categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

"Phật pháp như đại hải thủy,
Lưu nhập A Nan tâm"

Tiền thân A Nan:

Trong vườn Cấp Cô Độc, rừng cây Kỳ Đà, bấy giờ chúng Tỳ kheo vây quanh với nhau mà bàn luận rằng: "Không rơ hiền giả A Nan vào thời quá đă tu tập công đức ǵ, mà đời này, hiền giả hiểu sâu biết rộng, nhớ dai và đẹp đẽ quá vậy?". Các Tỳ kheo nghĩ rồi bèn đi đến bạch Phật:

- Kính bạch Đức Thế Tôn, chúng con chẳng hiểu đời trước của hiền giả A Nan đă tu tập công đức ǵ mà hiền giả được làm thị giả Thế Tôn, và thông minh đĩnh ngộ quá vậy? Xin Thế Tôn ân cần chỉ giáo cho chúng con sáng tỏ.

Này các Tỳ kheo, hăy lắng kỹ. Vào thời quá khứ, có một vị Tỳ kheo, nuôi một chú Sa Di, ngày ngày bắt chú phải tụng kinh và đủ thời. V́ vậy mà khi nào chú Sa Di tụng kinh đủ thời đă qui định th́ vị Tỳ kheo vui vẻ, khen thưởng cho chú Sa Di, c̣n khi nào bận công việc mà chú Sa Di tụng trễ hoặc thiếu thời khóa th́ vị Tỳ kheo ấy buồn hiu, và quở trách chú Sa Di nữa.

V́ trách nhiệm như vậy nên lúc nào chú Sa Di cũng lo lắng và sợ sệt, v́ ngoài công việc tụng kinh ra, chú c̣n phải đi khất thực suốt buổi sáng nữa. Có khi đàn việt vui ḷng cúng dường nhiều th́ được về sớm, rồi lo tụng kinh. C̣n khi nào ít người cúng dường th́ chú phải đi khất thực cho đủ hai phần ăn, như vậy là đă trưa rồi, làm sao tụng kinh được nữa. V́ vậy ăn th́ mất tụng, được tụng th́ mất ăn.

Thực tế đă xảy ra là hôm nay chẳng may ít ai cúng dường quá, nên chú về trễ, đành bỏ thời tụng buổi sáng, v́ vậy mà bị thầy quở trách, buồn quá sang ngày hôm sau, vừa đi khất thực vừa khóc. Khi ấy, gặp ông Trưởng giả, ông ta hỏi:

- Có việc ǵ mà chú lại khóc lóc vậy?

Thưa trưởng giả, thầy tôi thật nghiêm khắc, bắt tôi phải tụng kinh đủ thời giờ thầy tôi đă qui định, nhưng khổ nỗi, tôi c̣n phải đi khất thực nữa, ngày nào đàn việt thương nhiều th́ tôi được về sớm và tụng kinh đầy đủ, c̣n chẳng may ít người bố thí th́ tôi phải trở về trễ, như vậy là bỏ mất thời tụng kinh và chắc chắn bị thầy quở trách, v́ vậy mà tôi buồn tôi khóc.

- Tưởng ǵ chứ thầy muốn chú sốt sắng tu hành như vậy th́ tốt quá. Được rồi, kể từ nay về sau, đến giờ chú cứ đến nhà tôi lấy thức ăn về cho hai thầy tṛ đủ dùng, c̣n hầu hết các th́ giờ chú cứ việc lo tụng kinh niệm Phật cho đúng thời khóa đă qui định, đừng buồn việc khất thực xin ăn ǵ nữa.

Như vậy kể từ hôm đó, tới bữa chú Sa Di mang b́nh bát tới nhà ông trưởng giả để mang đồ ăn về cho hai thầy tṛ dùng, c̣n bao nhiêu th́ giờ chú đều chuyên tâm trong việc tụng kinh niệm Phật tu hành đầy đủ, nhờ đó mà cả hai thầy tṛ đều vui vẻ.

Đến đây, Đức Thế Tôn nhắc lại:

- Này các Tỳ kheo, các thầy biết không, vị Tỳ kheo của chú Sa Di đó chính là Đức Phật Định Quang, ông trưởng giả cúng dường thức ăn, hàng ngày chính là Ta, c̣n chú Sa Di tụng niệm đó chính là A Nan bây giờ.

A Nan nhờ phước báu tụng kinh đời trước mà đời này trí tuệ đa văn, nhớ rơ từng câu kinh chẳng sai một chữ và thừa Phật trùng tuyên giáo pháp.

Thân thế:

A Nan chào đời trong đêm Phật thành đạo, nên c̣n có tên là Khánh Hỷ, thuộc ḍng dơi quư tộc, nơi vương cung của vua Bạch Phạn, là em ruột của Đề Bà Đạt Đa mà cũng là anh em chú bác của Thế Tôn.

Trong hạng đồng thời đó, Ngài A Nan là người nhỏ tuổi nhất, nếu so với La Hầu La th́ c̣n nhỏ thua nửa số tuổi.

Là một Thế tử được vua cha chiều chuộng, bảo bọc, đời sống vương giả chẳng thiếu một món ǵ, nhưng đối với tánh t́nh thuần hậu, hoan hỷ đó, A Nan không quyến luyến những vật dục, sang giàu của hoàng cung, cùng chơi đùa với chúng bạn chẳng phân giai cấp. Mặc dù tuổi c̣n nhỏ, nhưng với tư cách một con vua, bẩm tính sẵn có lúc nào A Nan cũng vui vẻ, hiền ḥa, dễ thương đáo để.

V́ đời sống của một phước báo tiền kiếp xa xưa, nên đă trưởng thành A Nan một con người khôi ngô, tuấn tú. Về sau này, có thể nói trong hàng đệ tử Phật, A Nan là người đẹp đẽ, đoan trang nhất, với thân h́nh cân đối, nét mặt hào hoa, tươi nhuận, lúc nào cũng tỏ ra dễ dăi với mọi người. V́ sự đẹp trai và tánh t́nh dễ dăi ấy mà sau này có lắm chuyện rắc rối đă đến với A Nan.

Gia nhập Tăng đoàn:

Ngày Thế Tôn trở về thăm Ca Tỳ La Vệ đầu tiên, trong dáng đi trầm hùng, sắc diện trang nghiêm, dung mạo rực rỡ, chiếu diện như vầng trăng lồng lộng giữa khoảng trời bao la, đă soi sáng mọi vật, cảm hóa được ḷng người. Chú bé A Nan nh́n say sưa dung nhan thậm kỳ diệu, sắc diện như núi vàng đoan nghiêm của Thế Tôn cảm thấy chấn động tâm linh, bèn vào tŕnh vua cha xin đi xuất gia theo Phật cùng với bảy vương tử thời bấy giờ. Được vua cha chấp nhận, trong ḷng hoan hỷ vô cùng, như vậy kể từ đây A Nan theo sát chân Phật, là một người tùy tùng thân cận với Đức Thế Tôn, và sau này, chẳng bao lâu được đại chúng cử làm thị giả hầu hạ Phật.

Thị giả:

Bấy giờ, các Tỳ kheo, Trưởng lăo thượng tôn danh đức, đại đệ tử của Phật được mọi người hiểu biết: Tôn giả Câu Lan Nhă, Tôn giả A Nhiếp Bối, Tôn Giả Bạt Đề Thích Ca Vương, Tôn giả Ma Ha Nam Câu Lệ, Tôn giả Ḥa Phá, Tôn giả Da Xá, Tôn giả Bân Nậu, Tôn giả Duy La Ma, Tôn giả Già Ḥa Ba Đề, Tôn giả Na Đề, Tôn giả Kim Tỳ La, Tôn giả Ly Bà Đa, Tôn giả Đại Mục Kiền Liên, Tôn giả Đại Ca Diếp, Tôn giả Đại Câu Hy La, Tôn giả Đại Châu Na, Tôn giả Đại Ca Chiên Diên, Tôn giả Bân Nậu Gia Nậu Tả Trưởng lăo, Tôn giả Da Xá hành trù trưởng lăo, rất nhiều các Tỳ kheo Trưởng lăo, danh đức đại đệ tử cùng đi du hóa tại thành Vương Xá, tất cả đều ở xung quanh ngôi nhà lá của Phật.

Lúc ấy Đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng:

- Này các thầy, hiện nay ta tuổi đă già, thân thể càng ngày càng suy yếu, nên ta cần có một thị giả nhất định để chăm sóc và mang y bát cho ta, làm vừa ḷng ta và ghi nhớ những lời thuyết pháp rơ ràng, không quên nghĩa lư. Vậy các thầy hăy chọn giùm Ta một vị.

Nghe vậy, Tôn giả Câu Lan Nhă, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo sửa y chắp tay hướng về Thế Tôn, bạch rằng:

Bạch Thế Tôn, con tự nguyện hầu hạ Thế Tôn, làm vừa ḷng Thế Tôn và ghi nhớ rơ ràng những lời Thế Tôn dạy.

Này Câu Lan Nhă, thầy tuổi đă già rồi thân thể chẳng hơn ǵ Ta, như vậy, chính thầy cũng cần có một thị giả, để chăm sóc hầu hạ thầy trong cơn bịnh hoạn, thôi được thầy hăy về chỗ cũ ngồi đi.

Bấy giờ, các Trưởng lăo tôn túc lần lượt bạch Thế Tôn để xin tự nguyện làm thị giả hầuThế Tôn, nhưng cuối cùng tất cả đều được Thế Tôn bảo hăy lui về chỗ cũ mà ngồi.

Kết quả cuộc tự nguyện làm thị giả, chẳng có vị nào được Thế Tôn ghi nhận, Tôn giả Mục Kiền Liên, suy nghĩ: "Đức Thế Tôn muốn chọn vị nào làm thị giả, ư Ngài đặt vào vị nào muốn cho ai săn sóc Ngài, tự năy đến giờ chẳng có vị Tỳ kheo nào được diễm phúc ấy cả, có lẽ ta nên nhập "Như Kỳ Tượng Định" để quan sát tâm của đại chúng xem sao. Thế là Tôn giả nhập "Như Kỳ Tượng Định" xem từng tâm niệm của đại chúng Tỳ kheo, lần lượt, lần lượt, đến Ngài A Nan Tôn giả dừng lại, đây rồi, Thế Tôn đang hướng đến A Nan, muốn chọn A Nan làm thị giả, liền xuất định, Tôn giả Mục Kiền Liên thưa với đại chúng rằng:

Thưa chư hiền, đức Thế Tôn muốn chọn hiền giả A Nan làm hiền giả, ư Ngài đă đặt vào A Nan để thỉnh làm thị giả. Nói xong các vị thượng tôn trưởng lăo, cùng Tôn giả Mục Kiên Liên đồng đi đến chỗ A Nan, tất cả đều chào hỏi rồi ngồi xuống. Lúc ấy, Tôn giả Mục Kiền Liên đại diện tŕnh bày:

Này hiền giả A Nan, thầy thật là diễm phúc, thầy có biết không đức Thế Tôn muốn chọn thầy làm thị giả đó, để săn sóc Thế Tôn, khi mang y, khi dâng bát và ghi nhớ những lời Thế Tôn giảng giải rơ ràng nghĩa lư. Cũng như ngoài thôn xóm không xa, có một ṭa lâu đài to lớn, cửa sổ ở phía đông mở ra, khi mặt trời mọc lên, ánh sáng sẽ rọi thẳng vào vách phía tây, Này hiền giả A Nan, đức Thế Tôn cũng vậy, chú ư muốn thầy hầu Thế Tôn. Vậy thầy nên làm thị giả mà săn sóc Thế Tôn được phước hựu lớn.

- Thưa Tôn giả Mục Kiền Liên, tôi không thể lănh trách nhiệm hầu hạ Thế Tôn nổi. V́ đối với các đức Thế Tôn, khó xứng ư, khó hầu hạ, nghĩa là khó làm thị giả lắm, xin Tôn giả thông cảm cho tôi. Cũng giống như con voi rất hùng mạnh, đă hơn 60 tuổi, kiêu bạo, sức mạnh cường thạnh, đủ ngà, đủ vóc, khó mà làm cho xứng ư gần gũi, chăm sóc được. Thưa Tôn giả với những bậc Như Lai Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác cũng vậy, khó làm vừa ḷng và gần gũi của một trách nhiệm thị giả được.

- Này hiền giả A Nan, chưa chi sao vội từ chối quá vậy, Thầy hăy nghe tôi ví dụ th́ sẽ hiểu rơ ư nghĩa, cũng như hoa Ưu Đàm Bát La đúng thời mới xuất hiện thế gian, th́ đức Như Lai, bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác cũng vậy, đúng thời Như Lai mới thị hiện ra đời, vậy Thầy c̣n chần chờ ǵ nữa, hăy mau làm thị giả đức Thế Tôn đúng lúc?

Bị Tôn giả Mục Kiền Liên ép nài, A Nan túng thế phải chịu, nhưng với những điều kiện như sau, nếu Thế Tôn thỏa măn:

- Thưa Tôn giả, nhờ Tôn giả bạch lại Thế Tôn, nếuThế Tôn thỏa măn cho ba điều nguyện của tôi, th́ chừng ấy tôi mới chịu làm thị giả, bằng không th́ thôi. Một, tôi nguyện không đắp y của Thế Tôn dù mới hay cũ; hai, tôi nguyện không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Thế Tôn; ba, tôi nguyện không gặp Thế Tôn chẳng đúng lúc.

Thấy A Nan đă chịu làm thị giả rồi, Mục Kiền Liên cùng các vị trưởng lăo, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhiễu quanh Tôn giả A Nan ba ṿng rồi đi về chỗ Phật, làm lễ xong, ngồi xuống một bên, Tôn giả Mục Kiền Liên liền thuật lại sự việc:

- Bạch Thế Tôn, vừa rồi con đă khuyên dụ hiền giả A Nan làm thị giả cho Thế Tôn, nhưng hiền giả A Nan đă xin Thế Tôn thỏa thuận cho ba điều tự nguyện: Không đắp y của Thế Tôn, dù mới hay cũ, không ăn thực phẩm biệt thỉnh của Thế Tôn và không gặp Thế Tôn chẳng đúng thời. Nếu Thế Tôn cho phép A Nan được ba điều ấy th́ A Nan mới làm thị giả hầu Thế Tôn.

- Này Đại Mục Kiền Liên, Tỳ kheo A Nan thông minh, trí tuệ, dự đoán biết trước có những lời tỵ hiềm, hoặc các vị đồng phạm hạnh sẽ cho rằng: "A Nan v́ cơm áo mà hầu hạ đức Thế Tôn". Đây là pháp vị tằng hữu của A Nan.

Tỳ kheo A Nan thông minh dự đoán biết trước những lời tỵ hiềm: "A Nan v́ thực phẩm nên hầu hạ Thế Tôn".

Tỳ kheo A Nan khéo biết thời, khéo phân biệt được thời, khéo biết lúc nào tự ḿnh cần gặp đức Như Lai. Lúc nào nên cho và không nên cho Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, chúng Ưu Bà Tắc, chúng Ưu Bà Di, hay Sa môn Phạm Chí, dị học đến gặp Như Lai, thuận lợi hay không thuận lợi. Biết thức ăn loại cứng hay loại mềm mà đức Như Lai thường dùng được an ổn, và loại thức ăn nào đức Thế Tôn dùng rồi không được an ổn, nhẹ nhàng.

Tỳ kheo A Nan mặc dù chưa có tha tâm trí, nhưng có thể biết trước được đức Như Lai sẽ thuyết pháp cho ai, khi Như Lai từ chỗ tỉnh tọa dậy, vào buổi xế, hôm nay đức Như Lai sẽ làm như vậy, sẽ hiện pháp lạc thọ như vậy, nhận xét đúng lời Thế Tôn nói, chắc chắn không thể sai khác. Khi A Nan nói như vầy: "Thưa chư hiền, tôi đă hầu hạ đức Thế Tôn suốt 25 năm, trong thời gian đó tôi chưa hề khởi tâm cao ngạo bao giờ".

Khi A Nan nói như vầy: "Thưa chư hiền, tôi đă hầu hạ đức Thế Tôn suốt 25 năm cho đến ngày hôm nay tôi chưa hề gặp đức Thế Tôn chưa phải lúc".

Khi A Nan nói như vầy: "Thưa chư hiền, tôi đă hầu hạ đức Thế Tôn suốt 25 năm, chưa hề bị Phật quở trách, trừ một lỗi, nhưng lỗi đó cũng v́ người khác".

Khi A Nan nói như vầy: "Thưa chư hiền, tôi theo đức Thế Tôn thọ tŕ tám vạn pháp tu, thọ tŕ không quên, không bao giờ khởi tâm cống cao, tự đắc".

Khi A Nan nói như vầy: "Thưa chư hiền, tôi theo đức Thế Tôn thọ tŕ tám vạn pháp tu, chưa hề hỏi lại một lần thứ hai, trừ có một câu, câu ấy như vậy cũng không phải dễ".

Khi A Nan nói như vầy: "Thưa chư hiền, tôi theo đức Thế Tôn thọ tŕ tám vạn pháp tu, trước hết không có tâm này: tôi thọ tŕ pháp ấy là để giáo hóa cho người khác. Này chư hiền, tôi chỉ muốn tự điều ngự, tự tịch tịnh, tự bát Niết Bàn thôi".

Khi A Nan nói như vầy: "Thưa chư hiền, có điều rất kỳ lạ này, đó là bốn bộ chúng đi đến chỗ tôi để nghe pháp, nếu tôi v́ thế mà khởi tâm cống cao, điều ấy chắc chắn không thể có được. Tôi cũng không hề tác ư trước, để khi có người đến hỏi, th́ tôi trả lời như vầy: này chư hiền, bây giờ tôi ngồi đây, rồi tùy theo phía của người kia hỏi mà ứng đối".

Khi A Nan nói như vầy: "Thưa chư hiền, có điều rất kỳ lạ này: đó là có số Sa môn, Phạm Chí, dị học đến hỏi việc nơi tôi, nếu v́ thế mà tôi sợ sệt, hăi hùng, lông tóc dựng đứng, không thể có sự kiện đó. Tôi cũng không hề tác ư trước để khi có người đến hỏi th́ tôi sẽ trả lời như vầy: thưa chư hiền, bây giờ tôi ngồi đây, rồi theo nghĩa ấy mà ứng đối".

Lại nữa, có một hôm Tôn giả Xá Lợi Phất, tôn giả Mục Kiền Liên, Tôn giả A Nan, trụ tại nước Xá Vệ, trong núi Bà La Là. Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi rằng: "Này hiền giả A Nan, thầy hầu hạ Thế Tôn suốt 25 năm, thầy nhớ có lần nào khởi dục tâm không?".

- Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, tôi c̣n là hàng hữu học, chưa ly dục.

- Này A Nan, tôi không hỏi thầy là bậc hữa học hay vô học, tôi chỉ hỏi thầy suốt 25 năm qua, thầy hầu hạ bên đức Thế Tôn có khi nào Thầy khởi dục tâm không?

Xá Lợi Phất hỏi ba lần như vậy, th́ A Nan cũng trả lời ba lần như vậy. Khi ấy Tôn giả Mục Kiền Liên ngồi một bên nắm chéo áo A Nan thúc mà nói:

- Hiền giả A Nan đáp nhanh đi, hiền giả đáp nhanh đi, đừng xúc nhiểu đến bậc thượng tôn trưởng lăo mà tội.

- Thưa Tôn giả Xá Lợi Phất, tôi hầu hạ đức Thế Tôn suốt 25 năm, tôi nhớ lại chưa hề khi nào phát khởi dục tâm, v́ tôi thường hướng đến Thế Tôn và các vị đồng phạm hạnh với tâm niệm hổ thẹn.

Lại nữa, có một thời đức Thế Tôn du hóa tại thành Vương Xá, trụ trong Nham Sơn. Bấy giờ Thế Tôn bảo:

- Này A Nan, thầy nên nằm như cách nằm của sư tử chúa.

- Bạch Thế Tôn, sư tử chúa nằm như thế nào?

- Sư tử chúa ban ngày đi t́m ăn, xong rồi vào hang, khi muốn ngủ, bốn chân xếp chồng lên phải. Qua đêm ấy, đến sáng hôm sau, quay ra nh́n thân thể, nếu như sư tử thấy thân thể ḿnh không ngay ngắn th́ chẳng ưng, buồn bă, c̣n nếu ngay ngắn tṛn trịa th́ hớn hởn vui mừng, nó từ chỗ nằm đứng dậy, ở trong hang đi ra, đi ra rồi vươn ḿnh, vươn ḿnh rồi tự ngắm thân thể, tự ngắm thân thể xoay nh́n bốn hướng, xoay nh́n bốn hướng rồi liền rống lên vài ba tiếng, rồi đi t́m ăn, cách thức nằm của sư tử chúa là như vậy.

- Bạch Thế Tôn, đó là cách nằm của sư tử chúa, c̣n cách nằm của Tỳ kheo thế nào?

- Nếu Tỳ kheo trụ nơi thôn ấp, qua một đêm đến sáng hôm sau, khoát y ôm bát, đi vào thôn khất thực, khéo hộ tŕ thân thể, nhiếp thủ các căn, trụ nơi chánh niệm. Vị ấy từ thôn ấp lần lượt khất thực xong, thâu bát xếp y, rửa sạch tay chân, vắt ni sư đàn lên vai đi đến chỗ rừng vắng hoặc đến dưới gốc cây, hoặc trong nhà trống, hoặc kinh hành, hoặc tọa thiền, trừ các phép chướng ngại trong tâm. Ban ngày đă tịnh trừ chướng ngại trong tâm, rồi lại vào đầu hôm, tinh tấn tọa thiền, tư duy để thân tâm được vắng lặng, cho đến nữa đêm, xă thiền đi vào tịnh thất đất nằm, xếp làm bốn Uất Đa La Tăng trải lên giường, gấp đôi Y Tăng Già Lê làm gối, nằm xuống phía hông bên phải, hai chân xếp chồng lên nhau, ư buộc vào ḿnh tưởng chánh niệm, chánh trí, hằng hướng đến ư tưởng sẽ ngồi dậy. Khi đêm đă qua, mau ngồi dậy, đi kinh thành, hoặc tọa thiền để tịnh trừ sự chướng ngại của tâm. Như vậy là cách nằm sư tử của Tỳ kheo. Kể từ đó A Nan nằm xuống như sư tử chúa không hề có lần nào nằm về hướng bên trái.

Lại nữa, có lúc đức Thế Tôn du hóa Câu Thi Na Kiệt, trụ trong rừng Ta La của Ḥa Bạt Đam lực sĩ. Bây giờ là lúc tối hậu, đức Thế Tôn muốn thủ bát Niết bàn, Thế Tôn bảo:

- Này A Nan, thầy hăy đi đến giữa hai cây Ta La song thọ, trải một giường nằm, đầu quay về hướng bắc cho Như Lai, v́ nữa đêm hôm nay Như Lai sẽ bát Niết bàn.

Tôn giả A Nan vâng lời, liền đến giữa hai cây Ta La, trải giường nằm, trải xong trở về đức Thế Tôn, cúi đầu lễ Phật, đứng sang một bên, bạch Thế Tôn:

- Con đă trải giường nằm, quay đầu về hướng bắc cho Như Lai, ở giữa hai cây Ta La song thọ rồi, kính mong Như Lai tự quyết.

Bất giờ Thế Tôn dẫn A Nan đến giữa hai cây Ta La song thọ, xếp làm bốn Uất Đa La Tăng trải lên giường, gấp đôi Y Tăng Già Lê làm gối, nằm về phía hông bên phải, hai chân chồng lên nhau.

Lúc tối hậu, Thế Tôn sắp bát Niết bàn, Tôn giả A Nan quạt hầu Phật giơ tay gạt nước mắt, nghĩ như vầy: "Trước kia có đại chúng Tỳ kheo ở các nơi muốn đến thăm viếng đức Thế Tôn để cúng dường, lễ bái th́ đều có thể tùy lúc mà được thăm viếng, cúng dường, lễ bái. Bấy giờ họ nghe được Thế Tôn sắp bát Niết bàn th́ sẽ không c̣n đến thăm viếng, cúng dường Thế Tôn nữa".

Khi ấy đức Thế Tôn hỏi các Tỳ kheo: "Tỳ kheo A Nan giờ ở đâu?"

Bạch Thế Tôn, A Nan đang cầm quạt hầu Phật và khóc lóc nghĩ ngợi.

- Này A Nan, thầy chớ khóc lóc, cũng chớ buồn rầu, v́ thầy hầu hạ Ta thân hành từ ḥa, khẩu và ư hành từ ḥa, chưa từng có hai tâm, an lạc vô lượng, vô biên, vô hạn. Này A Nan, trong đời quá khứ, các bậc Như Lai, Vô Sở Trước, Chánh Đẳng Chánh Giác có người thị giả hầu cận, th́ cũng không thể hơn thầy được, nay Ta là bậc Như Lai, Ứng Cúng trong đời hiện tại, nếu có người thị giả nào th́ người thị giả đó cũng không thể hơn thầy được, v́ thầy khéo biết thời, khéo phân biệt thời, điểm và hiểu biết ư Như Lai trong mọi trường hợp.

Bấy giờ Thế Tôn muốn làm cho Tôn giả A Nan vui vẻ, bèn bảo các Tỳ kheo rằng:

- Vị chuyển Luân Thánh Vương có bốn pháp vị tằng hữu, mà mỗi khi các hàng Sát đế lợi, cư sĩ hoặc Sa môn đến yết kiến, Chuyển Luân Thánh Vương dù nói hay im lặng, họ thấy mặt đều sanh tâm hoan hỷ, vui vẻ. Tỳ kheo A Nan cũng vậy, A Nan có bốn pháp vị tằng hữu mà mỗi khi chúng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di đến tham vấn th́ dù A Nan có nói hay im lặng, họ thấy A Nan rồi th́ liền sanh tâm hoan hỷ, vui mừng.

Lại nữa, A Nan thuyết pháp cho đại chúng có bốn điểm vị tằng hữu. Mỗi khi A Nan thuyết pháp cho chúng Tỳ kheo, Tỳ Kheo ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, bằng lời chí tâm thành kính, cả chúng nghe rồi nghĩ như vầy: "Mong Tôn giả A Nan thuyết pháp không dừng lại nữa chừng".

Khi nghe Tôn giả A Nan thuyết pháp, các chúng hoàn toàn tâm không chán nản, và Tỳ kheo A Nan vẫn ngồi im lặng.

Lại nữa thuở ấy, Thế Tôn đă bát Niết bàn chưa được bao lâu, A Nan du hóa tại Kim Cang, trụ ở thôn Kim Cang. Bấy giờ thuyết pháp cho vô lượng trăm ngh́n đại chúng vây quanh. Hiện đó, có Tôn giả Kim Cang Tử cũng ở trong chúng, Tôn giả trong ḷng suy nghĩ: "Hiền giả A Nan vẫn c̣n là bậc hữu học chưa ly dục sao, ta thử nhập Như Kỳ Tượng Định để quan sát tâm A Nan như thế nào?". Nghĩ rồi bèn nhập định, Tôn giả biết A Nan vẫn c̣n là bậc hữu học chưa ly dục,Tôn giả liền xuất định hướng về A Nan, nói bài tụng:

Núi rừng vắng tư duy
Niết bàn khiến vào tâm
Thiền Cù Đàm không loạn
Sẽ sớm chứng tịch tịnh.

Bấy giờ A Nan nghe lời dạy của Tôn giả Kim Cang Tử, rời bỏ chỗ đông người, sống một ḿnh nơi yên tĩnh, tinh tấn không tán loạn, thời gian chẳng bao lâu các lậu dũ sạch, cho đến khi vừa mới nghiêng đầu chưa đụng gối ḷng bổng nhiên khai ngộ, chứng tâm giải thoát. Nếu Tôn giả A Nan nói như vậy th́ đó là pháp vị tằng hữu của A Nan.

Nếu sau khi chứng tâm giải thoát rồi, A Nan nói rằng: "Tôi sẽ ngồi kiết già để bát Niết bàn, th́ đó chính là pháp vị tằng hữu của A Nan".

Bị nạn Ma Đăng Già:

(Xem chuyện Tỉnh Giấc Mơ Hoa ở Truyện cổ Phật giáo Tập I)

Đối với Ni Chúng:

Một con người đa cảm, giàu t́nh thương nên lắm lúc thấy ai đau khổ hay ư nguyện không tṛn th́ A Nan sẳn sàng giúp đỡ mọi cách. Với một t́nh thương, giàu nhân ái đó mà A Nan đă đề bạt và bạch Phật cho hàng nữ nhân được xuất gia theo học giáo pháp Phật, trong khi đó cả Thánh chúng chẳng ai dám làm.

Một thời đức Thế Tôn du hóa giữa dân chúng Thích Ca, tại Ca Tỳ La Vệ, trong khu vườn Nigrodha.

Đêm đă qua, vừa tờ mờ sáng bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề đi đến Thế Tôn, lạy sát chân Phật, rồi ngồi qua một bên, bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn, hôm nay con xin làm lễ Thế Tôn, mong Thế Tôn hứa khả cho nữ nhân được xuất gia tu học theo giáo pháp Phật, sống đời không nhà để cầu đạo giải thoát.

- Thôi! Vừa rồi, Kiều Đàm Di chớ có ưa thích mà xin cho nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống trong pháp và luật do Như Lai thuyết giảng.

Lần thứ hai rồi lần thứ ba đề nghị, nhưng rồi Đức Thế Tôn cũng ba lần từ chối.

Hiểu ư Đức Thế Tôn chẳng muốn cho nữ nhân xuất gia, sống đời không gia đ́nh, nên bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề quá đau khổ, sầu muộn, khóc lóc nước mắt chảy đầy mặt rồi đứng dậy đảnh lễ Đức Thế Tôn, nhiễu quanh ba ṿng rồi đi.
Khi ấy Đức Thế Tôn rời khỏi Ca Tỳ La Vệ để đi đến Vệ Xá Ly trú tại đại lâm, trong ngôi nhà nóc nhọn. Biết được Thế Tôn hiện trú tại Vệ Xá Ly, bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề bèn tự cạo đầu đắp áo cà sa cùng với 500 nữ nhân khác kéo đếnVệ Xá Ly quyết cầu Phật cho xuất gia bằng được, trông thân thể tiều tụy, lấm lem cát bụi, đôi chân sưng vù, đôi tay ướt đẫm, đau khổ sầu muộn mặt mày ràn rụa nước mắt, khóc than, đứng ngoài cổng chính. Khi ấy A Nan thấy t́nh huống như vậy, bèn đến:

- Thưa Kiều Đàm Di, v́ sao lại đứng ngoài cửa, và thân thể đến nổi này? Trông thảm thương quá vậy?

- Thưa Tôn giả A Nan, Thế Tôn chẳng cho nữ nhân xuất gia, sống đời không nhà trong chánh pháp luật của Ngài, nên tôi mới làm ra việc này.

- Thưa Kiều Đàm Di, hăy đứng chờ ở đây, Tôi sẽ vào xin phép Thế Tôn cho.

Rồi Tôn giả A Nan đi đến bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, có Kiều Đàm Di đứng ngoài cửa, thân thể lấm lem cát bụi, tay chân sưng vù, trông thiểu năo, nguyện xin Thế Tôn, nếu nữ nhân được xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống đời không nhà trong chánh pháp luật do Thế Tôn thuyết giảng cũng tốt vậy.

- Thôi, vừa rồi A Nan, chớ có ưa thích mà xin cho nữ nhân xuất gia trong chánh pháp luật của Ta.

A Nan lại thưa đến ba lần, nhưng rồi Thế Tôn cũng từ chối ba lần. Túng thế quá, A Nan tự nghĩ: "Thế Tôn không chấp nhận cho nữ nhân xuất gia, sống trong giáo pháp, vậy ta hăy dùng phương pháp khác để xin Thế Tôn".

- Bạch Thế Tôn, chẳng biết nữ nhân sau khi xuất gia tu học chơn chánh trong giáo pháp th́ có thể chứng đắc tứ quả của bậc Thánh không?

- Này A Nan, sau khi xuất gia, sống đời không nhà, tinh tấn tu hành trong chánh pháp luật th́ nữ nhân chắc chắn chứng đắc quả Dự lưu, Nhất lai hoặc A La Hán.

- Bạch Thế Tôn, như vậy, Ma Ha Ba Xà Ba Đề đă giúp đỡ Thế Tôn c̣n nhỏ, trong bổn phận của một người d́, người kế mẫu, cho Thế Tôn bú sữa mẹ, khi bà mẹ Thế Tôn từ trần. Bà đă thay mẹ nâng niu nuôi nấng Thế Tôn cho đến ngày khôn lớn. Vậy Thế Tôn hăy nghĩ t́nh mà cho phép nữ nhân được xuất gia.

V́ sự chân thành khẩn khoản của A Nan, nên cuối cùng đức Thế Tôn đă chấp nhận.

Kể từ đây, hàng nữ nhân được sống trong chánh pháp luật, cuộc đời không nhà, và tổ chức thành Giáo Hội Ni Chúng.

Pháp Vị Tằng Hữu:

Từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, đi đến Thế Tôn, A Nan cúi đầu đảnh lễ rồi ngồi qua một bên, bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, con nghe Đức Thế Tôn đến thời Phật Ca Diếp mới bắt đầu phát nguyện Phật đạo, thực hành phạm hạnh, rồi sinh lên cơi trời Đâu Suất. Thế Tôn sinh lên sau, nhưng có ba việc thù thắng hơn các vị trời Đâu Suất sinh trước, đó là thọ mạng, sắc tướng và danh dự của hàng trời. V́ vậy, các vị trời Đâu Suất vui mừng, hớn hở, tán thán rằng: "Kỳ diệu thay, hy hữu thay vị thiên tử này có đại như ư túc, có đại oai đức, có đại phước hựu, có đại oai thần. Như vậy, con xin thọ tŕ pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.

Con nghe khi Đức Thế Tôn ở cung trời Đâu Suất, ở nơi đó mạng chung biết sẽ sinh vào thai mẹ, lúc ấy chấn động cả trời đất, có ánh sáng quảng đại vi diệu chiếu khắp thế gian, cho đến những nơi u ám tối tăm cũng không có ǵ ngăn che được, trong khi đó ánh sáng của mặt trăng, mặt trời không thể lọt qua, chúng sanh các nơi ấy do thấy được ánh nhiệm mầu này mà phát khởi sự hiểu biết rằng: "Có một chúng sinh kỳ diệu, hi hữu ra đời". Như vậy, con xin thọ tŕ pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.

Con nghe Đức Thế Tôn biết ḿnh trụ trong thai mẹ, tựa vào hông bên phải, nằm duỗi dài, ẩn kính trong thai, không bị máu dơ làm ô uế, cũng không bị các thứ bất tịnh khác làm ô uế. Rồi Thế Tôn biết ḿnh sắp ra khỏi thai mẹ, lúc ấy chấn động cả đất trời, có ánh sánh vi diệu, quảng đại, chiếu khắp thế gian cho đến những nơi u tối cũng không có ǵ ngăn che được. Khi Đức Thế Tôn duỗi dài để ra khỏi thai mẹ và không bị máu me làm ô uế. Như vậy, con xin thọ tŕ pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.

Con nghe khi Đức Thế Tôn vừa sinh ra có bốn vị Thiên tử, tay cầm áo mịn, đứng trước thai mẹ, làm cho người mẹ hoan hỷ, tán thán rằng: "Đồng tử này rất kỳ diệu, rất hy hữu, có đại như ư túc, có đại oai thần". Rồi Thế Tôn vừa mới sinh ra liền đi bảy bước, không khiếp sợ, không kinh hăi, quán sát các phương, th́ ngay khi ấy phía trước người mẹ bỗng nẩy sinh một hồ nước lớn, nước tràn bờ, làm cho người mẹ ở nơi đó được tắm rửa thanh tịnh, c̣n Thế Tôn th́ từ trên hư không nước mưa rưới xuống, một luồng ấm, một luồng lạnh để tắm thân thể của Thế Tôn, chư Thiên đánh trống tấu nhạc của trời, hoa sen xanh, hoa sen vàng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng, hoa mạn đà la của trời, và bột chiên đàn rưới trên đức Thế Tôn. Như vậy, con xin thọ tŕ pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.

Con nghe khi đức Thế Tôn ở trong hoàng gia của phụ vương Bạch Tịnh vào một ngày đi dự lễ hạ điền, ngồi dưới gốc cây diêm phù, ly dục, ly ác và pháp bất thiện, có giác có quán, ly sanh hỷ lạc, nhập sơ thiền và thành tựu an trụ, bấy giờ là buổi xế, tất cả bóng của các cây đều ngă dần dần chỉ có cây diêm phù ấy là bóng không ngă để che mát thân thể Thế Tôn. Lúc ấyvua Bạch Tịnh đến quan sát công tác hạ điền, đi đến chỗ người làm ruộng hỏi rằng: "Này nông phu, Vương tử ở chỗ nào?"-Vị Vương tử ấy hiện ở dưới gốc cây diêm phù. Rồi vua Bạch Tịnh đi đến cây diêm phù, ngài ngạc nhiên thấy bóng cây diêm phù không ngă như những bóng cây khác, liền nghĩ: "Vị Vương tử này thật là kỳ diệu, có phước hựu lớn lao". Như vậy, con xin thọ tŕ pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.

Con nghe có một thời Đức Thế Tôn du hóa ở đại lâm, lúc đó qua một đêm, đến buổi sáng, Đức Thế Tôn đắp y, mang bát vào thành Tỳ Xá Ly khất thực, khất thực xong, thâu y, ôm bát, rửa tay chân, vắt ni sư đàn lên vai đi vào rừng, đến dưới một gốc cây đa la. Khi ấy Thích Ma Ha Nam, ung dung đi đếm đại lâm, thấy Thế Tôn đang tĩnh tọa dưới bóng cây che mát, Ma Ha Nam nghĩ: "Sa môn Cù Đàm rất kỳ diệu, rất hy hữu và có đại công đức lớn".

Cũng có một thời Đức Thế Tôn du hóa tại Tỳ Xá Ly, trong đại lâm. Bấygiờ, các Thầy Tỳ kheo để bát ngoài đất trống, lúc ấy, bát Thế Tôn cũng có trong số đó, có một con khỉ ôm bát của Thế Tôn mà đi, các Thầy Tỳ kheo la gọi, sợ rằng nó làm bể bát của Thế Tôn, nhưng Phật bảo các Tỳ kheo: "Hăy để yên đừng la, nó không làm bể bát đâu". Thế rồi khỉ ôm bát của Thế Tôn đi đến một cây Sa La, chậm răi leo lên, lấy mật đầy bát, rồi chậm răi leo xuống, trở về chỗ của Đức Phật, đem dâng bát mật ấy lên cho Đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn không nhận. Lúc đó, khỉ liền ôm qua một bên, nhặt bỏ rác và sâu bọ, sau khi lựa bỏ rác xong, nó ôm bát trở lại dâng lên Thế Tôn, nhưng Thế Tôn vẫn không nhận. Khỉ lại ôm qua một bên, múc nước đổ vào trong mật, rồi ôm trở lại dâng lên Thế Tôn. Bấy giờ Thế Tôn thọ nhận. Khỉ thấy Thế Tôn lấy bát mật rồi, vui mừng hớn hở, múa may nhảy nhót rồi bỏ đi.

Hoặc một thời Đức Thế Tôn du hóa tại Tỳ Xá Ly, cao lầu đài quán, bên bờ ao di hầu, bấy giờ Thế Tôn đang phơi tọa cụ, rũ bụi phủi đất, lúc ấy có một đám mây kéo tới trái thời, che kín khắp hư không, muốn mưa nhưng dừng lại chờ Đức Thế Tôn phơi tọa cụ. Sau khi rũ bụi phơi xong, xếp đem vô nhà, bấy giờ đám mây lớn ấy mới mưa xuống thật to, từ đất cao cho đến thấp, nước ngập lai láng. Như vậy, con xin thọ tŕ pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.

Con nghe Đức Thế Tôn khi ở trong miếu A Thần Phù, bấy giờ sau một đêm, đến buổi sáng Đức Thế Tôn khoác y ôm bát vào thôn A Phù để khất thực. Sau khi khất thực xong, thâu bát xếp y, rửa tay chân, Thế Tôn vắt ni sư đàn lên vai đi vào miếu thần ngồi nghỉ. Bấy giờ mưa to và sấm sét đánh chết bốn con trâu và hai người cày, lúc chôn cất cho hai người chết đó, thật đông đảo ồn ào, âm thinh cao và to, tiếng dội chấn động. Bấy giờ vào xế trưa, khi Đức Thế Tôn từ chỗ tĩnh tọa đứng dậy, trong miếu thần đi ra chỗ đất trống để kinh hành, trong đám đông, có người thấy Thế Tôn, liền đi đến cúi đầu làm lễ rồi đi kinh hành theo Phật. Đức Thế Tôn thấy người ấy ở phía sau, nên hỏi rằng: "V́ cớ ǵ mà đông đảo ồn ào, nhiều người vậy". Người ấy thưa: "Bạch Thế Tôn, khi trưa trời mưa to và sấm sét đánh chết bốn con trâu và hai người cày, họ chôn các người ấy, nên đông đảo và ồn ào như vậy. Bạch Thế Tôn, vừa rồi Ngài ngủ sao?-"Không phải"-Lúc ấy Ngài tỉnh mà không nghe âm thanh lớn ấy sao?"-"Quả thật như vậy". Rất là kỳ diệu, rất là hy hữu, sở hành của Như Lai, bậc Vô Sở Trước Đẳng Chánh Giác rất là vắng lặng, rất là tịch tịnh. V́ sao? V́ lúc tỉnh mà vẫn không nghe các âm thanh to lớn này. Như vậy, con xin thọ tŕ pháp vị tằng hữu ấy của Thế Tôn.

Rồi có lần Đức Thế Tôn trụ tại Uất Tỳ La bên bờ sông Ni Liên thuyền ngồi dưới cây A Xà Ḥa La Ni Câu Loại lúc mới thành đạo. Bấy giờ mưa lớn đến bảy ngày, từ chỗ cao đến thấp bị ngập nước, từng luồng nước lớn chảy ngang dọc, trong vùng đất đó, Đức Thế Tôn đi kinh hành đến chỗ nào th́ chỗ ấy đếu khô ráo. Hoặc nữa, ma vương trong suốt sáu năm theo Phật để t́m chỗ sơ suất mà không được, liền chán nản bỏ về, chẳng phá hoại được ǵ nơi Thế Tôn. Lại nữa, Thế Tôn suốt bảy năm suy niệm về thân, luôn luôn suy niệm không gián đoạn, th́ con xin thọ tŕ pháp vị tằng hữu của Thế Tôn.

Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo rằng:

- Này A Nan, thầy hăy nghe Như Lai nói và thọ tŕ thêm pháp vị tằng hữu. Này A Nan, Như Lai biết thọ sanh, biết trú, biết diệt, luôn luôn biết chẳng có lúc nào không biết. Này A Nan, Như Lai biết tư và tưởng sanh, biết diệt, luôn luôn biết không lúc nào không biết. Cho nên, này A Nan, hăy nghe Như Lai mà thọ tŕ pháp vị tằng hữu như vậy.

Bảy điềm mộng:

Thời gian sau này, khi Đức Thế Tôn gần bát Niết bàn, một đêm A Nan nằm mộng thấy bảy điều quái dị, trong ḷng hoang mang lo sợ, sáng ngày đến bạch Thế Tôn:

Bạch Thế Tôn, đêm vừa qua con nằm ngủ thấy bảy điều mà lâu nay con chưa hề bao giờ thấy mộng mị hay chiêm bao. Bạch Thế Tôn, bảy điềm mộng mà con thấy là:

Lữa dữ khắp nơi, thiêu đốt làm khô biển ng̣i sông rạch.
Mặt trời rụng xuống, thế gian tối tăm, đầu con cao ngang núi Tu di.
Tỳ kheo bỏ giới luật, vứt áo cà sa.
Tỳ kheo y áo tả tơi, xuôi theo thế gian khổ sở.
Heo rừng kéo đến ủi bức gốc rễ cây chiên đàn to lớn.
Voi con không nghe lời voi mẹ rong chơi khắp nơi, lạc đường bị chết đói.
Sư tử chết, bị các vi trùng trong thân ḅ ra lúc nhúc, rúc rỉa.
A Nan, biết rằng mộng là do tâm sanh, nhưng bảy điều vừa rồi thầy đă thấy đó chính là điềm báo trước trong tương lai Tăng đoàn sẽ suy đồi, giáo pháp sẽ bị mai một.

Này A Nan, điềm thứ nhất, đó là trong đời mạt pháp có hạng Tỳ kheo được đàn na thí chủ cúng dường đầy đủ, rồi lại sanh ḷng tranh căi chia rẽ.

Thứ hai, mặt trời sụp xuống, thế gian tối tăm và đầu A Nan vươn cao như núi Tu Di, đó là sau khi Ta bát Niết bàn, đại chúng, chư thiên sẽ cử thầy trùng tuyên lại giáo pháp.

Thứ ba, Tỳ kheo mà vứt bỏ cà sa, hủy hoại giới pháp đó là điềm trong đời mạt pháp có hạng Tỳ kheo chỉ lư thuyết suông mà chẳng chuyên tâm tinh tấn tu hành.

Thứ tư, Tỳ kheo lận đận, khốn đốn, y áo tả tơi, đó là điềm trong đời mạt pháp có Tỳ kheo bị vợ con ràng buộc, bỏ giới chạy theo thế tục.

Thứ năm, heo rừng ủi tung rễ chiên đàn, đó là điềm trong đời mạt pháp có hạng Tỳ kheo buôn bán Như Lai, xem giáo pháp như món hàng để trao đổi sự lợi dưỡng.

Thứ sáu, voi con không nghe lời voi mẹ, cuối cùng phải chết đói, đó là điềm trong đời mạt pháp có hàng Tỳ kheo trẻ tuổi, hậu học, không chịu nghe lời chỉ dạy của bậc Tôn túc, không tin tội phước nhân quả, chết đều rơi vào địa ngục.

Thứ bảy, ḍi bọ từ trong thân sư tử chết ḅ ra rúc rỉa thịt xương của sư tử, đó là điềm trong đời mạt pháp chính đệ tử của Như Lai phá hoại Phật Pháp, chứ chẳng do ngoại đạo, bên ngoài có sức phá nổi.

Bảy điềm mộng của A Nan, để chứng minh cho hôm nay, thực tế đă xảy ra, vậy chúng ta biết rằng giai đoạn này chính là thời mạt pháp.

Sáu tội Đột Kiết La:

"Các đệ tử Phật
Nếu nghĩ đến Phật
Nên báo ân Phật
Chớ nhập Niết bàn"

Một hoàn cảnh thật đau ḷng, sau khi Phật diệt độ, trong hàng đệ tử vị nào đă chứng đắc A La Hán th́ cũng lần lượt Niết bàn theo Phật, c̣n những ai chưa đạt đến quả vị tự thâu thần tịch diệt được th́ ưu sầu thương tiếc. Tâm tư của hàng đệ tử bấy giờ bị chấn động mănh liệt, ai cũng đầy ấp nỗi ḷng nhớ nhung, bàng hoàng trước sự ra đi của Thế Tôn vào nơi tịch mặc, chẳng ai có ḷng dạ nào để suy nghĩ việc ǵ hơn nữa. Trước cảnh bi thương ấy, Ngài Đại Ca Diếp quán xuyến tâm tư của hàng Thánh chúng bị xáo trộn, lung lay. Ngài nghĩ nếu như vậy tiếp tục diễn tiến th́ chắc chắn Phật Pháp sẽ bị mau tiêu diệt, giáo pháp sẽ chóng lăng quên và chúng ta chẳng tṛn bổn phận với Đức Như Lai và đắc tội với chúng sanh, xa thời chánh Pháp. Trước một trọng trách nên làm và phải hoàn thành trước nhất, ấy là kiết tập giáo pháp của Đức Thế Tôn, suốt thời gian 45 năm Ngài đă hoằng hóa.

Tiếng kiềng chùy được giống lên trên đỉnh núi Tu Di, vang vội khắp thế giới ba ngàn:

"Hỡi các Thánh đệ tử, những bậc vô sanh, các hàng tôn túc, hăy nhớ lời Phật dạy, thương xót chúng sanh, chớ vội thâu thần thị tịch, thế gian tăm tối hàng chúng sanh trong đời mạt pháp sẽ bơ vơ, v́ con mắt trí tuệ của thế gian đă nhắm lại rồi. V́ ḷng thương tưởng cho đời, mở lượng từ bi, xin các Ngài hăy kiết tập giáo pháp, xâu chuỗi viên ngọc vô giá thành từng chuỗi mà Đức Thế Tôn đă trao truyền cho chúng ta, để sau này hàng chúng sanh được ân triêm công đức".

Lời triệu thỉnh được truyền đi và hội chúng tụ tập, vây quanh giảng đường để báo ân Phật, kiết tập giáo pháp.

Trước khi bắt tay vào công việc, Ngài Ca Diếp nhập đại định, để quán tâm đại chúng, xem ai chưa đoạn tận các lậu, và thấy A Nan hăy c̣n những kiết sử vụn vặt của một vị Tu Đà Hoàn. Xuất định, Đại Ca Diếp đi đến chỗ A Nan, thản nhiên nắm tay A Nan kéo ra khỏi đại hội và nói rằng: "Trong hàng Thánh chúng tất cả các lậu hoặc đều đă đoạn trừ và đang làm việc thanh tịnh, ông hăy c̣n nhiễm ô, chưa sạch, vậy xin mời ra khỏi đại hội. Đó là tội đột kiết la thứ nhất.

Như cả một bầu trời sụp đổ, mây đen giăng kín cả ḷng, thật là một điều không ngờ, làm thị giả suốt 25 năm trời gần Phật để đến giờ phút này A Nan phải lănh chịu hậu quả tan nát cả ḷng, bị đuổi ra khỏi đại hội chẳng được duyên lành báo đáp ân Phật. Tủi phận ḿnh, A Nan tự nghĩ: "Khi Phật c̣n tại thế, ta theo hầu Ngài từ khi mới xuất gia cho đến khi Ngài thị tịch, chưa có lần nào bị tủi hổ và khổ năo như bây giờ".

Thưa Tôn giả Đại Ca Diếp, từ khi làm thị giả cho Thế Tôn đến bây giờ, không phải tôi không đủ khả năng để hoàn thành một vị A Lan Hán, nhưng v́ trong pháp Phật, một vị A Lan Hán không thể làm công việc của một thị giả, hầu cạnh Phật được, v́ lư do đó nên tôi c̣n giữ lại một ít kiết sử nhỏ nhiệm để tṛn bổn phận của ḿnh.

Trước nỗi ḷng tha thiết đó, Ngài Ca Diếp vẫn lạnh nhạt, tiếp tục hạch tội:

Khi Đức Thế Tôn c̣n ở đời, ư Ngài không muốn cho nữ nhân xuất gia sống theo pháp luật của chúng Tăng, nhưng do ông ân cần thưa thỉnh nên Đức Thế Tôn nhận lời, để cho thời chánh pháp của Đức Thế Tôn bị giảm 500 năm, đó là tội đột kiết la thứ hai.

Rồi đến Phật sắp nhập Niết bàn, Ngài đau lưng phải trải bốn lớp áo Uất Đa La Tăng để nằm. Lúc đó, Đức Thế Tôn nói với ông hăy múc nước cho Thế Tôn. Khi ấy sao ông không chịu múc nước, đó là tội đột kiết la thứ ba.

Một hôm nọ trong rừng Ta La, Đức Thế Tôn hỏi: "Bậc có bốn thần túc, có thể duy tŕ đời sống trong một kiếp hay một phần kiếp" Ông vẫn làm thinh, Đức Thế Tôn hỏi tới ba lần mà ông cũng không đáp. Do nhân duyên đó mà Đức Thế Tôn quyết định nhập Niết bàn, đó là tội đột kiết la thứ tư.

Trong khi trải Tăng Già Lê của Phật mà ông lại dẫm chân lên đó là tội đột kiết la thứ năm.

Sau khi Đức Thế Tôn nhập Niết bàn tại sao ông lại vén y cho nữ nhân thấy tướng mă âm tàng của Thế Tôn, một việc phi pháp, đó là tội đội kiết la thứ sáu.

Trước những lời buộc tội gay gắt, nhưng A Nan b́nh tĩnh, xin giải bày:

Đối với tội thứ nhất tôi phải đành chịu, v́ thương Phật nên tôi lưu lại một ít phiền năo. C̣n tội thứ hai v́ thấy t́nh cảnh của bà Kiều Đàm Di thảm thương quá, hơn nữa lại là di mẫu của Thế Tôn, nên tôi cầu xin như vậy, v́ trong chư Phật ba đời thảy đều có bốn bộ chúng, th́ Đức Thế Tôn của chúng ta cũng phải có đủ. Tội thứ ba chẳng phải tôi không dâng nước cho Phật, mà v́ do ngựa voi lội trên sông làm cho nước vẩn đục. Tội thứ tư, là khi ấy ma vương muốn hại nên che kín cả tâm tôi, chứ không phải tôi có ác ư muốn Thế Tôn nhập Niết bàn sớm. Tội thứ năm, lúc ấy v́ gió lớn quá, một ḿnh tôi nắm chẳng hết nên bị gió tung và rớt y xuống chân chứ không phải tôi cố t́nh dẫm lên y Phật. Cuối cùng tội thứ sáu, tôi tự nghĩ rằng cho các nữ nhân thấy tướng âm tàng của Thế Tôn để tự xấu hổ thân h́nh nữ của ḿnh mà siêng năng tu hành và cầu làm thân nam, tướng hảo, chứ chẳng phải làm điều phi pháp chẳng biết xấu hổ.

Sau những lời luận giải rơ ràng, nhưng Ngài Ca Diếp vẫn bắt A Nan sám hối trước đại chúng, và nói rằng: "Khi nào ông hết các kiết sử th́ mới được vào đây".

Thầm lặng A Nan bước ra khỏi giảng đường và về pḥng riêng. Trong đêm đó, A Nan tọa thiền, nhập định cho đến nửa đêm, thấy mỏi quá, bèn nghiêng ḿnh nằm xuống nghỉ, nhưng đầu chưa chấm gối th́ hoát nhiên đại ngộ. Tiếp tục A Nan nhập Kim Cang định và phá đổ hết thảy các lậu hoặc vi tế, chứng đắc tam minh lục thông, trở thành vị A La Hán.

Trong đêm đó, A Nan liền đến pḥng riêng của Đại Ca Diếp gơ cửa để tŕnh bày sở đắc của ḿnh, nhưng Ngài Ca Diếp chẳng mở cửa mà nói rằng: "Hăy chui lỗ khóa mà vào" A Nan bèn dùng thần thông sẳn có lách ḿnh qua lỗ khóa vào đảnh lễ Ngài Ca Diếp. Đại Ca Diếp. vui mừng, xoa đầu A Nan nói rằng: "Này A Nan, hiền giả chớ giận ta nghe, mục đích ta muốn hiền giả tự đắc chứng, như vẽ h́nh giữa hư không, không dính mắc vào đâu cả, hơn nữa, giáo pháp của Thế Tôn tồn trữ trong tâm của hiền giả vắng lặng trong ngần như biển sâu để tuyên hoằng lại cho hàng hậu chúng".

Một lần nữa Đại Ca Diếp vỗ đầu A Nan, tỏ một niềm kính mến thiết tha, v́ A Nan sẽ chủ tŕ trọng trách kiết tập giáo pháp, sẽ xâu lại những lời vàng, tiếng ngọc để làm mặt trời huệ cho hậu lai.

Tiếng kiềng chùy lại gióng lên và buổi kiết tập giáo pháp được bắt đầu. Ngài Đại Ca Diếp đi trước, A Nan theo sau khoan thai tiến vào hội chúng, trong bước đi trầm hùng như sư tử, dơng dạc như tượng vương, sắc mặt rạng rỡ tươi sáng. Đại chúng đều im lặng, cung thỉnh A Nan thăng lâm pháp ṭa sư tử, và suối pháp tuôn chảy từ A Nan, như hải triều âm bất tuyệt.

Nhập Niết bàn:

Một thời A Nan du hành tại Tỳ Xá Ly.

Sau buổi du hóa, Ngài đi đến các vị Tỳ kheo đang nhóm dưới những gốc cây thanh vắng tĩnh tọa, tư duy, hay cùng nhau đàm đạo những lời Đức Thế Tôn đă giảng thuyết.

Trong nhóm Tỳ kheo trẻ đang luận bàn về đề tài thế gian vô thường Phật pháp sanh diệt, con người cũng nằm trong định luật ấy. Có kẻ sanh ra đời rồi lớn lên trải qua đôi mươi năm rồi chết đi, luống qua một kiếp người vô tích sự, không làm lành, cũng chẳng tạo phước hay ích lợi cho ai, vậy sự sống của kẻ ấy có trải qua trăm năm hay ngàn năm rồi cũng vô dụng.

Khi bàn luận đến đây, có vị Tỳ kheo trẻ phát biểu:

Thế gian vô thường, đời người chóng vánh, sinh ra đời sống hằng trăm năm mà không gặp Phật Pháp, không tạo duyên lành tô bồi cho kiếp sau th́ rồi cũng luống trôi qua, chẳng bằng kẻ sống một ngày mà thấy được con hạc già đứng cạnh bờ ao. Rồi vị Tỳ kheo ấy đọc lên bài kệ:

"Như nhơn sinh bách tuế
Bất kiến thủy lăo hạc
Bất như sinh nhứt nhật
Nhi đắc kiến chi".

Bất giờ Tôn giả A Nan cũng ngồi gần đó nghe vị Tỳ kheo trẻ đọc bài kệ như vậy, Ngài thầm nghĩ: "Vị Tỳ kheo này sao đọc lạ vậy, Đức Thế Tôn có dạy như vậy bao giờ đâu, chắc có lẽ vị ấy đă nhầm lẫn". Nghĩ xong Tôn giả đứng dậy đi đến bên vị Tỳ kheo ấy nói rằng:

- Này hiền giả, vừa rồi hiền giả đọc bài kệ như vậy là nhầm rồi, Thế Tôn không phải dạy như vậy, mà như thế này, hiền giả hăy nghe kỹ:

"Nhược nhơn sinh bách tuế
Bất kiến sanh diệt pháp
Bất như sanh nhứt nhựt
Nhi đắc kiến chi".

Nghe xong vị Tỳ kheo trẻ không biết đâu là sai, đâu là đúng.

Sau khi trở về tịnh xá, vị Tỳ kheo trẻ ấy đem sự việc bài kệ mà Ngài A Nan đă đính chính đọc lại cho thầy nghe. Vị bổn sư của thầy Tỳ kheo trẻ nầy nghe rồi liền nói:

Tôn giả A Nan bây giờ đă già nên sanh ra lẩm cẩm, có nhớ rơ ràng ǵ đâu mà nói đúng. A Nan biết được điều này, Ngài tự nghĩ: "Hàng chúng sanh hậu học căn cơ chậm lụt chẳng nhận ra đâu là tà thuyết của ngoại đạo, của sự mê mờ, chấp giữ sai lầm, thật thương thay! Giáo pháp của đấng Thế Tôn rồi đây sẽ mai một. Thôi, giờ ta hăy vào Niết bàn, v́ đă già nua lẩm cẩm". Nghĩ vậy, A Nan quyết định nhập Niết bàn.

Trước khi vào nơi tịch mặc vĩnh viễn, A Nan bèn kêu đệ tử của ḿnh là Thương Na Ḥa Tu dạy rằng:

- Này Pháp tử, khi Đức Thế Tôn sắp nhập Niết bàn Thế Tôn đă trao truyền chánh pháp nhăn tạng lại cho Tôn giả Đại Ca Diếp, sau đó Tôn giả cũng nhập Niết bàn nên đă trao lại cho ta, nay ta cũng nhập Niết bàn, vậy ta phó chúc lại cho ông, ông nên truyền thừa ngọn đuốc giáo pháp để soi sáng thế gian làm con mắt huệ cho đời và báo Phật ân đức, lợi lạc chúng sanh. Ông hăy giữ ǵn cẩn thận.

- Kính bạch Thầy, xin Thầy hăy v́ ḷng từ bi thương tưởng cho đời, v́ lợi ích hàng Tăng chúng, làm điểm tựa cho hàng hậu học c̣n đang cần Thầy, chớ vội vào Niết bàn.

- Đă đến lúc ta vào Niết bàn, ông hăy lắng ḷng nghe bài kệ mà thọ tŕ pháp Như Lai:

"Bản lai phó hữu pháp
Phó liễu ngôn vô pháp
Các các tu tự ngộ
Ngộ liễu vô vô pháp".

Tin Ngài A Nan sắp vào Niết bàn, từ vua quan đến dân chúng ai nấy đều rơi lệ thương tiếc. Ṿm trời trần gian mất đi bóng sáng của ánh sao mai và hàng chúng Tăng mất đi một bậc kỳ đức tôn túc.

Khi ấy vua A Xà Thế và vua nước Tỳ Xá Ly rắp tâm đến giành Xá lợi đem về nước xây bảo tháp thờ.

Thấy trước t́nh cảnh như vậy, Tôn giả A Nan đi thẳng về phía bờ sông Hằng, lên một chiếc thuyền và ngồi kiết già thả trôi ra giữa ḍng sông mà nhập Niết bàn.

Vua A Xà Thế liền cùng quan quân, tùy tùng t́m đến bờ sông, vua thấy Tôn giả A Nan kiết già phu tọa trên thuyền ở giữa ḍng sông, liền cúi đầu đảnh lễ và đọc bài kệ:

"Khể thủ tam giới tôn
Khí ngă nhi chí thử
Tạm bằng bi nguyện lực
Thả mạc bát Niết bàn".

Đồng thời, vua nước Tỳ Xá Ly cũng rầm rộ voi ngựa kéo đến bờ bên kia sông Hằng, cúi đầu và đọc bài kệ:

"Tôn giả nhất hà tốc
Nhi qui tịch diệt trường
Nguyện trụ tu du gian
Nhi thọ ư cúng dường".

Trước nổi ḷng khuyến thỉnh của hai vua, Tôn giả A Nan đọc bài kệ:

"Nhị vương thiện nghiêm trụ
Vật vi khổ bi luyến
Niết bàn đương ngă tịnh
Nhi vô chư hữu cố".

Liền khi ấy, Tôn giả A Nan nhập định và bát Niết bàn.

Hết

 
(nguồn:
http://quangduc.com)

<< về trang Truyện Ngắn Phật Giáo >>