categories: phat phap, phật pháp, thuyet phap, thuyết pháp, phap am, pháp âm, thuyết pháp sư, giảng đạo, giang pháp, thuyet giang phap, thuyết giảng đạo, mp3 thuyết pháp, mp3 thuyet phap, thuyết pháp cd, thuyet phap cd, Phật Thuyết Kinh A Di Đà, Khai Thị, Tinh Hoa Tinh Độ, mp3 thuyết pháp Tinh Hoa Tịnh Độ, phat hoc, phật học, ton giao, mp3 thuyết pháp Hé Mở Cửa Giải Thoát, mp3 thuyet phap Tinh Hoa Tinh Do, mp3 thuyet phap He Mo Cua Giai Thoat, thuyết pháp Bố Thí Cúng Dường, thuyet phap Bo Thi Cung Duong, tôn giáo, Tinh Do, pháp môn Tịnh Độ, chùa Tịnh Độ,Tịnh Độ, Tu Vien, Tu Vien Temple, Tu Vien Tu, Niem Phat Duong, Tu Viện, Niệm Phật Đường, Tu Viện Tự, Tầm Sư Học Đạo, Bổn Tánh Hoàn Nguyên, name: Tu Vien, giang dao, giảng đạo, tam linh, tâm linh, tiem hieu ton giao, tiềm hiểu tôn giáo, hanh phuc, hạnh phúc, hanh phuc gia dinh, hạnh phúc gia đ́nh, cau sieu, cầu siêu, sieu do, siêu độ, cau an, cầu an, thien chua va phat, thiên chúa và phật, cong giao phat giao công giáo phật giáo, vang sanh, văng sanh, trong một kiếp, nhứt kiếp, nhất kiếp, phóng quang độ, cực lạc quốc, cơi cực lạc, niệm Phật nhứt tâm bất loạn, hồng danh đức Phật A Di Đà, sanh về Cơi Phật, sanh ve Coi Phat, phép tu, phep tu, pháp tu Tịnh Độ, tu hoc, tu học, phat tu, phật tử, giai thoat, giải thoát, luc lam trung, lúc lâm trung, luc sap chet, lúc sắp chết, tren giuong benh, trên giường bệnh, niem phat, niệm phật, niem A Di Đa Phat, niệm A Di Đà Phật, A Di Da Phat, A-di-da phat, A-di-đà, Amitaba,Amitābha, Amitabha, viet nam phat giao, Việt Nam Phật Giáo, Vietnamese buddhism

 

 Tùng
Nhất Hạnh
______________________________________________________________________________

Sau khi thỉnh được 107 tiếng đại hồng chung, chú Tâm Thể dùng cán vồ chuông khẻ điểm hai tiếng keng keng trên lưng chuông để báo hiệu cho sư huynh là Tâm Hiền rằng chỉ c̣n một tiếng đại hồng chung cuối cùng nữa là chuông nhập, và buổi công phu sáng bắt đầụ Đợi cho tiếng chuông thứ 107 ngân hết, chú mới thỉnh đến tiếng chuông thứ 108.
Từ góc thiền đường chùa Pháp Vân đă có tiếng bảng của chú Tâm Hiền. Chú Tâm Thể đáp lại ba tiếng bảng đầu bằng ba tiếng đại hồng chung và buông vồ xuống, trong khi ba hồi bảng của chú Tâm Hiền kéo dàị Đại chúng đă saün sàng trên chánh điện để bắt đầu công phu sáng.

Chú Tâm Thể khoác chiếc áo tơi lên vai cho ấm rồi xuống thang lầu chuông, mở cửa đi ra ngoàị Sương mù c̣n dày đặc. Chú rảo bước về phía tam quan chùa, nơi vị khách tăng tá túc.

Vị khách tăng này tới chiều hôm qua nhưng không vào chùa, chỉ xin nghỉ chân lại ngoài tam quan. Chú Tâm Thể đă mời ông ta vào nghỉ ở hậu liêu nhưng ông từ chốị Ông ta chỉ xin chú một mảnh chiếu để ngủ lại ngoài tam quan, nói rằng sáng sớm khi sương mù tan, ông ta đă phải lên đường sớm. Chiếc áo nâu bạc màu của khách tăng dính đầy bụi đường. Tóc râu dài ra nhưng ông không cạo, mặt mũi tay chân ông đầy cáu ghét, và từ người ông bay ra một mùi tanh hôi nồng nực. Chú Tâm Thể đă vào chùa bưng ra một chậu nước và một chiếc khăn taî Rồi chú lại vào đem ra một chiếc chiếu trải trên nền tam quan. Đợi vị khách tăng rửa mặt rửa tay xong, chú bưng ra một chiếc mâm gỗ, trên mâm có một bát cháo trắng, một ít dưa cải, một chén nước tương và một đôi đũạ Vị khách tăng cảm ơn chú và thong thả ngồi ăn cháọ Chú chắp tay chào ông và khoan thai trở vào chùạ Độ một giờ sau, khi trở ra tam quan, chú thấy vị khách tăng đă nằm cuộn tṛn trong chiếc chiếu ngủ. Chú cúi xuống bưng chiếc khay lên và nhẹ nhàng đi vào nhà bếp.

Sáng nay ra tới tam quan, chú thấy vị khách tăng đang yên lặng ngồi thiền. Ông không ngồi theo kiểu kiết già, chân phải của ông co gối lên, bàn chân đặt trên mặt đất. Ḿnh mẫy vị khách tăng hôi hám nhưng phong thái của ông thật thanh caọ Tuổi ông vào khoảng bốn mươi lăm, năm mươị Nét mặt của ông sáng sủa, khả kính; tóc râu ông ra dài, có lẽ đă nhiều tháng chưa cạọ Đây là một du tăng hành tung bí mật chú Tâm Thể thầm nghĩ. Có lẽ ông ta không muốn làm phiền đại chúng chư tăng v́ h́nh thức không chỉnh đốn của ông, cho nên đă từ chối lời mời hôm qua của ḿnh vào ngủ trong hậu liêụ Sáng nay nếu ḿnh được nói chuyện với ông ta th́ thế nào ḿnh cũng biết được chút ít hành tung của ông. Nghĩ thế, chú định quay trở vào chùa để mang ra một thau nước ấm cho vị khách tăng rửa mặt. Nhưng chú chưa kịp quay bước th́ vị khách tăng đă mở mắt. Chú chấp hai tay lên ngực làm lễ. Vị khách tăng đằng hắng một tiếng nhỏ rồi lên tiếng.

- Từ đây đến núi Cửu Lũng c̣n bao nhiêu đường đất nữa, thưa chú? Chú lễ phép đáp:

- Bạch ngài, núi Cữu Lũng không c̣n xa, chừng nửa ngày đường th́ tớị Để con vào lấy nước ấm ra Ngài rửa mặt.

Vị khách tăng khoát tay ra dấu không cần. Ông tựa vào tường, đứng dậy một cách mệt nhọc và đưa tay với lấy chiếc gậy trúc dựng ở góc tường.

- Cám ơn chú. Tôi phải đi ngay kẻo lỡ không tới kịp trước khi trời tốị

Nói xong ông chống gậy khấp khểnh đi ra khỏi tam quan. Chú Tâm Thể theo sau lưng, định tiễn vị khách tăng xuống đồi, tận ngả ba đường núị Nhưng ông ta khoác tay ra hiệu cho chú đi luị Từng bước khấp khểnh, ông lần xuống đồị "Đi như thế th́ nửa ngày đường không tới được núi Cửu Lũng." Nghĩ như vậy, chú Tâm Thể chắt lưỡi phàn nàn. "Đi xa mà cũng không có lấy một chiếc tay nảị Tóc tai áo quần đầy cả bụi đỏ. Ḿnh mẩy th́ gầy ốm đến trơ xương. Không biết đến núi Cửu Lũng để làm ǵ mà vội vàng đến thế." Chú có nghe nói đến ngôi chùa hay ngọn tháp nào ở núi ấy đâụ Chính chú cũng chưa tới Cữu Lũng lần nào; chỉ nghe nói rằng ngọn núi ấy khá hoang vu và đỉnh núi cao ngất, lấp trong mây mù, ít khi thấy được đường nét một cách rơ rệt. Không biết tại sao trong ḷng chú Tâm Thể nẩy sinh một niềm kính mến đối với vị du tăng lạ kỳ kiạ Dáng điệu và phong thái của ông ta có một cái ǵ khiến chú ưa muốn gần gũi và hiểu biết. Nhưng ông ta đă đị Chú chép miệng:

-Vậy là ḿnh không biết thêm ǵ hành tung của vị du tăng này cả. Chỉ biết có một điều là ông ta đang t́m tới núi Cửu Lũng.

Nghĩ như vậy, chú thong thả đi vào chùa, cùng các chú khác lo cháo sáng cho chư tăng, bởi v́ buổi công phu khuya sắp kết thúc.

Vị du tăng đi rất chậm, bước cao bước thấp. Ông có một mụt ghẻ trên bắp đùi trái, lớn bằng cả một quả bưởị Mụt ghẻ làm ông đau nhức không cùng, nhưng ông chịu đựng không hề kêu lạ Chỉ trong những giấc mơ thỉnh thoảng ông mới cất tiếng rên khe khẽ mà thôị Nghe chú tiểu

nói chỉ cần nửa ngày đường là tới núi Cửu Lũng, ông hy vọng có thể đi suốt ngày là tới được chân núi lúc trời tốị Nhưng mụt ghẻ hành ông đau nhức quá khiến hôm đó ông chỉ mới đi được hai phần ba đường. Ông phải nghỉ đêm dưới một gốc câî Ông nhịn đói đă quen, bởi v́ trong suốt sáu tháng trời du hành có nhiều hôm ông phải ngủ dưới một gốc cây và không có một hạt cơm nào bỏ bụng. Nếu trên đường đi mà gặp một ngôi chùa vào lúc trời tối th́ ông xin tá túc lại, và khi nào cũng chỉ xin ngủ nhờ dưới mái tam quan. Thường thường ông được một chú tiểu như chú Tâm Thể mang một bát cháo hay một bát cơm nguội ra cúng dường. Chú tiểu hồi hôm thật chu đáo, đă đem cho ông một chậu nước ấm và một chiếc chiếu c̣n thơm mùi nắng. Tối nay ông ngủ, gối đầu trên một chiếc rễ câî Khí hậu miền núi lạnh lẽo quá khiến ông co ro, trằn trọc cả đêm không hề an giấc.

Trời chưa sáng hẳn vị du tăng đă chỗi dậy để tiếp tục cuộc hành tŕnh. Sức ông yếu quá, nhiều lúc ông té quî, tưởng không đứng dậy được nữạ Nhưng ông vẫn cố gắng. Đi được vài trăm bước, ông dừng lại ngồi nghỉ trên một tảng đá. Vừa mới lấy lại được hơi thở, ông lại chống gậy đị Cứ như thế cho đến lúc khoảng cuối giờ thân hôm ấy th́ ông đến được chân núi Cửu Lũng.

Nh́n quanh, vị du tăng không thấy dấu vết nào của dân cư, làng mạc. Không một làn khói lam nào bay lên để chứng tỏ rằng đàng xa kia có một nhà tiều phu đang thổi lửa nấu cơm chiềụ Không thấy đường nét ngọn núi Cửu Lũng, v́ rừng núi phía trên đă bị sương mù bao phủ. Làm

sao mà t́m kiếm được thảo am của người ông muốn gặp, trong khi núi đồi th́ bao la mà sương mù th́ dày đặc?

"Người xưa ở tại núi này

Mây mù che lấp biết rày t́m đâu" (1)

Vị du tăng đành ngồi xuống nghỉ trên một tảng đá. Sáu tháng trời lặn lội mới lết tới được chân núi Cửu Lũng. Sương mù dày đặc quá, rừng núi bao la quá, xứ sở quạnh hiu quá, biết làm sao t́m hỏi được nơi cư trú của người xưa

Người xưa vốn là một vị tăng người Ấn Độ tên là Kaniskạ Cách đây mười sáu năm, vị du tăng, tên là Tri Huyền - đă gặp Kaniska tại một ngôi chùa cổ ở kinh đô Trường An nơi ông tu học. Vị tăng người Ấn khi ghé chùa th́ đă bị ghẻ lở đầy người, hôi hám khó chịu, ai cũng lẫn tránh. Chỉ có Tri Huyền chịu khó thân cận và chăm sóc cho ngườị Sáng nào thầy Tri Huyền cũng bưng một chậu nước nóng tới pḥng của Kaniskạ Thầy bỏ một nắm muối biển vào chậu nước, ḥa muối cho tan và bắt đầu cởi áo của ông thầy tu gốc Ấn và rửa ráy cho ông. Công việc rửa ráy xong xuôi, thầy lấy y sạch mặc cho Kaniska và đem chiếc y mới thay đầy máu mủ hôi hám đi giặt và đem phơị Buổi trưa, Tri Huyền lại mang cơm tới cho Kaniska và buổi chiều thầy lại tới mang trà nóng đến, rồi cất dẹp khay bát của buổi ăn trưạ Chứng bệnh của Kaniska không thấy thuyên giảm, nhưng sự chăm sóc của Tri Huyền đă làm nhẹ bớt sự đau khổ của người bệnh. Suốt trong hai năm trời, Tri Huyền săn sóc cho Kaniska như săn sóc cho một người anh ruột, không có hôm nào thầy bỏ quên hoặc làm sơ sót. Đối với công việc chấp tác và tu học tại chùa, Tri Huyền không ngày nào là không làm tṛn bổn phận, v́ vậy không ai có thể trách cứ thầy là chỉ biết lo cho ông thầy tu Ấn Độ mà quên lăng trách nhiệm ḿnh.

Nhưng một buổi sáng, sau khi được rửa ghẻ và thay áo, ông thầy tu Ấn Độ nói với Tri Huyền giọng nhỏ nhẹ:

- Mấy năm nay thầy săn sóc cho tôi rất tận tụy, tôi rất cảm ơn thầî. Bắt đầu từ ngày mai, thầy không cần săn sóc cho tôi nữa, v́ chiều nay tôi sẽ rời khỏi chốn nàî

Tri Huyền sửng sốt:

- Ngài đi đâu. Đau yếu thế này th́ lấy ai săn sóc cho ngài.

Kaniska nh́n thầy với vẻ mặt dịu hiền. Ông chậm răi:

- Tôi có việc cần phải lên đường. Xin thầy Tri Huyền đừng lo. Ở đâu cũng có pháp lữ, thế nào rồi cũng có người lo lắng cho tôi.

Thấy Tri Huyền nét mặt đượm buồn, ông tiếp:

- Nhân duyên giữa chúng ḿnh vẫn c̣n, chưa hết đâu mà buồn. Thế nào chúng ta cũng lại gặp nhaụ. Tôi biết thầy là người thông tuệ, sự tu học của thầy sẽ thành công lớn. Rồi đây thầy sẽ trở thành một vị cao tăng, tiếng tăm lừng lẫî Tôi xin phép nhắc với thầy rằng mục đích của sự tu hành là để đạt tới giải thoát chớ không phải là để nổi tiếng. T́nh thâm giao giữa chúng ta khiến cho tôi không ngần ngại mà nhắn nhủ với thầy như vậî

Tri Huyền cúi đầu nhận lấy những lời chỉ giáo của Kaniskạ Thầy lại hỏi:

- Ngài có nói là trong tương lai chúng ta sẽ gặp nhaụ Vậy th́ bao giờ chúng ta gặp nhau, và gặp nhau ở chốn nàỏ Tôi chỉ sợ sau này trên bước đường hành hóa, Ngài không c̣n lưu lại một dấu vết...

- Đă có nhân duyên với nhau th́ dù có trốn nhau cũng vẫn gặp nhaụ Đừng lọ Nội trong kiếp này thầy sẽ đạt được những bước lớn trên đường sự nghiệp. Tuy vậy túc nhơn vẫn c̣n vướng víu và trong khoảng mười bốn mười lăm năm nữa thế nào thầy cũng bị tai nạn. Lúc ấy hăy nhớ mà t́m đến tôi, tôi sẽ giúp thầî

- Nhưng lúc đó th́ biết Ngài ở đâu mà t́m? Tri Huyền hỏị Đưa tiển Tri Huyền ra khỏi pḥng, vị tăng sĩ gốc Ấn nói:

- Cứ t́m đến núi Cửu Lũng ở Bành Thành, đất Tây Thục là có tôi ở đấî Từ dưới chân núi nh́n lên thấy chỗ nào có hai cây tùng vươn lên cao ngất th́ đó là nơi tôi ở. Thầy nhớ lấy tên núi nhé, Cửu Lũng Sơn ở đất Thục.

Thế rồi vị tăng sĩ Ấn đă ra đi và từ đó thầy Tri Huyền không c̣n nghe ai nhắc đến tên ngườị

Thời gian qua mau, Tri Huyền dần dần nổi tiếng là bác thông kinh sử, mỗi khi thầy đăng đàn thuyết pháp là hàng ngàn người đến dự. Đất Thần Kinh thiếu ǵ cao tăng, nhưng tiếng tăm pháp sư Tri Huyền lừng lẫy cho đến nỗi một ngày kia vua Ư Tông cũng phải lưu tâm để ư. Năm ấy nhằm tiết Phật Đản, vua triệu pháp sư Tri Huyền vào cung thuyết pháp cho hoàng thái hậu, hoàng hậu, các thái tử, công chúa và văn vơ bách quan nghẹ Trên pháp tọa, pháp sư Tri Huyền tướng mạo đoan nghiêm, đẹp như một vị Phật sống; tiếng nói của người sang sảng lôi cuốn thính giả đi vào thế giới của diệu pháp một cách say mệ Vua Ư Tông rất đẹp ḷng, truyền ban tặng cho pháp sư một áo cà sa màu tíạ Từ đó danh tiếng của Tri Huyền càng thêm lừng lẫî Lúc ấy ông đă được bốn mươi ba tuổị. Sau nhiều lần triệu thỉnh pháp sư Tri Huyền vào cung thuyết pháp, vua Ư Tông lạy tôn ông làm quốc sư và tứ cho Tri Huyền danh hiệu Ngộ Đạt, sửa soạn chùa An Quốc ở sát hoàng cung cho mỹ lệ và rước quốc sư Ngộ Đạt về trú tŕ tại đó để tiện việc lui tới thăm hỏi đạo mầụ

Danh tiếng của pháp sư Tri Huyền tức quốc sư Ngộ Đạt lên tới đỉnh cao nhất là vào mùa thu năm quốc sư vừa đúng bốn mươi lăm tuổi, khi vua Ư Tông ban sắc chỉ cho toàn quốc chọn người tới kinh đô để nghe Ngộ Đạt Quốc Sư giảng kinh Pháp Hoạ Năm ngàn chỗ ngồi được để dành cho hoàng gia và bách quan, khách tăng, và sĩ phu toàn quốc. Dân chúng ở kinh đô nô nức đến nghe quốc sư giảng kinh, người nghe pháp đứng chật cả hàng trong hàng ngoàị Hàng chục ngàn người im lặng nghe tiếng giảng kinh sang sảng của quốc sự Các buổi giảng kinh Pháp Hoa được kéo dài trong một tháng, và trong suốt thời gian ấy, vua Ư Tông không bỏ sót một buổi nàọ

Hôm đó là ngày bế mạc khóa giảng Pháp Hoạ Nhân dịp này, vua Ư Tông định làm lễ dâng lên quốc sư một pháp tọa bằng gỗ trầm hương để pháp sư ngồi giảng buổi giảng cuối cùng. Pháp tọa đặt rất cao để cho đại chúng mấy mươi ngàn người được chiêm ngưỡng dung mạo của quốc sự Hôm ấy nghi lễ thỉnh sư được cử hành thật long trọng. Sau khi làm lễ dâng pháp tọa trầm hương, vua Ư Tông đứng dậy cùng thỉnh quốc sư bước lên pháp tọa th́ quần chúng Phật tử đều quỳ xuống làm lễ, có người cảm động đến rơi lệ. Buổi giảng kinh đó là một buổi giảng kinh mà suốt đời Ngộ Đạt sẽ không quên được. Buổi giảng kinh đó đă đánh dấu một biến chuyển lớn lao trong đời tu hành của Thích Tri Huyền.

Ngồi trên một tảng đá dưới chân núi Cửu Lũng, vị du tăng nhớ lại lúc ḿnh bước lên vào pháp tọa trầm hương, trong khi hàng chục ngàn người cúi rạp ḿnh làm lễ, trong đó có vua Đường Ư Tông. Thấy ḿnh là người tu hành mà đạt đến một địa vị cao tột trong nhân gian như thế,

Ngộ Đạt trong một giây phút ngắn ngủi bỗng thấy một niềm tự hào dâng lên trong ḷng. Quốc sư biết là tà niệm đă khơi, mặt đỏ bừng, liền ngồi xuống pháp tọa và nhiếp ḿnh vào chánh niệm. Nhưng chậm mất rồị Bỗng dưng, trong khoảng không có một vật ǵ nhỏ bé, nhỏ bằng một hạt cát, sáng trưng, bay xẹt xuống, trúng vào bắp đùi bên trái của quốc sư làm đau nhói tới xương tủî Không chịu đựng nổi sự đau đớn tột cùng ấy, Ngộ Đạt buột miệng la lên một tiếng, hai tay ôm lấy bắp đùi bên tráị Vua Ư Tông lật đật đứng dậy, hô thị vệ d́u quốc sư xuống pháp tọạ Buổi giảng kinh cuối cùng như vậy là bị băi bỏ, quốc sư h́nh như đă bị một loài rết độc cắn nhằm bắp đùi, đang lên cơn sốt.

Ngộ Đạt biết ḿnh không hề bị rết cắn, cái hạt bụi sáng loáng ấy đă từ trên không gian bay xuống nhanh như một làn chớp, không làm thủng áo cà sa mà lại chui thẳng vào bắp đùi của ḿnh. Song ông im lặng không nói, mặc cho các quan ngự y giải thích. Bắt đầu từ đấy vết thương trên bắp chân quốc sư làm độc. Vết thương sưng tím căng pḥng lên như một trái bưởi, đau nhức không cùng. Mười ngày sau ung nhọt khổng lồ nứt nẻ ra thành một mụt ghẻ lớn, máu mủ chảy ra hàng bát, mỗi ngày nhiều bận. Thuốc thang trong uống ngoài thoa do các ngự y đưa tới có tới hàng ngàn thứ mà không thứ nào chữa trị được cho quốc sự Vua Ư Tông không ngớt ra vào thăm hỏi và ra lệnh triệu thêm thầy hay, t́m thêm thuốc giỏi đem về kinh chữa trị cho vị cao tăng của cả triều đ́nh. Nhưng một năm trời đă qua đi mà ung nhọt kia vẫn không xẹp. Thân thể quốc sư gầy ốm trông thấy và một lần nọ ngự giá đến chùa An Quốc thăm, vua Ư Tông đă thấy một giọt nước mắt long lanh trên mi quốc sự

Vào một buổi khuya sau khi đă trằn trọc hàng canh trên giường, quốc sư Ngộ Đạt quyết định bỏ chùa An Quốc ra đị Một năm trời nằm trong ngôi quốc tự để cho bao người phục vụ và hầu hạ, không làm nên được tích sự ǵ cho quốc gia, Ngộ Đạt cảm thấy trong ḷng bất an và hổ thẹn. Đỉnh danh vọng đă lên cao chót vót, hồi tủi nhục bây giờ cũng đă xuống đến nơi thăm thẳm sâụ Quốc sư bỏ chùa lén ra đi ngay trong buổi khuya đêm ấy, trên thân h́nh chỉ có một chiếc áo tràng và trên tay một chiếc tích trượng vua ban. Bắp chân đau nhức, nhưng quốc sư đă gắng đi suốt đêm. Ra khỏi kinh đô th́ trời vừa hé sáng. Thấy một khúc tre ai bỏ bên đường, quốc sư cúi xuống nhặt lên làm gậy chống đi, và khi qua cầu, ông đă ném chiếc tích trượng vua ban xuống ḍng sông chảy xiết. Tích trượng trôi trở về kinh đô, c̣n quốc sư th́ hướng về phía núi xanh cất bước.

Trưa hôm ấy đi ngang một cảnh chợ quê quốc sư được một người đàn bà dâng cúng hai trái chuối và một gói xôị Sợ ăn xôi th́ mụt ghẻ căng thêm mủ nên quốc sư từ chối gói xôi, chỉ nhận hai trái chuốị Ngồi trên một mô đất, quốc sư lấy bùn đất trát vào mặt cho lem luốc kẻo sợ có người nhận diện được ḿnh. Chưa biết sẽ đi về đâu th́ bỗng nhiên trong trí quốc sư h́nh ảnh Kaniska, vị du tăng Ấn Độ hiện đến như một tia chớp giật. Quốc sư nhớ lại những điều căn dặn của vị tăng sĩ gốc Ấn: Ồtrong ṿng mười bốn hay mười lăm năm nữa, thế nào thầy cũng bị tai nạn. Lúc ấy hăy t́m đến tôi, tôi sẽ giúp thầî..Ỗ Ồcứ t́m đến núi Cửu Lũng ở Bành Thành đất Tây Thục..." Lập tức quốc sư chống gậy đứng dậy và hỏi đường về đất Thục.

Ngày đi đêm nghĩ, quốc sư quyết t́m đến núi Cửu Lũng, dù mụt ghẻ hành hạ không thôị Máu mủ làm ướt sủng ống quần, nhưng quốc sư không có quần khác để thaî Máu mủ đă làm cho ống quần của Quốc Sư dày cợm như mo và một mùi tanh hôi xông lên nồng nặc, nhưng quốc sư vẫn cố gắng chịu đựng. Chiếc áo tràng cũng dính đầy máu mủ, cả vạt trước lẫn vạt saụ Chiếc áo tràng sau nhiều tháng du hành đă trở nên bạc thếch và dính đầy bụi đường. Mỗi buổi chiều, lúc nghỉ chân trên một rễ cây hay một tảng đá, quốc sư thường vén ống quần nh́n vào mụt ghẻ. Mụt ghẻ vẫn lớn như một trái bưởi to, có bốn lổ đỏ choét: hai lổ phía dưới gần đầu gối giống như một cặp mắt, lổ giữa giống một cái mũi và lổ phía trên bắp chân loét ra như một cái miệng. Quốc sư nh́n mụt ghẻ như nh́n vào một mặt ngườị Quốc sư đối diện với mụt ghẻ như đối diện với một khuôn mặt con ngườị Có khi mụt ghẻ như muốn trợn mắt mắm môi đe dọa quốc sự Mụt ghẻ nh́n quốc sư như một kẻ thù, và quốc sư nh́n mụt ghẻ như một khuôn mặt oan gia, đau xót th́ có nhưng oán hận th́ không. Quốc sư không nghĩ đến chuyện lấy nước dưới sông rửa cho mụt ghẻ. Trong một năm trời, người ta đă rửa mụt ghẻ bằng đủ thứ thuốc, mà mụt ghẻ có v́ thế mà xẹp hơn hoặc sạch hơn được chút nào đâu

Trên đường t́m đến xứ Thục, đă nhiều lần quốc sư được nghỉ ngơi ban đêm trước những mái tam quan, nhưng không ai nhận ra được quốc sư, bởi v́ nhan sắc của quốc sư tiều tụy, áo quần của quốc sư thốc thếch, hôi hám... Ngày hôm kia, một chú tiểu chùa Pháp Vân đă săn sóc cho

quốc sư một cách ân cần, cảm động. Chú đă đem nước nóng cho quốc sư rửa mặt và cháo trắng cho quốc sư lót dạ. Bây giờ quốc sư đă tới được chân núi Cửu Lũng.

Vị du tăng, chính là quốc sư Ngộ Đạt - giật ḿnh. Có tiếng suối róc rách đâu đâî Bỗng nhiên lời dặn của Kaniska lại vang lên trong trí tưởng: "Từ dưới chân núi nh́n lên, thấy chỗ nào có hai cây tùng vươn lên cao ngất, th́ đó là nơi tôi ở..." Ngộ Đạt đưa mắt nh́n lên. Lạ chưa, chót vót bên phía trái, mây mù đă loăng dần và h́nh ảnh của hai cây tùng hùng vĩ lộ ra, vươn thẳng dậy, ngọn tùng vẫn c̣n khuất trong mâî Đích đó là nơi hẹn! Ngộ Đạt cầm lấy chiếc gậy trúc, từng bước, từng bước, ông t́m thế leo lên phía núi có dáng song tùng.

Sau một thời gian vừa lết vừa trèo, Ngộ Đạt thấy thấp thoáng sau cành lá xanh rờn cung vàng điện ngọc của một ngôi phạm vũ trang nghiêm. Có tiếng chuông gió thanh tao như tiếng gió lay động cây thất bảo mô tả trong kinh Vô Lượng Thọ. Có tiếng chim lạ, hoặc chính là tiếng Ca Lăng Tần Già. Lên tới tam quan chùa, Ngộ Đạt gặp một chú tiểụ Hỏi th́ biết đây đích thực là phạm vũ nơi cư trú của tôn giả Kaniskạ Chú tiểu vào thông báo và tôn giả Kaniska thân hành ra cổng nghênh tiếp. Kaniska rạng rỡ như một vị bồ tát khiến quốc sư Ngộ Đạt sụp xuống lạî Tôn giả đỡ quốc sư dậy, và d́u quốc sư vào khách đường.

(1) Chỉ tại thử sơn trung, vân thâm bất tri xứ. Thơ của Giả Đảo

Đầu Trang
(nguồn: http://quangduc.com)

<< về trang Truyện Ngắn Phật Giáo >>