categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Từ khi Phật Thích Ca Mâu Ni lại thành Xá Vệ thuyết pháp, giáo hóa đại chúng th́ nhân dân toàn thành này trở nên có đạo đức có lễ độ lại biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, khiến cho nước Xá Vệ biến thành một cực lạc quốc.

Tin này truyền đi gần xa, có một số người khác đạo ở nước La Kiệt Kỳ rất khâm phục uy tín Đức Phật, liền không quản đường xá xa xôi, cố t́m đến nước Xá Vệ để cầu Phật dạy bảo. Nhưng trong khi chưa gặp được Đức Phật th́ bỗng xảy ra một chuyện rất trái ư ở giữa đường.

Số là nước Xá Vệ ở vào xứ nóng, thường có nhiều rắn độc, một khi rắn đă cắn phải người th́ người ấy tức khắc chết liền, không có cách nào cứu sống được.

Hôm đó, người viễn khách vừa tới ngoài thành, ngồi nghỉ dưới bóng cổ thụ, nh́n xuống bên đường, thấy hai người, một già một trẻ, đang cuốc đất. Bỗng đâu có con rắn độc núp trong cỏ nhảy ra mổ chết người ít tuổi, người nhiều tuổi bỏ cuốc chạy lại thấy người ít tuổi đă tắt thở th́ hơi lộ nét buồn rồi thản nhiên quay lại chỗ cũ cuốc đất.

Viễn khách thấy thái độ ấy làm lạ, liền tiến lại bên cạnh ông già mà hỏi rằng:

- Này cụ! Thanh niên vừa chết kia có là con cháu hay là gia nhân cụ?

Ông già đáp cách tự nhiên:

- Hắn là con tôi.

- Ủa, lệnh lang bị rắn cắn chết sao cụ lại không kêu gào khóc lóc thảm thiết như người xứ chúng tôi thường làm?

- Nó là con trai tôi đó, nhưng bây giờ đă chết rồi, thiết tưởng dù có khóc than chỉ là thêm phiền năo mà cũng chẳng cứu sống lại được. Vậy khóc than có ích lợi ǵ?... Trầm ngâm một lúc, ông lăo nói tiếp:

- Ông ạ! Con người ở đời trước sau thế nào cũng chết, khác nào như mọi sự vật, có thành tựu thời phải có hoại không, đó là hiện tượng tự nhiên của tuần hoàn, nếu mà lúc sống gây nhiều nhân thiện th́ sau có báo ứng tốt, nhược bằng gây nhiều nhân ác th́ có ác báo không sai. Nay đă chết rồi, th́ dầu ǵ chăng nữa cũng là thừa.

Ông già nói xong thấy khách suy nghĩ đờ đẫn người ra liền hỏi:

- Phải chăng ông định tiến vào thành? Tôi muốn cảm phiền ông giúp cho một việc, phỏng có được không?

- Có việc ǵ xin cụ cứ nói!

- Thế th́ hay lắm! Đây: nhà tôi ở ngay cổng thành đi vào, quẹo sang bên phải bỏ gian đầu đến gian thứ hai ấy chính là nhà tôi. Vậy xin ông, khi đi qua, ghé vào nói giúp với bà nhà tôi rằng: Đứa con đă chết, vậy trưa nay chỉ đem một xuất cơm cho tôi ăn mà thôi.

Viễn khách nghe ông già dặn th́ điếng người, vừa đi vừa tự nghĩ: Ông già này keo quá, con đă chết mà c̣n đếm xỉa đến cả bữa cơm... Thật cả thế gian này cũng không đâu có người cha đến như thế! Kịp khi qua cửa thành, quẹo sang bên phải, cách hai nhà, quả nhiên thấy bà cụ vừa vặn đứng ở ngoài cửa. Viễn khách liền thi lễ và nói:

- Thưa bà, con trai bà bị rắn cắn chết, ông có nhắn tôi về bảo bà chỉ cần đem một suất cơm cho ông thôi.

Bà nghe khách nói xong th́ tỏ vẻ buồn rầu thoáng qua nét mặt rồi trân trọng cảm tạ khách, viễn khách lấy làm lạ lùng hết sức và tự hỏi: "Tại sao bà nghe tin con chết mà không kinh hoảng hoặc té xỉu người đi???". Liền hỏi luôn:

- Này bà, xin thứ lỗi cho tôi hỏi câu đường đột: Bà không thương xót lệnh lang hai sao?

Bà lăo thong thả đáp:

- Thưa ông! Cái đạo con cái với cha mẹ là tự túc nhân nghiệp báo nên mới có sự thác sinh vào nhà chớ không phải là do cha mẹ mời vào mà được, đến khi họ chết, cũng là do măn nhân, măn nghiệp mà họ đi, nên cũng không thể lưu họ lại. Cha mẹ khác nào như người chủ quán trọ chiều nay có khách lại ngủ đỡ, sáng mai hay ngày kia khách lại ra đi, chủ quán không thể lưu lại. Ấy sự liên quan giữa cha mẹ và con cái cũng thế đó. Vậy th́: Có thương tiếc hay kêu gào khóc lóc liệu có thể cứu sống lại được người đă chết không? Hay chỉ là gây thêm phiền năo mà chẳng có ích ǵ?

Nghe câu trả lời của bà cụ, khách rất hoang mang cho rằng vợ chồng ông già này quả thật là xứng đôi vừa lứa. Cả hai đều có một tấm ḷng sắt đá giống nhau. Giữa lúc này, từ phía trong nhà, một người con gái đi ra, bà lăo giới thiệu là chị gái người vừa chết. Khách liền hỏi ngay:

- Em trai cô vừa bị rắn cắn chết, chắc cô thương xót lắm nhỉ?

- Thương xót là lẽ thường, nhưng thương xót có thể cứu người em sống lại được chăng? Tôi tưởng: Chị em một nhà, khác nào như các cây gỗ ở rừng hạ xuống đóng thành cái bè rồi thả vào nước cho trôi. Nếu sông hồ phẳng lặng th́ bè trôi măi, bằng có cơn phong ba băo táp nổi lên đánh tan chiếc bè th́ mỗi cây trôi đi mỗi ngả, có bao giờ c̣n hy vọng lắp lại liền với nhau? T́nh chị em cũng thế. Đó là nhân duyên kiếp trước hợp rồi sinh vào một cửa. Tuổi thọ cũng tùy nghiệp báo, có người ngắn có người dài, và ngày chết cũng là vô thường, không sao biết trước được. Nay em tôi chết, mặc dầu tôi là chị hắn, nhưng tôi có làm ǵ được đâu? Huống chi là khóc với lóc, có phải không ông?

Người này đang nói, bỗng ở đằng sau, thấy một người đàn bà nữa tiến ra, khi nghe cô chị nói xong th́ kêu lên:

- Thế ra chồng tôi đă chết rồi?

- Đúng đấy! Chồng bà đă bị rắn cắn chết ở ngoài đồng. Vậy bà đau buồn lắm th́ phải?

- Thưa ông! Chồng chết ai không đau buồn, nhưng cái đạo vợ chồng ở đời khác nào như đôi chim trong rừng, tối đến cùng ngủ một cành, sáng ngày lại bay đi kiếm ăn, nếu có duyên th́ trở về cùng nhau, nhược bằng gặp tai họa th́ mỗi con bay đi một ngả. Ấy nghĩa vợ chồng ở đời là thế, mỗi người có một số mạng riêng, không làm sao mà nói được rằng: Chồng chết thay cho vợ, hay vợ chết thay cho chồng. Như thế khóc lóc phỏng có ích ǵ?

Viễn khách nghe lời mọi người trong gia đ́nh này nói ra th́ ḷng sanh hoài nghi cho thế tục nhân tâm ở xứ này, liền hối hận đă mất công t́m đến xứ này để học cái hay cái tốt của Đức Phật giáo hóa dân chúng; nào ngờ dân chúng như thế hỏi c̣n học được cái ǵ ở đây? Chi bằng lui gót trở về quê hương xứ sở là hơn. Nhưng hồi lâu lại nghĩ: Ḿnh chưa được gặp Đức Phật đă nóng nảy phê b́nh một vài thái độ của dân, rồi vội vă quay về, như thế là hành động nông nổi chưa chín chắn, chắc sau này có điều phải ân hận... Vậy ta phải đến thẳng tịnh xá tại vườn Kỳ Viên, để được gặp Đức Phật đă rồi sẽ hay. Nghĩ rồi, khách đi thẳng một hơi tới Tịnh xá và được ra mắt Phật.

Khi thấy Phật, khách khoan tay cúi đầu thi lễ, đoạn lui sang ngồi một bên, không nói không rằng: Đức Phật đọc rơ ư kiến trong ḷng khách, nhưng cũng cất tiếng từ bi hỏi:

- Tại sao viễn khách có bộ dạng buồn rầu?

- Bạch Thế Tôn, nhân v́ con hy vọng một việc mà chưa được như ư nên trong ḷng con không được vui vẻ.

- Có việc ǵ trái với bản tâm, tưởng cứ nói ra không nên để trong ḷng phải ưu sầu không thể giải quyết được việc ǵ hết!

Lúc đó người khách mới thuật hết đầu đuôi câu chuyện đă gặp ở ngoài thành, cuối cùng khách phê b́nh thái độ của gia đ́nh nông dân ấy là trái với t́nh đời.

Phật nghe xong tủm tỉm cười dạy rằng:

- Điều mà viễn khách cho rằng trái với t́nh đời là thuộc về "nhân tính". C̣n chân lư th́ không những không được thể hiện theo "nhân tính" mà c̣n phải tước bỏ nhân tính cho đến hết. Đó mới thực là điều khẩn yếu của kẻ tu hành xuất gia.

Nghĩ một chút, Ngài nói tiếp:

- Viễn khách đây v́ chưa hiểu chân lư, nên thấy gia đ́nh nhà nông kia hành động như thế th́ vội cho là "phản t́nh đời". Nhưng đứng về mặt chân lư mà xét, th́ những người ấy quả nhiên là không có hành động lỗi lầm, v́ họ biết rơ thế nào là "cuộc đời vô thường", nghĩa là con người đời không thể nào nắm giữ vĩnh viễn được cái "sắc thân" làm sinh mệnh bấy hủy bất diệt của ḿnh. Ḱa xem từ xưa tới nay, dù là phàm hay Thánh, cũng không ai có thể tránh được cái chết.

Nếu v́ một cái chết mà cả nhà theo nhau khóc lóc đến phát đau, phát ốm th́ sự khóc lóc ấy hỏi có ích lợi ǵ cho cả người sống lẫn người chết? Vả chăng, con người ngay từ lúc sơ sinh, đă nắm chắc lấy cái chết trong tay rồi. Nay thấy sự chết mà gây phiền năo trong ḷng quá đỗi th́ ta "mê hoặc" chưa hiểu cái lẽ sống chết. Nên biết rằng "sống" và "chết" là hai đầu mối luôn luôn tiếp diễn và luân chuyển không lúc nào ngừng. Hễ đă biết rơ được như thế là đă giải thoát rồi.

Viễn khách nghe Đức Phật giảng giải cho nghe một hồi th́ ḷng thoát nhiên tỉnh ngộ. Liền nguyện xin ở lại làm đệ tử của Phật và qui y Phật pháp tức th́. Viễn khách này sau trở nên một vị Tỳ kheo rất tinh tiến.

Hết

 
(nguồn:
http://quangduc.com)

<< về trang Truyện Ngắn Phật Giáo >>