categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Đời nhà Minh, ở tỉnh Quảng Đông, làng Huỳnh Cang, có một danh sĩ tên là Lương Cầu, cha mẹ mất sớm, gia tư chỉ có hai khoảnh đất đủ tự cung cấp.

Ngày đêm ông chuyên đọc kinh sử và dạy học, kiếm được bao nhiêu tiền th́ mua chim cá phóng sanh, cư xử đúng câu châm ngôn của ông là "HÀNH THIỆN CHỈ ÁC, GIỚI SÁT CẤM DÂM" mà ông viết trên giấy và dán bên chỗ ngồi.

Có người bảo ông theo đạo Phật. Ông căi nói: "Đạo nho cũng giới sát và cấm dâm như đạo Phật vậy". Xưa vua Thang đi săn, mở lưới một mặt cho cầm thú, vua Văn Vương vét ao thả cá và lập vườn nuôi chim, Đức Khổng Tử chỉ câu làm vui chớ không thèm móc lưỡi, c̣n Thầy Mạnh cấm lưới chài, chẳng cho bắt cá trong hồ ao. Đó là về giới sát, c̣n về cấm dâm, th́ sách nho há không nói: "Vạn ác dĩ dâm vi thủ", "Lên án tội dâm, tức là cấm đó".

Có người lại hỏi vặn: "Không gần đàn bà th́ không con nối hậu" nhà Nho không sợ bất hiếu sao ? Lương Cầu đáp: "Xưa Sào Phủ, Bá Di, Thúc Tề, Hứa Do đều vô hậu cả" nhưng đến nay thiên hạ c̣n khen, hoặc xưng "Tỵ thế cao nhơn" hoặc xưng: "Thanh phong thiên cổ". C̣n vua Nghiêu, vua Thuấn có con mà là những con ngỗ nghịch, th́ thử hỏi chỗ nào hiếu, chỗ nào không hiếu".

Đến đời Khương Hi năm thứ 9, tháng 6, đêm mồng 8, ông chiêm bao thấy quỉ sứ đến bắt. Ông nói: "Tôi không sợ chết và cũng chẳng tiếc thân". Nhưng sách có nói: "Nhân Từ giả thọ" người có ḷng nhân từ th́ sống lâu tôi là người dứt ác làm lành, không sát sanh mà c̣n lại phóng sanh, cớ sao tuổi tôi mới 41 mà phải chết? Vậy xin phiền hai ngài về tấu với Diêm Vương coi ngài định lẽ nào?".

Hai quỉ sứ nghe lời ra về, rồi cách vài bữa sau trở lại cho Lương Cầu nằm mộng và đáp rằng: "Diêm Vương phán thế gian chỉ biết lẽ "Thiện ác quả báo" trong một đời hiện tại mà thôi, chớ biết lẽ "Thiện ác quả báo" trong ba đời là quá khứ, hiện tại và vị lai. V́ chỗ đó cho nên Phật có dạy: "Muốn biết kiếp trước tạo nhân thế nào, th́ xem quả báo đời này, c̣n muốn biết quả báo kiếp sau thế nào, th́ xem những nhân tạo ở đời này". Lương Cầu kiếp trước không có làm lành, chỉ tạo những tội sát sanh, nên kiếp này chỉ hưởng thọ chừng đó thôi".

Lương Cầu nghe mấy lời, bèn theo quỉ sứ đi. Trong chốc lát thấy đường gai gốc, chỗ cao chỗ thấp, thực nguy hiểm gập ghềnh, ông hỏi quỉ sứ có đường nào khác dễ đi hơn không? Quỉ sứ đáp chỉ có một đường dễ đi mà lại gần, tên là "Báo oan cảnh", nhưng người có tội đến đó sẽ bị cầm thú làm trở ngại và sách nhiễu, e không tiện. Nghĩ ḿnh vô tội, Lương Cầu xin dẫn đi đường ấy. Quả thật, khi đến nơi, cầm thú trông thấy Lương Cầu th́ lật đật nhường đàng tránh, con th́ ngoắt đuôi, con th́ chớp cánh. tỏ vẻ hoan nghênh c̣n những ai phạm giới sát sanh thời bị chúng lấy sừng mà chém, lấy chân mà đạp, hay mổ mắt, xé da, rứt thịt, v...v...

Qua khỏi nơi đây là một cái chợ, kẻ bán người mua nhộn nhịp như cảnh thế gian. Quỉ sứ dẫn ông vào quán và mời ông ăn gỏi uống rượu. Ông từ chối nói không quen uống rượu. Quỉ sứ khen ông là bực thiện sĩ.

Ra khỏi chợ là trời vừa tối, chợt thấy một ṭa cổ miếu rất tôn nghiêm, bông hoa rực rỡ, thực là thắng cảnh. Trước cửa có treo một bảng vàng khắc mấy chữ "Sắc phong Long Mẫu miếu".

Quỉ sứ dắt Lương Cầu vào đó nghỉ. Đến độ nửa đêm ông thấy một nàng ngọc nữ, tay trái xách một lồng đèn, ngọn sáng ngũ sắc, tay phải cầm một cái kim bài đề hai chữ "Thỉnh nhập". Ngọc nữ cất tiếng truyền "Lịnh Thánh Mẫu mời thiện sĩ vào hậu viện dạy việc". Lương cầu vâng lời đi theo vào đến sau th́ thấy một vị Thánh Mẫu cho phép ngồi và hỏi : "B́nh nhật thiện sĩ ở trên dương thế học đạo nào và tập nghề ǵ?".

Lương Cầu thưa: "Tôi học đạo nho và dạy học tṛ, làm điều lành lánh điều dữ và giới sát cấm dâm, chỉ bấy nhiêu đó thôi".

Long Mẫu khen nhưng hỏi tại sao đă giữ giới được như thế mà không qui đầu về Phật pháp. Lương Cầu xin cho biết lợi ích của Phật pháp.

Long Mẫu đáp: "Đạo Phật là một đạo tối tôn vô thượng, kẻ nào không biết qui về Phật pháp ví chẳng khác con voi lội xuống bùn, càng lội xuống càng sâu. C̣n người nào biết theo về với Phật th́ chẳng khác mặt trời mọc trên biển, càng cao càng sáng, chẳng những khỏi đọa vào nghiệp Tam đồ, mà c̣n thoát khỏi miền Tam giới".

Lương Cầu bèn than: "Nay Diêm Vương đă tróc mạng tôi xuống đây, làm sao trở về dương thế mà tu hành cho được?".

Long Mẫu dạy: "Như người có ḷng quy đầu về Phật pháp th́ đứng giữa đây, chấp tay niệm "Nam Mô A Di Đà Phật, nguyện cho kiên cố, rồi đến điện Diêm Vương phải trần t́nh thiệt tấu, th́ chắc Ngài hoan hỷ mà cho ngươi cải tử hoàn sanh".

Lương Cầu nghe lời, bèn đứng dậy chắp tay niệm Phật. Long Mẫu khen và lấy chén vàng, rót nước trong b́nh lưu ly, sai thị tỳ phụng cho Lương Cầu uống. Bà lại khuyên: "Ngươi uống chén nước đó th́ tâm thần khỏe khoắn trí tuệ mở mang, coi đâu nhớ đó, thiệt nên lợi ích". Lương Cầu tiếp chén nước uống vào quả nhiên tinh thần sảng khoái, quên đói quên mệt.

Khi ấy, trước viện đă rựng sáng, quỉ sứ vào giục đi. Ông đứng dậy từ tạ Long Mẫu, rồi theo chân quỉ sứ. Đi một hồi lâu, thấy một ṭa thành quách nguy nga, lâu đài quảng diệm. Quỉ sứ dắt ông vào th́ đây là điện vua Diêm Vương, hai bên tội nhân chật ních, kẻ gông người xiềng, ra dáng khổ cực không kể xiết.

Bỗng đâu ông nghe có tiếng dạy dẫn ông đến trước Diêm Vương, bảo tra sổ bộ th́ Phán Quan thưa Lương Cầu được 41 tuổi, trong bộ ác th́ chỉ có hai việc nhỏ nhất, c̣n trong bộ thiện th́ đủ 10 điều lành. Vua khen: "Như thế th́ thật là người thiện nhân đáng sanh về thiên giới. Vậy dẫn chàng đến tạm trú nhà Thiên Đường, đợi trên Đao Lợi sai tiên Đồng, Ngọc nữ xuống rước".

Lương Cầu nghe phán, qú xuống tâu rằng: "Nay tôi chưa được 41 tuổi th́ tôi cũng được an mạng, nhưng tôi c̣n một đại nguyện chưa xong, xin Đại Vương mở lượng từ bi cho tôi cải tử hoàn sanh đặng về dương gian làm cho măn nguyện, rồi tôi sẽ xuống. Vua hỏi chuyện chi, Lương Cầu đáp: "Nguyện quy đầu Phật Pháp".

Vua cười: Ngươi ở dương thế đă 41 năm, sao không tu, để nay xuống âm ty rồi lại xin trở về? Lương Cầu đem sự thật tŕnh bày là lúc ở thế chỉ học đạo Nho mà chư hiền đều công kích đạo Phật, chỉ mới đây nhờ Long Mẫu dạy bảo mới hiểu Phật Pháp là con đường duy nhất nên theo.

Vua phán: "Thế th́ phúc đức nhà ngươi lớn lắm. Ngươi đă phát nguyện quy đầu Phật Pháp th́ chư Phật và Bồ Tát đều hoan hỷ. Ta đây cũng hoan hỷ luôn, tăng thọ cho ngươi một giáp nữa đặng về dương gian mà tu học".

Lương Cầu tạ vua rồi theo Phán Quan dạo khắp các tư h́nh, lật án này, dở bộ nọ, xem đâu nhớ đó, không quên một chữ, không sót một câu. Xong xuôi, Phán quan giao ông cho quỉ sứ dắt về dương gian.

Hồn nhập vào xác, Lương Cầu ngồi dậy, tinh thần khỏe khoắn, dường như chiêm bao mới tỉnh.

Cách vài bữa sau, ông sắm đủ trầm trà và hoa quả, bèn thiết một đàn tràng giữa nhà mà tạ ơn bà Long Mẫu, rồi cạo đầu nhuộm áo, bỏ nhà vào núi ẩn tu. Sau ông thành một vị Cao Tăng, sống thêm được 52 năm nữa, ở tu tại tỉnh Quảng Đông. Do việc của ông mà trong làng Huỳnh Cang, nguyên quán của ông, có câu tương truyền: Bỏ nho theo Phật.

Hết

 
(nguồn:
http://quangduc.com)

<< về trang Truyện Ngắn Phật Giáo >>