categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

Mục Lục 
Thay lời tựa - Tiểu sử 
A - Bàn về " Hiệp Khách Hành "  
Hồi 1 : Huyền Thiết Lệnh
Hồi 2 : Thiếu niên gây đại họa
Hồi 3 : Ma Thiên Nhai
Hồi 4 : Bang chúa rừng Lạc bang
Hồi 5 : Đinh đinh Đang đang
Hồi 6 : Vết thương
Hồi 7 : Tuyết Sơn kiếm pháp
Hồi 8 : Thằng Ngốc
Hồi 9 : Đ̣n bánh tét
Hồi 10 : Kim Ô Đao pháp
Hồi 11 : Rượu thuốc
Hồi 12 : Hai tấm bài đồng
Hồi 13 : T́nh cốt nhục
Hồi 14 : Tứ đại môn phái ở Quan Đông
Hồi 15 : Chân tướng
Hồi 16 : Thành Lăng Tiêu
Hồi 17 : Tự đại thành cuồng
Hồi 18 : Điều phải cầu xin
Hồi 19 : Cháo Lạp Bát
Hồi 20 : Hiệp Khách Hành
Hồi 21: Ta là ai?
TỔNG LUẬN
**Cốt truyện Hiệp Khách Hành**
B - Bàn về " Thiên Long Bát Bộ / Lục Mạch Thần Kiếm "
Hồi 1 : Giữa đường gặp chuyện bất b́nh
Hồi 2 : Lời nguyền ở Vạn Kiếp Cốc
Hồi 3 : Người được vợ, kẻ vạ lây
Hồi 4 : Lời thề của Mộc Cô Nương
Hồi 5 : Lăng Ba Vi Bộ
Hồi 6 : Chưa kịp bái sư, sư đă ... bái!
Hồi 7 : Cha ăn mặn, con khát nước
Hồi 8 : Ông già áo xanh là ai?
Hồi 9 : Phượng bay ra, loan vào tổ
Hồi 10 : Kiếm khí dọc ngang như tường khói
Hồi 11 : Hai cô Mỹ nữ, một chiếc thuyền con
Hồi 12 : Người đâu gặp gỡ làm chi ...
Hồi 13 : Cô nương chỉ điểm, quần hào ngẩn ngơ
Hồi 14 : Mỹ tửu chạy theo lục mạch, Đệ huynh uống đủ thiên bôi
Hồi 15 : Dù người phụ ta, ta chẳng phụ người
Hồi 16 : Ân xưa oán cũ, sớm bạn trưa thù
Hồi 17 : Nguyện làm con cóc khác thường, chỉ mong thiên nga ngó đến
Hồi 18 : Một ngày ba nỗi đại oan, anh hùng Khất đan rơi lệ
Hồi 19 : Trợn mắt xem khinh ngh́n hảo hán, nhất tâm cứu mạng tiểu cô nương
Hồi 20 : Chữ trên vách đá đă ṃn, h́nh xăm trước ngực vẫn c̣n trơ trơ
Hồi 21: Ngh́n dặm đường trường, mơ hồ mộng ảo
Hồi 22 : Tiểu kính hồ lần ra manh mối
Hồi 23 : Chưa vui sum họp đă sầu chia ly ...
Hồi 24 : Yêu nhau lắm cắn nhau đau ...
Hồi 25 : Nén thương đau, đạp tuyết lên đường
Hồi 26 : Tay không bắt cọp
Hồi 27 : Chốn thiên quân bắt tướng, khất cái hóa đại vương
Hồi 28 : Chịu thảm h́nh trở thành "thiết sửu"
Hồi 29 : Hàn độc trùng, luyện hàn độc chưởng
Hồi 30 : Cuộc hội ngộ kinh hoàng ở Tiết gia trang
Hồi 31 : Nát óc tính cờ đành tự tử, vô tâm đi ẩu được thần công
Hồi 32 : Người câm trổ tài hùng biện, Nhà sư lănh phái tiêu dao
Hồi 33 : Đẩu chuyển tinh di, trấn áp hồ quần, cẩu đảng
Hồi 34 : Núi Phiêu Diễu mây dồn gió giật
Hồi 35 : Cứu Đồng Mỗ, tiểu tăng phạm giới
Hồi 36 : Bóng hồng đă khép cửa thiền
Hồi 37 : Cùng cười ha hả một tràng, cuối đường yêu hận rơ ràng là không
Hồi 38 : Chén chú chén anh, đồng bệnh si t́nh thành huynh đệ
Hồi 39 : Vải thưa che mắt thánh, bốn chín gặp năm mươi
Hồi 40 : Biết lúc nào bỏ được ḷng si
Hồi 41 : Mười tám kỵ sĩ Yên vân, Khí thế thiên binh vạn mă
Hồi 42 : Giả chết chờ thời phục quốc, cơi thiền nặng nợ phu thê
Hồi 43 :Một đời mộng bá vương, cùng trở về cát bụi
Hồi 44 : Đừng xây mộng đẹp mà chi, trăm năm chẳng có duyên ǵ với nhau
Hồi 45 : Đáy giếng khô hai ḷng ḥa nhịp, chốn bùn lầy hẹn ước chung thân
Hồi 46 : Ba câu hỏi kén ngôi pḥ mă
Hồi 47 : Hoa trà nở rộ v́ ai
Hồi 48 : Kẻ thù lại chính là cha, đứa con oan nghiệt bây giờ là vua
Hồi 49 : Sống chết chẳng qua là giấc mộng, sá ǵ phú quư với vinh hoa
Hồi 50 : Trung nghĩa khó toàn đành tự vẫn, thân tàn chưa tỉnh mộng quân vương


 


 


 

Bàn Về Tư Tưởng Phật Học Trong Tiểu Thuyết Vơ Hiệp Kim Dung
Thích Chơn Thiện - Chùa Tường Vân Huế 2004
 
______________________________________________________________________________

Mục Lục

Thay lời tựa - Tiểu sử 
A - Bàn về " Hiệp Khách Hành "  
Hồi 1 : Huyền Thiết Lệnh
Hồi 2 : Thiếu niên gây đại họa
Hồi 3 : Ma Thiên Nhai
Hồi 4 : Bang chúa rừng Lạc bang
Hồi 5 : Đinh đinh Đang đang
Hồi 6 : Vết thương
Hồi 7 : Tuyết Sơn kiếm pháp
Hồi 8 : Thằng Ngốc
Hồi 9 : Đ̣n bánh tét
Hồi 10 : Kim Ô Đao pháp
Hồi 11 : Rượu thuốc
Hồi 12 : Hai tấm bài đồng
Hồi 13 : T́nh cốt nhục
Hồi 14 : Tứ đại môn phái ở Quan Đông
Hồi 15 : Chân tướng
Hồi 16 : Thành Lăng Tiêu
Hồi 17 : Tự đại thành cuồng
Hồi 18 : Điều phải cầu xin
Hồi 19 : Cháo Lạp Bát
Hồi 20 : Hiệp Khách Hành
Hồi 21: Ta là ai?
TỔNG LUẬN
**Cốt truyện Hiệp Khách Hành
**
B - Bàn về " Thiên Long Bát Bộ / Lục Mạch Thần Kiếm "
Hồi 1 : Giữa đường gặp chuyện bất b́nh
Hồi 2 : Lời nguyền ở Vạn Kiếp Cốc
Hồi 3 : Người được vợ, kẻ vạ lây
Hồi 4 : Lời thề của Mộc Cô Nương
Hồi 5 : Lăng Ba Vi Bộ
Hồi 6 : Chưa kịp bái sư, sư đă ... bái!
Hồi 7 : Cha ăn mặn, con khát nước
Hồi 8 : Ông già áo xanh là ai?
Hồi 9 : Phượng bay ra, loan vào tổ
Hồi 10 : Kiếm khí dọc ngang như tường khói
Hồi 11 : Hai cô Mỹ nữ, một chiếc thuyền con
Hồi 12 : Người đâu gặp gỡ làm chi ...
Hồi 13 : Cô nương chỉ điểm, quần hào ngẩn ngơ
Hồi 14 : Mỹ tửu chạy theo lục mạch, Đệ huynh uống đủ thiên bôi
Hồi 15 : Dù người phụ ta, ta chẳng phụ người
Hồi 16 : Ân xưa oán cũ, sớm bạn trưa thù
Hồi 17 : Nguyện làm con cóc khác thường, chỉ mong thiên nga ngó đến
Hồi 18 : Một ngày ba nỗi đại oan, anh hùng Khất đan rơi lệ
Hồi 19 : Trợn mắt xem khinh ngh́n hảo hán, nhất tâm cứu mạng tiểu cô nương
Hồi 20 : Chữ trên vách đá đă ṃn, h́nh xăm trước ngực vẫn c̣n trơ trơ
Hồi 21: Ngh́n dặm đường trường, mơ hồ mộng ảo
Hồi 22 : Tiểu kính hồ lần ra manh mối
Hồi 23 : Chưa vui sum họp đă sầu chia ly ...
Hồi 24 : Yêu nhau lắm cắn nhau đau ...
Hồi 25 : Nén thương đau, đạp tuyết lên đường
Hồi 26 : Tay không bắt cọp
Hồi 27 : Chốn thiên quân bắt tướng, khất cái hóa đại vương
Hồi 28 : Chịu thảm h́nh trở thành "thiết sửu"
Hồi 29 : Hàn độc trùng, luyện hàn độc chưởng
Hồi 30 : Cuộc hội ngộ kinh hoàng ở Tiết gia trang
Hồi 31 : Nát óc tính cờ đành tự tử, vô tâm đi ẩu được thần công
Hồi 32 : Người câm trổ tài hùng biện, Nhà sư lănh phái tiêu dao
Hồi 33 : Đẩu chuyển tinh di, trấn áp hồ quần, cẩu đảng
Hồi 34 : Núi Phiêu Diễu mây dồn gió giật
Hồi 35 : Cứu Đồng Mỗ, tiểu tăng phạm giới
Hồi 36 : Bóng hồng đă khép cửa thiền
Hồi 37 : Cùng cười ha hả một tràng, cuối đường yêu hận rơ ràng là không
Hồi 38 : Chén chú chén anh, đồng bệnh si t́nh thành huynh đệ
Hồi 39 : Vải thưa che mắt thánh, bốn chín gặp năm mươi
Hồi 40 : Biết lúc nào bỏ được ḷng si
Hồi 41 : Mười tám kỵ sĩ Yên vân, Khí thế thiên binh vạn mă
Hồi 42 : Giả chết chờ thời phục quốc, cơi thiền nặng nợ phu thê
Hồi 43 :Một đời mộng bá vương, cùng trở về cát bụi
Hồi 44 : Đừng xây mộng đẹp mà chi, trăm năm chẳng có duyên ǵ với nhau
Hồi 45 : Đáy giếng khô hai ḷng ḥa nhịp, chốn bùn lầy hẹn ước chung thân
Hồi 46 : Ba câu hỏi kén ngôi pḥ mă
Hồi 47 : Hoa trà nở rộ v́ ai
Hồi 48 : Kẻ thù lại chính là cha, đứa con oan nghiệt bây giờ là vua
Hồi 49 : Sống chết chẳng qua là giấc mộng, sá ǵ phú quư với vinh hoa
Hồi 50 : Trung nghĩa khó toàn đành tự vẫn, thân tàn chưa tỉnh mộng quân vương
 

_________________________________

Thay lời tựa
*
Kim Dung
(Tra Lương Dung)
*
Tiểu sử

Theo tài liệu :
1. " Kim Dung : Cuộc Đời và Tác Phẩm ", Bành Hoa-Triệu Kiến Lập, dịch giả Nguyễn thị Bích Hải.

2. " Kim Dung : Tác Phẩm và Dư Luận ", Nhiều tác giả.

Kim Dung tên thật là Tra Lương Dung, sinh tháng 2, 1924 trong một gia đ́nh gồm sáu anh chị em, Kim Dung là thứ hai, tại Viên Hoa Trấn, huyệïn Hải Ninh, tỉnh Triết Giang, là nơi địa linh nhân kiệt của Trung Quốc.

Thân mẫu là người của thời " Ngũ Tứ " ( 4/5/1919 ), thời của phong trào đấu tranh dân chủ mở đầu thời kỳ hiện đại Trung Quốc, tri thủ đạt lễ, thích thơ văn, tư tưởng khai minh, dân chủ.

Thân phụ là Tra Xu Khanh không theo nghiệp văn chương, mà vào doanh thương, vừa là một đại địa chủ có đến 3.600 mẫu ruộng, với hơn 100 hộ tá điền.

Cụ cố nội là Tra Thận Hành là nhà thơ nổi tiếng bậc nhất đời Thanh. Ông nội là Tra Văn Thanh, đỗ Tiến sĩ, làm Tri huyện ở Giang Tô, bênh vực nhóm nhân dân đốt nhà thờ Thiên Chúa mà bị triều đ́nh cách chức.

Họ Tra là ḍng dơi thế gia vọng tộc, thanh danh hiển hách từ triều Nam Đường thời Ngũ Đại (907 - 960). Vua Thanh Cao Tông - Càn Long đă ngự đề một câu đối treo cao trước cổng từ đường rằng :

" Đường Tống dĩ lai cự tộc
Giang Nam hữu sổ nhân gia "
( Họ lớn từ thời Đường Tống
Danh gia bậc nhất Giang Nam )
Người đương đại th́ khen :
" Một nhà bảy Tiến sĩ
Chú cháu năm Hàn lâm "

Thiếu thời, Kim Dung rất tuấn tú, thông minh, hoạt bát, tinh nghịch mà biết điều; mê cảnh đẹp và say nghe các chuyện kể hay và đẹp.
Từ năm 1930 đến 1940 : Theo học Tiểu học ở Hải Ninh, Triết Giang, học Trung học ở Hàng Châu.

Từ năm 1941 đến 1945 : Học luật pháp quốc tế khoa ngoại văn, trường đại học chính trị Trùng Khánh. Làm việc tại Thư viện Trung ương lúc chưa tốt nghiệp. Bấy giờ Kim Dung có dịp nghiền ngẫm nhiều sách, truyện.

Từ năm 1946 đến 1949 : Trở lại Hàng Châu làm phóng viên cho nhật báo Đông Nam, sau lại được Đại Công Báo tuyển trong số hơn 3.000 người dự tuyển; sang thường trú ở Hồng Kông, phiên dịch tin tức quốc tế cho báo nầy.

Từ năm 1950 đến 1955 : Chuyển sang biên tập phụ san cho báo Tân Vấn, phụ trách mục Chuyện trà chiều, kiêm dịch tin tức, dưới bút hiệu Diêu Phúc Lan.

Bấy giờ Kim Dung khởi sự viết tập tiểu thuyết vơ hiệp đầu tay : " Thư Kiếm Ân Cừu Lục " với bút hiệu Kim Dung.

Năm 1956 : Sáng tác và đăng báo " Bích Huyết Kiếm ".

Năm 1957 : Viết và đăng truyện " Xạ Điêu Anh Hùng "

Năm 1959 : Viết, đăng truyện " Tuyết Sơn Phi Hồ ", truyện dài rất ngắn của Kim Dung.

Giữa năm 1959, khởi viết " Thần Điêu Hiệp Lữ ", đến năm 1962 mới xong.

Năm 1960 - 1961 : Viết, đăng " Phi Hồ Ngoại Truyện "

Năm 1963 : Viết, đăng truyện " Liên Thành Quyết " ( hay " Tố Tâm Kiếm " ) trên Minh Báo (Hồng Kông ) và trên báo Đông Nam Á ở Singapore.

Cùng năm 1963, viết, đăng " Thiên Long Bát Bộ " ( hay Lục Mạch Thần Kiếm ) trên hai báo vừa kể.

Năm 1965 : Viết, đăng " Lộc Đỉnh Kư " trên Minh Báo.

Năm 1975: Viết, đăng " Việt Nữ Kiếm ", truyện Vơ hiệp ngắn nhất của Kim Dung.

Trong khoảng thời gian hai mươi năm từ 1950 đến 1970, ngoài các công việc của một phóng viên, biên tập viên, dịch các thông tin quốc tế, Kim Dung đă sáng tác 15 tập truyện Vơ hiệp rất dài - trừ Tuyết Sơn Phi Hồ và Việt Nữø Kiếm - theo thứ tự thời gian như sau :

1. Thư Kiếm Ân Cừu.
2. Bích Huyết Kiếm.
3. Tuyết Sơn Phi Hồ.
4. Phi Hồ Ngoại truyện.
5. Xạ Điêu Anh Hùng truyện.
6. Thần Điêu Hiệp Lữ.
7. Ỷ Thiên Đồ Long Kư.
8. Bạch Mă Khiếu Tây Phong ( 1960 ).
9. Uyên Ương Đao.
10. Liên Thành Quyết ( 1963 ).
11. Thiên Long Bát Bộ ( 1964-1968 ).
12. Hiệp Khách Hành ( 1965 ).
13. Việt Nữ Kiếm.
14. Tiếu Ngạo Giang Hồ.
15. Lộc Đỉnh Kư .

Trong đó số hai truyện Thiên Long Bát Bộ và Hiệp Khách Hành nổi bật sắc thái Phật giáo, các tập truyện khác cũng bàng bạc đó đây triết lư Phật giáo với Thiếu Lâm tự xuất hiện như một Vơ lâm Minh chủ.

Tại lễ đường của trường Đại học Bắc Kinh, ngày 27/10/1994, hơn 1000 sinh viên vui vẻ, hân hoan đón tiếp Kim Dung. Tại đây, một số câu hỏi đă được đặt ra :

Hỏi : " Thiên Long Bát Bộ phải chăng là biểu đạt quan niệm nhân sinh của ngài ?

Đáp : " Trong Thiên Long Bát Bộ, có phần biểu đạt quan niệm nhân sinh của tôi. Lúc ấy trong tôi có tư tưởng triết học Phật giáo. Phật giáo khá bi quan đối với nhân sinh, cho rằng đời người là bể khổ. Vô luận nhân sinh tốt đẹp đến thế nào, cuối cùng rồi cũng chết

Nhưng Phật giáo c̣n có quan niệm khác, tuy con người không tránh được cái chết, nhưng vẫn c̣n có lúc tái sinh, sau nầy có thể đời sống tốt hơn, có thể cống hiến được sức ḿnh, có thể giúp đỡ được người khác. Có thể nói rằng chân đế của Phật giáo về nhân sinh là sâu sắc nhưng giá trị thực dụng của triết học Phật giáo có thể hữu ích đối với cá nhân, c̣n đối với xă hội vị tất đă hữu ích "

( " Kim Dung : Cuộc Đời và Tác Phẩm,?,tr.356 )

Hỏi : Phải chăng tiểu thuyết của ngài tuyên dương tư tưởng tôn giáo ?

Đáp : Đối với Phật giáo, tôi có phần tâm đắc, nhưng không có ư truyền giáo. Cách nh́n của tôi là, nếu anh gần với quan niệm tôn giáo nào đó th́ cần t́m hiểu nó, nếu không gần gũi th́ bất tất phải cố gắng truy cầu ... ( Ibid. tr.357 )

Bành Hoa và Triệu Kiến Lập th́ giới thiệu về Kim Dung rằng :

" Kim Dung rất phong độ, ông ta không hề bực bội với lời lẽ của tôi ( Lư Ngao ). Ông ta khiêm tốn giải thích quan điểm của ḿnh. Ông ta đặc biệt nhắc đến rằng từ sau khi con trai ông ta bất hạnh mất sớm, ông tập trung nghiên cứu Phật học, ông đă là một tín đồ trung thành của Phật giáo ... " ( Ibid. tr.326 )

Trong " Văn khố đại sư Văn học Trung Quốc, thế kỷ XX ,Tiểu thuyết quyển " đánh giá Kim Dung, xếp người vào vị trí thứ tư trong hàng chín bậc đại sư : Lỗ Tấn, Thẩm Ṭng Văn, Ba Kim, Kim Dung, Lăo Xá, Ức Đạt Phu, Vương Mông, Trương Ái Linh và Giả B́nh Ao. ( Ibid. tr.345 )

Tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung đă gây ra một tiếng vang rất xa, vang khắp các vùng Đông Nam Á từ lâu đến nỗi đă phát sinh ra hiện tượng nghiên cứu về Tiểu thuyết Kim Dung qua nhiều khía cạnh gọi là Kim học hay Kim Dung học phát triển ở Hồng Kông, Đài Loan, và cả ở Bắc Kinh, đại để như :

- " Bách gia chư tử và Kim Dung ", Viễn Cảnh Xuất Bản Xă, Đài Bắc, 1984 ( của Thẩm Đăng Ân ).

- " Đọc Kim Dung t́nh cờ tâm đắc ", Thư Quốc Trị, Viễn Cảnh Xuất Bản Xă, Đài Bắc, 1982.

- " Thế giới dưới ng̣i bút Kim Dung ", Dương Hưng An, Bách Ích Xuất Bản Xă, Đài Bắc, 1983.

- " Kim Dung và Nghê Khuông ", Thẩm Tây Thành, Lợi Văn Xuất Bản Xă, Hồng Kông, 1984.

- Ở Trung Quốc ( đại lục ), đă có nhiều chuyên gia, giáo sư đại học viết bài giới thiệu hay b́nh luận, nghiên cứu Tiểu thuyết Kim Dung.

Tháng 2, 1986, Phùng Kỳ Dung trong bài " Bàn về Tiểu Thuyết Kim Dung " đă viết về những ấn tượng khi ông đọc Tiểu thuyết Kim Dung rằng :

- " Thứ nhất : Lịch sử mà Tiểu thuyết Kim Dung bao hàm có nội dung xă hội sâu rộng rất nổi bật và rất hiếm thấy trong các tác gia tiểu thuyết vơ hiệp đương đại.

Thứ hai : Tư tưởng mà Tiểu thuyết Kim Dung đề cập có thể nói là đủ chư tử bách gia, tam giáo cửu lưu, hầu như bao gồm tất cả; c̣n về phương diện văn học th́ cả thơ, từ, ca, đối ngẫu, câu đối, khúc tử đều có đủ lại rất đắc địa, không hề g̣ ép khiên cưỡng, khiến cho người ta có cảm giác vốn liếng và khí lực của tác giả c̣n rất dồi dào sung măn.

Thứ ba : Trên phương diện nghệ thuật, một số nhân vật do Kim Dung sáng tạo rất nhiều h́nh tượng sinh động, thành công như Tiêu Phong, Trần Gia Lạc, Văn Thái Thái, Hoắc Thành Đồng, Quách Tĩnh, Hoàng Dung v.v... Đó là những h́nh tượng khó quên, có sức hấp dẫn rất mănh liệt. Có ai đọc những bộ Tiểu thuyết ấy mà không cảm động trước những h́nh tượng nghệ thuật như vậy.

Thứ tư : Ấn tượng đặc biệt sâu sắc của tôi ( tức Phùng Kỳ Dung ) là chất văn học trong Tiểu thuyết của Kim Dung: Nó khác hẳn tất cả tiểu thuyết vơ hiệp cũ lẫn tiểu thuyết vơ hiệp đương đại . Nó không những có ngôn ngữ trong sáng, tính văn học cao, hành văn lưu loát, uyển chuyển; mà cả thơ cả từ trong đó đều sử dụng rất khéo; điều quan trọng nữa là trong tác phẩm thường chan chứa ư thơ, đạt đến cảnh giới mỹ lệ. Theo cách nói quen thuộc, đó là một thế giới rất phong phú đa dạng, khiến người ta cảm thấy như đang sống trong thế giới ấy, cảm thấy được hưởng thụ nghệ thuật, một thứ mỹ cảm khiến người ta say sưa.

Thứ năm : Sự biến hoá của t́nh tiết nghệ thuật trong tiểu thuyết Kim Dung như núi mọc lên đột ngột ngoài trời, đó là chỗ khiến người ta phải vỗ án khen tuyệt. Đang tưởng như " sơn cùng thủy tận " bỗng gặp đường lối mở ra, t́nh men theo cảnh, hợp t́nh hợp lư. Chính v́ thế mà người ta không sao rời sách, cứ phải đọc cho đến hết .

- Năm 1992, " Bách Hoa Châu Văn Nghệ Xuất Bản Xă " đă xuất bản cuốn " Phân Tích và Thưởng Thức Tiểu Thuyết Kim Dung "...

- Một số trường đại học nổi tiếng, đă có nhiều chuyên đề"Nghiên cứu Kim Dung "...

- Các tác phẩm từ " Thư Kiếm Ân Cừu Hận " đến " Lộc Đỉnh Kư " đă được giới điện ảnh làm thành phim nhựa ( ibid. tr. 265 - 267)

Về nhiệt t́nh chính trị của Kim Dung, Bành Hoa và Triệu Kiến Lập nhận xét : " Trong bộ tiểu thuyết này ( Thư Kiêm Ân Cừu Hận) ta có thể thấy Kim Dung đă thể hiện nhiệt t́nh chính trị của ḿnh : t́nh cảm dân tộc, ḷng yêu tổ quốc, cho đến lư tưởng an bang trị quốc, cứu đời cứu dân. Nhăn quan của Kim Dung rất chính xác " ( Ibid. tr.299 )

Ngày 16 tháng 7, năm 1981, được sự sắp đặt của chính quyền Trung Quốc, Kim Dung, phu nhân và con trai vào thăm đại lục, được Đặng Tiểu B́nh tiếp kiến, nhiều nhân vật cao cấp ở Quốc Hội và Chính Phủ tiếp xúc, trao đổi. Sau chuyến Bắc du dài, thăm mười Tỉnh và Thành phố trong nước, tại Hồng Kông, các phóng viên Minh Báo đă phỏng vấn, Kim Dung đă xác định và điều chỉnh lập trường chính trị và cái nh́n của ông về đại lục, phát biểu rằng :

" Thứ nhất, tôi tin rằng hiện nay ở Trung Quốc không có một lực lượng chính trị nào có thể thay thế vị trí lănh đạo của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Thứ hai, tôi tin rằng Trung Quốc trong mấy mươi năm sắp tới không thể thực hành dân chủ theo kiểu phương Tây, mà dù có khả năng th́ chưa chắc đă có lợi cho đất nước và nhân dân.

Thứ ba, cá nhân tôi tán thành Trung Quốc xây dựng chủ nghĩa xă hội khai minh. Nói chung, so với thói quen phóng túng và sự phân hóa giàu nghèo thái quá trong xă hội tư bản chủ nghĩa th́ chủ nghĩa xă hội công bằng hợp lư hơn. Nhưng ở đại lục tự do của cá nhân c̣n hạn chế, Đảng Cộng Sản lănh đạo làm kinh tế hiệu suất c̣n thấp, chưa giải phóng được lực lượng sản xuất của nhân dân, tư tưởng và tác phong tả khuynh khá nghiêm trọng. Cá nhân tôi tán thành việc không ngừng cải cách từng bước, chứ không nghĩ rằng một cuộc cách mạng long trời lở đất có thể giải quyết được vấn đề " Tôi nhận thấy Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ Trung ương đến địa phương đă không c̣n khoa trương như trước mà phần nhiều nói về khuyết điểm của ḿnh, ít nói đến thành tích, điều nầy để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc nhất ". ( Ibid. tr. 302 )

Nhận xét về chế độ, tổ chức xă hội ở Hồng Kông, nơi cư trú hơn hai mươi năm qua của Kim Dung, Kim Dung đánh giá :

"... Điều đáng quư nhất của Hồng Kông là tự do sinh hoạt, tinh thần pháp trị, sự phát triển kinh tế có hiệu suất và linh hoạt, có nhiều cơ hội cho con người, cái dở nhất của Hồng Kông là sự bất hợp lư, bất công b́nh của tự do tư sản cực đoan " ( Ibid. tr.303 )

Với khối óc và con tim lớn, từng trải qua các biến đổi của thời đại, thế kỷ XX, nắm vững thông tin thế giới, hẳn là Kim Dung đă chuyển tải qua các tiểu thuyết vơ hiệp của ḿnh nhiều quan niệm, tư tưởng, nhiều nhận xét đánh giá giá trị về xă hội hiện đại ( Trung Quốc và Thế giới ) và hẳn đă truyền vào đó những cái nh́n và ư tưởng chân xác về thái độ sống của các cá nhân, tập thể để xây dựng một cuộc sống công bằng, nhân ái và an lạc, hạnh phúc tốt đẹp nhất có thể. Thế nên, tiểu thuyết của ông đă có một hấp lực lớn quấy động các sạp báo Saigon, và cả Saigon, trong những năm của thập niên 60. Dân chúng nhiều giới đều hâm mộ đọc tiểu thuyết vơ hiệp của Kim Dung. Không khí hâm mộ dấy lên như là không khí xem phim Tây Du Kư trên màn ảnh nhỏ của thập niên 80, TP Hồ Chí Minh. Tác giả tập sách này cũng bị cuốn hút theo làn sống hâm mộ có thể đọc truyện kiếm hiệp của Kim Dung liên tục nhiều ngày đêm không mệt mỏi, tưởng chừng như đang đi vào lục lọi túi khôn của nhân loại mà Kim Dung đă dốc cạn vào trong truyện.

Ngày nay, các học đường nhiều nơi đang lác đác nghiên cứu tiểu thuyết Kim Dung qua nhiều phương diện, đang chuyển thành hiện tượng " Kim học " hay " Kim Dung học". Tại Việt Nam, 15 bộ tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung đang được Nhà Xuất Bản Văn Học, Hà Nội ấn hành từ năm 2001 :

- Anh Hùng Xạ Điêu, 8 tập ( >= 350 trang ), 2001.
- Tiếu Ngạo Giang Hồ, 8 tập ( >= 350 trang ), 2001.
- Ỷ Thiên Đồ Long Kư, 4 tập ( >= 700 trang ), 2002.
- Lộc Đỉnh Kư, 10 tập ( >= 300 trang ), 2002.
- Thiên Long Bát Bộ, 9 tập ( >= 300 trang ), 2003.
- Hiệp Khách Hành, 4 tập ( >= 250 trang ), 2003.

Điều nầy khiến người viết " Bàn về Tiểu Thuyết Kim Dung " đi t́m lại các cảm xúc của ḿnh khi mải mê đọc vơ hiệp Kim Dung vào thập niên 60, đặc biệt là cảm xúc về Phật học, về Văn hoá và Giáo dục. Người viết chỉ có một nguyện vọng khiêm tốn là nói lên một tiếng nói trân trọng về những ǵ tốt đẹp mà Kim Dung đă cống hiến cho độïc giả bốn phương.

Tác giả cẩn bút
Tỷ kheo Thích Chơn Thiện
Chùa Tường Vân, Huế

___________________________________________


Phần Một
Bàn về " Hiệp Khách Hành "

I. Mở đầu

1. Ấn bản đầu tiên năm 1965. Ấn bản năm 1977 có thay đổi một số t́nh tiết, khiến " Hiệp Khách Hành " trở nên chặt chẽ và ư vị hơn.
2. Đoạn kết của bản tu chỉnh kết thúc từ cảnh Thạch Phá Thiên thành công trong công phu giải bí kíp Thái Huyền Kinh, trở về Khô Thảo Lĩnh, núi Hùng Nhĩ, gặp "má má " Mai Phương Cô để lại niềm băn khoăn về gốc gác của chính ḿnh : " gia gia ta là ai ? ", " má má ta là ai ? ", " Ta là ai ? ". Những câu hỏi, mà tập truyện là câu trả lời, làm dấy lên trong người đọc niềm thao thức khôn nguôi.

3. Bài cổ thi " Hiệp Khách Hành " của thi hào Lư Thái Bạch là bí kíp Thái huyền công cất giữ trên đảo Hiệp Khách. Nguyên văn bài cổ thi là :

" Triệu khách mạn hồ anh ; Ngô câu sương tuyết minh ;
Ngân yên chiếu bạch mă ; Tạp đạp như lưu tinh .
Thập bộ sát nhất nhân ; Thiên lư bất lưu hành ;
Sự liễu bất y khứ ; Thâm tàng thân dữ danh .
Nhàn quá Tín Lăng ẩm ; Thoát kiếm tất tiền hoành ;
Tương chích đạm Chu Hợi ; Tŕ khương khuyến Hầu Doanh .
Tam bôi thổ nhiên nặc ; Ngũ nhạc đảo vi khinh ;
Nhăn hoa nhĩ phục hậu ; Ư khí tố nghi sinh .
Cứu Triệu huy kim trụy ; Hàm Đan tiên chấn kinh ;
Thiên thu nhị tráng sĩ ; Huyền hách Đại Lương thành .
Túng thử hiệp cốt hương ; Bất tàm thế thượng anh ;
Thùy năng thư các hạ ; Bạch thủ Thái huyền kinh ".

Dịch nghĩa :

" Khách nước Triệu phất phơ giải mũ ; Kiếm ngô câu rực rỡ tuyết sương ;
Ngân yên bạch mă huy hoàng ; Vó câu vun vút như ngàn sao bay.
Cách mười bước giết người chẳng trật ; Ngh́n dặm xa vùng vẫy mà chi ;
Việc xong rũ áo ra đi ; Ẩn thân rừng núi kể ǵ tiếng tăm .
Rảnh lại nhớ Tín Lăng t́m đến ; Gươm gác đùi chuốc chén đầy vơi ;
Này nem, này rượu khuyên mời; Bên thời Châu Hợi, bên thời Hầu Doanh.
Ba chén cạn thân ḿnh sá kể; Năm núi cao xem nhẹ lông hồng ;
Mắt hoa mặt đă nóng bừng ; Khí hùng bay bổng lên từng mây xanh.
Chùy cứu Triệu vung tay khẳng khái; Thành Hàm Đan run rẩy kinh hoàng;
Ngh́n thu tráng sĩ hai chàng ;Tiếng tăm hiển hách rỡ ràng Đại Lương.
Người dù chết xương c̣n thơm ngát ; Chẳng hổ ngươi đáng mặt anh hào;
Ḱa ai ẩn náu trên lầu ; Chép kinh đến thuở bạc đầu chưa xong ".

4. Nguyên bản năm 1965 th́ không có lời hậu kư. Nguyên bản tu chỉnh năm 1977 th́ có lời hậu kư rằng :

"... Mọi cố gắng để chú thích và b́nh luận đều làm tổn hại đến bản ư của tác giả, lại c̣n tạo ra những trở ngại nghiêm trọng. Bộ Hiệp Khách Hành này viết 12 năm trước, đă diễn giải ư kiến này khá đầy đủ. Gần đây tôi đọc nhiều kinh Phật hơn, đối với ư nầy càng tâm đắc.

Kinh Bát Nhă của Đại thừa, Trung Quán luận của Long Thọ đều cực lực bài bác những luận giải phiền phức cho rằng các loại kiến thức chú giải đều do hư vọng sinh ra , chỉ làm trở ngại cho việc thấy đạo của người tu học. Khi tôi viết Hiệp Khách Hành nầy, tuy không thể nói là hoàn toàn không biết kinh Phật, nhưng chỉ mới đọc hết Kinh Kim Cang vào tháng 11 năm ngoái, tôi c̣n đọc Bát Nhă và Trung Quán lại c̣n mới hơn, mới Xuân Hạ năm nay.

Nhân duyên bên trong việc này, thật không thể nào giải thích được ".

Tháng 7, 1977.
Qua lời hậu kư của Kim Dung viết từ năm 1977, độc giả có thể h́nh dung ra một số điểm đáng lưu ư rằng :
- Các giải thích, giải mă, b́nh luận của nhiều ư kiến đương thời đều rơi vào các định kiến, giữa khi ư của tác giả, trong truyện, th́ phù hợp với giáo lư nhà Phật, phù hợp với vô ngă và vô chấp.

- Lúc sáng tác Hiệp Khách Hành, 1965, Kim Dung nh́n nhận bấy giờ chưa đọc nhiều kinh điển Phật giáo, nhưng vốn tâm đắc giáo lư nhà Phật, có nghĩa là có cái nh́n nhân sinh và thế giới phù hợp với tinh thần Phật học. Lúc tu chỉnh, 1977, tác giả đă đọc kỷ Kinh Kim Cương, tạng Bát Nhă, Trung Quán Luận.

Thực sự từ 1967, người viết " Bàn về Tiểu thuyết vơ hiệp Kim Dung ", một tu sĩ Phật giáo, đă thấy rơ ảnh tượng Kinh Kim Cương khắp bốn tập truyện Hiệp Khách Hành, đă cùng các pháp hữu sôi nổi trao đổi cảm nhận ở ngoài hành lang của giảng đường Phật học Vạn Hạnh. Hẳn là có chút băn khoăn về phần kết của truyện. Nay th́ phần ấy đă được tu chỉnh rất gọn.

- Do v́ Kim Dung tâm đắc với Phật giáo nên cái nh́n của tác giả, qua toàn truyện, toát ra nhiều hương sắc Phật giáo. Đây là phần khảo sát của người viết, không đi vào các hàm ư giá trị khác.

_______________________________________

Phần Hai
Bàn về " Thiên Long Bát Bộ " hay "Lục Mạch Thần Kiếm"
A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT

Kim Dung sáng tác truyện Thiên Long Bát Bộ vào năm 1963; khởi đăng trên Minh Báo Hồng Kông và Nam Dương Thương Báo (Singapore) từ ngày 03-09-1963. Bộ truyện dài mười tập, 3000 trang, 50 hồi, chừng hai triệu chữ, đăng liên tục bốn năm. Đây là tác phẩm dài nhất và là một trong các tác phẩm tuyệt vời của Kim Dung, đặc biệt đầy màu sắc Phật Giáo, ḷng nhân ái, hữu nghị quốc tế, tinh thần dân tộc khai minh, và đầy nét thẩm mỹ.
Bối cảnh của truyện trải khắp sáu nước: Đại Lư ở Phương Nam; Đại Tống ở Trung Nguyên; Đại Liêu, Tây Hạ, Đại Kim ở Phương Bắc, và một nước Đại Yên đă bị xóa tên trên bản đồ lịch sử.

Xung đột xảy ra chung quanh các mâu thuẫn trong mối liên hệ con người, quốc gia và quốc tế. Cục diện chính là xung đột lịch sử giữa đại Liêu và Đại Tống, đan xen vào các âm mưu quốc tế và ư đồ khôi phục nước Đại Yên của nhà Mộ Dung.

Chiến tranh đẫm máu tàn phá các giá trị nhân văn, văn hóa, chỉ nhằm phục vụ tham vọng bá quyền của Đại Liêu, và toan tính phục quốc phiêu lưu của nhà Mộ Dung. Tất cả bi thương đều trút xuống một con người bản tâm trung chính, nghĩa khí, nhân đạo là anh hùng Tiêu Phong: Tiêu Phong hứng chịu rất oan khuất các hậu quả của sự man trá, căm hờn, đố kỵ, thành kiến hẹp ḥi, kỳ thị chủng tộc ở xă hội chàng đang sống.

T́nh người vượt khỏi biên giới lănh thổ, giai cấp, tuổi tác giữa ba anh em kết nghĩa Kiều Phong, Hư Trúc và Đoàn Dự tỏa sáng trên toàn truyện là tiếng nói giá trị của thời đại, hóa giải được các hận thù lịch sử, đem lại ḥa b́nh bền vững cho toàn cơi Trung Quốc, đă thắp sáng thao thức của độc giả bốn phương.

Thái độ sống rất hiền triết, giản dị, lặng lẽ của vị sư già giữ tàng kinh các Thiếu Lâm tự, mà rất trí tuệ Phật Giáo, là tiếng hống sư tử làm bừng tỉnh một cơi giang hồ của Vơ lâm đương thời, giúp giang hồ thấy rơ các hạn chế, ràng buộc của dục vọng và tư duy ngă tính từng gây ra sóng gió, loạn lạc. Tất cả nội dung đó đă được Kim Dung chuyển tải qua ba ngh́n trang sách đầy mỹ cảm, với hai điểm nhấn rất đặc biệt:

- " Muốn có hy vọng giải thoát th́ đầu tiên phải trừ tham, trừ ái, trừ thủ, trừ triền".

(Tr 28, tập 10; NXB Văn Học, Hà Nội, 2003)

- " Chỉ khi nào tất cả đế vương cùng tướng quân khắp thiên hạ đều tin vào Phật Pháp mà lấy từ bi làm gốc, th́ lúc đó mới không c̣n thảm họa chiến tranh".

(Tr 273; Tập 10; NXB Văn Học, Hà Nội 2003)

Trừ tham, ái, triền và phát triển từ bi là loại trừ sạch các tác nhân gây ra khổ đau cho các cá nhân và xă hội, là đem lại ḥa b́nh, an lạc và hạnh phúc cho đời. Đây là tiếng vọng của Phật giáo từ đỉnh Himalaya, xứ Ấn, mà độc giả có thể nghe qua từng hồi truyện Lục Mạch Thần Kiếm.
 
Đầu Trang


(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Truyện Ngắn Phật Giáo >>