân đi thanh thoát, nhẹ nhàng, dẫm chân qua những đoạn đường dài để truyền bá giáo pháp cao thượng, v́ con người, để thấy rằng dù đă qua nhiêu thời gian, biến đổi của không gian, nhưng họ- những người con Phật, vẫn c̣n may mắn và hạnh phúc để bắt gặp lại.

Đoàn người hành hương đă đến được chân dăy núi Chhatha (Rajgir), trên đỉnh là núi Linh Thứu (Gridhrakuta). Được đưa lên đỉnh núi bằng dây cáp điện (cable car), ngồi đong đưa, lơ lững, dù có làm cho nhiều người sợ hăi khi nh́n xuống độ sâu, nhưng có lẽ phần nào cũng giúp cho rút ngắn thời gian đi bộ leo lên núi và nh́n được toàn thể ngọn núi, cảnh vật chung quanh.

Bầu trời trong xanh, dịu mát. Có vài con gió nhỏ len lỏi vào không gian, đưa tâm hồn mọi ch́m sâu trong sự an b́nh, thanh tịnh. Phải có cái tâm mở rộng, tĩnh lặng hoà lẫn vào cơi không bao la rộng lớn, mới cảm nhận được hết giá trị tâm linh vi diệu nầy và để cho niềm hạnh phúc vô biên ngự trị trong  tâm? Tâm của mọi người hôm nay, nối kết với tâm của bao nhiêu người hành hương đă đến nơi đây, tương tức tương nhập với tâm của hằng hà sa số tâm của các bậc Thánh nhân, các vị A-la-hán- Thánh đệ tử và của muôn loài chúng sanh đă đang qui kính, đi theo con đường của Đức Từ phụ, ngàn xưa măi đến hiện nay.

Trên đỉnh núi, có một khu vực được làm nền bằng gạch, với bức tường cũng xếp lớp bằng gạch đỏ vuông vức lớn, thấp, bao quanh nơi chốn được cho biết là chỗ Đức Phật thường trú ngụ và giảng Kinh. Bao nhiêu là chân kinh mầu nhiệm đă được tuyên thuyết, giảng dạy tuùng tận, bày tỏ…chỉ v́ con người. Không khí nơi đây lạ lung, đầy linh khí, làm cho ấm ḷng người, làm cho tâm hoan hỷ, vui mừng.

Từ trên độ cao của đỉnh núi, nh́n thấy rơ bao cảnh vật chung quanh. Thấp thoáng là h́nh những dăy núi kéo dài, thơ mộng, có vài nhóm mây trắng nhạt rũ nhau đùa giỡn, trong lành, bỏ lại sau lưng những cảnh đời bon chen, tham đắm đă làm cho đôi vai của người lữ khách nặng trĩu. Gánh nặng của một cuộc đời chất chứa tích lũy từ tài sản vật chất lẫn tinh thần, những đảo điên của từng vọng niệm, những niềm vui hay khổ đau của được mất, của vinh nhục, của từng ḍng nước mắt có thể là hạnh phúc, sung sướng hay khổ đau. Người lữ khách nh́n lên bầu trời cao xanh, ước vọng ḿnh là ngọn gió để phiêu du ngày tháng, rong chơi qua những cảnh thiên nhiên, suối đời hư ảo. Nhưng, với người con Phật đối cảnh hiện tại, lại thấy rơ được tâm niệm lành đang trưởng nở, có chiều sâu hạnh phúc trong nhận chân được duyên sinh duyên khởi của mọi vật và cảm thấy ḷng ḿnh thênh thang mở rộng, lan rộng, bao la, vạn vật tùy tâm thị hiện

Là khói mây trời, rong ruổi bay

Đem trăng về rọi xóm ngàn mây

Hoa ơi! Hăy nở từng hôm sớm

Cho giọt hương lan giữa đất trời.

Ta đứng ngàn trùng bỗng thấy ta

Phân thân đùa giỡn cảnh duyên hà

Ḍng sông về tận nguồn soi bóng

Vui thấy ta bà chở tuổi thơ .

Minh Thanh

Chỗ phần cạnh giữa của bờ tường, có tôn trí một Tượng Phật nhỏ ở chính giữa, chung quanh được trang nghiêm bằng những lá cờ Phật giáo, đèn nến, hoa kết nhiều màu sắc. Mọi người đều thành kính lễ lạy h́nh tượng Phật, tụng Kinh, quán tưởng lại những công hạnh của Đức Phật cũng như hoạt cảnh tại chốn nầy. Một người địa phương và một cảnh sát coi sóc Thánh tích- chắc không phải là Phật tử, mà chỉ là người b́nh thường hay dân địa phương làm nhiệm vụ bảo quản Thánh tích v́ qua cách nói, cách chỉ dẫn cho khách hành hương v.v.. với một thái độ h́nh như họ không hiểu ǵ cả về Đạo Phật- tuy nhiên, có người lo cho khu vực linh thiêng được sạch sẽ, c̣n hơn là để hoang vắng.

Thời gian đă qua lâu quá rồi, có lẽ xưa kia nhộn nhịp, sầm uất biết bao nhiêu, nay lại hoang vắng, im ĺm, dù sức sống của ngàn cây hoa lá, không gian tĩnh mịch, thanh thoát vẫn c̣n hiện diện nơi cảnh vật, thấm từng những hạt cát, hạt bụi, hạt sương và trụ nơi tâm hồn mỗi người con Phật. Thật là xúc động, hoài cảm lại bao nhiêu là những dữ kiện đă xẩy ra, có mặt nơi chốn thiêng liêng. Tôi có thói quen là hay đi t́m những vật ǵ gắn liền với những nơi chốn đi du lịch qua, sưu tầm để kỷ niệm; huống hồ ǵ là nơi Thánh địa của Phật giáo, nên hay t́m lấy đất, lá bồ đề, gạch nơi bốn động tâm, đem về lại nơi ở của ḿnh để tôn thờ, kính lễ. Thấy ông Ấn độ bảo quản nơi nầy, tôi hỏi ông rằng: “Ông có vật ǵ linh thiêng, quí ở đây không? Tôi muốn xin thỉnh”. Ông gật đầu, nói có vật nầy quí lắm và xin tôi tiền, phải có tiền mới cho thỉnh. Tôi rất vui mừng và đưa tiền cho ông. Ông dẫn tôi ra phía sau bức tường, nơi chính giữa đang thờ Phật (h́nh đính kèm), cúi xuống, kéo viên gạch nơi giữa ở phía sau lưng tường, nơi mà Đức Phật thường ngồi tham thiền. Như vậy là viên gạch đỏ được gắn hờ nơi phần dưới của vách tường, làm màu để che mắt mọi người, v́ kéo ra rất dễ dàng, trong đó là lỗ hổng, bộng, rồi ông lấy từ trong chỗ đó ra những viên gạch đỏ, nhiều mảnh vụn, lớn hơn ngón tay cái, có thể đă được đập vỡ ra từ viên gạch nguyên, trao cho tôi. Tôi thật vui mừng, cầm lấy, v́ biết rằng các viên  gạch đă gắn liền với nơi đây theo chuỗi dài lịch sử của Thánh tích, nơi mà Đức Phật đă hiện diện, thuyết giảng cho trời người đến nghe Pháp.

Dù vậy, trong ḷng vẫn cảm thấy làm sao ấy? Thấy ḿnh có tội lắm. Ḿnh có nên làm như vậy không, v́ đang vô t́nh tiếp tay cho ông phá hoại những di tích Phật giáo? Nếu ai cũng có ư muốn như ḿnh, th́ có lẽ sau nầy, vách tường chung quanh chỉ c̣n là những viên gạch giả, mới gán ghép sau nầy.

Nhưng viên gạch đă bị phá vỡ từ trước mà và như vậy, có nghĩa là cũng có nhiều người đă hành động giống như tôi? Ông hỏi tôi là có muốn các thứ đặc biệt khác nữa không, ông đang có nhiều lắm và sẽ đưa cho, nhưng phải cho tiền thêm. Tôi không biết là những thứ đặc biệt mà ông nói là ǵ, nhưng lắc đầu từ chối. Trong ḷng nhiều nỗi phân vân: có nên trả lại những viên gạch vừa được cho ông và yêu cầu để nó lại chỗ cũ? Nhưng cuối cùng th́ tôi vẫn không thắng được ḷng tham, cố chấp của ḿnh, đă không đưa lại mà c̣n dấu trong túi xách để giữ chắc nữa. Những ḍng chữ viết nầy như lời sám hối của tôi, và cũng lời cảnh báo đến những ai hằng quan tâm đến Thánh tích của Phật giáo, cần nên chú ư đến việc làm sai trái như vừa nêu- của tôi và người có nhiệm vụ ǵn giữ, có mặt quanh năm ở đó và có thể, của những người sau nầy tham muốn sở hữu.

Đoàn nối bước nhau, đi bộ xuống trên con đường dốc thoai thoải, nhiều chỗ gập ghềnh, khúc khủyu. Chung quanh bốn bề là rừng cây, rậm rạp. Mọi người v́ chưa quen đi bộ nhiều, nên mệt nhoài, hai chân đều mỏi cứng. Con đường rất sạch sẽ, rộng, được biết là thời Đức Phật c̣n tại thế, vua Mimbisara (B́nh Sa) đă làm ra để khi kiệu khiêng đến chân núi, dừng lại và vua thân hành, đi bộ lên núi bằng chính con đường nầy để viếng thăm, tỏ ḷng cung kính, đảnh lễ Đức Phật.

Đoàn đi qua vài hang núi dọc theo con đường đi xuống, các hang đá được biết là của Ngài La hán Maha Kassappa (Mục Kiền Kiên) Ngài Sariputa (Xá Lợi Phất), Ngài Ananda (A-nan) đă trú ngụ, tham thiền thuở đó. Các hang đá thật giản dị, quá đơn sơ, yên tĩnh, tuy hương vị thanh thoát, b́nh an vẫn c̣n lưu lại, đậm dấu, nhưng khi quỳ xuống đảnh lễ, chiêm bái chốn thanh tịnh, trang nghiêm nơi đây, th́ ai nấy đều cảm thấy ḷng bùi ngùi, xúc động làm sao ấy! Ôi những bậc Thánh Tăng đă không c̣n màng đến vinh hoa, phú quí, sống đời thanh bần, cầu hạnh giải thoát, cứu độ chúng sanh.

Đoàn Hành hương cũng đă đi đến Kusinagara (Câu thi Na) và viếng Thánh tích Mahaparanibbana (Đại Bát Niết Bàn). Đây là nơi Phật nhập Niết Bàn và là một trong bốn Thánh tích quan trọng của Đạo Phật.

Khi vừa đến đây, giữa cái không khí u tịch, thanh tịnh như c̣n mang nặng những dấu vết xưa kia, nơi Đức Phật đă xả Báo thân, nhập vào Vô Dư Niết Bàn và được làm lễ Trà tỳ cũng tại đây. Cây Sa la song thọ vẫn c̣n đó, màu đất như chứa đựng cả tang thương, sẫm mầu và có những cây ở rải rác chung quanh. Đứng lặng yên, ch́m sâu vào suy tưởng, để thấy ḷng ḿnh toả rộng, hoà nhập vào vô vô biên chúng trời người, các vị Thánh tăng, Bồ tát v.v.. Từng cánh lá đong đưa theo gió, từng áng mây lặng lẽ trôi qua, từng đàn chim vừa cất reo tiếng hót, vui mừng chào đón và từng tấm ḷng của mọi người đang có mặt đang lắng sâu trong hoài niệm, trong nỗi buồn vô biên. Im lặng, có nhiều lúc mà sự im lặng là tiếng nói đầy đủ nhất cho ḷng kính ngưỡng, cho nỗi khát khao dấn bước trên con đường tâm linh, là tiếng sóng ngất ngàn trong tâm. Một niệm hôm nay là nối dài của thời gian quá khứ, một khảy động móng tay của vô lượng kiếp kiếp, trùng trùng duyên khởi ngàn xưa lại là một hơi thở thơm no mùi trẻ thơ, trong vô ngôn, vô niệm.

đời hỏi ngă về trong vô niệm

cuối con đường, sắc nặng vô ngôn

ai dừng chân, mở cánh mây trời

không lưu dấu, tâm thành bát nhă

Minh Thanh

Theo sách “Đường về xứ Phật” của Thầy Minh Châu, Thầy Thiện Châu ghi nhận: “Ngôi chùa Đại Niết Bàn được xây dựng vào năm 1956, trên ngôi chùa xưa, cao độ 2 thước, chung quanh có hồ sen. Chùa có bề rộng, chỉ vừa đủ thờ pho tượng Phật. Bên trong có tượng Phật nằm, đầu quay về phương Bắc, diện hướng đến phía Nam, hai chân chồng lên nhau. Tượng có chiều dài khoảng 7 m, được tạc từ 6 một khối đá màu hồng đỏ, vào khoảng thế kỷ 5 TL, nằm trên bệ đá, biểu lộ được 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp”. Gương mặt hiện rơ nét Từ Bi Hỷ Xả và được khai quật vào năm 1825, do ông Carlyle t́m ra.

Mọi người trong Đoàn đều quỳ xuống đảnh lễ với tất cả tâm chí thành, tụng thời Kinh ngắn, rồi ngồi tham thiền. Vị Thầy hướng dẫn đoàn yêu cầu vài ba người kéo tấm y vàng đang phủ trên ḿnh của Tượng Phật xuống để mọi người chiêm ngưỡng toàn thân của Tượng Phật, để thấy rơ nét tạc, điêu khắc tinh xảo của người xưa. Sự xúc cảm tuôn tràn ra, xao xuyến. Nước mắt của tôi, của mọi người chợt tuôn rơi, đầm đ́a. Khóc như chưa bao giờ được khóc, khóc để thấy ḿnh có hạnh phúc được đến nơi đây, khóc để nh́n lại tất cả cảnh đời oan trái, vui buồn mà ḿnh đă trải qua trong kiếp làm người. Nghiệp chướng c̣n nặng nề quá, mỗi bước chân cất lên th́ bao nhiêu vọng niệm cuốn theo, lôi kéo cuộc đời trong trầm luân, nghiệt ngă của bể khổ. Muốn vươn ḿnh thẳng lên để thấy một phương trời bao la, mênh mông, như suối rộng sông dài, như đại đương thâm sâu, để tiếng từ bi, giọt trí tuệ thấm nhuần.

Lời Kinh xưa c̣n đó, h́nh dáng Ngài c̣n tượng h́nh lưu dấu nơi đây, dù thấy ḷng ḿnh ấm cúng trong hạnh phúc tâm linh, nhưng sao lại không được sinh trong thời c̣n Phật tại thế, để được uống nguồn

Giáo Pháp từ kim khẩu của Ngài, để được tắm ḿnh trong biển khơi sữa mật, và mỗi bước chân có mặt trong các cơi chỉ là hạnh nguyện.

Đoàn đi ra ngoài và đến Tháp Mahàparinirvàna, lễ lạy và đi nhiễu chung quanh Tháp. Tiếng tụng Kinh trầm ấm, như vang vọng đến các cơi giới, tỏa rộng vượt khỏi nơi chốn thâm nghiêm, để mọi người, mọi loài nghe thấy đều mở rộng cơi ḷng, hướng thiện. Tháp h́nh tṛn, phủ màu thời gian, rêu phong do đă được xây dựng quá lâu, theo lịch sử ghi lại là do bộ lạc Malla xây dựng để tôn thờ Xá lợi của Đức Phật.

Cảnh vật chung quanh tiêu điều quá, dù rằng với thời gian, với số lượng người tín tâm đi Hành hương, th́ sự xây dựng, bảo quản môi trường đă có nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu của mọi người. Nhưng, màu ảm đạm, sắc u buồn đến từ sự kiện lịch sử là Đấng Cha Lành viên tịch nên mọi cảnh quan vẫn c̣n phủ bởi màu tang thương.

Lịch sử đă diễn ra trong thời gian đó, xúc động trước sự xả Báo thân của Đức Phật, nên đă có hằng ha sa số chư Bồ Tát, các vị Thánh tăng, trời người và muôn vật đă khóc, đau ḷng, vật vă. Tḥi gian đă biết bao nhiêu thiên niên kỷ trôi qua, mà ḷng người hôm nay c̣n xúc động đến như vậy, huống hồ là thời điểm kinh động động địa, đau ḷng, xót xa đối với trời người đất lúc đó. Có tiếng thổn thức đâu đây, có tiếng im lặng tuyệt vời. Mọi người sau đó, đi chung quanh các nền chùa tháp cũ, đă hoang tàn, nhiều nơi đổ nát… để nh́n thấy vô thường sinh diệt của các pháp, để nhặt những chiếc lá Sa La hoặc xanh hay vàng úa nằm phơi ḿnh trên đất, lượm vài viên gạch nhỏ, gói vài tụm cát lưu niệm, để làm dấu ấn cho tâm, cho mảnh tâm chí thành.

Khi bắt đầu trở thành người Phật tử và tu tập, học hạnh làm người con của Phật, đă bao lần trong mơ tưởng của tôi là ước ao được đi chime bái những Thánh tích ghi dấu lại của Đấng Cha lành, nhưng chỉ là ước vọng và ước vọng. Thời gian dài đă trôi qua, nay đă đầy đủ thuận duyên, thử hỏi c̣n niềm vui nào bằng. Trên chặng đường đi hành hương đến những chỗ Thánh tích, với sự ăn uống thiếu thốn, đường xa mệt nhọc, chỗ ăn chốn ngủ bất thường, không nhất định v.v.. nhưng trên gương mặt của từng người vẫn ánh lên nỗi khao khát, niềm hỷ lạc, kính tín là được đến những nơi ghi lại dấu chân của Đức Phật. Đi đến để xác nhận về một con người lịch sử, một bậc Thánh nhân hiếm có của nhân loại và để xác định, thể nghiệm rơ ḷng tin kính, chí thành của ḿnh. Đừng bao giờ đem những giá trị của vật chất ra để so sánh với cái tâm hoan hỷ, an lạc, hạnh phúc của bây giờ.

Làm sao nói hết được tâm cảm của người con Phật, chỉ khi đến được nơi đây, nơi c̣n lưu lại dấu vết của một thời xa xưa, có một vị Đại Giác Ngộ đă xuất hiện trên trần gian, làm lợi ích cho trời người. Đă qua thiên niên kỷ thứ 21 rồi, nhưng qua bao nhiêu là h́nh ảnh khổ đau, phân chia giai cấp, tôn giáo, nghèo nàn, đói khổ, phụ nữ bị xem thường v.v.. c̣n đầy dẫy, hiển hiện trên nhiều đoạn đường mà Đoàn Hành hương đă đi qua, chứng kiến. Do đó, chúng ta mới cảm nhận được hết giá trị cao đẹp tuyệt vời của Đức Phật và tôn giáo mà Ngài sáng lập ra.

Thông điệp về sự b́nh đẳng giữa con người và con người, không phân chia giai cấp, đề cao mọi giá trị nhân bản của con người, con người có toàn quyền quyết định cho đời sống, vận mạng của ḿnh để có ư nghĩa hay không và không một vị Đấng Thần linh nào có thể ban phước hay hoạ hoặc xoá bỏ các nghiệp lực của ḿnh đă gây ra. Vấn đề cho phép phụ nữ gia nhập Tăng đoàn là cả một tấm ḷng bi mẩn, cưu mang và quan trọng hơn hết là xác quyết “mỗi con người đều có khả năng thành Phật và là Phật sẽ thành, nếu biết tu tập, chuyển hoá tâm”. Quả đó là ư nghĩa cao thương, tối quan trọng, nhân bản, an lạc, giải thoát mà Đạo Phật cung cấp cho nền văn minh của nhân loại.

Thông Điệp tối thượng của Đức cho loài người như đă nêu và đề cao giá trị của con người b́nh đẳng trong màu da, trong giai cấp v…v.. đă được đưa ra trong giai đoạn mà thần quyền, thế quyền đang chi phối toàn thể Ấn độ lúc bấy giờ. Ngài thể hiện hành trạng bằng thân hành và bằng chính cuộc sống gương mẫu thanh tịnh, cao đẹp của ḿnh với tất cả Đại hùng, Đại Lực, Đại Trí và Đại Từ Bi. Lời xưng tán của chúng con hôm nay, quá nhỏ nhoi để nói hết được thâm ân đối với Ngài, chỉ biết tinh tấn tu tập, tịnh hoá ba nghiệp, dùng lời văn thô thiển cùng với tát cả tấm ḷng để tán thán, cúng dường “Ngă kim tạm quy y. Tốc diệt tam kỳ nghiệp. Xưng dương nhược tán thán. Ức kiếp mạc năng tận”.

Chúng ta đă đi qua nhiều giai đoạn, từ buổi sơ tâm để bước đi trên con đường t́m những giá trị tâm linh, giá trị cho cuộc sinh tử của kiếp người. Có thể trong chúng ta có người đă vô t́nh ôm chất chồng thêm những tri thức, kiến thức, sở kiến để làm nền tảng vững chắc cho các vọng niệm vô minh, tà kiến, chấp thủ, và tự hănh diện, tạo nên các tâm lư kiêu căng ngă mạn, thông bác kinh điển hoặc giả có người bị quên hết đường đi nước bước, bỏ quên lư tưởng ban đầu, quên mảnh đất non của tâm để đến với đời với đạo, với cái tâm thật đẹp, trinh nguyên mùi hương lúa sữa non, để rồi vong thân, rơi ḿnh trong mê hồn trận của cuộc đời, lấy sự tích tụ tài sản vật chất, giàu sang phú quí làm con đường vinh thân, hưởng thụ. Nhưng, cũng đă và đang có biết bao nhiêu con người quán chiếu cuộc hồng trần, thấy được duyên sinh tương tức của mọi pháp, thấy được cuộc đời mỏng manh vô thường như hơi thở, như giọt sương rơi đầu cành, trẻ đó già đó, sanh đó tử đó, vinh đó nhục đó, giàu đó tay trắng đó, sự khổ của tâm bao lần dày xé, sự đau của con người đă bao lần được chứng kiến, tiếp cận v.v..và họ lên đường trở về, bước về với ngôi nhà tâm bao la, rộng lớn, không phải để mị tâm trong những vọng niệm, không phải để phiêu lưu trong chấp thủ do tâm biểu hiện, biến dạng, và cũng không phải để ch́m đắm, nô lệ trong điên đảo mộng tưởng của cuộc đời. Từ đó, họ yêu cuộc đời, yêu con người, yêu thiên nhiên, yêu những giá trị có thể đem cho con người đến An Lạc Hạnh phúc.

Bước đường đó, tâm tĩnh thức đó đến từ Định (Samadhi), là Chi thứ sáu của Bojjhanga (Thất Bồ Đề Phần) được nói đến trong Bộ Tăng Nhất A hàm (Samyutta Nilaya, Maha Vaga) Tất cả pháp môn của đạo Phật đều là những phương tiện thiện xảo nhằm đưa đến Định hay Tĩnh thức, đi vào chiều sâu của tâm để trở về với Tánh không. Có Định th́ tâm mới an, mới sáng suốt, mới chế ngự được “năm triền cái” như: tham dục (Kamacchanda), oán ghét (Vyàpada), hôn trầm (Thĩnamiddha), phóng dật (Uddhaccakukkucca), nghi hoặc (Vicikiccha). Năm triền cái đă ngăn trở, đă khuấy động, che lấp chân tâm, chướng ngại cho đường trở về, lôi kéo con người trôi lăn theo nẻo ác.

Định như ngọn đèn trí tuệ soi thấu hiện rơ năm uẩn đều không, là giả duyên thành h́nh, thấy như thật, thấy tham dục là ṿng ảo ảnh, là nguồn gốc của sanh tử. Được thoả măn, toại nguyện th́ đem ḷng tham đắm, bám víu, sanh tâm phóng dật, dễ duôi theo bóng trần, buông đời trong nẻo tối. Những khi thua thiệt, mất mác th́ sanh ḷng thù ghét, oán hờn, sanh tâm hoài nghi đủ thứ, dù rằng “đa nghi đa ngộ”, nhưng sự nghi ngờ nơi đây không đưa đến ngộ được, v́ là bắt nguồn từ sự cố tâm bất an, không chánh niệm, bỏ rơi con đường chánh giác, rơi vào ṿng tà kiến chấp thường hoặc đoạn, phân tâm lao vào vực sâu của si mê, vô minh. Cho nên, Định như ngọn đèn soi vào đêm tối đốt cháy vọng trần, như thanh gươm trí tuệ cắt dứt những kiến chấp sai lầm, như chiếc giẻ lau chùi bụi bặm của gương tâm, làm gương tâm trong sáng, soi rơ ràng “ bản lai diện mục = bộ mặt muôn đời” của người hành giả.

Ta đă quên khi bụi trần vừa nhóm

Ru t́nh đời theo mộng mị sa chân

một lân theo dấu, ngàn xưa trở lại

một lần thôi, mà vén mở bầu trời.

Minh Thanh

Định đem lại cho tâm an lạc, trú vào chánh niệm, tĩnh thức, tự nhiên thanh lọc, tịnh hoá các tâm sở, phan duyên, làm cho tâm được quân b́nh, không chao đảo, không dính mắc, trở nên thanh thoát, phong phú, đưa tâm trở về tâm, v́ ngày nào mà những triền cái c̣n hiện diện, có mặt trong tâm, chưa được chuyển hoá, th́ ngày đó, tâm vẩn đục vẫn tồn tại, ánh sáng của trí tuệ vẫn chưa tṛn sáng. Ánh sáng mặt trời luôn có mặt, dù ngày hay đêm, dù ở bất cứ nơi không gian nào, địa dư nào. Cũng như vậy, Tánh Phật có mặt ở trong bất cứ chúng sinh nào, v́ đó là Pháp tánh của tất cả các pháp hữu hay vô vi, và chỉ cần một lần được thể nhập vào vùng trời bao la, vô tận đó, cuộc đời đă đổi khác. Định không biến chúng ta trở thành con người kỳ dị, khác lạ với mọi người, nhưng là con người biết sống, biết đem cái t́nh để đối với nhau để chia xẻ, sống thực trong từ bi, trong hỷ xả, trong sự sáng suốt của đôi mắt trí tuệ soi sáng bước chân trần.

Chúng ta không đi sâu vào chi tiết của phương pháp hay pháp môn tu tập làm sao để đạt được định, mà chỉ muốn nhấn mạnh rằng, dù với pháp môn nào th́ sự tu tập, miên mật, quán chiếu, hành tŕ vẫn là điều tối quan trọng. Bởi v́ đối với Đạo Phật, đây là pháp môn điều phục tâm để giải thoát khổ đau, chứ không phải là tôn giáo của lư luận, hư luận, thần quyền, tà kiến. Cho nên, nếu đến với Đạo Phật chỉ để khoa trương, thoả măn tri thức, lư luận không thôi, hoặc v́ lư do nầy hay lư do khác, th́ chính ḿnh đă tự đi sai đường. Dù chúng ta có nói bao nhiêu lần về vấn đề nào đó, nhưng nếu chưa chứng thực được điều đó với sự tu tập, tiếp cận, th́ điều đó chỉ đơn giản là hư luận mà thôi. Đến với Đạo Phật là để thực nghiệm và chuyển hoá. Thực nghiệm những lời chỉ dạy của Ngài, bàng bạc trong vô số Kinh điển, để chứng nghiệm những lời hướng dẫn đó- v́ Đức Phật không muốn ai tin hay đến với Ngài bằng cái tâm trí mù quáng, tin không thôi và không hiểu, không biết ǵ hết. Khi đă thực nghiệm những lời dạy đó, nếu thấy đem lại lợi lạc cho ḿnh với tâm an tịnh, thanh thoát, bớt những ưu phiền, bỏ dần được các nghệp ác do thân-khẩu-ư gây ra, tâm trở nên sáng suốt, th́ cuộc đời tự nhiên đổi khác…

Đức Phật đă từng nói:”Đây là khổ, đây là phương pháp diệt khổ”. Đó là điều quan trọng hơn hết cho cuộc tử sinh của con người, rất thực tế, thực dụng, chứ không phải để nói những điều phô trương hay hứa hẹn, nô lệ hoá con người. Đă có những người t́m đến với Đạo Phật và nghỉ rằng Đạo Phật sẽ đem lại cho ḿnh được những ǵ đó, một thế trí biện thông, một gia tài giáo lư để lư luận, phô trương sự hiểu biết của ḿnh hoặc giả một nơi chốn nào đó toàn hảo dưới sự cứu rỗi của vị Thần Tự Ngă v.v. Đó thực là điều hoang tưởng, làm đánh mất ḿnh trong vọng tưởng, phó thác cuộc đời vào những duyên sanh vọng tưởng, trong lkhi cuộc đời hay mạng sống của ḿnh thật là quí giá, khi mất thân nầy rồi không biết bao giờ mới có được, khi bị nghiệp lực bủa vây, níu kéo.

Trong kinh Pháp Cú 182, Phật dạy rằng: "Được sinh ra làm người đă là khó. Được sống lại càng khó hơn. Được nghe chánh pháp là khó. Được gặp Đức Phật ra đời là rất khó."

Với Đức Phật, Ngài thuyết giảng các pháp một cách b́nh đẳng với mọi người, và chỉ dẫn con người tu để thoát ra khỏi những thành kiến sai lầm, nhận chân được chân lư giải thoát, chính mỗi người phải tu tập để trực nhận, thẩm thấu, đi sâu vào trong suối nguồn của pháp nhũ giải thoát, v́ không ai có thể thay thế cho chính người đó để giải quyết tận gốc rễ vô minh. Người hành giả cần phải có chánh kiến để nhận đúng đường đi của ḿnh, không phải để buông lơi theo ḍng đời, nhưng mà để đi sâu, thể nhập, tiếp cận hết giá trị của cội nguồn vô giá làm nên giá trị đích thực con người.

Người hành giả cần phải trở về với chính ḿnh, không phải nơi chỗ nầy chỗ nọ, không phải nơi trên trời cao, đất rộng, núi sâu, rừng thẳm, nhưng là nơi chính ḿnh. Đó là điều rất thú vị tuyệt vời, bởi v́ đă bao năm qua, chúng ta chỉ là kẻ đi t́m kiếm, nhiều khi đi suốt cả cuộc đời của ḿnh, nhưng trong đôi tay héo ṃn nầy, những mảnh nối kết của các vật hữu hay vô h́nh, đă trôi bay theo gió thổi, mưa rơi. Chúng ta chỉ c̣n trơ trọi lại nơi chính ḿnh- một tự ngă, nhưng tự ngă cũng bị sụp đổ, vỡ toang, rơi xuống từng mảng một trong vô thường, trong sự hủy hoại các duyên hợp kết thành, phân tán, không có ǵ nắm bắt được. Định mang giá trị nhân bản, hùng tráng cho con người, v́ làm cháy hết những ảo tưởng về một hiện hữu liên tục của ngă- v́ chính đây là nhân và cũng là hệ quả đưa cuộc đời bị trôi lăn, như một người đánh mất căn nhà vô ngôn của ḿnh.

Hăy trở về với chính ḿnh, như một hành giả cô đơn trên “ốc đảo của tự thân”, trên sa mạc tâm linh, ở đó chỉ có ḿnh quán chiếu trong tĩnh lặng, sống thực với chính ḿnh, không c̣n có giải ngân hà của ảo vọng che lấp. Dù rằng, ngoại cảnh hay các pháp có thể chi phối người lữ hành để lôi kéo, thoả vui trong mê vọng, đưa cuộc đời ngao du trong 6 cơi, nhưng cũng chính ngoại cảnh lại là nhân tố để người hành giả nh́n thấu rơ tường tận cấu kết của nhân duyên, của pháp vô ngă với đôi mắt tuệ giác.

Chính sự quán chiếu, xuyên suốt, không mê lầm về các nhân duyên, các biến động thoát h́nh từ tâm, các bóng trần dần dần tự rơi rụng, để lá hoa vẫn nở, để núi trời vẫn thong dong, để mây hiền hoà đùa giỡn với cao xanh, biển rộng. Giả duyên hợp tan, tâm hành giả kiên định trong tánh pháp, không c̣n nô lệ cho 6 căn, 6 trần.

Tà kiến hai đường vui thoả thích,

bạn hữu rong chơi đă đến giờ

người về bên ấy không c̣n đoạn

ta ở bên đây, mất dấu thường

ngàn xưa ôm ấp t́nh năm uẩn

thấy pháp thấy trần cỡi gió bay

bi chừ, nghe lại cung đàn cũ

khúc nhạc chân t́nh, vũ khúc không..

Minh Thanh

Khi tâm an tịnh, không bị vọng tưởng chi phối, không duyên theo các pháp, toà sen đă nở dưới từng bước chân thanh tịnh hành giả, bóng tối vô minh bao đời sẽ bị xua tan, mất dấu tích. Cho nên định làm ánh sáng chiếu rọi theo từng bước chân hành giả, là chánh kiến nh́n thấy sự thật như nó là, thấy rơ tánh không của các pháp, tạo thành sự tinh tấn để miên mật trên con đường giải thoát, rời bỏ định kiến, cố chấp, sai lầm. Có nỗ lực tinh tấn, chánh kiến th́ sự chuyển hoá tâm đă có mặt, dù là một tiến tŕnh đầy gian nan, do v́ chúng ta đă nhiều đời nhiều kiếp đă ôm mang chồng chất những nội kết, tập khí, nghiệp lực.

Định là con đường có thể dài hay ngắn, lâu hay mau, tùy theo căn cơ, nghiệp lực hay sự nỗ lực của từng người, tạm gọi đó là con đường hay phương pháp, nhưng cũng chỉ là phương tiện với cứu cánh là khám ra ông Phật của tự tâm. Đó là chánh nghiệp, là sự chuyển y vô quan trọng để cho con người ngày hôm qua chết đi để cho con người mới sống lại, tinh khôi, thanh khiết, thân thương, gắn liền với đời sống và chia xẻ khổ đau, bất hạnh hay niềm vui đến mọi người. Con người tỉnh thức, con người b́nh dị với những nhận thức, cái nh́n thay đổi, mới tinh, nắm bắt được ḍng sinh mệnh nỗi trôi của kiếp sống.

Chúng tôi từng bắt gặp được những con người nầy, b́nh dị trong đời thường. Tại một ngôi chùa ở Thủ đức, Việt Nam. Bên cạnh chùa là nhà của dân chúng cư ngụ, với thời gian dân số gia tăng, và đời sống vật chất của nhiều người tạm ổn, nên nhu cầu vật chất lại càng đ̣i hỏi, hưởng thụ nhiều. Nhiều nhà cư dân ở cạnh chùa đă có những máy máy móc để hát karaoke và thường mở ca hát nghêu ngao vào mỗi đêm ngày. Tiếng nhạc với đủ giọng ca thời thượng làm ồn ào, huyên náo khu xóm và dĩ nhiên, nhà chùa bấy lâu nay thanh tịnh, nay cũng bị ảnh hưởng. Tăng chúng phiền muộn, nhưng cũng không biết cách nào để sự cố đó ngừng lại, nên lên tŕnh với Hoà thượng Trụ tŕ. Thầy là người chuyên tu Tịnh độ hay câu niệm Phật với người là một, do sự nhiếp tâm, định lực. Thầy khuyên chúng rằng: “Người ngoài do tập khí khổ đau, nên t́m đến âm nhạc để khuây khoả, nhưng những bài nhạc đó đều chứa đựng sự bất hạnh như t́nh yêu tan vỡ, yêu một chiều hay nhiều chiều, thất t́nh v.v. Họ hát để t́m sự vui quên khổ đau, nhưng lại chất chồng them đau khổ do v́ tưới tẩm những lời bi thương, chia cách. C̣n người tu sĩ học hạnh Phật, đi vào trong đời sinh tử để độ tâm khổ của con người. Chúng ta có giáo pháp, có lời Kinh, có câu niệm Phật đều là những bản nhạc t́nh yêu cao thượng, chuyển hoá được niềm đau nỗi khổ, th́ tại sao ḿnh không chuyên tâm niệm Phật để đạt được An lạc, b́nh thản tâm hồn, mới có thể cứu độ họ được chứ. Không khéo tu th́ sao độ họ được”. Lời nói tuy giản dị, ngắn gọn, chân chất, nhưng biểu lộ một tâm lực uyên thâm, từ bi, sáng suốt đă khiến cho Tăng chúng trong chùa càng nỗ lực tu tập. Thời gian, cảnh chung quanh chùa đă chuyển đổi, cư dân chung quanh đă an ổn, bớt sa đọa và thường đến chùa để thọ giới, tu học.

Chúng tôi từng biết một vị Hoà thượng ở một ngôi chùa lớn ở Saigon. Thời sinh viên, tôi thường đến chùa nầy để ôn tập bài thi trên Đại học tại công viên của chùa, v́ chùa rất yên tỉnh. Cho nên, nên hữu duyên được biết Ngài. Dáng người thanh nhă, đă trên 70 tuổi, là người được gọi là Tổ của một Miền trong Phật giáo. Ngài chuyên niệm Phật, hạt chuổi bồ đề tinh nguyệt từ vàng trắng nhạt đổi màu thành đỏ sậm như màu trái hồng quân. Tôi nh́n thấy tay của Ngài lúc nào cũng lần chuổi, nhẹ ngàng, khoan thai đưa từng hột chuổi đi qua, và niệm Phật không ngừng. Là người Phật tử có chút nghiên cứu về Đạo Phật, ḷng rất quí trọng Ngài và nhiều lần muốn t́m đến Ngài để học hỏi và được chỉ dạy thêm về Phật Pháp bằng thân giáo. Nhưng, tôi lại ngại ngùng và hồi họp sợ, hay tránh Ngài. V́ mỗi lần gặp Ngài, vừa chắp tay xá th́ Ngài cũng cúi đầu và c̣n cúi đầu thấp hơn ḿnh, để xá lại và nói những câu “Lạy cụ ! Cụ là Phật sẽ thành, nên con xin lạy Cụ ạ”. Tôi sợ quá, tuổi th́ c̣n nhỏ, bị gọi là Cụ đă thấy ḿnh già rồi và c̣n sợ tổn phước nữa, v́ đây là một vị Đại Cao tăng của ngôi Tổ đ́nh và là vị Tổ của của Miền nầy. Tôi được biết rằng Danh vị Tổ rất là lớn, v́ “Tổ là người hiểu được tâm tông và hành được thâm ư của Phật”. Là Phật tử sơ cơ, tôi phải phản ứng làm sao, ngoài sự trốn tránh Ngài, khi thấp thoáng thấy bóng dáng của Ngài.

Những h́nh ảnh nầy làm cho chúng ta nhớ lại hành trạng của Ngài Bồ tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa “ Tôi không khinh các người, v́ các người là Phật sẽ thành”. Đây là những h́nh ảnh quá đẹp, tuyệt vời của một con người tỉnh thức, bậc Thượng nhân. Người đă sống với bề sâu bề dày của cái tâm bao la, vô biên, trùm khắp, và đă nh́n thấy được tánh Phật trong mọi người, nên luôn v́ đại nguyện dấn thân vào cuộc đời để chỉ dẫn hướng đi cho chúng sanh nh́n thấy được tâm Phật của ḿnh, để giải thoát khỏi phiền năo, khỏi khổ đau, đến bờ An vui.

Đạo Phật là như vậy, những người con Phật đều như vậy, sống với đời bằng cái tâm chân chất, tinh khiết như đoá sen ḷng thanh thản dâng tặng cuộc đời.

Vào thập niên 1960 của thế kỷ 20, nếu tôi nhớ không lầm là năm 1967. Khi Đạo Bahai (Tôn giáo hoàn cầu) xin mở và thành lập Giảng đường tại đường Công Lư, Saigon, nằm ở phía trong, gần đường Yên Đổ, nhưng không được cho phép v́ Chánh phủ lúc đó là Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia bác đơn xin. Và TT. Thích Trí Quang lúc bấy giờ là Tổng Thư Kư Viện Tăng Thống đă gửi Văn Thư can thiệp, xin Chánh Phú cho phép Đạo Bahai được thành lập ở Việt Nam. Văn Thư của Ngài, với những lời lẽ rất cao đẹp , đầy đạo t́nh, chia xẻ, không phân biệt tôn giáo và đă được Chánh Phủ chấp thuận. Tôi có đến Giảng đường Đạo Bahai một vài lần để nghe thuyết giảng trong lần Thầy Thích Minh Châu, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh được mời đến thuyết tŕnh về đề tài Phật giáo. Những người liên quan đến vấn đề như đă nêu trên, hiện vẫn c̣n sống để có thể kiểm chứng, xác thực và tôi nghĩ rằng Văn Thư xin của Viện Tăng Thống cũng vẫn c̣n được lưu giữ.

Chúng tôi cố y nêu vài dữ kiện trên để nói lên tấm ḷng của Phật giáo, luôn luôn sống trong sự chia xẻ, quí kính mọi bất đồng, v́ biết rằng mỗi người đều có nghiệp lực, nội kết khác nhau nên luôn bị chi phối những yếu tố đó. Và mỗi tôn giáo phát sinh đều do hoàn cảnh địa dư, thành h́nh khác nhau và thích hợp với tâm tư của mọi người tùy theo tŕnh độ, nhận thức, học thức v.v

Nhiều người trên thế giới ngày nay, ngày càng đến với Đạo Phật để t́m hiểu, để nghiên cứu và quan trọng nhất là để tu tập. Sự tu tập, hành tŕ là sinh mạng đích thực kỳ diệu của Đạo Phật, v́ qua đó, hạt giống Phật nẩy sanh và người hành giả sẽ chuyển đổi tâm uế trược thành tâm thanh tịnh, bao la, không chấp trước để có thể sống hoà, liên đới với mọi người với tất cả tâm t́nh chia xẻ, an ủi, giải thoát. Trong suốt chiều dài lịch sử của Đạo Phật từ lúc được thành lập, phát triển và truyền bá qua bao nhiêu là quốc độ, người ta t́m đến với Đạo Phật v́ đó là tôn giáo hay là nền tảng cho cuộc sống Hoà b́nh, Nhân bản và khi đến với một quốc độ nào, đạo Phật đều thích nghi, bổ túc cho nền văn hoá tâm linh sở tại và trở thành Đạo Phật của quốc gia đó. Người tu theo Phật giáo là con người tỉnh thức, không tin mù quáng vào thần quyền hay một sự hứa hẹn hăo huyền hoặc sự cứu rỗi nào hay phó thác cuộc đời ḿnh cho bất kỳ vị Thần linh nào đó, v́ qua sự tu tập, từng người hành giả một khi đi sâu vào Chân tâm, th́ sẽ khám phá ra rằng chính ḿnh là chủ nhân ông của ḿnh, chính ḿnh là tác giả cho ḍng đời của quá khứ, hiện tại hay tương lai của chính ḿnh, chứ không phải ai khác. V́ tất cả các pháp đều vô thường, dù hữu hay vô h́nh, có sinh ắt có diệt. Đó là sự khẳng định và là sự thật.

Khi đang viết bài nầy là lúc được tin Hoà thượng Thích Huyền Quang viên tịch, làm chúng ta chạnh ḷng, đau xót trước sự ra đi, đau buồn do sự mất mác nầy . V́ Ngài cũng là một Thượng nhân, một chứng nhân, thị hiện trên cuộc đời ô trược đầy sân hận, tham chấp và Ngài lấy chính thân mạng của ḿnh để phụng sự chúng sinh, cho con người và Đạo Pháp. Đó cũng chính là h́nh ảnh cực kỳ siêu thoát của vị Bồ tát thể hiện đức tánh Bi Trí Dũng của Đạo Phật.

Cũng vào thời gian nầy, trên báo điện tử khắp nơi trên thế giới đều báo động về một hiện tượng nóng bỏng gây đau buồn, đó là chính sách “Ngày tàn của Đạo Phật ở Á châu hay chính sách cải đạo cho người theo Phật giáo” ( Planning The Demise Of Buddhism. Book Review By Allen Carr, LankaWeb, July 1, 2008 ). BuddhistChannel. Tài liệu nầy đă in thành sách và phổ biến rộng rải khắp nơi.

Đây là một mưu đồ đen tối, muốn độc quyền tôn giáo, sau khi đă từ từ thất bại bên trời Âu do v́ dân trí tại địa phương ở đó ngày càng cao, kiến thức rộng, khoa học phát triển tột bực để có thể định giá lại niềm tin.

Chúng ta bước qua thế kỷ 21 với nền văn minh đang lên cao độ, nhân phẩm con người được tôn trọng, nhân bản và sự tự do được quí trọng cùng nền truyền thông đang lan rộng, phổ cập tin tức với tốc độ mau chóng. Cho nên, không ai có thể che ánh mặt trời, v́ dù với với thâm ư như thế nào, chính họ đă phô bày dă tâm mong làm mê mờ, u tối con người qua chiêu bài cải đạo.

Chúng ta hằng mong tôn giáo phải là sức mạnh tâm linh nâng đỡ, chia xẻ con người trong cơn khổ nạn, đem lại hạnh phúc chân thật cho mọi chủng loại trên hành tinh nầy. Biết bao nhiêu là biến động đang tràn lan khắp mặt đất, nơi quả địa cầu mà nhân loại đang sinh sống. Thiên tai lẫn nạn tai, chiến tranh gây nhiều đau thương chết chóc, chia ĺa. Có nơi th́ đời sống đầy đủ, sung túc, dư thừa của ăn của mặc….nhưng, cũng có những nơi mà sự đói khổ, mạng sống con người như giẻ rác. Thay v́ đem những nguyên liệu, vật liệu, thức ăn, tiền bạc để chia xẻ cảnh sống cho con người được tốt hơn là để đầu tư, chế biến thành súng đạn, phục vụ cho sit ham sân. Lương tâm của nhiều người bị biến dạng, vị kỷ. Cho nên, cuối cùng th́ tất cả mọi người trên hành tinh đều trông chờ, mong đợi nơi tôn giáo như là giải pháp cho mọi vấn nạn của con người, đang bị chi phối, dẫn dắt bởi những người mang đầy tham vọng với tâm bất an, dẫn đến những hành vi, quyết đoán sai lạc gây chồng chất thêm bất hạnh cho mọi người. Không một người mong chờ chiến tranh, không một ai là không cầu mong được sống trong thanh b́nh, an lạc, có đầy đủ thức ăn nuôi sống, có đời sống giá trị của một con người đúng nghĩa và tôn giáo được đồng nghĩa là sự an lạc, giải thoát, hạnh phúc đúng nghĩa v́ đă loại trừ khỏi những ác tâm, dối trá, chia rẽ v.v

Như đă thưa ở trên, chúng ta vẫn biết mỗi tôn giáo có vị trí riêng biệt tùy theo địa phương, tùy theo xuất xứ và tùy theo tŕnh độ của con người, nhưng ai nấy đều cầu nguyện và ước mong tôn giáo phải là h́nh ảnh thiêng liêng, cao đẹp để dấn thân và đem lại cho cuộc hiện sinh làm thăng hoa đời sống đầy ư nghĩa cho con người, không mê tín, không tà kiến, không nô lệ cho thần linh, v́ biết rằng tất cả những hiện tượng dù hữu h́nh hay siêu h́nh đều đến từ con người và đến từ tâm. Tâm c̣n nhiều bất an vẩn đục, c̣n phiền năo khổ đau, c̣n đầy rẩy vọng tưởng điên đảo, đầy ác tâm th́ sẽ chiêu cảm làm cho cuộc đời gánh nặng thêm bất hạnh, đau khổ và nhiều thần linh sẽ xuất hiện tương ưng với tâm vọng mê. Nhưng khi tâm chuyển được chuyển hoá do tu tập, do thiền quán, quán chiếu những ḍng sinh tử thay h́nh đổi dạng, nổi trôi trong tâm, sẽ làm tâm tự nhiên tịnh hoá, tinh khiết, làm sáng lên những an lạc, hoà b́nh, thanh tịnh “tuệ nhật phá chư ám”. Đó là chất liệu tối cần thiết của tôn giáo để chia xẻ, ban vui cứu khổ.

Là người con Phật, khi đọc Kinh sách hay t́m hiểu về cuộc đời của Đức Phật, không một người nào là không xúc động, tôn kính. V́ cuộc đời của Ngài quá đẹp, không thể diễn tả bằng bút mực thế gian được, mà chỉ biết tri ân tấm ḷng của Ngài. Qua bao nhiêu là kinh điển, chúng ta chưa bao giờ thấy có một Giáo chủ của một tôn giáo nào mà suốt cuộc đời hành đạo trên 45 năm, đem chân lư giải thoát khổ đau đến cho muôn loài với tất cả tấm ḷng từ bi hỷ xả như vậy. Đọc lại lời Kinh Lăng nghiêm, khi Đức Phật dạy cặn kẻ cho Ngài A Nan (đại diện cho tâm phàm phu mê muội của chúng ta) làm sao phân biệt được vọng tâm và chân tâm từng chút một. Và qua bao nhiêu là thiên kinh vạn quyển khác nữa, không một bộ Kinh nào là không có sự săn sóc, tận tụy, chân thành chỉ dạy của Đấng Cha Lành. Đọc, suy ngẫm, thẩm thấu, tắm gội trong suối nguồn vi diệu pháp, mỗi người con Phật đều cảm nhận hết sự an Lạc, chân phúc và trong ḷng cảm thấy ḿnh quá nhiều phước báu, hạnh phúc được làm người con lành của Ngài. Đến với Ngài không phải để tôn vinh như một vị Thần Thánh đầy quyền năng, đầy thần thông biến hoá, ban ân cứu rỗi, nhưng đến với Ngài v́ lời dạy cao đẹp “Ta là Phật đă thành, các con là

Phật sẽ thành”. Ôi cao cả thay! Ôi sung sướng thay!

Chúng ta chợt nhận thức rằng con người hôm qua đă chết đi để cho con người mới xuất hiện, có mặt với cuộc đời. Dù rằng với h́nh hài cũ, với thân xác nặng nề, cùng với những chất tố làm nên con người, nhưng bảy t́nh ngày nào từng lôi kéo, bốn đại ngày trước từng chia cắt v.v tự biến thành những chất liệu tươi mát, làm đẹp cho cuộc hiện sinh lột xác cho một con người tỉnh thức. Đó không phải là một cuộc hư luận, hay một tṛ ngao du ngôn ngữ viển vông, nhưng là sự thực tập, công phu tu hành. Không có một sự nỗ lực tu tập, không có một sự miên mật, quán chiếu “phản quan tự kỷ”, chúng ta sẽ không nhận thức được đâu là mê, đâu là chân, th́ vẫn bị vọng niệm chi phối, lôi kéo tâm đi trên những nẻo đường vô định.

Giới Định Huệ là suối nguồn vi diệu của tâm, là sự chuyển đổi tâm quan trọng, chúng ta không t́m kiếm ở bất cứ nơi chốn nào trên hành tinh, nhưng tất cả cuộc hành tŕnh đều khởi nguồn và bắt đầu từ tâm địa hay Phật mẫu. Hăy đừng bao giờ để mất hạt giống Phật, v́ đó bến bờ trí tuệ, nơi đáo bĩ ngạn, nơi hội ngộ của phương trời cao rộng, vô thỉ vô chung. Nếu lỡ mất tánh Phật, th́ chúng ta lại phải tiếp làm một cuộc lữ hành vô định mới, về đâu?

từ giă nhé, con đ̣ xưa nghĩa nặng

ta cùng ngươi bạn hữu đă lâu đời

này hăy đi, người đưa đ̣ bến cũ

khách lên đường, đều nặng gánh như nhau

Minh Thanh

H́nh ảnh của chư Tăng trong mùa An Cư Kiết Hạ vừa qua tại nhiều ngôi chùa ở Hải ngoại, số lượng rất đông, làm mọi người con Phật hoan hỷ, xúc động. Theo truyền thống của Phật giáo, vào mùa mưa, v́ thương xót các loài sinh vật nhỏ bé trên đất có thể dẫm chết khi đạp lên chúng và để tạo điều kiện cho Tăng chúng tụ hội, cùng nhau tu tập. An Cư Kiết Hạ là suối nguồn tâm linh vi diệu của Đạo Phật, v́ qua những tháng ngày đó, thúc liểm thân tâm, sách tấn lẫn nhau tu học, thực nghiệm và phát triển tâm linh, hoá giải những nội kết của chính ḿnh, xoá bỏ dị biệt, để có thể đem những hoa trái

hạnh phúc, an lạc đó dâng tặng cuộc đời. Đó là mạng mạch của Phật giáo đă trở thành truyền thống từ ngày Đức Phật c̣n tại thế đến ngày hôm nay.

Ở Việt Nam, cứ vào Rằm Tháng 4 âm lịch đến Rằm tháng 7 âm lịch là mùa An Cư Kiết hạ, là chuyện b́nh thường và phải có. Nhưng, tại nước ngoài, một ngôi chùa mà tổ chức với số lượng Tăng Ni câu hội đông đúc, quả thật là khó khăn về nhiều mặt, nhưng nay th́ đă có. Đây không phải là sự phô trương sức mạnh hay chứng minh cho một vấn đề nào khác, nhưng mà là một truyền thống đầy Bi Trí, là sức sống sinh động của Phật giáo. Chư Tăng hội tụ, hoà hợp tu hành quả là niềm vui khôn cùng, v́ Phật giáo có phát triển, khởi sắc, duy tŕ, tồn tại và có đóng góp được những giá trị ích lợi cho con người hay không, đều nhờ vào Giới Định Huệ của sự thực hành pháp.

Các Ngài đă bao lần xác quyết chính ḿnh qua những lời nguyện thật hùng vĩ, cao đẹp như: “Ngă kim phát tâm bất vị tự cầu Nhơn Thiên phước báu, Thanh Văn, Duyên Giác, năi chí quyền thừa chư vị Bồ Tát, duy y Tối Thượng thừa, phát Bồ đề tâm, nguyện dữ pháp giới chúng sanh nhứt thời đồng đắc A nậu đa la Tam miệu tam Bồ đề.” Vâng, con đường thành Phật và cứu độ chúng sanh, đó là hướng đi của chư Tăng già Phật giáo nói chung và nói riêng, của Phật giáo Việt. Cho nên, tất cả những chuyện thi phi, vinh nhục, chức danh, lợi dưỡng. đều là phù phiếm, vô thường… có đến chăng, cũng đều như cơn gió thoảng qua, các bậc Chúng trung Tôn đều không màng tới và rồi với thời gian, với năng lực tu hành, mọi chuyện sẽ qua như hạt sương dưới ánh mặt trời. Hơn nữa, c̣n có biết bao nhiêu là các vấn nạn bất hạnh, khổ đau của con người, của xă hội đang cầu cứu nơi các Ngài- là nguồn suối tâm linh tưới mát cho nhân loại.

Chúng tôi được gặp nhiều Tăng Ni trẻ ở Việt Nam bây giờ, đă lập chí nguyện đem Phật giáo dấn thân vào cuộc đời để làm giảm bớt khổ đau cho con người. Các vị đó đều không mong cầu ra nước ngoài, mà ở tại Việt Nam, sống hạnh thanh bần, lập thành Đoàn Sứ Giả Như Lai đem Giáo Pháp, đem tấm ḷng, đem văn hoá Phật giáo đến nhiều vùng trên đất nước Việt nam- những nơi mà qua thập kỷ, không có một ngôi chùa nào huống ǵ là có bóng dáng của các vị tu sĩ Phật giáo. Các vị đó đến các vùng đó để dạy học, giúp đỡ tinh thần và vật chất, hướng dẫn giáo lư căn bản, chia xẻ niềm đau nỗi khổ của cư dân từng địa phương. Một Phật giáo b́nh dân, thực dụng, căn bản, không triết thuyết cao siêu, h́nh nhi thượng học, v́ những nơi đó, nơi “biên địa khốn khổ” có nhiều người không đủ ăn đủ mặc, trường học không có, th́ chữ nghĩa ở đâu ra. v.v… Đó phải chăng là lư tưởng của Phật giáo dấn thân, đem Đạo Phật đi vào cuộc đời ban vui cứu khổ. Họ đă và đang thực hiện một cách âm thầm, không phô

trương…v́ đó là nguyện lớn của họ chỉ v́ con người, v́ đồng loại. Con người ở bất cứ nơi đâu, khi si tham sân c̣n, nghiệp lực chiêu cảm, th́ vẫn c̣n đau khổ và cần được các vị tu sĩ hướng dẫn tu tập.

Người Phật tử v́ ngoài đời sống bận rộn của gia đ́nh, t́m đến những giá trị tâm linh cao quí và mong đón nhận được những ân đức của Tam Bảo, làm cho cuộc sống có them ư nghĩa cho ḿnh và cho người. Trước mắt, người Phật tử t́m Thầy, t́m Pháp, theo tu tập để được tâm an lạc, hoá giải những phiền toái khổ đau của đời sống thường ngày, c̣n đặt vấn đề rộng hơn, như giải thoát tất cả mọi khổ đau, thoát khỏi luân hồi v.v lại là vấn đề khác nữa. Bước chân trần vẫn là những bước bây giờ và lúc nầy, bởi v́ nếu bước chân đi không vững, bị nhiều chi phối do tự ḿnh dễ duôi, không tu tập mà c̣n bị lôi cuốn theo mọi vấn đề thời thượng, th́ hiện tại đă không an lạc, hạnh phúc huống ǵ là tương lai.

Này bạn! có ai trong cuộc hồng trần, một lần đặt chân trên hành tinh xanh mà mà không phải trôi theo ḍng đời về đến một đích điểm nào đó. Nhưng, ngày rời khỏi nơi chốn trần gian, chúng ta sẽ về đâu? Có ai nắm bắt được suối mây ngàn, nghe lại từng cơn gió thoảng. Có ai thức suốt đêm trường và thấy ngày đêm chỉ là một. Có ai ôm được bóng dáng thời gian đang liêu trai hoá h́nh sinh diệt, thấy bóng mặt trời luôn có mặt dù là bóng đêm đă kéo về. Hăy cười vui như nụ cười thơ trẻ, tinh khôi, trong ngằn của cái tâm chân chất, đơn giản. Cuộc đời đă quá nhiều nhiễu nhương, phức tạp rồi, có thêm chúng ta trong lộ tŕnh sinh tử cũng thế thôi, cũng đau khổ, xót xa, khóc cười theo tâm tưởng. . Có cần ǵ thêm những định kiến, thành kiến, tà kiến, vọng tưởng điên đảo cho đời nhiều hệ lụy, rối ren. Hăy quăng đi những tâm địa xấu ác, hăy ngồi xuống đây, dừng lại đôi mắt láo liên chạy theo ḍng đời, hăy nh́n lên bầu trời để thấy mây vẫn xanh, hơi thở thơm tho mùi định lạc. Đừng làm khổ chính ḿnh v́ vọng tưởng, v́ người khổ, ta khổ, người bệnh th́ ta nào vui, đó là tư tưởng của Bồ tát Duy Ma cật bốc lên cao tận núi ngàn biển rộng, với cái tâm đại từ đại bi hùng tráng. Nhưng, đứa bé thơ nh́n đời thấy ngạc nhiên, thơ mộng v́ tâm là định, tâm là tuệ, tâm là đất trời không ngăn cách, tâm là một niệm thiên thu, cuộc bỉ thử tranh giành rơi xuống để chỉ c̣n là tài sản tâm linh vô ngôn, tánh không đóng góp cho hạnh phúc của con người.

Đắn đo, suy nghĩ như lời thơ của Nguyễn Khuyến:

“Câu thơ nghĩ đắn đo muốn viết

viết đưa ai, ai biết mà đưa”

Nhưng rồi với tâm t́nh của người con Phật, lời thơ văn như có bổn phận tuôn tràn. Chúng tôi muôn nêu lên những dữ kiện nóng bỏng ở trên, để những ai hữu tâm với sư tồn sinh của Phật giáo trong ḍng sinh mệnh của từng quốc gia mà Đạo Phật đă và đang đóng góp cho những giá trị cao đẹp của con người suốt chiều dài lịch sử nhân loại, hăy nên quan tâm và suy tư đến. Đừng bao nghĩ rằng:

Giáo pháp của Đạo Phật cao đẹp, với bốn vạn tám ngàn pháp môn thích ứng với mọi nhu cầu tâm linh của con người, nhưng nếu chúng ta không tu tập, không quán chiếu lại ḿnh, không xiển dương phổ biến giáo pháp đến mọi người đang cần cầu để đem lại an lạc cho chính ḿnh và nhân loại, có lẻ người con Phật chúng ta đả cô phụ thâm ân của Đấng Cha Lành- người đả thị hiện vào cỏi ta bà đầy năm trược, chỉ với mục đích duy nhất “ Khai Thi Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”.

Nhửng lời chân thành, tâm sự ở trên, có lẽ bạn không đồng ư, chướng tai, khó chấp nhận, nhưng xin đón nhận ở đây như một tấm ḷng của người con Phật.

Một hạt sương rơi giữa đất trời

Vô t́nh chạm phải bến hư không

hỡi ai từng nhặt lời chân chất

có đổi tâm t́nh bớt khổ đau

14

em bé ngày xưa ấp mộng đầu

nghe trong đôi mắt có hơi cay

màu xanh của đất hay của mộng

hăy để thuyền từ chở giấc mơ

trong đêm u tối, ngàn sao sáng

lấp lánh muôn trùng những ước mơ

xin người t́m lại vườn thơ cũ

trái đất xanh mầu bởi tuổi thơ..

Minh Thanh

Xin được kính chia xẻ cùng mọi người với những ước mơ.

Mong lắm thay!

Viết xong ngày 18.07.2008

---o0o---

Cập nhật: 01-8-2008

 


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>