categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Trong kinh tạng Pàli, Tôn giả Xá Lợi Phất chiếm địa vị quan trọng hàng đầu, chỉ đứng sau Phật. Nhiều kinh được mở đầu với câu cổ điển "Như vậy tôi nghe", mà người thuyết kinh thay v́ đấng giác ngộ, th́ lại chính là bậc Thánh đệ tử uyên bác ấy đại lao cho Ngài.

Có khi đức Đạo Sư thăng pháp ṭa, chỉ tŕnh bày một bài kệ ngắn gọn, rồi lui về am thất của Ngài. Trong những dịp như vậy, chúng ta thường gặp Tôn giả Xá Lợi Phất xuất hiện khai diễn ư nghĩa lời dạy súc tích của Phật và cuối cùng, chính Phật đă xác chứng cho lối giải thích của Tôn giả bằng một câu c̣n giá trị hơn tất cả những lời khen tặng : "Nếu các ông hỏi ta, ta cũng giải thích như Xá Lợi Phất!".

Tôn giả Xá Lợi Phất (Sàriputra, dịch nghĩa là Thu Tử) là con trưởng trong một gia đ́nh thuộc thế cấp Bà La Môn giàu nhất làng Upatissa, gần Nàlanda ngày nay. Upatissa cũng là tên được đặt cho Ngài khi sơ sinh. Mẹ Ngài tên Saŕ. Trong bốn người con trai Ngài được mang tên của mẹ, trong khi một người em của Ngài lại có tên của cha là Vagantaputra. Tôn giả có ba em trai và ba em gái, về sau đều theo Ngài xuất gia đắc quả A La Hán. Những tiểu sử của các vị này được t́m thấy trong "Trưởng lăo Tăng kệ" và "Trưởng lăo Ni kệ".

Ba người em trai của Tôn giả có tên tuần tự như sau : Cunda (Thuần Đà) Upasena và Revata (Ly bà da). Ba em gái của Tôn giả là : Càlà, Upacàlà, và Śsùpacàlà. Ly Bà Đa là vị đệ tử thiền định đệ nhất của Phật. V́ Ngài là con út, bà mẹ rất cưng quư không muốn cho xuất gia nên t́m cách cưới vợ cho Ngài rất sớm. Vào ngày hôn lễ, không may cho hai gia đ́nh, cậu bé t́nh cờ thấy bà ngoại già 120 tuổi của cô bé, và trực nhận lư vô thường, trong phút chốc cậu đâm ra chán ngấy tất cả cảnh hoa lệ giả dối của cuộc phù sinh, và muốn thoát ly bằng mọi giá. Được anh cả yểm trợ, cậu út chuồn ngả sau giữa lúc đám tiệc linh đ́nh, và trực chỉ đi đến một ngôi tịnh xá, xuống tóc xuất gia. Ít năm sau khi nhập đạo, vào một mùa an cư, trên đường đi bái yết Phật, Tôn giả dừng chân ở một khu rừng cây Kha-disa (cây gai) và tại đây Ngài đắc quả, nên ngày sau Ngài được hiệu là "Ly Bà Đa ở rừng gai". Ngài được Phật khen là người xuất sắc nhất trong những vị yêu thích độc cư ở núi rừng.

Em trai giữa tôn giả là Upasena hay Vagataputta là vị tỳ kheo được Phật khen ngợi có hạnh hoan hỷ đệ nhất. Ngài từ trần sau khi bị rắn độc cắn, như được ghi trong một kinh của Tương Ưng bộ.

Người em kế là Cunda (Thuần Bà) được mệnh danh chú tiểu Thuần Bà ngay cả khi thọ giới, v́ để phân biệt với Trưởng lăo Đại Thuần Đà. Khi Tôn giả Xá Lợi Phất nhập diệt, chính vị này đă hầu cận Ngài và mang di vật của Ngài trở về thông báo với Đức Phật và Thánh chúng.

Ba người em gái của Tôn giả cũng xuất gia sau khi đă lập gia đ́nh mỗi người có một người con. Những người con trai này đă theo học với Tôn giả Ly Bà Đa. Chính Tôn giả Xá Lợi Phất, vào một dịp đến thăm người em út của Ngài lâm bệnh, đă gặp các cháu và khen ngợi hạnh kiểm tốt đẹp của họ, như được t́m thấy trong Trưởng lăo Tăng kệ 42, phần luận số.

Hạnh - Nhẫn - Nhục
Mặc dầu cả bảy anh em Tôn giả đều xuất gia theo Phật, bà mẹ Tôn giả vẫn giữ đạo Bà La Môn, và có thái độ thù nghịch với Phật giáo và tất cả những người liên hệ. Bà thù hận sa môn Gotama đă cướp hết đàn con của bà. Vào một năm gặp thời đói kém, Tôn giả Xá Lợi Phất đưa 500 vị Tỳ kheo đến khất thực tại nhà bà Sàŕ, bà vừa bày thức ăn bà vừa lằm bằm nguyền rủa. Để thực phẩm vào bát Tôn giả, bà mắng:

- Ngu ơi là ngu! Nhà cao cửa lớn, ruộng vườn thẳng cánh c̣ bay th́ không chịu ở, lại bỏ mà đi đầu đường xó chợ, ngủ bụi ngủ bờ, ăn cơm thừa cơm cặn của người ta.

Tôn giả vẫn yên lặng cùng Chúng Tăng thọ thực. Ăn xong, Tăng đoàn cùng theo Tôn giả im lặng trở về tịnh xá. Đại đức La Hầu La nhỏ nhất trong Tăng đoàn thóc mách thuật lại cho Phật nghe mọi sự đă chứng kiến tại nhà bà thí chủ nọ. Phật nhân đó thốt bài kệ sau đây, được ghi trong kinh Pháp cú, phẩm Bà La Môn:

"Đầy đủ đức hạnh không nóng giận,

tŕ giới thanh tịnh không nhục nhiễm,

th́ chỉ ngay thân này là cuối cùng,

không bị tiếp tục sanh nữa,

Người như thế ta gọi là Bà La Môn.

(danh từ Bà La Môn ở đây chỉ người cao thượng)

Hạnh nhẫn nhục của tôn giả được Phật và những vị đồng phạm hạnh không ngớt tán dương. Một hôm, một người đang đề cập về các đức tin của tôn giả.

- Trưởng lăo Xá Lợi Phất của chúng ta có hạnh nhẫn nhục chẳng ai b́. Ngài chẳng tức giận ai bao giờ.

Khi nghe thế, một người Bà La Môn lên tiếng:

- Vô lư! Ai mà khỏi có lúc tức giận. Đấy là v́ không ai khiêu khích ông ta thôi.

Mọi người phản đối:

- Không phải vậy đâu, cư sĩ.

Người Bà La Môn kia nói:

- Để tôi có cách chọc ông ta tức giận cho coi.

Người ta đồng ư chờ xem. Ngờ đâu, người Bà La Môn ấy chực khi Tôn giả vào thành Xá Vệ khất thực chạy theo đấm một đấm như búa bổ vào lưng Tôn giả. Tôn giả vẫn thản nhiên không quay lui, chỉ lên tiếng hỏi khẽ: "Cái ǵ thế" và tiếp tục bước. Người kia sanh tâm hối hận, đến trước tôn giả sụp lạy xin sám hối. Tôn giả hoan hỷ tha thứ ngay. Người kia bạch:

- Bạch tôn giả, nếu Ngài đă tha thứ cho con, xin thỉnh Ngài về nhà con thọ thực, và hôm nay trở đi, xin Ngài cho con được cúng dường Ngài thường xuyên.

Nói xong, y đỡ lấy b́nh bát trên tay Tôn giả và đưa Ngài về nhà. Nhưng có một bọn người đă vây lấy người Bà La Môn ấy, sẵn gậy gộc cầm tay, và bạch Tôn giả:

- Bạch Ngài, xin Ngài giao tên ác ôn đó cho bọn con sửa trị một mẻ.

- Tại sao?

- Bạch, nó đánh Tôn giả! Chúng con phải bửa đầu nó ra!

- Kẻ ấy đánh các ông, hay đánh ta?

- Bạch, đánh Tôn giả.

- Vậy th́ y cũng đă xin lỗi ta rồi. Các ông hăy đi đi.

Vào một dịp, Phật ngự tại Kỳ Viên tịnh xá, Tôn giả bị một tỳ kheo vu khống, v́ vị này phẫn nộ bất măn. Khi các Tỳ kheo đến từ giă sau mùa an cư, Tôn giả luôn luôn gọi tên thân mật từng vị Tỳ kheo, nhưng vị này lại không được Tôn giả nhắc đến tên, do nhân duyên ấy, vị này nổi lên phẫn nộ và bất măn, nghĩ rằng: "Tôn giả đă không thăm hỏi ta như những người khác". Đang lúc tức giận, Tôn giả đi ngang lại đụng chéo y vào người ông một cái, làm cho ông càng thêm tức, đến kiện với Phật.

- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Xá Lợi Phất luôn luôn nghĩ ḿnh là đệ tử số 1 của đấng Đạo sư, đă đánh con một tát gần điếc lỗ tai, thế mà không thèm nói ǵ, đă bỏ đi một bước.

Đức Phật cho gọi Tôn giả Xá Lợi Phất. Thay v́ phủ nhận sự vu cáo, Tôn giả đă rống lên tiếng sư tử giữa hội chúng với một bài pháp hùng hồn xác chứng Ngài đă thoát ly vĩnh viễn sân hận, có sức chịu đựng những mạ lỵ phỉ báng như đất nhận đồ phế thải. Vị Tỳ kheo ngập tràn hối hận, xin Ngài tha thứ tội lỗi. Trước đức Đạo sư, Tôn giả thốt lên những lời đầy khiêm cung:

- Bạch Thế Tôn, con tha lỗi vị Đại đức, và con xin vị ấy hăy tha lỗi cho con nếu con có làm ǵ phật ḷng người ấy.

Đức Phật bảo chúng đệ tử đang vây quanh Ngài:

- Này các Tỳ kheo, Xá Lợi Phất và những người đă chứng đắc như ông không bao giờ ôm ḷng hận thù ai. Tâm ông lớn như đại địa, vững như trụ đồng và an tĩnh như mặt nước ao thu.

Ḷng nhớ ơn
Trước khi xuất gia, Tôn giả đă nhờ Trưởng lăo Assaji mà ngộ đạo - đạo lư duyên sanh và t́m đến Đức Phật để tham học. Tôn giả nhớ ơn vị ấy suốt đời. Khi cùng ở một tịnh xá, Ngài luôn luôn đảnh lễ Assaji sau khi đảnh lễ đức Đạo sư, và khi Assaji ở chùa khác, Tôn giả thường hướng về ngôi chùa ấy mà đảnh lễ sau khi đảnh lễ Phật.

Khi Phật ở Xá Vệ trong Kỳ Viên tịnh xá có một người Bà La Môn nghèo khổ làm vườn, quét dọn để kiếm ăn. Phật quán thấy ông ta có thể đắc quả, nên hỏi trong đại chúng có ai nhớ đă chịu ơn của người Bà La Môn kia lần nào không. Ngài Xá Lợi Phất thưa rằng, có lần Ngài khất thực trong thành Vương Xá, người Bà La Môn kia đă sớt cho Ngài một muỗng đồ ăn của y đă xin được. Phật bảo: vậy ông hăy độ y xuất gia. Dưới sự hướng dẫn của Tôn giả, chẳng bao lâu người này đắc quả A La Hán.

Bậc thiện tri thức
Tôn giả Xá Lợi Phất là bậc thiện tri thức của tất cả mọi người. Ngài được tất cả yêu kính không những v́ trí tuệ siêu phàm mà c̣n v́ đức khiêm cung và ḷng từ bi hiếm có. Ngài không bao giờ tỏ ra ḿnh là bậc thượng thủ trong giáo hội của Phật. Trong tịnh xá Kỳ Đà Lâm, Tôn giả luôn luôn vấn an thăm hỏi những vị thượng tọa già yếu bịnh tật, và mỗi khi ra khỏi độc cư thiền định Ngài thường đi một lượt quanh khu tịnh xá, quét dọn lại những nơi bừa băi, để du khách khỏi chê cười đệ tử Phật ở dơ. Mỗi khi theo Phật du hóa một vùng xa, Tôn giả thường đi sau cùng, sau khi thu xếp cho những vị Tỳ kheo yếu bịnh. Cũng v́ lẽ ấy mà có bận Tôn giả đến nơi đă định khi quá nửa đêm, không có chỗ nào dành cho Tôn giả, Tôn giả đành ngồi nghỉ tạm ngoài trời, dưới một gốc cây. Khi Đức Phật biết rơ việc này, Ngài liền chế định, phải dành chỗ sẵn cho những bậc tôn túc trưởng thượng.

Thông thường, những người quá thông minh xuất chúng phải trả giá thiên tài của họ bằng nỗi cô đơn. Nhưng Tôn giả Xá Lợi Phất lại là một ngoại lệ. Ngài có rất nhiều bạn, có thể nói Ngài là bạn của tất cả, kể từ Đức Phật trở xuống.

Nhiều kinh điển Pali đă ghi lại những cuộc luận đàm kỳ thú giữa Tôn giả Xá Lợi Phất với những bực Thánh đệ tử khác. Chính đức Đạo sư dường như cũng ưa nói chuyện với Tôn giả hơn với những người khác. Ngài thường gọi: "Này Xá Lợi Phất" mỗi khi thuyết pháp. Thật là một địa vị đáng thèm.

Đức tính thứ nhất làm cho mọi người yêu kính là Tôn giả: biết thấy ưu điểm của người khác. Một lần, khi Tôn giả đang thiền định ngoài khoảng trống, có một con qủy chơi xấu, đến đánh một cú như trời giáng vào đỉnh đầu. Nhưng do định lực sâu xa Tôn giả không bị giao động. Khi Ngài xuất định, Tôn giả Mục Kiền Liên đến hỏi:

- Hiền giả có hề ǵ không?

Xá Lợi Phất đáp:

- Không sao cả thưa Hiền giả. Tôi chỉ bị nhức đầu chút ít.

- Kỳ diệu thay! Thật kỳ diệu thay năng lực thần thông siêu việt của Hiền giả Mục Kiền Liên, có thể thấy được mặt mày con quỷ ấy.

Tôn giả Mục Kiền Liên và Tôn giả Xá Lợi Phất là đôi bạn chí thiết từ nhỏ, ra đời cùng một ngày, trưởng thành trong một môi trường sang quư như nhau. Trong lúc tham dự một cuộc vui huyên náo kéo dài nhiều đêm, đôi bạn cùng một lúc khởi tâm nhàm chán thế tục với những lớp sơn lừa phỉnh của ngũ dục tạm bợ và cùng nhau đi t́m thầy học đạo. Trước hết, họ theo Sanjaya một tu sĩ ngoại đạo nổi danh ở thành Vương Xá. Với sự gia nhập của Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, uy tín của Sanjaya càng tăng gấp bội, và những thanh niên thuộc danh gia vọng tộc cũng nối gót hai ngài đến thọ giáo với Sanjaya. Trong một thời gian ngắn, đôi bạn đă học xong tất cả những ǵ Sanjaya có thể trao truyền, nhưng vẫn không t́m thấy đâu là con đường đưa đến giải thoát. Họ phải từ giă Sanjaya và sau này, khi được gặp Phật, nghe giáo lư của Ngài, họ sung sướng trở về khuyên Sanjaya theo Phật. Khi ấy Sanjaya nói một câu điển h́nh của hạng thầy dốt nát như ông:

- Địa vị của ta không cho phép ta làm một người học tṛ được. Ngươi tốt hơn nên ở lại với ta. ta sẽ chia cho một nửa đồ chúng mà lănh đạo.

Xá Lợi Phất thưa:

- Thưa thầy, tôi không hiềm ǵ phải làm một học tṛ suốt đời, bao lâu chưa t́m ra được con đường giải thoát sanh tử. Và một đấng giác Ngộ không thể ǵ gặp được! Xin thầy hăy cùng đi với chúng tôi!

- Trong thiên hạ, kẻ ngu nhiều hơn hay kẻ trí nhiều hơn?

- Thưa thầy, kẻ ngu bao giờ cũng nhiều hơn người trí.

- Vậy th́ hăy để những người trí đến với Sa môn Gotama, c̣n kẻ ngu sẽ theo ta.

Khi đôi bạn ra đi, một nửa đồ chúng của vị thầy cũng đi theo họ đến quy y Phật, hai vị Tôn giả đă trở thành đôi cánh của một con chim đại bàng. Hai vị đối với đấng Đạo sư là hai cánh tay đắc lực trên đường hoằng pháp đến nỗi khi hai Ngài nhập Niết bàn, Đức Phật đă thốt ra:

- "Hội chúng từ nay đối với ta thật trống rỗng".

Qua lời dạy ấy, chúng ta có thể thấy rơ tầm quan trọng của hai bậc Thánh đệ tử ấy đối với đức Đạo sư và đối với chánh pháp.

Một đức tính khác làm cho Tôn giả Xá Lợi Phất được tất cả đồ chúng của Phật yêu kính là Ngài biết tôn trọng ư kiến của mọi người. Ngài không bao giờ tự cho là trí tuệ đệ nhất để áp đảo kẻ khác bằng lư luận. Trong những cuộc luận đàm Tôn giả thường hỏi ư kiến từng người, để họ tự do phát biểu, và khi có sự bất đồng Ngài rủ mọi người cùng đi đến yết kiến Phật để xin đức Đạo sư giải quyết, chứ không bao giờ tự cho ư kiến ḿnh đúng, thiên hạ đều sai. Một kinh của Trung bộ III kể, vào một đêm rằm, trăng sáng vằng vặc chiếu xuống khu vườn cây Sa La nơi Tôn giả đang trú ngụ. Đêm khuya, trăng tỏ, hương hoa đang mùa rộ nở cùng với sương đêm tỏa ngát không gian. Cảnh thật xứng với người: một cuộc hội kiến giữa những bậc thượng thủ đến thăm Tôn giả Xá Lợi Phất. Tôn giả mở màn cho cuộc pháp thoại bằng một câu hỏi, cũng vừa là một lời chào:

- Đêm thanh, trăng tỏ, vườn Sa La khả ái thơm nức một mùi hương như thiên giới, chư Hiền nghĩ sao, vị Tỳ kheo nào, theo ư chư Hiền, sẽ là người làm sáng chói khu vườn (tức một mẫu Tỳ kheo lư tưởng trong Phật giáo phải như thế nào?)

Tôn giả A Nan đáp:

- Theo tôi, một vị Tỳ kheo làm sáng chói khu vườn là vị nào đa văn đệ nhất.

Tôn giả Ca Diếp:

- Vị Tỳ kheo sáng chói khu vườn là vị tŕ khổ hạnh đầu đà đệ nhất.

Tôn giả Mục Kiền Liên:

- Tôi th́ cho rằng vị Tỳ kheo làm sáng chói khu vườn, chính là vị nào thành tựu biện tài số một.

Tôn giả Ly Bà Đa:

- Ư kiến của tôi th́, vị Tỳ kheo làm sáng chói khu vườn phải là người thiền định bậc nhất.

Khi tất cả mọi người đều cho ư kiến, Tôn giả Mục Kiền Liên giục bạn:

- Hiền giả nghĩ sao? Ư kiến của người nào đúng? Và ư Hiền giả như thế nào về một vị Tỳ kheo làm sáng chói khu vườn?

Tôn giả Xá Lợi Phất đáp:

- Vị Tỳ kheo nào chế phục được tâm, không bị tâm chế phục. Vị Tỳ kheo nào, buổi sáng muốn trú tâm như thế nào, có thể an trú tâm như thế ấy vào buổi sáng. Buổi trưa vị ấy muốn an trú tâm nào vị ấy cũng có thể làm như ư muốn vào buổi trưa. Buổi chiều, buổi tối cũng vậy.

Như một vị vua hay đại thần có một tủ đầy áo đẹp, và khi vị ấy sáng muốn mặc áo nào, trưa muốn mặc áo nào, chiều muốn mặc áo nào đều có thể làm theo ư muốn của ḿnh. Cũng thế, đối với một vị Tỳ kheo đă chế phục được tâm ư, không bị tâm chế phục. Một vị Tỳ kheo như thế, này Hiền giả, sẽ làm sáng chói khu vườn Sa La khả ái này. Nhưng này chư Hiền, chúng ta hăy đi đến đảnh lễ đấng Đạo sư để thỉnh giáo về vấn đề này.

Khi Đức Phật nghe thuật lại ư kiến của từng vị. Ngài dạy rằng mọi người đều trả lời đúng theo địa vị khả năng của ḿnh. Tuy nhiên, Ngài thêm ư kiến của Ngài theo đó:

- Vị Tỳ kheo sáng chói khu vườn chính là vị nào sau khi đi khất thực về, sau khi chánh niệm thọ thực xong, rửa chân rồi trải tọa cụ ngồi thiền cho đến khi nào không c̣n lậu và móng khởi.

Điểm lư thú trong kinh này là ở chỗ khi mới nghe qua, chúng ta thấy dường như mỗi vị tự đề cao cá nhân vậy, song kỳ thật không thế. Mỗi người phát biểu cái lư tưởng ḿnh muốn đạt, cho nên ngài A Nan, con người ưa đa văn, tôn trọng học vấn, đương nhiên phải cho đa văn là nhất. Ngài Ca Diếp cho hạnh đầu đà là lư tưởng của xuất gia, nên Ngài mới chuyên môn hạnh ấy. Mục Kiền Liên yêu thích biện tài, muốn phát triển mặt ấy, nên cho rằng thành tựu biện tài là nhất. Ly Bà Đa chú trọng thiền định cũng thế, v́ cho thiền định là lư tưởng. Câu đúc kết của Phật rất ư vị ở chỗ, cái điều Ngài cho là lư tưởng chính là những việc làm rất thường, không có ǵ quái dị phức tạp, thế mà lại rất khó, chỉ có Phật mới thành tựu trọn vẹn được. Đó là những việc như ăn cơm, rửa chân, trải tọa cụ ra ngồi... những việc Phật làm khi mở đầu kinh Kim Cang. Như vậy, ta thấy rơ Phật muốn ám chỉ đạo là rất giản dị, đó là cái tâm b́nh thường (b́nh thường tâm thị đạo), nhưng đồng thời quả thật cái việc "thường" ấy lại khó khăn gấp bội những việc "phi thường" của các bậc đa văn, biện tài, trí tuệ.

Tôn giả Xá Lợi Phất lại c̣n một đức tính khá thu hút tất cả những bậc đồng phạm hạnh ấy là khiêm tốn và hâm mộ những tài đức khác. Kinh Trạm Xe (TB II) kể, có vị Tôn giả là Phú Lâu Na được Phật và chúng Tỳ kheo ở chung luôn luôn tán thán về giới hạnh không thiếu sót, yêu thích độc cư, tinh tấn, tri túc, thiểu dục, đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến và là người thường khuyến khích người khác tu những hạnh kể trên. Khi nghe như vậy, Tôn giả Xá Lợi Phất vô cùng hoan hỷ mong muốn có ngày sẽ gặp được Tôn giả. Phú Lâu Na đến yết kiến Phật và lui về ở một nơi lân cận. Các vị Tỳ kheo báo tin cho Ngài Xá Lợi Phất biết để đi thăm. Đến nơi, Tôn giả bắt đầu hỏi chuyện:

- Hiền giả, hiền giả v́ mục đích ǵ mà sống phạm hạnh với Đức Đạo sư? Phải chăng v́ mục đích thành tựu giới thanh tịnh?

- Không phải vậy, hiền giả.

- V́ mục đích kiến thanh tịnh?

- Không phải vậy, hiền giả.

- V́ mục đích đoạn nghi thanh tịnh?

- Không, hiền giả, phi đạo.

- V́ mục đích Đạo tri kiến thanh tịnh?

- Cũng không, hiền giả.

- V́ mục đích Đạt tri kiến thanh tịnh?

- Cũng không, hiền giả.

Khi ấy Tôn giả Xá Lợi Phất nói:

- Hiền giả, tôi hỏi cái ǵ hiền giả cũng đáp không phải mục đích ấy mà hiền giả sống phạm hạnh. Vậy th́, hiền giả sống phạm hạnh v́ mục đích ǵ?

- Hiền giả, với mục đích vô thủ trước Niết bàn.

Xá Lợi Phất hỏi tiếp:

- Có phải Giới thanh tịnh là vô thủ trước Niết bàn?

Phú Lâu Na đáp không. Hỏi tâm thanh tịnh, cũng đáp không, lần lượt hỏi bảy thanh tịnh, cũng đáp không phải là vô thủ trước Niết bàn. Khi ấy, Xá Lợi Phất hỏi lại:

- Trong bảy thanh tịnh, hiền giả đều nói không có cái ǵ là vô thủ trước Niết bàn, nghĩa là làm sao?

Phú Lâu đáp:

- Hiền giả, nếu Thế Tôn dạy giới thanh tịnh là Vô thủ trước Niết bàn th́ Vô thủ trước ấy cũng đồng đẳng với Hữu thủ trước (chấp vào giới), về sáu thanh tịnh kia cũng vậy. Và nếu Thế Tôn dạy cái ǵ ở ngoài bảy pháp ấy là Vô thủ trước Niết bàn, th́ kẻ phàm phu cũng gọi là Bát Niết bàn, v́ phàm phu không có bảy pháp ấy. Hiền giả, tôi lấy một ví dụ. Như vua Ba Tư Nặc đi từ Xá Vệ đến Sàveta qua bảy trạm xe. Khi vua đến nơi bằng chiếc xe của trạm thứ bảy, đ́nh thần ra đón và hỏi có phải nhờ chiếc xe này mà vua đi từ Xá Vệ đến hay không. Khi ấy, vua phải trả lời thế nào mới đúng? Xá Lợi Phất đáp:

- Dĩ nhiên vua phải nói, đă đi từ trạm thứ nhứt đến trạm thứ hai bằng một cỗ xe khác, lần lượt đổi xe ở mỗi trạm cho đến cỗ xe cuối cùng này.

- Hiền giả, cũng như vậy với bảy thanh tịnh. Giới thanh tịnh chỉ có mục đích đạt được Tâm thanh tịnh, Tâm thanh tịnh là để đạt đến Đoạn nghi thanh tịnh, Đoạn nghi thanh tịnh là để đạt đến Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, Đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến Đạo tri kiến thanh tịnh, Đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến Tri kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh là để đạt đến Vô thủ trước Niết bàn.

Nghe xong, Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi Tôn giả Phú Lâu Na:

- Tôn giả tên ǵ? Các vị đồng phạm hạnh gọi Tôn giả như thế nào?

- Tên tôi là Phú Lâu Na, các bạn gọi tôi là Di Đa La Ni Tử.

- Thật vi diệu thay hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đă được một bậc đệ tử đa văn của đấng Đạo Sư giải, và vị ấy là Tôn giả Phú Lâu Na. Thật hạnh phúc cho chúng tôi được thân cận thăm viếng Tôn giả.

Khi ấy, Tôn giả Phú Lâu Na hỏi lại:

- C̣n hiền giả tên chi, các vị đồng phạm hạnh gọi hiền giả như thế nào?

- Tên tôi là Tích Sa, các vị đồng phạm hạnh gọi tôi là Xá Lợi Phất.

Một bất ngờ kỳ thú! Tôn giả Phú Lâu Na muốn bật ngửa người v́ ngạc nhiên, không ngờ năy giờ ḿnh múa ŕu qua mắt thợ! Nhưng ông thợ này quá khiêm tốn dễ thương. Ngài Phú Lâu Na ngợ đi một hồi mới bảo:

- Tôi đang nói chuyện với bậc đệ tử được xem ngang hàng với đức Đạo sư mà không biết! Nếu tôi biết Ngài là Tôn giả Xá Lợi Phất, th́ tôi đă không nói nhiều như vậy.

Những ngày cuối cùng

Sau một mùa an cư ở làng Beluva gần Vesàĺ, Đức Thế Tôn tuần tự trở về Xá Vệ, Tôn giả Xá Lợi Phất đến đảnh lễ Đức Đạo sư rồi trở về độc cư thiền định. Khi Tôn giả an lành xuất định, Ngài khởi lên ư nghĩ: "Thông thường các đấng Giác Ngộ nhập Niết bàn trước hay các đệ tử trưởng nhập trước?". Rồi quán sát nội lực của tự thân, Ngài thấy thân dư báo chỉ c̣n tồn tại bảy ngày. Kế đó Tôn giả tự hỏi: "Không biết ta sẽ xả bỏ báo thân ở chỗ nào? La Hầu La th́ nhập diệt ở cơi Tam thập tam thiên, Tôn giả Kiều Trần Như ở trên đỉnh núi Hy Lạp. C̣n ta, th́ chỗ nào?" Nghĩ đi nghĩ lại, Ngài bỗng nhớ đến mẹ. "Mẹ ta, mặc dầu là mẹ của bảy vị A La Hán, bà vẫn không có ḷng tin đối với Phật, Pháp, Tăng. Bà c̣n chút duyên nào để sanh khởi tịnh tín chăng?" Tôn giả quán sát một hồi và thấy rằng mẹ có thể chứng quả dự lưu. Rồi Ngài tự hỏi do ai mà bà sẽ được chứng quả? Quán sát bằng thiên nhăn thiền định, Ngài thấy chính do ḿnh mà mẹ sẽ đắc quả. Do đó Ngài quyết định trở về quê cũ để nhập diệt. Tôn giả Thuần Đà em ruột Ngài, cùng với 500 đồ chúng của Ngài được lệnh thu xếp để theo Ngài về Nàlaka. Đi đến bái biệt vị Đạo sư lần cuối, Ngài tác bạch:

- Bạch Thế Tôn, xin đấng Thiện Thệ hứa khả cho con: thời gian nhập Niết bàn của con đă đến. Từ đây sẽ không c̣n luân hồi sanh tử với con. Đây là lần cuối cùng con đến đảnh lễ Đức Thế Tôn. Bảy ngày nữa, con sẽ đặt chân đặt thân này xuống, sẽ quăng bỏ gánh nặng này. Xin đấng Đạo sư hứa khả.

Đức Thế Tôn im lặng. Nếu Ngài tán thành bằng một câu: "Được, ông hăy nhập Niết bàn đi", người ta sẽ cho rằng Ngài khuyến khích sự chết. Nếu Ngài bác bỏ rằng: "Ông đừng nhập Niết bàn" người ta sẽ cho rằng Phật tán thán sự sống. Cho nên Phật yên lặng. Ngài chỉ từ tốn hỏi lại:

- Ông sẽ nhập Niết bàn ở chỗ nào?

Tôn giả thưa:

- Bạch Thế Tôn, tại xứ Ma Kiệt Đà, trong làng Nàlaka, ở ngay trong cái nhà con đă ra chào đời, con sẽ nhập Niết bàn tại đó.

Khi ấy, Thế Tôn dạy:

- Ông hăy làm những ǵ ông nghĩ là phải thời. Nhưng từ nay các huynh đệ của ông trong tăng chúng sẽ không c̣n được thấy một vị Tỳ kheo như ông nữa. Hăy thuyết pháp cho họ một lần cuối cùng.

Tôn giả vâng lịnh, thăng pháp ṭa. Với giọng nói trầm tĩnh mà hùng hồn, dung điệu uy nghiêm khả kính, Tôn giả ban bố pháp nhủ cho đại chúng lần cuối cùng. Khi th́ Ngài đưa tâm hồn cử tọa lên đến những đỉnh cao tuyệt vời của chân đế, khi th́ pháp âm bay lượn là đà xuống tục đế với những thí dụ trước mắt. Khi th́ Ngài thuyết pháp bằng cách trực chỉ, khi th́ Ngài dùng ẩn dụ. Thuyết xong thời pháp Tôn giả đến đảnh lễ dưới chân Đức Thế Tôn. Ngài ôm chân Phật, bạch rằng:

- Chính v́ ước nguyện được đảnh lễ đôi chân này mà con đă hoàn thành các pháp ba la mật trải qua vô lượng kiếp. Nguyện ước của con nay đă thành tựu. Từ nay sẽ không c̣n gặp gỡ, bạch Thế Tôn, nếu con có lời nói hay việc làm nào không vừa ư Thế Tôn, xin Thế Tôn tha thứ cho con. Bây giờ đă đến lúc ra đi.

Phật đáp:

- Ta tha thứ cho ông, Xá Lợi Phất. Nhưng ông không có lời nói hay việc làm nào không vừa ư ta. Ông hăy làm những ǵ ông thấy phải thời.

Ngay khi Tôn giả đứng lên từ biệt Phật đại địa chấn động, trời nổi sấm sét, một đám mây đen lớn trùm khắp như một chiếc khăn tang của hoàn vũ và một trận mưa ào ào trút xuống, như ̣a khóc trước cảnh ra đi của một bậc Chúng Trung Tôn.

Đức Thế Tôn bảo đồ chúng đang vây quanh:

- Bây giờ, các con hăy ra đi đưa tiễn bậc huynh trưởng của các con lần cuối.

Toàn thể tứ chúng đều rời Kỳ Viên Tịnh xá chỉ c̣n lại một ḿnh đức Phật. Họ đi theo Tôn giả từng đoàn lũ lượt càng lúc càng đông v́ dân chúng thành Xá Vệ cũng tiếp theo đoàn đưa tiễn, với đầu tóc nhúng nước rũ rượi (dấu hiệu tang lễ thời ấy), họ theo khóc lóc ta thán. Tôn giả ủy lạo quần chúng đang rên siết:

- Đây là một đoạn đường mà không ai tránh khỏi.

Và Ngài bảo họ trở về. Quay lại Tăng chúng ở Kỳ Viên đang theo đưa tiễn Ngài, Tôn giả căn dặn:

- Bây giờ, chư hiền hăy trở lại Tịnh xá đi. Hăy nhớ chăm sóc đấng Đạo Sư!

C̣n lại 500 đồ chúng, Tôn giả tiếp tục cuộc hành tŕnh. Cuộc du hành kéo dài cả tuần lễ, khiến nhiều người được dịp chiêm bái Tôn giả lần cuối cùng. Khi về đến làng quê trời đă tối. Tôn giả dừng chân dưới một gốc đa đầu làng. T́nh cờ, một người cháu của Tôn giả đi mua đồ về, thấy Tôn giả, đến gần chào Ngài, Ngài hỏi:

- Bà ngoại con có nhà không?

- Bạch Tôn giả, có.

- Con hăy trở về báo tin có chúng ta đến. Thưa bà rằng chúng ta sẽ ở trong làng một ngày, và xin bà dọn chỗ cho ta trong pḥng ta đă ra chào đời, và sắp đặt chỗ nghỉ cho 500 vị Tỳ kheo.

Cậu bé trở về thuật lại cho thân mẫu Tôn giả. Nghe xong, bà ngẫm nghĩ: "Tại sao con ta lại trở về? Tại sao y bảo dọn chỗ cho đông người quá vậy? Sao lại muốn ở trong pḥng chỗ chào đời? Bộ muốn hoàn tục hay sao? Bao nhiêu câu hỏi xoay vần trong đầu óc bà cụ. Nhưng bà vẫn làm theo lời dặn".

Khi Tôn giả về đến nhà, Ngài vào pḥng dành sẵn, và bảo các Tỳ kheo hăy đi đến khu vực dành cho họ. Chúng Tỳ kheo vừa đi khỏi, Tôn giả phát đau bụng dữ dội, quặn thắt cả ruột. Ngài đi cầu không ngớt, thị giả đem thùng vào rồi đem ra. Bà mẹ lo âu, thầm nghĩ: "Cha chả, bộ con ḿnh gặp nguy rồi". Và bà cụ cứ đứng như vậy nh́n về phía pḥng Tôn giả suốt đêm không dám đến gần. Trong lúc ấy Tứ Thiên Vương bằng thiên nhăn thấy bậc Đại Tuệ Xá Lợi Phất sắp nhập diệt, bàn nhau xuống trần để viếng thăm Ngài. Giữa đêm khuya, gian pḥng sáng rực v́ dung sắc của vị Thiên Vương chiếu ra. Tôn giả hỏi:

- Ai thế?

- Bạch Tôn giả, chúng tôi là những vị trời Tứ Thiên Vương.

- Các ngài đến đây làm ǵ?

- Chúng tôi muốn hầu hạ Tôn giả trong cơn bịnh.

- Cám ơn, tôi đă có thị giả. Các ngài đi đi.

Sau khi Tứ Thiên Vương từ biệt, đến lượt Đế Thích, và sau Đế Thích là Đại Phạm Thiên đến viếng thăm Tôn giả. Tôn giả đều cảm ơn bảo họ lui về. Bà cụ suốt buổi quan sát dung sắc thù thắng của những vị khách cơi trời mà ḷng cảm thấy quái lạ. Bà tự hỏi: "Ai vậy? Ai mà đối với con ta có vẻ cung kính thế nhỉ?". Rồi, không cản nổi cơn ṭ ṃ, bà đến tận cửa pḥng Tôn giả. Tôn giả Thuần Đà báo tin cho sư huynh, Tôn giả hỏi:

- Tại sao mẹ đến vào giờ khuya khoắt này?

- Để thăm con, con ạ! Này, con hăy nói cho mẹ nghe, những người đến đầu tiên là ai thế?

- Thưa mẹ, đó là Tứ Thiên Vương.

Bà mẹ trố mắt:

- Ồ ra, con c̣n lớn hơn Tứ Thiên Vương kia à?

Tôn giả đáp:

- Họ cũng như những người giữ chùa từ ngày Đức Thế Tôn đản sanh, họ đă luôn luôn canh gác đêm ngày, gươm đeo lủng lẳng.

- Và kế tiếp họ là ai thế?

- Đó là Đế Thích, vua của những vị trời.

- Vậy con lại lớn hơn Đế Thích à?

- Ông ấy cũng như chú tiểu ôm y bát theo hầu các Tỳ kheo. Khi đấng Đạo Sư lên cơi trời 33, chính Đế Thích đă ôm y bát theo hầu Ngài trở về trần thế.

- Ồ, c̣n sau Đế Thích là ai nữa?

- Đó chính là vị Phạm Thiên mà mẹ thờ.

- Ui chao! Thế ra con c̣n hơn cả vị trời Đại Phạm của mẹ nữa sao?

- Vâng thưa mẹ, vào ngày đấng Đạo Sư đản sanh, chính bốn vị trời Đại Phạm đă đưa lưới báu cơi trời đỡ lấy thánh nhi.

Khi nghe thế, bà cụ suy nghĩ: "Nếu con ta đă có oai thần như vầy, th́ bậc thầy của con ta c̣n oai thần đến bậc nào". Và khi nghĩ thế, một niềm hoan hỷ tràn ngập thân tâm bà. Tôn giả quán thấy mẹ ḿnh đă phát tâm sinh hỷ lạc đối với Tam Bảo, và đă đến lúc nên thuyết pháp cho bà. Ngài hỏi:

- Mẹ nghĩ ǵ thế?

- Tôi đang nghĩ rằng, nếu con tôi đă oai thần như vậy, th́ đấng Đạo Sư của người c̣n oai thần đến mức nào.

Tôn giả Xá Lợi Phất đáp:

- Vào lúc đấng Đạo Sư đản sanh, lúc Ngài xuất gia, lúc đắc đạo và chuyển pháp luân lần đầu, vào tất cả những dịp ấy, mười phương thế giới đều rung chuyển. Không có ai sánh được với Ngài về phương diện giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến.

Rồi Tôn giả tiếp tục giải thích cho mẹ nghe v́ sao Đức Đạo Sư đă được xưng tôn là đấng Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn. Nghe xong thời pháp, bà cụ đắc quả dự lưu. Bà hỏi Tôn giả:

- Tại sao, này con Tích Sa yêu dấu, tại sao suốt nhiều năm ṛng con đă không ban bố cho mẹ pháp vị cam lồ này.

Tôn giả nghĩ thầm: "Thế là ta báo đền ơn dưỡng dục". Và Ngài bảo mẹ:

- Bây giờ tín nữ hăy về nghỉ đi.

Khi bà cụ đi khỏi, Tôn giả hỏi Thuần Đà:

- Bây giờ khoảng canh mấy?

- Bạch Tôn giả, gần tảng sáng rồi.

- Hăy triệu tập chúng Tỳ kheo.

- Thưa vâng, bạch Tôn giả.

Khi chúng Tỳ kheo đến, Tôn giả bảo Thuần Đà:

- Hăy đỡ ta ngồi dậy, Thuần Đà.

Sau khi ngồi dậy, Tôn giả nói với chúng Tỳ kheo:

- Này chư hiền, tôi đă sống, du hành với chư hiền trong 40 năm. Trong thời gian ấy, nếu tôi có làm ǵ, nói ǵ không vừa ư xin chư hiền tha thứ cho tôi.

Tất cả đồng thanh bạch:

- Thưa Tôn giả, không có một điều bất măn nhỏ nào Tôn giả đă gây cho chúng con, những người theo Tôn giả như bóng theo h́nh. Nhưng bạch Tôn giả, xin Tôn giả hăy tha thứ cho chúng con!

Kế đó, Tôn giả quấn y quanh ḿnh trùm cả mặt, nằm xuống hông bên phải. Rồi, cũng như Đức Thế Tôn đă làm khi Ngài nhập Niết bàn, Tôn giả lần lượt nhập và xuất chín tầng lớp thiền định rồi trở lại nhập sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Sau tứ thiền, Ngài hoàn toàn nhập Niết bàn vô dư y. Đó là ngày rằm tháng Kattika tức vào khoảng giữa tháng 10 và 11 dương lịch.

Khi được tin, bà cụ không ngớt than khóc cho tới khi mặt trời mọc. Bà mở kho xuất nhiều tiền bạc để làm tang lễ. Quần chúng khắp làng đến nghe thuyết pháp và đảnh lễ thi hài Tôn giả. Bảy ngày sau, lễ trà tỳ được cử hành. Thi hài Tôn giả được đặt trên một giàn hỏa lớn bằng gỗ trầm. Sau khi hỏa táng, Tôn giả A Nâu Lâu Đà rưới nước thơm dập tắt ngọn lửa. Tôn giả Thuần Đà thâu nhặt xá lợi bọc vào trong một mảnh y. Liền sau đó, Tôn giả trở về Xá Vệ báo tin cho Phật, mang theo y bát và xá lợi của vị sư huynh. Đến nơi, Thuần Đà bái yết thị giả A Nan trước và tác bạch:

- Bạch Tôn giả, Tôn giả Sàriputta đă nhập Niết bàn. Đây là y và bát của Ngài.

- Hiền giả, về việc này ta hăy đi đến đấng Đạo sư.

- Thưa vâng, bạch Tôn giả.

Rồi cả hai cùng đi đến Đức Phật. Sau khi đảnh lễ Phật, họ ngồi qua một phía.

Tôn giả A Nan bạch:

- Bạch Đức Thế Tôn, chú tiểu Thuần Đà nói với con rằng Tôn giả Sàriputta đă nhập Niết bàn. Đây là y bát của Tôn giả. Khi nghe vậy bạch Thế Tôn, con bủn rủn tay chân vạn vật xung quanh con trở nên mờ mịt. Con không c̣n trông rơ cái ǵ ra cái ǵ nữa, khi nghe tin Tôn giả Sàriputta từ trần!

- Sao vậy? A Nan. Khi Xá Lợi Phất từ trần, ông ấy có đem theo bớt đi phần giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến nào của ông chăng?

- Không phải vậy, bạch Thế Tôn. Khi Tôn giả Sàriputta từ trần, Tôn giả đă không đem theo bớt phần giới định tuệ nào của con cả. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả đối với con là vị hướng dẫn, một bậc đàn anh, một người hướng đạo, một người đă khích lệ con làm con hoan hỷ, phấn khởi, một người giảng pháp không biết mỏi mệt, một người giúp đỡ kẻ đồng phạm hạnh. Chúng con nhớ xiết bao những lời chỉ giáo bổ ích, linh động và thú vị của Tôn giả!

- A Nan, há tôi không dạy cho ông rằng sớm muộn, chúng ta đều phải chịu sự chia ly với những ǵ thân yêu gần gũi? Cái ǵ đă sinh thành tất phải hoại diệt, tan ră. Không phân ly là điều không thể có. Này A Nan cũng như cành lớn của một cây đại thọ vững mạnh đă găy xuống, Xá Lợi Phất nhập diệt đối với chúng Tỳ kheo thanh tịnh này cũng vậy. Quả thế, A Nan có tụ hội tất phải có phân ly. Không phân ly là điều không thể có. Bởi thế, này A Nan hăy tự ḿnh làm một ḥn đảo, một chỗ nương cho chính ḿnh, đừng t́m chỗ nương tựa bên ngoài. Hăy lấy chánh pháp làm ḥn đảo, lấy chánh pháp làm chỗ nương đừng t́m chỗ nương nào khác.

Rồi Đức Thế Tôn đưa tay đỡ lấy di cốt của vị Thánh đệ tử thân yêu, và bảo đại chúng:

- Này các Tỳ kheo, đây là di cốt trắng như vỏ ốc của vị Tỳ kheo cách đây không lâu đă xin phép ta để nhập Niết bàn.

Vị Tỳ kheo ấy là người thành tựu các hạnh Ba La Mật trải qua vô lượng kiếp. Vị Tỳ kheo ấy là người đă giúp ta chuyển bánh xe pháp. Vị Tỳ kheo ấy là người được chỗ ngồi bên cạnh ta. Vị Tỳ kheo ấy là người trong cơi Tam thiên thế giới không có ai sánh kịp về phương diện trí tuệ, chỉ trừ Đức Như Lai. Vị Tỳ kheo ấy là người có trí tuệ lớn, có trí tuệ rộng, có trí tuệ sáng, có trí tuệ sắc bén, có trí tuệ sâu xa. Vị Tỳ kheo ấy ít muốn biết đủ, thích độc cư, không thích đám đông, đầy nghị lực. Vị Tỳ kheo ấy là bậc khích lệ những người đồng phạm hạnh, sẵn sàng chỉ điểm những lỗi lầm. Vị Tỳ kheo ấy khi xuất gia đă từ bỏ một gia sản lớn lao có được nhờ công đức tích lũy từ 500 đời trước. Vị Tỳ kheo ấy là người có hạnh nhẫn nhục như đại địa. Vị Tỳ kheo ấy có tâm bất hại, như một con trâu đực đă cưa hai sừng. Vị Tỳ kheo ấy có tâm khiêm hạ như đồng tử.

Này các Tỳ kheo, hăy nh́n đây xương trắng tro tàn của bậc Đại tuệ, bậc Quảng tuệ, bậc Lợi tuệ, bậc Minh tuệ ấy, con người ít muốn biết đủ ấy, con người ưa thích độc cư, con người đầy nghị lực ấy! Nh́n đây, xương tàn của một Tỳ kheo đă khích lệ, làm cho phấn khởi đấng Tỳ kheo, sẵn sàng chỉ điểm lỗi lầm cho chúng Tỳ kheo.

Bên bờ sông Hằng, không lâu sau khi hai đệ tử của Ngài nhập diệt, một hôm Đức Thế Tôn đưa mắt im lặng nh́n khắp tất cả đại chúng vây quanh rồi dạy:

- Hội chúng này, hỡi các Tỳ kheo, đối với ta bây giờ quả thật trống rỗng, khi Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên không c̣n!

Hết

 
(nguồn:
http://quangduc.com)

<< về trang Truyện Ngắn Phật Giáo >>