categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Tôn giả Châu Lợi Bàn Đà Già là một đệ tử của Phật Thích Ca Mâu Ni, người kém trí tuệ nhất. Tôn giả cũng có tên là Bàn Đặc được sanh trong một gia đ́nh nghèo khó, mộc mạc và sự cách biệt của cha mẹ. Cha Tôn giả là người vất vả, thiếu học, cuộc đời chỉ biết làm tôi tớ, c̣n mẹ lại là con gái của vị trưởng giả giàu có, học rộng hiểu xa. Hơn nữa bà c̣n nhanh nhẹ trước những việc khó khăn. Thế mà cuộc hôn nhân của ông bà vẫn được thành tựu tốt đẹp, âu cũng là duyên kiếp.

Cuộc sống êm ả trôi qua, đôi vợ chồng cách biệt này vui sướng khi sắp sửa làm mẹ. Bà chuẩn bị về quê để chờ ngày khai hoa nở nhụy. Trên đường về ḷng bà tràn ngập niềm vui, miên man nghĩ đến đứa con xinh xắn sắp chào đời mà quên đi quăng đường xa. Chẳng mấy chốc đă gần đến nơi chợt bà thấy đau nhói, mỗi lúc càng nhiều. Đến lúc không chụi nổi nữa, bà phải dừng lại bên vệ đường, t́m vào nơi kín đáo, rồi hạ sanh một bé trai trắng trẻo, mập mạp, ấy chính là Bàn Đặc. Thương thay cho kẻ sơ sinh phải vương mùi khổ lụy từ khi lọt ḷng mẹ.

Thuở nhỏ Bàn Đặc thật dại khờ, vả lại nhà nghèo nên không được đi học, v́ vậy mà càng thêm dốt nát. Sau nhờ quả phước báo may mắn được Đức Phật độ cho xuất gia tu hành. Đức dạy ông bài kệ chỉ bốn câu nhưng v́ căn tánh ngu độn mà ông học măi không thông. Bấy giờ Đứa Phật dung phương tiện thực tế giáo hóa ông, chờ khi Châu Lợi Bàn Đặc cầm chổi quét nhà Đức Phật liền chỉ ngay cây chổi mà dạy rằng:

- Này Bàn Đặc! Khi nào cầm đến cây chổi quét nhà th́ con nhớ đọc hai tiếng: "Chổi Quét". Nếu ḷng con giữ vững được chánh niệm hai tiếng "Chổi Quét" th́ con quyết sẽ chứng Thánh đạo, giải thoát sanh tử luân hồi.

Lúc đầu, chỉ bấy nhiêu đó mà Bàn Đặc cũng không nhớ nổi, hễ nhớ tiếng "Chổi" th́ quên tiếng "Quét", mà nhớ tiếng "Quét" lại quên tiếng "Chổi". Thật con người của ông không có một chút trí nhớ nào hết, đến đỗi ai gặp ông cũng đều cười chê, đùa cợt.

Một hôm Vương tử Kỳ Vực đến cầu Đức Phật và hàng đệ tử vào cung vua để thọ sự cúng dường, nhưng không mời Bàn Đặc tham dự. Lúc Đức Thế Tôn cùng hàng đệ tử đến cung th́ Vương tử Kỳ Vực sẳn sàng bưng thau nước trong dâng lên Đức Phật để rửa chân (theo phong tục Ấn Độ, đó là phép lịch sự của chủ đối với khách), nhưng Ngài chẳng tiếp lấy. Thấy vậy, Vương tử ngạc nhiên thưa hỏi:

- Kính lạy Đức Thế Tôn! Con kính dâng thau nước trong này để Ngài rửa chân sao Ngài không nhận?

- Này Vương tử! Trong hàng để tử của ta đến nhận sự cúng dường có thầy Tỳ kheo Bàn Đặc ở đó không?

- Kính lạy Đức Thế Tôn! Thầy Tỳ kheo Bàn Đặc chỉ có hai tiếng "Chổi Quét" c̣n không nhớ nổi, so lại không sánh bằng kẻ chăn dê nên con không có mời đến.

- Này Vương tử! Không phải vậy, Phật pháp phải là b́nh đẳng, không phân giai cấp cao hay thấp, cũng chẳng có kẻ sang người hèn, tất cả đều như nhau. Nếu Vương tử không mời Thầy Tỳ kheo Bàn Đặc đến đây th́ ta không nhận lấy thau nước này.

Biết ḿnh lầm lạc, làm trái ư Đức Phật, Vương tử vội phái quan đại thần đến thỉnh Tôn giả Bàn Đặc.

Khi tới nơi, Bàn Đặc vào lănh thọ sự cúng dường. Đức Phật bảo Tôn giả A Nan gắp thức ăn để vào bát Bàn Đặc. Thấy vậy Bàn Đặc lấy làm mừng rỡ liền đứng dậy một lúc lâu, đúng ra việc này ông phải chờ lệnh của Đức Phật, bởi v́ đem so th́ Tôn giả A Nan xuất gia sớm hơn Tôn giả Bàn Đặc.

Tôn giả Bàn Đặc ngồi cách xa Đức Phật nên việc đem b́nh bát đến bên Đức Phật khi ăn xong không phải là chuyện dễ, nhưng b́nh bát của Tôn giả Bàn Đặc vẫn được đưa đến đây trước sự ngạc nhiên của mọi người. Đó là nhờ sức oai thần của Đức Phật mà đại chúng không được biết.

Thấy vậy, Vương tử Kỳ Vực vội chắp tay đến quỳ trước Tôn giả Bàn Đặc mà thành tâm sám hối.

Thuở trước Tôn giả Bàn Đặc vốn ngu dốt, có thể là tâm ông không bền vững. Mặc dù bị người đời chê cười, biếm nhă, nhưng ông vẫn không thối chí, nản ḷng, mà quyết chuyên đọc hai tiếng "Chổi Quét" suốt sáu năm dài, để rồi ông được thức tỉnh, tâm không c̣n rối loạn, đi đến Giác Ngộ và chứng Thánh quả. Từ đó về sau tâm trí phát sanh rộng lớn, ông thấu hiểu nhiều đạo lư mầu nhiệm, lănh hội nhiều pháp ngữ sâu xa của Đức Phật.

Những người trước kia khinh thường, chê biếm ông sẽ thay ông tiêu tai nạn. Bấy giờ không c̣n một ai dám cười chê ông nữa mà lại càng kính trọng hơn.

Có một lần Tôn giả Bàn Đặc cùng 499 vị Đại để tử theo Đức Phật đến cung Long Vương A Nậu Đạt nhận sự cúng dường. Khi đến bờ ao A Nậu Đạt, Đức Phật bảo hàng đệ tử:

- Này các thầyTỳ kheo! Mỗi vị hăy múc lấy nước tám công đức ở trong ao mà uống. Sau đó các vị có thể biết được việc đời trước của ḿnh.

Khi hàng đệ tử thực hành xong, Đức Phật tiếp:

Bây giờ các vị hăy thuật lại kiếp đời trước của chính ḿnh nghe ra sao.

- Vâng lời Phật dạy, Bàn Đặc liền tự thuật:

- Kính lạy Đức Thế Tôn! Thưa toàn thể đại chúng: Đời trước con là một người nuôi heo. Một hôm con lùa heo đến chợ bán. Đi được nửa đường th́ bị một con sông cản lối, v́ muốn đem heo đến chợ sớm nên con không thể dừng lại đó. Con giải quyết bằng cách cột chân heo lại và lấy vải buộc mỏ chúng để khỏi la ồn. Xong xuôi, con cầm dây từ từ kéo bầy heo qua sông. Khi con sang được bờ bên kia th́ bầy heo bị ngộp thở mà chết cả. Vốn liếng con bị tiêu tan từ đó. Cuộc sống của con trở nên khổ sở, lắm lúc như điên dại, thường đứng ở bờ sông ngơ ngác không t́m ra lẽ sống. May gặp được một vị cao Tăng rộng ḷng thương xót, Ngài khuyên con xuất gia tu học. Sau khi bỏ thân ấy con được sanh lên cơi Trời. Lúc hưởng hết phước ở cơi Trời rồi mới trở xuống nhân gian làm người.

Do v́ kiếp trước buộc mỏ heo kéo sang sông làm tổn hại rất nhiều sanh mạng nên kiếp này con mắc quả báo ngu dốt. May nhờ kiếp trước có nhân duyên xuất gia nên đời này con được gặp Phật độ, chứng quả vị A La Hán.

Hết

 
(nguồn:
http://quangduc.com)

<< về trang Truyện Ngắn Phật Giáo >>