categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Audio Truyện Phật Giáo Audio Kinh điển đại thừa Audio Đại tạng kinh (Nikaya) Audio Kinh Tụng Audio Luận tạng Audio Luật tạng Phật pháp cho người bắt đầu Audio Thiền học Audio Tịnh độ Audio Triết học phật giáo Âm nhạc phật giáo Upload nhạc Phật Giáo Thư viện media tổng hợp Cư sĩ - Diệu Âm (Australia) Pháp Sư Ngộ Thông Pháp Sư Tịnh Không Các bài Thuyết Pháp Truyện Phật Giáo Chết & Tái sinh Nghệ thuật sống đẹp Thơ Thiệp điện tử H́nh ảnh Phật Giáo Ăn chay Hướng dẫn nấu chay Tài liệu chữa bệnh Bồ Tát Hạnh Kinh Điển I Kinh Điển II Lịch sử Phật Giáo Nghi Lễ Danh Nhân Thế Giới Phật Học I Phật Học II Đức Phật Luận Giải Giới Luật Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền Mật Tông Triết Học Phật Giáo
.

 

Từ Nguyễn Trăi đến Ngô Th́ Nhậm
và con đường đi lên đỉnh núi Yên Tử

Thích Phước An

- I -

Tôi c̣n nhớ vào khoảng cuối năm 1973 hay đầu năm 1974 ǵ đó. Tuần báo văn nghệ T́m Hiểu tại Sài G̣n có đăng một bài phỏng vấn Bùi Giáng, người phỏng vấn là Phan Quốc Sơn. Trong đó Bùi Giáng có nhắc đến cái chết của Nguyễn Trăi, tôi không c̣n nhớ được nguyên văn, nhưng đại ư Bùi Giáng nói rằng:" Đêm nào tôi cũng nằm mơ thấy Nguyễn Trăi bị tru di tam tộc, rồi đây dân tộc ḿnh phải gánh lấy hậu quả của ác nghiệp mà ḿnh đă gieo ấy".

 Không biết đó có phải là lời tiên tri của một thi sĩ hay không?

 Nhưng trên thực tế th́ từ 1973 đến nay đă gần 3 thập kỷ, đúng là 3 thập kỷ mà dân tộc đă phải gánh chịu không biết bao nhiêu là thống khổ, chiến tranh, phân ly và nhất là hận thù.

 Trong đêm dài đằng đẵng của quê hương đó, chắc chắn rằng vẫn không ít những người con thức cùng với quê hương đau khổ, vẫn thức cùng với nỗi oan nghiệt và ngang trái mà Nguyễn Trăi, một bậc anh hùng đă hiến dâng tất cả t́nh yêu của ḿnh cho quê hương, để rồi cuối cùng phải ngă gục bởi t́nh yêu mà Nguyễn Trăi đă cưu mang đó.

 Trong thơ của Nguyễn Trăi, ta thấy ông thường nói đến cái hận của bậc anh hùng:

Kim cổ vô cùng giang mạc mạc

Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu

 ( Xưa nay thời gian không cùng, sông rộng bát ngát

Anh hùng mang mối hận, lá rụng veo veo)(1)

( Văn Hứng )

Và trong một bài thơ khác, Nguyễn Trăi lại nói đến cái hận đến cả ngàn năm:

Anh hùng di hận kỷ thiên niên

(Anh hùng để mối hận đến mấy ngh́n năm sau)(2)

Dù đó là câu được trích trong bài Quan Hải (đóng cửa biển) nhắc đến việc Hồ Quư Ly đă lấy gỗ và đá đặt sau dưới ḷng biển để đánh đuổi quân Minh xâm lăng, nhưng v́ không được ḷng dân, th́ dù là một bậc anh hùng như Hồ Quư Ly đi chăng nữa, th́ cuối cùng cũng gánh lấy thảm bại mà thôi.

 Nhưng tôi nghĩ rằng, khi làm câu thơ trên không nhiều th́ ít Nguyễn Trăi cũng có gởi gắm tâm sự của ḿnh trong đó. V́ lư do dễ hiểu là một người tự trọng như Nguyễn Trăi th́ không bao giờ tự nhận ḿnh là bậc anh hùng.

 Nhưng Nguyễn Trăi có hận riêng cho bản thân ḿnh không?

 Đọc lịch sử dân tộc, th́ có lẽ ai cũng phải công nhận rằng, chỉ có Nguyễn Trăi là người chịu nhiều bất công và đau khổ nhất trong số các bậc anh hùng của dân tộc.

Vừa mới thi đậu tiến sĩ, được Hồ Quư Ly cử giữ chức Ngự Sử Đài Chánh Chưởng, mộng ước giúp nhân dân giúp đất nước đă nằm trong tầm tay. Vậy mà mộng ước đó đă bị vùi dập ngay tức khắc khi quân Minh do Trương Phụ chỉ huy đă ào ạt xâm lăng đất nước. Cha con Hồ Quư Ly và hầu hết triều đ́nh nước "Đại Ngu" của ông đều bị bắt làm tù binh, trong đó có Nguyễn Phi Khanh, cha của Nguyễn Trăi.

 Nghe tin, Nguyễn Trăi đến thăm và tiễn cha đến tận biên giới, có ư địnhtheo cha qua Trung Quốc để hầu hạ cha trong buổi xế chiều của cuộc đời. Nhưng sau khi nghe lời khuyên của Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trăi đă gạt nước mắt từ biệt cha và em rồi quay trở lại để t́m con đường "rửa nhục cho nước, trả thù cho cha".

 Vậy là, Nguyễn Trăi phải bắt đầu làm lại cuộc đời từ con số không, với trước mắt là h́nh bóng người cha già và đứa em trai sống những ngày c̣n lại trên đất khách quê người với cuộc đời tù binh mà Nguyễn Trăi biết chắc rằng sẽ chẳng bao giờ gặp lại được nữa, c̣n sau lưng là quê cha đất tổ đang quằn quại trong đêm dài nô lệ của ngoại bang.

 Rồi sau khi đă cùng với Lê Lợi nằm gai nếm mật "rửa nhục cho nước, trả thù cho cha" th́ Nguyễn Trăi phải chịu nỗi đau đớn khác nữa. Lê Lợi v́ muốn thâu tóm quyền hành nên đă bắt đầu nghi ngờ những nhân vật lỗi lạc đă cùng với Lê Lợi chung vai sát cánh đánh đuổi quân Minh. Sử chép rằng, năm Thuận Thiên thứ 2, Lê Lợi sai bắt Trần Nguyên Hăn, một đệ nhất công thần khiến Trần Nguyên Hăn phải nhảy xuống sông tự tử. Rồi tiếp theo là Phạm Văn Xảo, một đệ nhất công thần khác cũng bị giết. Và chính Nguyễn Trăi cũng bị nghi ngờ có liên hệ với Trần Nguyên Hăn nên cũng bị bắt, nhưng chỉ một thời gian ngắn th́ được thả ra.

Và cuối cùng là, một tai hoạ thảm khốc nhất đă giáng xuống trên đầu Nguyễn Trăi:

" Vào cái ngày đau xót không những cho Nguyễn Trăi mà c̣n cho cả dân tộc nữa, là ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất tức ngày 19 tháng 9 năm 1442 Nguyễn Trăi và gia tộc đă rụng đầu dưới lưỡi dao oan nghiệt của cái triều đ́nh hèn hạn và ngu muội mà chính ông đă chiến đấu gian khổ để dựng nên" (3).

 Nhưng xét cho cùng th́ đó cũng chỉ là tai hoạ riêng của Nguyễn Trăi và gia tộc. Một bậc anh hùng như Nguyễn Trăi th́ chắc không bao giờ có thể lấy sự đau khổ có tính cách riêng tư để ôm mối hận đến ngàn năm sau. Vậy th́ Nguyễn Trăi ôm hận v́ việc ǵ?

 Lịch sử chép vào năm 1437 vua Lê Thái Tôn sai Nguyễn Trăi và Lương Đăng thẩm định lại lễ nhạc. Nguyễn Trăi tâu với Thái Tôn rằng:

 " Thời loạn th́ dùng vơ, thời b́nh th́ dùng văn. Ngày nay định ra lễ nhạc là phải thời lắm. Song không có gốc th́ không đứng vững, không có văn th́ không thể lưu hành. Ḥa b́nh là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc" (4).

 Nhưng dù sao đó cũng là những lời những chữ mà ta có thể nghĩ là bất cứ một chính trị gia thông minh và khôn ngoan nào cũng có thể phát biểu được. Chỉ có những lời sau đây mới là những lời được phát xuất từ trái tim nóng bỏng của bậc cha già v́ t́nh thương yêu cho con cháu ở muôn đời sau:

" Dám mong bệ hạ rủ ḷng yêu thương và chăn nuôi dân khiến cho dân trong thôn xóm vắng, không có một tiếng hờn giận oán sầu. Đó tức là giữ được cái gốc của nhạc" (5).

 Nguyễn Trăi bị giết năm 1442, vậy là tính đến nay đă gần 600 năm. Có lẽ trong khoảng thời gian dài đằng đẵng của lịch sử dân tộc đó, trừ vài thập kỷ ngắn ngủi dưới thời Lê Thánh Tông (1442-1497) ra, c̣n hầu hết th́ "tiếng hờn giận, oán sầu" vẫn vang lên trong những xóm vắng của quê hương đất nước.

 Thi sĩ là kẻ luôn luôn có trực giác sâu xa nên Nguyễn Trăi đă linh cảm được rằng, sự đau khổ chính bản thân ḿnh cũng là sự đau khổ chung cho cả dân tộc trong những thế kỷ tiếp sau chăng? V́ lẽ những bậc anh hùng th́ luôn luôn lấy sự đau khổ chung như là sự đau khổ của chính bản thân ḿnh vậy.

Vào hậu bán thế kỷ 18, cũng có một nhà đại trí thức cũng bị trả thù và hạ nhục như Nguyễn Trăi. Đó là Ngô Th́ Nhậm bị Gia Long đem ra đánh đ̣n tại Văn miếu, và đă chết ngày 16 tháng 2 năm Quư Hợi (9 tháng 3 năm 1803). Thực ra, Ngô Th́ Nhậm chỉ bị hạ nhục chứ không oan trái như Nguyễn Trăi. V́ Nguyễn Trăi đă ngă gục dưới lưới dao của chính triều đ́nh mà ông đă dựng lên. C̣n Ngô Th́ Nhậm th́ ngă gục bởi triều đ́nh đối nghịch với triều đ́nh mà Ngô Th́ Nhậm đă phục vụ là triều đại Tây Sơn. Nhưng nói cho cùng, th́ dù là triều đ́nh nào đi nữa th́ cũng đều là chung ṇi giống Việt. Bởi vậy, hai cái chết của hai nhà đại trí thức lớn của dân tộc vẫn để lại vết thương đau đớn không phải chỉ ở thời đại của Nguyễn Trăi và Ngô Th́ Nhậm thôi, mà vết thương đó vẫn tiếp tục mưng mủ cho đến nhiều thế kỷ sau nữa, đặc biệt là đối với những người biết vui cũng như buồn về lẽ thịnh suy của lịch sử dân tộc.

Không chỉ giống nhau về cái chết bị hạ nhục, mà Nguyễn Trăi và Ngô Th́ Nhậm c̣n giốnh nhau trên nhiều lănh vực nữa. Trước nhất là thời đại.

Vậy thời đại mà Nguyễn Trăi đă sanh ra và lơn lên như thế nào?

Đó là vào những năm cuối đời Trần. Gần như đă trở thành một quy luật, những ông vua cuối cùng của bất cứ triều đại nào ở đâu và thời đại nào cũng vậy, nghĩa là cũng hèn yếu, nhu nhược, hưởng thụ trên sự đau khổ và rên xiết của muôn dân một cách tàn nhẫn mà không hề có một chút hỗ thẹn. Nguyễn Phi Khanh cha của Nguyễn Trăi trong một bài thơ gởi cho Băng Hồ Trần Nguyên Đán đồng thời cũng là cha vợ của ḿnh, một Tôn Thất của nhà Trần. Nguyễn Phi Khanh đă nói lên t́nh cảnh khốn khổ của người dân tại một làng quê như thê này:

Đạo huề thiên lư xích như thiêu

Điền dă hưu tu ư bất liêu!

Hậu thổ sơn hà phương địch địch

Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều!

Lại tư vơng cổ hồn đa kiệt,

Dân mạnh cao chi bán dĩ tiêu

 

( Đồng lúa ngh́n dặm đỏ như cháy

Vùng thôn quê vang tiếng kêu than:

Sinh kế biết trông đâu!

Non sông khắp giải đất này đang khô không khốc:

Mà mưa mốc hoàng thiên c̣n xa biền biệt

Màng lưới nha lại, làm cho dân kiệt quệ mất nhiều;

Dầu mỡ trong sinh mạng dân ta đă tiêu hao đến một nửa!)(6) 

(Thôn cư cảm sự kư tŕnh Băng Hồ tướng công)

Trước một xă hội như vậy, Nguyễn Phi Khanh với tư cách một sĩ phu cứ băn khoăn tự hỏi ḿnh phải làm ǵ?

Ô hô thế đạo như hà ngă

Tam phủ di biên phú Đại Đông!

 

( Than ôi! Trên đường đời, ta biết tính sao đây?

Ba lần vỗ b́a sách cũ mà ngâm thơ Đại Đông!)(7)

( Thu nguyệt hữu khởi cảm tác )

Không c̣n hồ nghi ǵ nữa chính Nguyễn Phi Khanh qua nhữnh vần thơ trên đă hun đúc tâm hồn cho con la Nguyễn Trăi sau này.

Đến Nguyễn Trăi th́ sự thống khổ lại được nhân lên gấp bội, nghĩa là ngoài sự đau khổ loạn ly của xă hội cuối đời Trần, Nguyễn Trăi c̣n chứng kiến sự tàn bạo của quân cướp nước:

Thui dân đen trên ḷ bạo ngược

Hăm con đỏ dươi hố tai ương.

Dối trời lừa người! Kế gian đủ muôn ngh́n khoé.

Cậy binh gây hấn, ác chứa gần hai chục năm (8)

( B́nh Ngô Đại cáo )

Đó không phải là hận thù lên tiếng nói mà chính t́nh thương đă lên tiếng nói. Phải có một tấm ḷng tràn đầy nhân ái nên chỉ trong vài câu ngắn gọn Nguyễn Trăi đă phơi bày được hết cái xấu cái ác của một thiểu số người thống trị ở mọi thời đại.

Kẻ xâm lược có nghĩa là kẻ không cùng chung ṇi giống, th́ họ tàn bạo cũng là điều có thể hiểu được. Nhưng cùng chung một ṇi giống mà " Dối trời lừa người" để “ Thui dân đen trên ḷ bạo ngược" th́ lịch sử xưa cũng như nay đều không phải là ít.

Vào hậu bán thế kỷ 18, xă hội mà Ngô Th́ Nhậm sanh ra và lớn lên cũng chẳng khác ǵ xă hội mà Nguyễn Trăi đă chứng kiến từ những ngày c̣n trai trẻ ở đầu thế kỷ 15, nghĩa là cũng những ngày xế chiều của vua Lê chúa Trịnh ở đàng Ngoài, và chúa Nguyễn ở đàng Trong. Phan Huy Chú đă ghi lại về đời sống của người dân về những ngày ấy:

" ... V́ sự trưng thu quá mức, vật lực kiệt không thể nộp nổi, đến nỗi người ta thành ra bần cùng mà phải bỏ nghề nghiệp. Có người v́ thuế sơn sống mà phải chặt cây sơn, có người v́ thuế vải lụa mà phải chặt khung cửi. Cũng có kẻ v́ nộp vỏ cây mà bỏ ŕu búa; v́ bắt cá tôm mà xé lưới chài, v́ phải nộp mật mà không trồng mía đường nữa, v́ phải nộp bông chè mà bỏ hoang vườn tược. Làng xóm náo động... “(9)

Năm 1769, Ngô Th́ Nhậm mới có 23 tuổi được bổ nhiệm làm Hiến Sát Phó Sứ Hải Dương. Trong Hàn Các Anh Hoa, c̣n ghi lại tất cả những bài Khải của Ngô Th́ Nhậm dâng lên chúa Trịnh, hầu hết đều nói đến “cái ẩn t́nh đau khổ của dân”. Trong một bài Khải khác, Ngô Th́ Nhậm đă chính thức đề nghị chúa Trịnh nên thi hành "các cải cách hành chánh", Ngô Th́ Nhậm viết:

“... Thần được nghe “ Quan nhiều th́ lại nhiều, lưới thưa th́ dân giàu" cho nên Thiên Chu quan nói: "Quan không cần đủ". Thiên Lập Chính nói: "Cẩn thận noi phép tùy theo nặng nhẹ mà dùng h́nh phạt cho thích đáng”. Những điểm đó đều là gốc của chính sự, có quan hệ đến tính mệnh của dân, sai một ly là đi một dặm.

Gần đây, cứ nhân tuần theo như tệ cũ, mỗi ngày một phiền nhiễu thêm: quan có khi không cần đặt cũng đặt, việc có khi không cần thêm cũng thêm; kiện có khi không cần xử cũng xử. Nói chung họ lợi dụng chức vụ để sách nhiễu, mượn văn án để làm việc thiên tư, khiến kho của dân bị khánh kiệt v́ quan nhiều, chính thể bị tổn thương v́ án nặng. Hiện nay ở nơi thôn xóm, dân đương vất vả v́ thiếu ăn. Mong được nới phần nào nhờ ơn phần nấy.

Thiết nghĩ đường lối nới rộng cho dân, trước hết là bỏ những viên chức tạp nhạp, ngồi không và bớt những công việc phiền nhiễu đi" (10). ( Tuế quy Trần ngôn khải )

Ngô Th́ Nhậm viết bảng điều trần trên cách đây đă gần 2 thế kỷ rưỡi.

Phong kiến rồi thực dân đế quốc đă bị quét sạch.

 Thế nhưng những điều mà Ngô Th́ Nhậm yêu cầu chúa Trịnh băi bỏ để quan lại thời đó bớt ức hiếp người dân, đến nay vẫn c̣n tồn tại, mặc dù tồn tại dưới một h́nh thức khác, nghĩa là tinh vi và máy móc hơn nhiều.

Trong lịch sử đánh đuổi ngoại xâm của dân tộc, mặc dù rất nhiều, nhưng có lẽ 4 cuộc chống ngoại xâm được xem là vĩ đại nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, đó là: cuộc đánh Tống của Lư Thường Kiệt (1076), cuộc đánh đế quốc Nguyên Mông của Trần Hưng Đạo lần thứ nhất (1257), lần thứ hai (1285) và lần thứ ba (1287-1288), rồi cuộc đánh đuổi quân Minh của Lê Lợi (1418-1427) và cuối cùng là cuộc đại phá quân Thanh năm Kỷ Dậu (1789) của Quang Trung Nguyễn Huệ.

Nếu xét theo hoàn cảnh, th́ có thể nói rằng hai cuộc chiến tranh vệ quốc sau là cuộc đánh Minh của Lê Lợi và đại phá quân Thanh của Nguyễn Huệ th́ gian nan và khó khăn hơn nhiều. Khi đánh Tống, th́ Lư Thường Kiệt đă có sẵn một vương triều Lư đang ở hồi hưng thịnh nhất. Cũng vậy, khi đế quốc Nguyên Mông tràn vào nước ta th́ Trần Hưng Đạo cũng đă có sẵn vương triều Trần cũng đang ở trong gian đoạn hùng mạnh, nhất là tinh thần đoàn kết từ vua quan đến thứ dân.

Trong khi Lê Lợi đă phải bắt đầu bằng hai tay trắng nơi núi rừng Lam Sơn nghèo khổ ở Thanh Hóa. C̣n Nguyễn Huệ th́ có thuận lợi hơn Lê Lợi, nhưng vẫn có nhiều hạn chế, trước hết là nội bộ Tây Sơn đă bắt đầu rạn nứt, trong Nam th́ Nguyễn Aùnh đang bắt tay với Pháp và củng cố các tỉnh miền Nam để chuẩn bị phản công. C̣n ở Bắc Hà, mặc dù dân chúng th́ căm ghét quân Thanh xâm lược, nhưng một số nhà Nho bảo thủ vẫn hướng vọng về vua Lê chúa Trịnh.

Tuy vậy, Lê Lợi và Nguyễn Huệ lại được hai nhà trí thức có thể là lỗi lạc nhất của thời đại t́m đến giúp đỡ. Nguyễn Trăi, mặc dù là cháu ngoại của Tôn Thất nhà Trần, nhưng bằng cặp mắt nh́n xa trông rộng, biết rằng nhà Trần đă hết vai tṛ lịch sử, nên đă mạnh dạn đến Lỗi Giang trao B́nh Ngô Sách cho Lê Lợi. Rồi sau đó ṛng ră trong 10 năm, chính Nguyễn Trăi đă hoạch định đường lối và kế sách cho nghĩa quân Lam Sơn. Trong và sai khi ḥa b́nh được lập lại, th́ Lê Lợi cũng đă giao cho Nguyễn Trăi soạn thảo các văn thư ngoại giao với các tướng lănh nhà Minh. Trong Quân Trung từ mệnh tập ta thấy Nguyễn Trăi đă viết thư cho các tướng lănh đang chiếm đóng nước ta như Sơn Thọ, Phương Chính, Thái Thúc, Vương Thông, .v..v. để có lúc “ như mắng nhiếc “, có lúc “ như khiêu khích ". Nhưng trên hết vẫn là ḷng nhân ái tràn đầy, đă làm cho nhiều tướng lănh của quân Minh như Lưu Thanh ở Tam Giang cùng với các tướng lănh khác ở Nghệ An, Thuận Hóa, Tây Đô và nhiều thành đều “không đánh mà giặc phải ra hàng cả" như Đại Việt Sử Kư Toàn Thư đă ghi lại.

Cũng như trường hợp Nguyễn Trăi, Ngô Th́ Nhậm mặc dù đă được sanh ra và lớn lên trong gia đ́nh nhiều đời chịu ân sủng vua Lê chúa Trịnh, lại được nổi tiếng là người trí thức thuộc "ḍng dơi văn học Bắc Hà". Nhưng Ngô Th́ Nhậm cũng đă nhận ra chiều gió lớn của lịch sử, nên cuối cùng đă quyết định trở về với nghĩa quân Tây Sơn.

Ngô Th́ Nhậm trở về cũng đúng lúc như Nguyễn Trăi đến Lỗi Giang gặp Lê Lợi vậy.

Ngày 28 tháng 10 năm Mậu Thân (1788), 29 vạn quân Thanh dưới sự chỉ huy của tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị đă vượt ải Nam Quan tiến về Thăng Long. Hầu hết các tướng lănh Tây Sơn đều nhất quyết đem quân chận đánh, v́ theo cách suy diễn của họ th́ "lấy quân nghĩ ngơi mà đánh quân mệt nhọc" th́ nhất định phải thắng. Nhưng ư kiến của Ngô Th́ Nhậm th́ lại khác, ông đề nghị "toàn quân rút lui, không bị mất một mũi tên, cho nó ngủ trọ một đêm rồi mai lại đuổi nó đi”. Tướng Ngô Văn Sở đă chấp nhận ư kiến của Ngô Th́ Nhậm, cho rút quân về núi Tam Điệp, đồng thời cho người về cấp báo với Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Quân Thanh vào Thăng Long như vào chỗ không người nên tỏ ra chủ quan, kiêu ngạo, nên rất đúng như lời nói của Ngô Th́ Nhậm "cho chúng ngủ trọ một đêm rồi mai lại đuổi nó đi”. Nguyễn Huệ đă thần tốc kéo quân ra Bắc Hà, không đầy 10 ngày đă đánh tan 29 vạn quân Thanh, giải phóng Thăng Long lập nên vơ công vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc.

Sau chiến thắng mùa xuân 1789, Ngô Th́ Nhậm cũng được Nguyễn Huệ giao trách nhiệm “tuỳ việc ứng đối với nhà Thanh để yên việc chiến tranh”. Các văn kiện ngoại giao do Ngô Th́ Nhậm soạn thảo trong thời kỳ này được tập hợp lại trong Ban giao hảo thoại và một số trong Ban giao tập.

Cũng như Nguyễn Trăi đă viết B́nh Ngô Đại Cáo để nói lên tất cả hào khí của dân tộc được thể hiện qua nghĩa quân Lam Sơn, th́ Ngô Th́ Nhậm cũng đă viết Chiếu Lên Ngôi cũng với cùng mục đích là nói lên hào khí của dân tộc trong thời đại Tây Sơn mà tiêu biểu nhất là qua bản thân Quang Trung Nguyễn Huệ.

Ngoài ra, Ngô Th́ Nhậm cũng đă là tác giả của Biểu Trần T́nh, Biểu Cầu Hôn, Biểu đ̣i bỏ lệ cống người vàng, Biểu đ̣i đất 7 châu Hưng Hóa, Biểu đ̣i sứ bộ nhà Thanh vào Phú Xuân tiên phong.

Nhà Hán học và nghiên cứu văn học Lê Thước có nhận định về văn phong của Ngô Th́ Nhậm như sau:

"Ngô Th́ Nhậm là tiến sĩ đời Lê, nhưng văn ông không bị ảnh hưởng lối văn phù hoa, phiêu dật của thời này. Văn ông là văn bác học, văn ông hùng hồn, mạch lạc, kỹ thuật điêu luyện ít ai b́ nổi. Văn Ngô Th́ Nhậm không phải hay ở chỗ câu văn trau chuốt mà hay ở chỗ cốt cách không trọng kỹ xảo. Lời văn này hoàn toàn xa lại với văn cầu kỳ, khuôn sáo ở thời Lê Mạt. Có thể nói văn Ngô Th́ Nhậm là văn của một người có tầm tư tưởng lơn, có thể so sánh với văn của Nguyễn Trăi.

Đứng trước Ngô Th́ Nhậm, không những nhà văn b́nh thường, mà những nhà văn tài ba sống cùng thời như Phan Huy Ích cũng bị lu mờ" (11)

- II -

Dường như trong thi ca xưa cũng như nay, hầu hết các thi nhân đều không bao giờ đứng nh́n mặt trời mọc mà cảm khái cho thân phận phù du của kiếp người, mà đều đứng nh́n cảnh chiều tà.

Có lẽ cũng là điều dễ hiểu, v́ tâm thức của con người cũng quay theo tiết nhịp của trời đất. Nói theo một nhà văn của Việt Nam hiện đại th́ "ngôn ngữ của b́nh minh là ngôn ngữ của sự thức tỉnh" c̣n "ngôn ngữ của hoàng hôn là ngôn ngữ của sự đưa ma những thần tượng" ( Phạm Công Thiện ).

 Nguyễn Trăi là một người tài hoa lại mang nhiều bi kịch trong đời sống nội tâm của ḿnh, nên chắc chắn ông có nhiều điều để tâm sự mỗi khi nh́n buổi chiều đến chậm:

Trường thiên mạc mạc thủy du du

Hoàng lạc sơn hà thuộc mộ thu

Tiễn sát hoa biên song bạch điểu

Nhân gian lụy bất đáo thương châu

 ( Trời th́ rộng bao la nước th́ bát ngát.

Lá vàng rụng phủ núi sông, tiết muộn về thu.

Thèm chết được như đôi chim trắng ở bên hoa kia

Lụy nhân gian không đến được băi ẩn dật ) (12)

( Buổi chiều đứng trông )

Có lẽ cũng như bao nhiêu tâm hồn vĩ đại khác đă đến rồi đi trên cuộc đời này. Nguyễn Trăi cũng đă nhiều lần băn khoăn tự hỏi, sự có mặt của ḿnh trên cuộc đời này có ư nghĩa ǵ chăng? Ḿnh là ǵ hay cũng chỉ là một sinh vật phù du giữa đất trời mênh mông? Nên ở lại với loài người? Hay nên ra đi sống vô danh và im lặng như cỏ cây, cát bụi? Sao ḿnh không được là đôi chim trắng đang bay thảnh thơi bên bụi hoa ngoài song cửa sổ kia?

Trong bài Thính vũ (Nghe mưa) ta thấy Nguyễn Trăi có một nỗi xao xuyến lạ lùng rất khó tả. Nỗi xao xuyến đó có thể là một niềm vui (dù rất mơ hồ) "hoà chung nhập mộng thanh" (lẫn tiếng chuông vẳng vào giấc mơ nhẹ nhàng); hay cũng có thể là một nỗi hốt hoảng bàng hoàng khi chợt nhận ra rằng ḿnh cũng chỉ là một kẻ xa lạ, nhỏ bé, chẳng nghĩa ǵ giữa vũ trụ mênh mông này:

Tịch mịch u trai lư

Chung tiêu thính vũ thanh

Tiêu tao kinh khách chẩm,

Điểm trích sổ tàn canh

Cách trúc xao song mật

Ḥa chung nhập mộng thanh

Ngâm dư hồn bất mị

Đoạn tục đáo thiên minh

 

( Vắng vẻ trong pḥng tối tăm

Suốt đêm nghe tiếng trời mưa

Tiếng năo nùng làm kinh động gối khách;

Giọt thánh thót suốt mấy canh tàn.

Cách bụi trúc như khua nhặt vào cửa sổ

Lẫn tiếng chuông vẳng vào giấc mơ nhẹ nhàng.

Ngâm rồi vẫn không ngủ được

Nghe đứt nối cho đến trời b́nh minh) (13)

( Nghe mưa )

Ngô Th́ Nhậm một ḷng vừa bước đi vừa nh́n đất trời mông lung rồi cũng băn khoăn tự hỏi về ḿnh, về vũ trụ mênh mông kia:

Vừa đi ta vừa tự hiểu trong ḷng ta chừ,

Lúc trời đất c̣n hỗn độn chưa phân,

Ở dưới cái ǵ làm nên núi sông chừ;

Ở trên cái ǵ làm trăng sao?

Ở giữa cái ǵ h́nh thành nên vật chừ,

Từ trạng thái ǵ h́nh thành nên người?

Sao lại chia ra trên, dưới, giữa chừ,

Khiến cho tụ lại theo loài, phân ra nhiều giống.

Chữ "Lư" (của Tống Nho) ấy thật là trống rỗng,

Chữ "Khí" (của Tống Nho) ấy thật là lộn xộn

Tại sao người ta vẫn ganh đua danh lợi chừ,

Ai là sơ mà ai là thân?

Tại sao lại đưa đón phiền phức chừ

Ai là giả mà ai chân?

Đă dùng gươm giáo đánh nhau chừ

Rồi lại đem ngọc lụa mà giao hiếu (14)

Đọc bài Phú trên của Ngô Th́ Nhậm khiến ta nhớ đến kinh MalunKyaputta trong Trường Bộ Kinh, MalunKyaputta đến xin Đức Phật giải đáp những vấn đề siêu h́nh như: vũ trụ trường tồn hay 2) không trường tồn 3) vũ trụ hữu hạn hay 4) vô hạn. 5) linh hồn là một vật và thể xác là một vật khác ..v...v..

 Có lẽ chính v́ những băn khoăn và ray rứt trên mà Thái Tử Tất Đạt Đa và biết bao nhiêu người trai trẻ khác đă từ bỏ tuổi xuân, cắt mái tóc đen nhánh của ḿnh, vứt bỏ lại sau lưng tất cả những lạc thú của trần gian để lên đường t́m kiếm cho ra lời giải đáp thỏa đáng cho những vấn đề muôn thuở về thể phận của con người. V́ những con người minh triết nhất, th́ luôn luôn ư thức một cách triệt để rằng, mỗi người phải tự t́m lấy lời giải đáp cho chính ḿnh, chứ không ai giải đáp thay cho ḿnh cả.

Nói theo cách nói thơ mộng của một nhà thơ Việt Nam hiện đại th́:

Em hỏi măi tuy biết lời đáp lại

Chẳng bao giờ thỏa đáng giữa đời câm.

Em ngó măi những chiều về trở lại

Mang những ǵ về trong cơi trăm năm

( Bùi Giáng )

Trong thơ bằng chữ Hán cũng như chữ Nôm, ta thất rất nhiều bài Nguyễn Trăi cũng đă lên đường để t́m lời giải đáp cho những vấn đề có tính cách sống chết này. Chẳng hạn, khi c̣n làm quan to giữa chốn triều đ́nh quyền cao chức trọng, nhưng Nguyễn Trăi vẫn cứ nghĩ rằng ḿnh như đang ở trong một thiền viện âm u tĩnh mịch nào:

Tiểu viện âm âm thạch kính tà

Tiêu nhiên hoạn huống tự tăng gia

 

( Viện nhỏ âm u với đường đá xiên

Vắng vẻ cảnh làm quan mà sao giống nhà chùa ) (15)

( Mạn hứng 3 )

Nếu nh́n theo cách nh́n của nhà thơ th́ Nguyễn Trăi đang lên đường t́m kiếm cái đẹp “cái đẹp sẽ cứu vớt con người” một văn hào Nga đă nói như thế. Nhưng nếu ta nói rằng Nguyễn Trăi đang thực tập Thiền quán, đang quán chiếu về đám mây trắng từ đỉnh núi cao bay ra để mà quên lăng những cái ǵ nhỏ nhen thấp hèn của cuộc đời như vinh hay nhục th́ cũng không sai:

Vị xuất gia th́ thả trú gia

Hạm lư vân sơn vô sủng nhục

( Chưa xuất gia th́ hăy ở nhà

Trong hiên nh́n mây núi th́ không có vinh hay nhục nữa )

( Họa hữu nhân yên hà ngụ hứng )

Nguyễn Trăi ư thức được rằng đó là việc thiên nan vạn nan, nhưng dường như Nguyễn Trăi cũng đă một lần phát đại nguyện, luyện tập cái tâm của ḿnh như một câu trong Quốc Âm thi tập:

 Mọi sự đều nên " thuấn nhă đa"

 Câu ấy khiến ta nhớ đến câu “thuấn nhă đa tánh khă tiêu vong, thước ca ra tâm vô động chuyển" ( Hư không có thể băng hoại, nhưng ḷng kiên tŕ của ta đối với đại nguyện này sẽ không bao giờ lây chuyển ) trong bai tựa của Kinh Thủ Lăng Nghiêm mà truyền thống các chùa tại Việt Nam vẫn tŕ tụng vào buổi khuya hơn 2000 năm nay.

 Đúng là Nguyễn Trăi đă trụ vững cái tâm của ḿnh, trong bất cứ trường hợp nào, dù giữa chốn triều đ́nh, giữa sự lao xao của lợi danh, chức tước, Nguyễn Trăi vẫn xem chốn đó như một “quán khách” ngủ trọ một đêm rồi sáng mail lại lên đường. Chỉ có h́nh bóng của "Bụt" mới rọi sáng trên con đường đi của Nguyễn Trăi mà thôi:

Chân chẳng lọt đến cửa vương hầu

Ấy tuổi nào thay đă bạc đầu!

Liệu cửa nhà xem bằng quán khách!

Đem công danh đổi lấy cần câu.

Thân đà hết lụy thân đều nhẹ;

Bụt ấy là ḷng Bụt há cầu?

( Mạn Thuật 8 )

Thực sự th́ chẳng đợi đến khi ra làm quan, nghĩa là chẳng phải khi gặp đau khổ th́ Nguyễn Trăi mới nghĩ đến việc vào chùa, vào Thiền viện, mà năm Ất Sửu (1385) khi vừa mới lên năm th́ đă theo mẹ là Trần Thị Thái về ở động Thanh Hư trên núi Côn Sơn cùng ông ngoại là Quan đại Tư đồ Trần Nguyên Đán, lúc này đă xin cáo quan về hưu. Côn Sơn là vùng núi non có nhiều chùa, Thiền viện, nên tất nhiên Nguyễn Trăi đă được hun đúc, nuôi dưỡng rồi lơn lên trong không khí đầy Thiền vị ấy.

Khi về già, cáo quan về lại Côn Sơn, ta thấy Nguyễn Trăi đă xác nhận lại một lần nữa rằng, chính "đất Bụt” đă làm thức tỉnh tâm hồn ḿnh, và ư thức nhập cuộc cứu đời cũng bắt nguồn từ mảnh đất ấy:

Ao quan thả gởi hai bè muống

Đất Bụt nương nhờ một luống mồng

C̣n có một ḷng âu việc nước

Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung

( Thuật Hứng 23 )

Hiện chưa có sử liệu nào xác nhận hay phủ nhận Nguyễn Trăi có đến Trung Quốc hay không? Nhưng tôi nghĩ rằng Nguyễn Trăi có đi hay không th́ cũng chẳng quan trọng ǵ lắm, điều quan trọng nhất văn là Nguyễn Trăi đă làm một cuộc hành tŕnh tâm linh, đến tận nơi phát xuất ḍng suối Tào Khê, nơi mà Lục Tổ Huệ Năng đă chỉ rơ "bản lai diện mục", tức cái khuôn mặt muôn đời của mọi sinh linh đau khổ trên cuộc đời phù du này. V́ ḍng suối ấy, không chỉ đă nuôi dưỡng sức sống cho 2 triều đại Lư Trần, hai triều đại được xem là đỉnh cao của văn hóa Việt Nam, mà ḍng suối ấy c̣n chảy đến tận Cao Ly và nhất là Nhật Bản, đă trở thành cây đại thọ mà cành lá của nó đă phủ mát cả đất trời Á Đông. Để rồi cuối cùng đến những thập niên của thế kỷ 20, sau khi nhân loại đă chịu đựng sự đau khổ đến cùng cực bởi 2 cuộc thế chiến, th́ ḍng suối Tào Khê lại bắt đầu đâm rễ ở các nước Phương Tây.

Bởi vậy khi vừa đến đứng trước ḍng suối Tào Khê, Nguyễn Trăi đă viết:

Bán sinh khâu hác tiện u thê

Thiền pháp phân minh thính điểu đề

Vạn lư Nam lai sơn thủy viễn

Nhất sinh năng kỷ quá Tào Khê

 

( Nửa đời chỉ thích nương thân cảnh suối g̣ vắng vẻ

Noi gương Thiền nghe rơ tiếng chim kêu

Sông núi xa xôi, muôn dặm từ phương Nam đến

Một đời người đă được mấy lần qua suối Tào Khê? )

( Đề Nam hoa thiền pḥng )

Câu: Nhất sinh nhân kỷ quá Tào Khê

( Một đời người đă được mấy lần đến suối Tào Khê? )

Có thể thấy sự biểu lộ niềm vui mừng khôn xiết, sự hân hoan vô bờ bến.

V́ sao Nguyễn Trăi lại vui mừng đến gần như rơi lệ khi đến được suối Tào Khê như vậy? Bài thơ sau đây có thể biết được v́ sao Nguyễn Trăi lại vui mừng đến như vậy:

Thần tích phi lai kỷ bách xuân

Bảo Lâm hương hỏa khế tiền nhân.

Hàng long phục hổ cơ hà diệu;

Vô thụ phi đài ngữ nhược tân.

Điện tắt khởi lâu tàng Phật bát;

Khám trung di tích thuế chân thân.

Môn tiền nhất phái Tào Khê thủy

Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần

 

( Gậy thần tích bay đến đây đă mấy trăm xuân rồi

Hương hỏa chùa Bảo Lâm họp cùng nhân duyên trước.

Rồng giáng, hổ phục, mấy huyền vi thật thần diệu

“Không cây, cũng không đài" lời nói nghe như mới

Bên điện dựng lầu giữ ǵn bát Phật

Trong hộp c̣n ghi dấu nhưng chân thân đă giải thoát

Một ḍng suối Tào Khê tuôn trước cửa

Rửa sạch bụi bám đời đời cho nhân gian)(16)

( Du Nam Hoa tự )

Phải đau khổ đến tận cùng, phải chết đi sống lại nhiều lần th́ Nguyễn Trăi mới thấy được sự mầu nhiệm của ḍng suối Tào Khê:

Môn tiền nhất phái Tào Khê thủy

Tẩy tận nhân gian kiếp kiếp trần

 

( Một ḍng suối Tào Khê tuôn trước cửa

Rửa sạch bụi bám đời đời cho nhân gian )

Trong việc rửa sạch những vết thương nhức nhối của ḷng ḿnh hay tuyệt đến như vậy.

Cũng như Vương Duy, Tô Đông Pha của Trung Quốc hay Basho của Nhật Bản, Nguyễn Trăi không chỉ thường lui tới cửa chùa, Thiền viện hay vân du rày đây mai đó trên khắp các nẻo đường của quê hương đất nước, mà c̣n thường xuyên gặp gỡ các Thiền Sư, có thể là bạn mà cũng có thể là thầy để học phật và đàm đạo về đạo Thiền nữa:

Kư tằng giảng học thập dư niên

Kim hựu tương phùng nhất dạ miên

Thả hỷ mộng trung phao tục sự;

Cánh tầm thạch thượng thoại tiền duyên.

Minh triêu Linh phố hoàn phi tích;

Hà nhật Côn Sơn cộng thính tuyền?

Lăo khứ cuồng ngôn hưu quái ngă

Lâm kỳ ngă diệt Thượng Thừa Thiền

 

( Nhớ từng giảng học hơn mười năm

Nay lại gặp nhau ngủ một đêm với nhau

Vả mừng trong mộng bỏ hết việc tục;

Lại t́m lên núi để nói chuyện tiền duyên.

Rạng mai sẽ bay gậy về bến Chí Linh;

Ngày nào mới cùng nghe suối ở Côn Sơn được?

Già rồi hay nói cuồng, đừng lạ ta

Từ biệt nhau rồi th́ ta cũng sẽ tu đạo Thiền Thượng Thừa)(17)

( Tống tăng Đạo Khiêm qui sơn )

Thiền sư Đạo Khiêm chắc chắn phải là một Thiền sư lỗi lạc ở thời sơ Lê, nhưng cũng như bao nhiêu Thiền sư trác việt khác, họ như "nhạn quá trường không". Nên ngày nay ta không c̣n t́m thấy bất cứ một tư liệu nào nói về họ. Sở dĩ ta có thể kết luận Đạo Khiêm là vĩ đại bởi lẽ một người như Nguyễn Trăi, một bậc anh hùng vừa lănh đạo giải phóng đất nước ra khỏi cảnh nô lệ lại nhà một nhà tư tưởng, một thi sĩ lớn của thời đại th́ không thể kết bạn với những vị sư b́nh thường như mọi nhà sư khác được. 

Bài thơ ghi lại cuộc đời của một người đă giải phóng mọi hệ lụy của cuộc sống và cũng nói lên sự khao khát một ngày nào đó tác giả cũng đến được chân trời tự do ấy. Nhưng dường như vẫn có một chút ngậm ngùi trong đó, hay đúng hơn là tự trách ḿnh sao lại c̣n quá nhiều ràng buộc với cuộc đời đến như vậy:

Lăo khứ cuồng ngôn hưu quái ngă

(Già rồi hay nói cuồng, đừng lạ ta )

Tuy nhiên, khi đứng nh́n người bạn của núi rừng khuất sau rặng núi rồi, tâm hồn Nguyễn Trăi lại bồi hồi xúc động và tự hứa với chính ḿnh rằng:

Lâm kỳ ngă diệt Thượng Thừa Thiền

(Từ biệt nhau rồi th́ ta cũng sẽ tu đạo Thiền Thượng Thừa)

Có một số nhà nghiên cứu về Nguyễn Trăi nói rằng, câu trên chứng tỏ Nguyễn Trăi đă "ngộ" (Satori) theo cách gọi thông dụng của Thiền.

 Nguyễn Trăi có ngộ Thiền hay không? Có lẽ vấn đề ấy ngoài sự phán xét của chúng ta. Nhưng có những bài thơ mà đọc vào ta thấy Nguyễn Trăi đă đạt đến một tiến tŕnh tâm linh rất cao, như bài sau đây chẳng hạn:

Đoản trạo hệ tà dương

Thông thông yết thượng phương

Vân quy Thiền sáp lănh

Hoa lạc giản lưu hương.

Nhật mộ viên thanh cấp;

Sơn không trúc ảnh trường

Cá trung chân hữu ư

Dục ngữ hốt hoàng vương

 

( Mái chèo ngắn buộc trong bóng xế

Vội vàng lên chùa lễ Phật

Mây kéo về làm lạnh giường Thiền

Hoa rụng xuống khiến ḍng suối thơm.

Chiều hôm tiếng vượn kêu rộn

Núi trống bóng trúc dài ra;

Trong cảnh ấy thật có ư

Ta muốn nói ra bỗng lại quên lời )

( Tiên Du tự )

Chừng như một ḿnh trong núi vắng vẻ, nh́n bóng trúc ngả dài theo bóng chiều, Nguyễn Trăi như chợt nhận ra chân ảnh của chính ḿnh vừa thoáng hiện về từ những tiền kiếp xa xôi?

 Qua bài thơ trên, ta tuyệt nhiên không c̣n thấy nỗi sầu tê tái chất chứa trong hồn của những buổi chiều xa xưa, hay những đêm nằm nghe tiếng mưa rơi mà bàng hoàng trước vũ trụ mênh mông, xa lạ và lạnh lùng, rồi xót xa cho thân phận bi thảm của chính ḿnh:

Lăo ngă thế đồ nan hiểm thục

Trung tiêu bất mị độc thương t́nh

 

( Ta đă già trên đường đời, nỗi gian hiểm đều thuộc cả

Giữa đêm không ngủ, một ḿnh xót thương )(18)

( Tầm Châu )

Bài thơ sau đây mới nói lên tất cả những ǵ tinh hoa nhất của một dân tộc đă thấm nhuần tư tưởng Bát Nhă của Phật Giáo. Nói theo thiền sư Huyền Quang đời Trần th́ dân tộc ấy lúc nào cũng: Khuya sớm sáng chong đèn Bát Nhă, hôm mai rửa sạch nước Ma Ha:

Ánh nước hoa in một đóa hồng

Vết nhơ chẳng bén, Bụt làm ḷng.

Chiều mai nở chiều hôm rụng

Sự lạ cho hay tuyệt sắc không

( Cây Mộc Cẩn )

Ta tưởng tượng khi làm 4 câu thơ ấy, Nguyễn Trăi đang đi dạo trên một con đường quê thấy bụi dâm bụt mọc cạnh hồ nước bên vệ đường, thi nhân đứng lại xem. Không ngờ đó cũng là lúc Nguyễn Trăi chợt "ngộ" ra rằng, tất cả tam thiên đại thiên thế giới, tất cả càn khôn vũ trụ, hay tất cả những sự phân biệt của ư thức nhị nguyên như: "Sách và không, thường và vô thường, luân hồi và Niết Bàn, sát na và vĩnh cửu, đau khổ và hạnh phúc", đều nằm gọn trong đóa dâm bụt “chiều mai nở chiều hôm rụng” này.

 Nếu thi hào Nguyễn Du ở thế kỷ 18 đă có lần nói rằng:

 Ngă độc Kim Cang thiên biến linh

( Ta đă đọc kinh Kim Cang hơn cả ngàn lần )

Th́ Nguyễn Trăi ở thế kỷ 15, qua 4 câu thơ Nôm trên, ta đoán là Nguyễn Trăi có thể cũng đă tŕ tụng một ngàn lần hoặc hơn thế nữa.

Với Ngô Th́ Nhậm có lẽ cuộc đời tương đối bằng phẳng hơn Nguyễn Trăi, nên ta thấy cuộc hành tŕnh đi t́m kiếm một quê hương tâm linh cũng ít gian nan hơn. Tất nhiên, ngoại trừ những năm cuối đời, nghĩa là sau khi Nguyễn Huệ mất, ông không c̣n chỗ dựa vững chắc để đem hết tài hoa của ḿnh ra mà phục vụ cho Tổ quốc nữa.

Ngô Th́ Nhậm vốn sanh ra trong gia đ́nh có truyền thống cực đoan về Khổng giáo, cực đoan đến nỗi Ngô Th́ Sỹ đă viết một bảng gần như lời “di chúc” để giáo dục con cái, trong đó có mấy câu như thế này:

"Không thể cầm cày bừa

Không thể làm họ Lăo, họ Thích"(19)

Chỉ đến cuối đời th́ Ngô Th́ Sỹ mới bỏ bớt cực đoan, và bắt đầu hướng về Phật Giáo và tự xưng là Nhị Thanh Cư Sỹ trong bài Kư động Nhị Thanh ông viết: "Đạo chỉ có một. Phật và Lăo và tên khác thôi. Thực ra cũng là Nho cả".

Ngô Th́ Nhậm cũng đứng trên lập trường ấy của cha để giải thích Phật Giáo. Nhưng có hai câu thơ mà có lẽ Ngô Th́ Nhậm đă làm trong lúc ông lánh nạn để tránh cảnh tranh giành giữa các phe chúa Trịnh ở Thăng Long, th́ ta có thể thấy là chính Phật Giáo mới là nơi để Ngô Th́ Nhậm trở về để an thân lập mệnh chứ không phải Nho Giáo.

Khuất chỉ phiêu bồng kư ngũ niên

Kim thu thôn tự nhất tham Thiền

 

( Bấm đốt ngón tay tính ra phiêu bạt đă năm năm nay

Mùa thu này lại t́m đến một ngôi chùa làng để tham Thiền)(20)

Bài thơ sau đây của Ngô Th́ Nhậm, có lẽ là kết quả của những năm dài đến tu Thiền tại ngôi chùa ở một làng quê vắng vẻ gần kinh thành Thăng Long chăng?

Thủy bản vô thanh, khướt hữu thanh

Thanh oanh giang thượng vị thùy minh?

Trường lưu thuận chú nguyên thường tĩnh

Đoạn thạch hoành lan năi bất b́nh.

Ngạnh vị khứ thời ưng hữu nộ,

Lượng năng vô xứ tiện vô tranh.

Thái ḥa quân tử tu tiềm hội

Thấu triệt ngân hoa đáo để minh

 

( Nước vốn không có tiếng mà lại có tiếng

V́ đâu dậy sóng đùng đùng trên sông?

Thuận ḍng chảy xuống vẫn thường im lặng,

Có ḥn đá chắn ngang liền sanh bất b́nh.

Chưa cuống bỏ được vật chướng ngại, tất phải nổi giận,

Chỗ nào cương có thể chứa th́ không tranh giành.

Người quân tử phải trầm lặng mà thể hội cái lẽ thái ḥa

Ánh bạc của nước, trong suốt đến tận đáy )(21)

Ngô Th́ Nhậm đă từng phát biểu rằng: “Chân thánh không cần đội mũ nhà Chu, chân Nho không cần đội mũ nhà Nho, chân Thiền không cần mặc áo cà sa"(22)

 Câu trên mang âm hưởng câu chuyện quan trọng trong Trung bộ Kinh (Majjihima – Nikaya) của Phật Giáo:

 "Một hôm Đức Phật ở lại đêm trong xưởng một người thợ làm đồ gốm. Cũng trong xưởng ấy có một ẩn sĩ trẻ tuổi đến đấy trước Ngài. Họ không biết nhau. Đức Phật quan sát người ẩn sĩ và tự nhủ: "Thanh niên này có những cử chỉ ngộ thay. Ta nên hỏi xem về người này". Bởi thế Đức Phật liền hỏi:

 "Hỡi bạn, nhân danh ai mà bạn đă từ bỏ gia đ́nh? Ai là thầy của bạn? Bạn thích lư thuyết của ai?"

Chàng ẩn sĩ trẻ tuổi đáp: "Ồ bạn ơi, có ẩn sĩ Cồ Đàm ḍng họ Thích Ca, đă từ bỏ gia đ́nh để trở thành một ẩn sĩ. Người ta đồn rằng đó là một vị A La Hán (Arahant), một bậc Toàn Giác, chính nhân danh con người thánh thiện ấy mà tôi đă trở thành một ẩn sĩ. Người là thầy của tôi và tôi thich lư thuyết của Người".

- Vậy chớ con người thánh thiện ấy, vị A La Hán, đấng Toàn Giác ấy bây giờ đang ở đâu?

 - Ở các xứ về phương Bắc, hới bạn có một đô thị gọi là Xá Vệ (Sàvatthi) chính đấy là nơi đấng Thế Tôn, vị A La Hán, đấng Toàn Giác đang ở.

- Bạn có khi nào thấy vị ấy chưa? Đấng Thế Tôn ấy? Nếu gặp Người, bạn có thể nhận ra Người ấy hay không?

 - Tôi chưa bao giờ thấy Đức Thế Tôn ấy. Nếu gặp Người tôi cũng sẽ không làm sao nhận ra được.

 Đức Phật nhận ra rằng chính nhân danh Ngài mà người thanh niên xa lạ này đă từ bỏ gia đ́nh và trở thành một ẩn sĩ. Nhưng vẫn không để lộ tông tích, Ngài bảo:

- Hỡi ẩn sĩ, tôi sẽ giảng cho bạn lư thuyết, hăy chú ư lắng nghe. Tôi sẽ nói.

 - "Được bạn nói đi", người trẻ tuổi chấp thuận.

 Khi ấy Đức Phật giảng dạy cho người thanh niên bài thuyết pháp đặc sắc nhất về chân lư.

 Chỉ sau khi Ngài thuyết pháp xong, người ẩn sĩ tên là Pukkusàti, mới nhận ra rằng người nói với ḿnh chính là Đức Phật, người thanh niên cúi thấp ḿnh dưới chân Đức Phật, và xin lỗi với Ngài v́ đă không biết và đă gọi Ngài là "bạn".

 Qua câu chuyện trên ta thấy rơ là khi Pukkusàti lắng nghe Đức Phật và lănh hội được giáo pháp của Ngài, anh không hề biết Người đang nói với ḿnh là ai, hay đấy là giáo lư của ai. Anh ta t́m thấy chân lư, chỉ có vậy, mọi nhăn hiệu đều phụ thuộc. Ngay cả nhăn hiệu Phật Giáo mà ta đặt cho giáo lư của Đức Phật cũng không mấy quan hệ. Cái tên mà ta đặt cho Phật là điều không thiết yếu “. ( Con đường thoát khổ – Trí Hải dịch ).

Trong tinh thần không cần nhăn hiệu Nho Giáo hay Phật Giáo đó, ta có thể giải thích bài thơ trên của Ngô Th́ Nhậm như thế nào?

Có lẽ ta phải hiểu như thế này: nếu là một bậc Trượng Phu quân tử của Nho Giáo th́ "phải trầm lặng mà thể hội lẽ thái ḥa của Trời Đất". C̣n nếu là một Thiền sư của Phật Giáo th́ khi đi sau vào Thiền Định sẽ trực nhận được rằng:

Chư pháp tùng bổn lai,

Thường tự tịch diệt tướng

 

( Các pháp xưa nay

Thường tự vắng lặng )

Như hai câu kệ mà Kinh Pháp Hoa đă mô tả.

Và đây là một bài thơ khác nữa của Ngô Th́ Nhậm. Bài thơ nói lên cái thấy của ông về bản thể của vũ trụ, bản thể ấy vốn u huyền, lặng lẽ, nghĩa là "nguyên thường tĩnh" nhưng đồng thời nó cũng "nguyên thường động" cũng có nghĩa là rất lưu dộng, và biến thiên cùng khắp:

Càn khôn diệu ư bất thăng cùng

Vạn tượng thiên nghi văn chiếu trung

Cao xứ sơn hoàng đê xứ thúy,

Tả biên thùy bích hữu biên hồng.

Ẩn ngư lân lập than đầu hỏa,

Quy điểu hàn sinh mộc mạc phong.

Cánh hữu nhất ban thanh ư vị

Tùng lâm y ước sổ thanh chung

 

( Cái diệu ư của trời đất nói sao cho xiết

Muôn vạn h́nh tượng ḥa hợp trong bóng chiều

Chỗ cao th́ núi vàng, chỗ thấp th́ màu biếc

Phía bên trái nước biếc, phía bên phải màu đỏ.

Cá lặn chầu vây như ánh lửa đầu ghềnh

Chim về tổ vẫy cánh sinh gió trên ngọn cây

Lại c̣n có một ư vị trong trẻo hơn nữa:

Tiếng chuông chùa văng vẳng điểm nhịp trong rừng thông)(23) 

( Lệ giang văn điếu )

Với Nguyễn Trăi có lẽ ông làm thơ là v́ sự rung động của trái tim mỗi khi có đau khổ hoặc một niềm vui nhiều hơn là muốn dùng thi ca để diễn tả tư tưởng hoặc triết lư. Mặc dù không chính thức nhận ḿnh là Thiền sư, nhưng trong thơ của Nguyễn Trăi th́ tư tưởng Phật Giáo ảnh hưởng mạnh mẽ hơn là tư tưởng Khổng Giáo. C̣n Ngô Th́ Nhậm th́ thi ca được xem như là phương tiện để ông diễn đạt những suy tư của ông về tư tưởng và triết lư. Và dù chính thức tự nhận là Thiền sư (Hải Lượng) nhưng tư tưởng Khổng Giáo trong thơ văn của ông có phần lấn lướt hơn là tư tưởng Phật Giáo.

Nhưng dù có khác nhau đôi chút như vậy, nhưng trong thi ca của họ th́ chỉ có h́nh ảnh của những ngôi chùa giữa núi non tịch mịch hay trong thôn làng vắng vẻ của quê hương đất nước mà thôi, chứ ta không hề thấy có bất cứ một bài thơ nào ghi lại những cảm xúc của họ về các văn miếu hoặc những nơi thờ tự Khổng Tử cả.

Như vậy ta có thể kết luận được là, tư tưởng Khổng Giáo chỉ tồn tại trong lư trí của họ chứ chưa đi vào được trong t́nh cảm, trong khi Phật Giáo th́ đă chiếm trọn vẹn trái tim t́nh cảm không chỉ Nguyễn Trăi mà c̣n cả Ngô Th́ Nhậm nữa.

- III -

Khi gặp Trần Thái Tông trên đỉnh núi Yên Tử, quốc sư Trúc Lâm đă nói với nhà vua như thế này:

"... Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong ḷng. Ḷng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật. Nay nếu bệ hạ giác ngộ điều đó th́ lập tức thành Phật, không cần khổ công t́m kiếm bên ngoài"

Khi thấy vị vua trẻ tuổi đang đau khổ muốn vứt bỏ ngai vàng như vứt “đôi dép rách” này c̣n đang phân vân lưỡng lự, th́ vị Thiền sư "xương gầy, mặt vẽ, ăn rau đắng, nếm trái cây, chơi cảnh rừng, uống nước suối, ḷng như mây nổi" liền nói tiếp:

"Phàm đă là bậc nhân quân tất phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh. Lấy tấm ḷng của thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh. Nay muôn dân đă muốn đoán bệ hạ về th́ bệ hạ không về sao được! Duy có việc nghiên cứu nội điển xin bệ hạ đừng chút xao lăng mà thôi" (24).

 Không c̣n hồ nghi ǵ nữa, chính hai câu nói đó của Quốc sư Trúc Lâm đă là tư tưởng chỉ đạo toàn bộ cho vương triều Trần. Một triều đại mà tất cả sử gia dù thích hay không thích Phật Giáo đều phải thừa nhận là độc đáo nhất trong lịch sử 2000 năm dựng nước và giữ nước của dân tộc.

Vậy là nỗi phân vân giữa "nhập thế" và "xuất thế" của các sĩ phu mà hầu hết đều xuất thân từ "cửa Khổng sân Tŕnh" đă được vị Thiền sư vốn được nuôi dưỡng từ truyền thống tinh thần của Kim Cang Bát Nhă, Duy Ma, Hoa Nghiêm, Thắng Man của Đại Thừa Phật Giáo đă tóm tắt lại chỉ trong hai câu ngắn gọn nhưng vô cùng súc tích đă giải quyết được vấn đề trọng đại ấy một cách dứt khoát và triệt để.

Trong bài Phú Cư Trần Lạc Đạo, người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là vua Trần Nhân Tông cũng đă mở đầu bằng hai câu:

Ḿnh ngồi thành thị

Nết dụng sơn lâm

( Hội thứ nhất )

Nghĩa là xưa nay ai cũng cứ nghĩ rằng phải bỏ tất cả để vào rừng núi th́ mới đúng nghĩa là đi tu, c̣n thành thị vốn được xem là nơi tranh giành lợi danh của người thế tục. Nhưng qua hai câu này, Trần Nhân Tông đă định nghĩa lại rằng, nếu một người ở thành thị, nhưng làm việc hết ḿnh v́ sự an lạc của mọi người, bằng cái tâm trong sạch nghĩa là làm việc với cái tâm không lợi không danh, không đem lại lợi lộc về riêng cho bản thân ḿnh, th́ nhất định kẻ ấy đă ở trên núi rừng rồi. V́ núi rừng là ǵ? Chẳng phải núi rừng là nơi tiêu biểu cho sự thanh khiết và trong sạch đó hay sao?

Bởi vậy Trần Nhân Tông khẳng định tư tưởng này một lần nữa rằng:

Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết sức

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật cả đồ công

( Hội thứ 3 )

Hơn ai hết, Trần Nhân Tông có thẩm quyền để nói như vậy, v́ Trần Nhân Tông đă từng làm vua, mà lại không phải một ông vua như bao nhiêu ông vua tầm thường khác. Một ông vua đă đích thân cầm quân đánh tan hai cuộc xâm lăng của đế quốc Nguyên Mông, một đế quốc mà từ Đông sang Tây, từ AÂu sang Á phải run sợ mỗi khi nhắc đến. Một ông vua đă đưa dân tộc từ một đất nước đă tan nát v́ hai cuộc chiến tranh trở thành một đất nước hùng mạnh, không phải chỉ hùng mạnh trên phương diện quân sự không thôi mà trên tất cả mọi phương diện khác nữa, nhất là phương diện văn học.

Tại Việt Nam, sau bao nhiêu thập niên cố t́nh xuyên tạc cố t́nh kết án ḍng văn học ấy là gieo rắc sự bi quan, tiêu cực, yếm thế, nhưng ḍng văn học ấy đă không hề bị quên lăng mà vẫn tiếp tục âm thầm nuôi dưỡng tinh thần cho những người con ư thức nhất của dân tộc, giữa một ḍng văn học hoàn toàn vắng bóng t́nh người. Một ḍng văn học chỉ biết “mạt sát” hoặc “đề cao” mà thôi. "Mạt sát" những ǵ mà họ thấy là có hại cho sự "độc quyền" và "đề cao" những ǵ mà họ nghĩ là có lợi cho sự "độc quyền” ấy, chứ không phải đứng trên tinh thần khách quan để “mạt sát” hoặc “đề cao”. Khi một ḍng văn học mà chỉ biết lấy sự tuyên truyền ư thức hệ làm cứu cánh th́ tất nhiên ḍng văn học ấy phải vắng bóng t́nh người và cả t́nh nhân loại nữa, ḍng văn học ấy đến lúc phải trở thành lỗi thời, nhất là khi thấy đă đến lúc phải đứng cùng với thế giới văn minh và tiến bộ của loài người. Đặng Thái Mai, trong bài Mấy điều tâm đắc trong khi đọc lại văn học của một thời đại đă phải xác nhận lại rằng, nền văn học đời Trần đă ảnh hưởng một cách tốt đẹp đên đời sống xă hội thời ấy như thế này:

"Bảo là đời sống hồi này là một đời sống “tự do”, một đời sống hoàn toàn "b́nh đẳng" th́ e quá. Nhưng tôi thiết tưởng rằng đời sống xă hội phong kiến thời này c̣n những ngày dễ chịu, vui ve, gần gũi với nhau th́ cũng không phải là ngoa. Đây là tâm lư chung của thời đại: vui độc lập tự chủ của dân tộc. Hồi ấy người ta biết sống, biết sống trong t́nh thân, trong vui vẻ, trong tin tưởng" (25)

Muốn có được một xă hội tương đối lư tưởng ấy, Trần Nhân Tông dù đang là một vị tổ sư khai sáng ḍng Thiền Trúc Lâm Yên Tử vẫn không chủ trương "độc quyền" tôn giáo của ḿnh mà đă thực hiện đúng tinh thần của Phật Giáo là tự do, b́nh đẳng với mọi trào lưu tư tưởng đương thời khác, khi Trần Nhân Tông viết:

Sạch giới ḷng, dồi giới tướng

Nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm.

Ngay thờ Chúa, thảo thờ cha

Đi đỗ mới trượng phu trung hiếu

( Hội thứ 6 )

Vậy là không chỉ mẫu người Bồ Tát trang nghiêm của Phật Giáo không thôi, mà Trần Nhân Tông c̣n kết hợp cả mẫu người lư tưởng trượng phu quân tử, tức là mẫu người lư tưởng của Nho giáo. Nhưng thế nào là mẫu người trượng phu quân tử? Mạnh Tử đă định nghĩa như thế này: "Phú quư bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất, thử chi vị đại trượng phu” ( Giàu sang không thể mê hoặc, nghèo hèn không thể lay chuyển, uy vũ không thể khuất phục, đó gọi là Đại Trượng Phu).

Đối với mẫu người Bồ Tát trang nghiêm theo lư tưởng Phật Giáo th́ theo Trần Nhân Tông phải là:

Dựng cầu đ̣, dồi chiền tháp

Ngoại trang nghiêm sự tướng hăy tu.

Săn hỷ xả, nhuyễn từ bi

Nội tự tại kinh ḷng hằng đọc

( Hội thứ tám )

Theo giáo sư Lê Mạnh Thát th́:

"Thế rơ ràng con người Trượng Phu và con người Bồ Tát phải kết hợp với nhau thành con người Phật Giáo của Thiền Trúc Lâm" (25).

C̣n một sự kiện quan trọng nữa đă diễn ra trong buổi lễ Trần Nhân Tông trao truyền y bát cho Pháp Loa làm tổ thứ 2 của Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, được ghi lại trong Tam Tổ thực lục, mà có lẽ ít người lưu ư tới, buổi lễ diễn ra một cách trang trọng như thế này:

"Vào tháng 5, Điều Ngự lên ở am tại đỉnh núi Ngọa Vân. Ngày rằm Bố Tát xong, đuổi tả hữu ra, đem y bát và viết tâm kệ giao cho Sư, bảo phải giữ ǵn. Ngày mùng một tháng giêng năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308) Sư vâng lệnh làm trụ tŕ nối ḍng Pháp ở Cam Lộ Đường và làm lễ trao truyền, vua cho đặt bài vị của liệt tổ, tấu đại nhạc, đốt hương thơm, đánh trống Pháp, tập hợp đại chúng lên Pháp đường. Bấy giờ vua Trần Anh Tông xa giá đến chùa. Sau khi đặt ngôi chủ khách xong, vua Trần Anh Tông v́ là đại thí chủ của Phật Pháp đứng vào ngôi khách ở Pháp đường, thượng tế Trần Quốc Trấn đem bá quan đứng ở dưới sân. Điều Ngự lên ṭa thuyết pháp. Giảng xong, bèn đi xuống đỡ Sư lên ṭa. Điều Ngự đứng chấp tay hỏi han, Sư đáp lễ xong nhận Pháp y mặc vào. Điều Ngự bèn bước sang một bên, ngồi trên giường Khúc Lục, nghe Sư thuyết pháp. Đem chùa Siêu Loại của sơn môn Yên Tử sai Sư thừa kế trụ tŕ, làm đời thứ 2 của ḍng Trúc Lâm. Lại đem Ngoại thư kinh sử 100 hộp và Đại tạng 20 hộp nhỏ (...) để mở rộng việc học nội và ngoại điển" (26).

Vậy là Trần Nhân Tông không chỉ trao 20 hộp kinh đựng Đại tạng Phật Giáo thôi, mà c̣n trao cho Pháp Loa 100 hộp kinh sách của các tôn giáo khác, trong đó chắc chắn phải có các tác phẩm của các tác giả Trung Quốc nữa, một nước được xem như kẻ thù không đội trời chung của nước Đại Việt, mà gần nhất là đă 2 lần đem quân xâm lăng và đă bị Trần Nhân Tông đánh đuổi ra khỏi bờ cơi. Vậy mà Trần Nhân Tông vẫn di chúc cho người kế thừa của ḿnh phải học hỏi và phổ biến nền văn hóa ấy trong chính ḍng Thiền của ḿnh.

Trần Nhân Tông sinh 1258 và mất 1308, tức là thế kỷ thứ 13, thế kỷ mà lịch sử AÂu Châu đang ở trong thời kỳ Trung Cổ. Thời kỳ mà ngoại trừ một số nước ở Tây AÂu ra, c̣n tất cả các vùng thuộc Trung AÂu th́ đang ch́m ngập trong bóng tối dày đặc. Nông nô quằn quại dưới ách thống trị của các lănh chúa, đặc biệt là học thuật tư tưởng đều bị bóp chết, không có điều kiện để nảy nở. Tiếp đến là thế kỷ 16, năm 1542 Giáo Hoàng Paul đệ tam tái lập tôn giáo Pháp đ́nh, để bài trừ tự do tư tưởng. Đến Giáo Hoàng Paul đệ tứ (1559 – 1565), th́ càng khủng khiếp hơn nữa, không chỉ dùng lửa để hủy hoại phong trào cải cách thôi, mà Paul đệ tứ c̣n muốn bóp chết luôn cả khoa học và triết học nữa. Rồi đến năm 1559 th́ sách vở được đem ra chất từng đống để đốt. Chính trong thời gian này, nhà khoa học Galilee bị hạ nhục và Bruno bị thiêu sống. Đây là một vết nhơ nhục nhă trong lịch sử truyền giáo của Thiên Chúa giáo vậy.

Vậy mà Trần Nhân Tông, vị hoàng đế và Thiền sư của nước Đại Việt vào thế kỷ thứ 13 đă chủ trương tự do tư tưởng, tự do tôn giáo một cách triệt để và dứt khoát bằng cách trao cho đệ tử kế thừa của ḿnh một 100 hộp kinh sách ngoại điển, nghĩa là không chỉ học giáo pháp của Phật Giáo mà phải học và nghiên cứu các tôn giáo khác nữa, kể cả nền văn hóa và nghệ thuật của ngoại bang, dù nền văn hóa của nước đă đô hộ và xâm lăng đất nước của chính ḿnh.

Chính v́ thế mà nước Đại Việt sau đời Trần, thời kỳ mà các sử gia gọi là thời "độc tôn Nho giáo" th́ tư tưởng của Trần Nhân Tông được thể hiện cụ thể nhất qua Cư Trần lạc đạo Phú vẫn tiếp tục duy tŕ và phát triển một cách mạnh mẽ. Có lẽ không có một sử gia nào có thẩm quyền hơn là sử gia Lê Mạnh Thát trong việc xác nhận ảnh hưởng này:

"... Có thể nói Cư Trần lạc đạo Phú là một bản tuyên ngôn của con đường sống đạo, mà Phật Giáo Việt Nam đă đề ra và đă chi phối cuộc sống của hàng triệu người Phật tử Việt Nam thời vua Trần Nhân Tông và những thế kỷ sau. Nó cũng là một trong số ít tác phẩm quyền uy, khi Thiền sư Chân Nguyên tŕnh bày những vấn đề Phật Giáo cho vua Lê Chánh Ḥa vào khoảng năm 1692 trong Kiến Tánh thành Phật lục" (27).

Và " trong ṿng 300 năm trở lại đây, Cư Trần lạc đạo Phú Đắc thú Lâm tuyền thành đạo ca được in nhiều lần. Điều này chứng tỏ Cư Trần lạc đạo Phú vẫn tiếp tục được học tập và truyền bá dù Phật Giáo cũng như đất nước đang chuyển ḿnh qua một giai đoạn mới. Giá trị lư luận của Cư Trần lạc đạo Phú, từ đó vẫn có sức hấp dẫn mạnh mẽ, đặc biệt là vào cuối thế kỷ 18 với những chiến công Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân và dân Tây Sơn, trong đó nổi bật nhất là những gương mặt Phật tử tự nhận ḿnh là người kế thừa truyền thống Trúc Lâm như binh bộ thượng thư tỉnh Phái Hầu Ngô Th́ Nhậm tức Hải Lượng Thiền sư, hương lĩnh bá tiến sĩ Nguyễn Đăng Sở là Hải AÂu Thiền sư..." (28).

Chính v́ thế mà ta cũng chẳng lấy ǵ làm lạ, khi Nguyễn Trăi vốn học Nho từ thời c̣n niên thiếu, đă nhận ra rằng Nho giáo không những đă không giải quyết nổi những vấn đề cho bản thân của mỗi người mà c̣n cho cả giấc mộng kinh bang tế thế của ḿnh nữa:

Thanh niên phương dự ái Nho lâm

Lăo khứ hư danh phó mộng tầm.

Trượng sách hà ṭng quy Hán thất;

Bảo cầm không tự tháo Nam âm.

 

( Lúc tuổi xanh tiếng thơm sực nức rừng Nho

Già rồi, để mặc cho chiêm bao đi t́m cái danh suông.

Chống roi ngựa làm gậy biết đâu t́m nhà Hán

Ôm đàn cuống găy điệu phương Nam )(29)

( Mạnh thành 1 )

Và thốt lên một cách đau đớn rằng:

Ta dư cửu bị Nho quan ngộ

( Thân ta bị cái mũ nhà Nho đánh lừa đă lâu ) (30)

( Đề từ trọng phủ canh ẩn đường )

Từ cái bế tắc đó Nguyễn Trăi đă trở về con đường mà Trần Nhân Tông đă vạch ra trong Trần lạc đạo Phú để t́m một hướng đi chẳng những để có thể hoàn thiện cho chính bản thân ḿnh mà vẫn có thể phục vụ cho đất nước nữa chăng? Bằng chứng là vào năm 1434, sau khi thấy triều chính nhà Lê thối nát, Nguyễn Trăi xin về trí sĩ. Sau đó bị triệu ra làm quan trở lại, Nguyễn Trăi đă viết bài Biểu tạ được bổ lại chức tạo chùa Tư Phúc ở Côn Sơn. Bài biểu mở đầu: “Vĩnh lộc đại phu, kiêm hàn lâm viện thừa trí học sĩ, tri tam quán sự, đề cử ở chùa Tư Phúc tại Côn Sơn, tử quốc tính tôi là Lê Trăi kính cẩn dâng lời rằng ... " (31)

Đọc các tư liệu như Cương Mục, Toàn Thư, th́ ta được biết chùa Tư Phúc là do Pháp Loa, đệ nhị tổ Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử sáng lập. Vậy chắc chắn Nguyễn Trăi là người thuộc ḍng Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

C̣n Ngô Th́ Nhậm th́ sau khi chính sự triều đ́nh Tây Sơn xuống dốc và tư tưởng Nho Giáo lúc này đă lung lay đến tận gốc rễ, không c̣n áp dụng được vào thức tế của đời sống nữa, th́ vào khoảng năm 1798 Ngô Th́ Nhậm quay về mở Trúc Lâm Thiền viện tại phường Bích Câu (gần văn miếu Hà Nội hiện nay). Nơi đây, Ngô Th́ Nhậm đă kính cẩn ghi lại Tam tổ hành trạng (tức hành trạng của 3 vị tổ Thiền phái Trúc Lâm là Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang), đồng thời biên soạn Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, tự nhận là Hải Lượng Thiền sư, kế thừa Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Trong Trúc Lâm Tông Chỉ Nguyên Thanh, ta thấy Ngô Th́ Nhậm đă cố đem ánh sáng của tư tưởng Phật Giáo để rọi sáng cho ư thức hệ Nho giáo, hầu mong giải quyết những vấn đề thực tiễn mà xă hội cuối thế kỷ 18 đă đặt ra, mà Nho giáo đă không giải quyết được (32)

Vậy là Nguyễn Trăi ở thế kỷ 15 và Ngô Th́ Nhậm ở thế kỷ 18, hai khuôn mặt lỗi lạc nhất của thế kỷ 15 và hậu bán thế kỷ 18 đă cùng leo lên đỉnh núi Yên Tử. Thế có nghĩa là cả hai đều nhận ra rằng chỉ có con đường mà Trần Nhân Tông, vị tổ khai sáng Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đă vạch ra là con đường thực tiễn nhất để giải quyết sự mâu thuẫn và giằng co giữa hai con đường là thành tựu tâm linh cho chính ḿnh mà vẫn phụng sự được cho đất nước hay cho cả mọi sinh linh đang quằn quại trong đau khổ nữa.

Và đây là bài thơ của Nguyễn Trăi đă làm khi đă leo lên đến đỉnh cao núi Yên Tử:

Yên sơn sơn thượng tối cao phong

Tài ngũ canh sơ nhật chính hồng

Vũ trụ nhăn cùng thương hải ngoại

Tiếu đàm nhân tại bích vân trung

Ủng môn ngọc sóc sâm thiên mẫu

Quải thạch châu lưu lạc bán không.

Nhân miếu đương niên di tích tại

Bạch hào quang lư đỗ trùng đồng

 

( Núi Yên Tử cao nhất trên dăy núi

Mặt trời đỏ rừng đầu trống canh năm

Phỏng mắt trong vũ trụ trong suốt ngoài biển xanh

Tiếng người cười nói trong mây biếc

Trước cửa hộ vệ có ngh́n mẫu giáo ngọc xum xuê (trúc)

Đă rủ những tua hạt châu rơi xuống lưng chừng không.

Di tích vua Trần Nhân Tông c̣n đó măi

Giữa bóng sáng lông mày trắng được thấy trong đôi mắt (trùng đồng )(33)

( Đề Yên Tử sơn Hoa Yên tự )

Bài thơ nói lên cảnh trí hùng vĩ của núi non Yên Tử mà cũng là sự lẫm liệt kỳ vĩ của ḍng Thiền đặc biệt của dân tộc Việt Nam do Hoàng Đế kiêm Thiền Sư Trần Nhân Tông sáng lập.

Ḍng Thiền này đă soi đường cho lịch sử của dân tộc từ 7 thế kỷ qua. Bởi vậy, chúng ta có quyền hy vọng rằng, ḍng Thiền Trúc Lâm cũng sẽ soi sáng tâm thức không những chỉ cho Phật Giáo Việt Nam mà c̣n cho toàn dân tộc Việt Nam trong thế kỷ mới này nữa.

 

Nha Trang, cuối năm Tân Tỵ

( tháng 01/ 2002 )

 

Chú thích:

(I) Nguyễn Trăi toàn tập

NXB KHXH, Hà Nội 1976

tr. 364, (2) tr. 281, (3) tr. 22, (4) tr. 18, (5) tr. 19, (8) tr. 77

(12) tr. 330, (13) tr. 266, (15) tr. 346, (16) tr. 352, (17) tr. 373

(18) tr. 380, (29) tr. 365, (30) tr. 340

Tuyển tập 40 năm Tạp chí Văn học, tập 2. Nhiều tác giả

NXB TP. HCM 1999

(6) tr. 50 – 51, (7) tr. 50, (25) tr. 212

Ngô Th́ Nhậm trong văn học Tây Sơn của Mai Quốc Liên

NXB Thông tin văn hóa Nghĩa B́nh

(9) tr. 91, (10) tr. 97 – 98, (11) tr. 178, (14) tr. 187, (19) tr. 25

(20) tr. 68, (21) tr. 189, (22) tr. 113, (23) tr. 190

Thơ văn Lư Trần, tập 2

NXB KHXH, Hà Nội 1983

(24) tr. 28 – 29

Toàn tập Trần Nhân Tông của Lê Mạnh Thát

NXB TP. HCM, năm 2000

(25) tr. 312, (26) tr. 311, (27) tr. 271, (28) tr. 271

Nguyễn Trăi sinh thức và hành động của Vơ Văn Ái

NXB Quê Mẹ, Paris 1992

(31) tr. 153, (33) tr. 231

Thơ văn Ngô Th́ Nhậm, tập 1

NXB KHXH, Hà Nội 1978

(32) tr. 10



---o0o---

Cập nhật : 01-02-02


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Thơ >>