Chiến thắng những cảm xúc tiêu cực
Chiến thắng những cảm xúc tiêu cực

Đối với lần viếng thăm đầu tiên lễ hội Kumbha Mela năm 1966, tôi đã nhận một số lá thư từ một nhóm Phật tử bày tỏ sự phật ý của họ về cuộc viếng thăm của tôi đến những gì được xem là lễ hội của Ấn Giáo.
Trong cách này, sự thay đổi hay diễn tiến hay sự chuyển hóa của tâm thức là dễ dàng, trong một cách khác là khó khăn. Nhưng một điều thật rõ ràng: tôi có thể bảo đảm rằng nếu quý vị thực hiện một nổ lực liên tục với quyết tâm và niềm tin, tâm thức có thể thay đổi.

Do vậy, ngay cả nếu quý vị nghĩ rằng một diễn biến nhỏ đã hiện thực, thì cũng đủ lý do để tiếp tục cố gắng, bởi vì một cách chậm rãi, chậm rãi, quý vị đang thay đổi. Thậm chí nếu quý vị không thể đem đến một sự thay đổi ấn tượng sâu sắc, thì ngay cả nếu quý vị có thể đạt đến một sự đổi thay tối thiểu, điều ấy vẫn là chuyển biến. Trong Phật Pháp, và trong những truyền thống Ấn Giáo cổ xưa, chúng ta tin tưởng trong sự tái sinh, đời sống này tiếp đời sống khác.

Do thế, trong kiếp sống này, nếu chúng ta phát triển trong lĩnh vực tinh thần, ngay cả trong một tiến trình giới hạn sẽ làm nên một tác động cho kiếp sống tới của chúng ta. Rồi thì một cố gắng khác sẽ được thực hiện. Một tiến trình nho nhỏ chắc chắn sẽ mang đến một ảnh hưởng trong những đời sống tới của chúng ta.

Vì thế, đấy là tại sao Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni nói với chúng ta rằng một hành giả phải nghĩ trong thời hạn của hàng kiếp sống, không chỉ bằng ngày và giờ. Khát vọng chiến thắng khổ đau, ngay từ lúc ban đầu, là ở đấy. Nhưng chỉ mong ước thôi thì không thể đạt đến mục tiêu. Cùng với nguyện vọng ấy, chúng ta phải tuân theo một cung cách đúng đắn, một phương pháp thích đáng. Chúng ta phải thực hiện nổ lực không mệt mõi, bất chấp năm tháng hay kiếp số vô tận. Rồi thì, sẽ có sự chấm dứt khổ đau của chúng ta. Đức Phật đã minh chứng điều này rất rõ ràng.

Có lẽ, đại đa số chúng ta theo truyền thống Phật Giáo Tây Tạng, tin tưởng rằng trì tụng Om Mani Padme Hum là tốt lành cho chúng sinh, đặc biệt đối với những ai đang đối diện những tình trạng bất lợi. Do thế, ở đây, vào lúc bắt đầu, chúng ta hãy trì tụng một trăm lần Om Mani Padme Hum cho những người đã và đang khổ đau vì trận động đất ở Gujarat.

Theo báo chí hôm nay, hơn hai mươi nghìn người đã bị chết vì trận động đất. Hãy nghĩ về những người đã chết hay bị thương hay bị mất người thân trong gia đình. Cũng hãy nghĩ về những thú vật. Không phải nói, những con mèo, chó, và những con thú khác cũng khổ đau.

Vì vậy, hãy nhớ đến tất cả những chúng sinh ấy, đặc biệt là nhân loại, và những con người nghèo khổ ấy, những người ngay cả trong khi sống, có những đời sống khó khăn, và cuối cùng chết một cách thảm thương. Buồn quá, có phải không?

2- Lễ Hội Kumbha Mela - Hữu Ngã Và Vô Ngã

Bây giờ tôi muốn chia sẻ với quý vị một số cảm nhận, quan niệm, và kinh nghiệm cuộc viếng thăm của tôi đến lễ hội Kumbha Mela[1]. Tôi đã ở đấy hai ngày. Thật sự đây không phải là cuộc viếng thăm lần đầu tiên của tôi: trong năm 1966, tôi đã tham dự một lễ hội Kumbha Mela khác. Lần ấy tôi ở lại rất ngắn, không có cơ hội để nói chuyện một cách riêng tư với những vị lĩnh đạo tinh thần. Vì vậy lần này, cùng với những buổi lễ chính thức, tôi đã có cơ hội để thảo luận với Giáo Luận Sư[2] và các đạo sư Ấn Giáo khác.

Đối với lần viếng thăm đầu tiên lễ hội Kumbha Mela năm 1966, tôi đã nhận một số lá thư từ một nhóm Phật tử bày tỏ sự phật ý của họ về cuộc viếng thăm của tôi đến những gì được xem là lễ hội của Ấn Giáo. Lần này cũng thế, một số thân hữu của tôi đã biểu lộ một chút dè dặt về cuộc viếng thăm của tôi ở đấy. Rồi thì tôi đã suy tư, và tôi nghĩ mọi người biết, đối với sự quan tâm và cố gắng của tôi để thúc đẩy những giá trị nhân bản và hòa hiệp tôn giáo. Đây là hai chí nguyện mà tôi sẽ mang theo cho đến khi tôi chết.

Trong hơn mười lăm năm, bất cứ khi nào có cơ hội, tôi đã thực hiện những cuộc hành hương đến các thánh địa của những tôn giáo khác nhau như Jerusalem, và Lourdes ở Pháp. Ở Ấn Độ cũng thế, khi tôi ở một nơi gần với những điện đường, đền thờ Hồi Giáo, chùa viện, nhà thờ, tôi sẽ đến để bày tỏ lòng tôn kính. Tôi cảm thấy rằng tham dự lễ hội Kumbha Mela là một cơ hội tốt để bày tỏ lòng tôn kính của tôi đến Ấn Giáo, tín ngưỡng cổ truyền của xứ sở này. Tôi ở trên quốc gia này đã bốn mươi năm và luôn luôn cảm thấy rằng thật quan trọng để bày tỏ lòng tôn kính của tôi và học hỏi đến những truyền thống khác. Tôi cũng bao gồm những truyền thống khác biệt với Ấn Độ như Ki Tô Giáo, Hồi Giáo, Do Thái Giáo, và những truyền thống đã sinh trưởng trên đất nước này như Ấn Giáo, Kỳ-Na Giáo, Phật Giáo, Tích-Khắc Giáo (Đạo Sikh), v.v... Tôi nghĩ những truyền thống phát sinh từ trong nước này có một mối quan hệ gần gũi thật đặc biệt.

Vào thời Đức Phật, đã có những cuộc bàn cải hay tranh luận giữa những truyền thống Phật Giáo và không Phật Giáo. Long Thọ, Thánh Thiên, Phật Hộ, Nguyệt Xứng, Pháp Xứng, và sau này, Tịch Hộ và Liên Hoa Giới, và những đại sư Phật Giáo khác đã viết một cách toàn diện về tư tưởng của những trường phái Ấn Độ cổ xưa. Loại tranh luận này, tôi cảm thấy là cực kỳ lợi lạc và tốt đẹp. Cũng thế, trong Đạo Phật, có nhiều bàn cải, nhiều tranh luận. Tôi cảm thấy có hai quan điểm đối kháng và rồi thì tranh luận những giá trị của mỗi quan điểm là rất hữu ích để làm cho tâm thức sâu sắc. Những cuộc tranh luận này không như sự đấu tranh chính trị.

Những điều này là rất tích cực, tôi thật cảm thấy nếu không có điều này, luận lý hay tư tưởng Đạo Phật có thể trở nên kém phát triển hơn. Tôi cảm thấy những tranh luận và bàn cải này là rất lợi ích, nhưng những người thiển cận hay đầu óc hẹp hòi đôi khi có một cái nhìn sai lầm về những cuộc tranh luận này. Các cuộc tranh luận sau đó tạo nên những sự phân chia và đưa đến đấu tranh cùng xung đột. Do thế, tôi nghĩ thật quan trọng để hoan nghênh những quan điểm đối lập và để học hỏi lẫn nhau.

Đức Phật, trong những buổi đầu của cuộc đời Ngài như một du sĩ, đã học hỏi từ truyền thống Ấn Giáo. Rồi thì Ngài thể nghiệm và sau này đạt đến giác ngộ. Trong việc làm này, Ngài đã bác bỏ nhiều ý tưởng và quan điểm của truyền thống Ấn Giáo cổ truyền nhưng đồng thời cũng chấp nhận nhiều thứ, như giới, định và tuệ quán. Sự phân biệt giữa Phật Giáo và không Phật Giáo là lý thuyết về hữu ngã và vô ngã. Vô ngã là quan điểm của tôi; hữu ngã là khái niệm của họ. Không có vấn đề gì [trở ngại]!

Tôi tin tưởng trong vô ngã, và qua điều này, tôi đạt được nhiều lợi ích. Nó hổ trợ cho quan điểm và cảm nhận của tôi. Nhưng đối với họ, lý thuyết hay khái niệm hữu ngã là rất lợi ích. Tôi chấp nhận sự phân chia như thế. Tôi cảm thấy rằng trong khi tôi cố gắng để có những mối quan hệ gần gũi hơn với những truyền thống khác, tôi phải thể hiện một nổ lực to lớn hơn để phát triển một sự thấu hiểu tốt đẹp hơn về những quan điểm trong các truyền thống ấy.

Vì vậy đấy là những lý do chính tại sao tôi đã tham dự lễ hội Kumbha Mela. Sau hai ngày ở đấy, tôi thật sự hài lòng. Tôi ngưỡng mộ những lĩnh đạo Ấn Giáo ở đấy. Họ có đầu óc rất cởi mở. Khi tôi đi vào nơi hội họp, một lĩnh đạo nắm chặc tay tôi và đọc lời cầu nguyện Phật Giáo: Buddham Sharnam Gacchami - Con vể nương tựa Phật - thật dễ thương làm sao, có phải không? Rất đáng yêu. Trong lời bình luận, ông nói rõ rằng Đức Phật khuyến khích đại từ bi, mahakaruna, và bất bạo động. Sau này một Giáo Luận Sư khác đã nói rằng thật rất quan trọng là chúng ta đã đến gần nhau hơn. Điều ấy thật tuyệt vời. Tôi cảm thấy điều này có thể là một sự khởi đầu mới.

Một điều có thể hiểu nhưng đáng buồn là một số Phật tử trong xứ sở này, đặc biệt những người Phật tử mới (neo-Buddhists), có một thái độ tiêu cực hơn đối với Ấn Giáo. Không có lợi ích gì! Chất chứa những cảm nhận tiêu cực đối với người khác không phải là cung cách của Đạo Phật.

Về phía Ấn Giáo, tôi nghĩ đã đến lúc để thay đổi hệ thống đẳng cấp và những tập quán lỗi thời. Chúng ta phải tuyên bố một cách công khai nó: những tập quán này đã lỗi thời. Tôi mong ước cho những hành động phối hợp để loại trừ tất cả những cảm giác tiêu cực và những việc tiêu cực. Nếu, thay vì bình phẩm người khác, chúng ta cố gắng để thấu hiểu họ và cải thiện những mối quan hệ của chúng ta; những nhà chính trị, và những người hiểm độc, những kẻ lợi dụng các sự khác biệt tôn giáo cuối cùng sẽ bị cô lập.

Tôi thật sự cảm thấy chuyến hành hương của tôi đến lễ hội Kumbha Mela là một cơ hội tốt để thực hiện một cống hiến khiêm tốn. Do thế, đấy là câu chuyện. Một vấn đề quan trọng khác: trước khi tôi đến đấy, tôi đã nghe có rất nhiều bụi, tôi dự đoán là tôi có thể phải cảm mạo. May mắn thay, không có bệnh hoạn gì mặc dù bụi bặm! Một việc khác mà tôi muốn chia sẻ với những thân hữu Phật tử của tôi, đặc biệt là những Phật tử Tây Tạng. Hơn hai mươi lăm triệu người đã tập họp tại lễ hôi Kumbha Mela, và toàn bộ thành viên thuần chay tịnh. Không có một con thú nào bị hy sinh, và tôi nghĩ điều ấy thật là kỳ diệu. Nếu mười nghìn người Tây Tạng tụ hội, tôi nghĩ những người hàng thịt sẽ rất bận rộn. Một điều hơi kém may mắn.

Qua nhiều năm, chúng tôi và một số tu học viện đã và đang thực hiện những nổ lực để khuyến khích việc chay tịnh trong tu viện. Chúng ta cũng phải thực hiện nổ lực này khi chúng ta có những cuộc tập họp to lớn. Tôi nghĩ chúng ta phải giữ điều này trong tâm.

3- Cảm Xúc Và Cuộc Sống

Tôi trở lại chủ để những cảm xúc, không có chúng, cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên vô vị. Cảm xúc có thể rất tốt, nhưng tôi nghĩ rằng quý vị phải làm một sự phân biệt trong những cảm xúc. Một số, trong ngắn hạn, trông thật ý vị, nhưng về lâu về dài là tàn phá. Một số trông hơi khó chịu lúc ban đầu, nhưng càng về sau, có một lợi ích vô biên. Thật quan trọng để biết và có thể phân biệt những loại cảm xúc nào là hữu ích và những thứ nào là tiêu cực và phải được loại trừ.

Ở đây, trước tiên, mọi chúng sinh, kể cả cây cỏ, có quyền để sinh tồn. Rồi thì, trong những chúng sinh, tất cả những ai đã từng trải nghiệm với đớn đau và vui thích có quyền không chỉ sinh tồn mà cũng hiện hữu một cách hạnh phúc. Đấy là quyền căn bản của chúng ta. Sinh vật có tri giác, hay chúng sinh những sinh vật có khả năng để cảm nhận, những kẻ có nhận thức, có khát vọng vượt thắng khổ sở và đớn đau, cùng đạt được hạnh phúc và niềm vui sướng.

Có hai mức độ của những kinh nghiệm mang đến hạnh phúc hay khổ đau. Một đơn thuần là cảm giác. Trong khi thấy điều gì xinh tươi hay tốt đẹp, chúng ta có thể phát sinh sự thỏa mãn tinh thần. Như một âm thinh êm dịu có thể làm chúng ta vui vẻ. Trong sự quan tâm này, con người và thú vật có những trải nghiệm tương tự. Về mức độ cảm giác, chúng ta có thể trải nghiệm sự hài lòng hay vui thích hay đớn đau thân xác.

Đối với con người mức độ cảm giác rất quan trọng. Do thế, sự thoãi mái và phương tiện vật chất là cần thiết và hữu dụng bởi vì chúng cho chúng ta niềm vui thích ở mức độ này. Điều này sẽ bao gồm một khu vườn xinh đẹp với những con chim và thú vật, âm nhạc, mùi hương thơm tho, vị nếm khả quan, cũng như sự xúc chạm, kể cả kinh nghiệm ái dục. Chúng ta có những điểm này chung với các động vật.

Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ tập trung trên mức độ ấy, chúng ta không là con người hoàn toàn. Do bởi sự thông minh của chúng ta, chúng ta có trí nhớ tốt hơn thú vật, một khả năng to lớn hơn để quán chiếu và để thấy những viễn tượng lâu xa - không chỉ trong đời sống này mà qua nhiều kiếp sống và thế hệ. Con người có khả năng để duy trì ký ức của quá khứ lâu xa: chúng ta đã viết và lưu giữ những kinh nghiệm hàng nghìn năm.

Nhưng do bởi sự thông minh của chúng ta, nguồn gốc sự lo lắng có khuynh hướng gia tăng. Do bởi điều này, đôi khi, chúng ta có quá nhiều dự đoán và những điều này làm cho sự lưỡng lự, nghi ngờ và sợ hãi của chúng ta thức dậy. Trong chúng ta những điều này mạnh mẽ hơn những động vật rất nhiều.

Rõ ràng, một số cảm giác lo lắng hậu quả từ sự thông minh của con người. Loại bất hạnh này không thể vượt thắng bằng sự thoãi mái vật chất. Chúng ta thấy những người giàu có, những người có nhiều sự thoãi mái vật chất và không cần phải ưu tư, tuy thế, họ là những người thiếu niềm vui tinh thần.

Do vậy, sự buồn phiền hay không thoãi mái hay bồn chồn tinh thần không thể được xóa đi bằng sự thoãi mái vật chất đơn thuần. Trái lại, nếu trên mức độ tinh thần, có niềm hạnh phúc và hài lòng, sự thiếu tiện nghi vật chất có thể được đối phó một cách dễ dàng. Trong một số trường hợp, chịu đựng những khó khăn vật chất có thể mang đến sự toại nguyện tinh thần hơn.

Khi chúng ta đã được chuẩn bị tinh thần, chúng ta sẳn sàng để đối diện bất cứ khổi lượng bất tiện vật lý nào. Thế nên, mức độ kinh nghiệm tinh thần là siêu tuyệt hơn mức độ cảm nhận của giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Đó là tại sao sự tiến triển hay phát triển vật chất là thiết yếu, nhưng việc đạt được mục tiêu vật chất đơn thuần không thể thỏa mãn, không thể hoàn thành tất cả những yêu cầu của con người. Con người chúng ta cần hơn thế. Kẻ tàn phá niềm hòa bình và thoải mãi tinh thần là bộ phận của cảm xúc mà chúng ta gọi là cảm xúc tiêu cực.

Những cảm xúc như lòng từ bi mạnh mẽ, một cảm giác ân cần và quan tâm cho những người khác có thể được cảm nhận một cách nhiệt tình, nhưng chúng chỉ mang đến cho tâm thức chúng ta một chút náo động mà thôi. Thật sự mà nói, những cảm xúc này được phát khởi và phát triển một cách thận trọng qua rèn luyện, qua lý trí. Chúng không đến một cách lập tức. Nhưng những cảm xúc khác như giận dữ và ghen tỵ, đến một cách tức thì, mặc dù chúng ta có thể có một lý do giả tạo nào đấy cho sự xuất hiện của chúng.

Và những cảm xúc này thường thường là tàn phá, trái lại những cảm xúc như từ ái, bi mẫn mạnh mẽ, và một cảm giác ân cần về lâu về dài, là hữu dụng, có ích và lợi lạc. Sự phân biệt giữa những cảm xúc tiêu cực và tích cực căn cứ trên sự kiện rằng từ bản chất tự nhiên tất cả chúng ta đều muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau. Do vậy, bất cứ điều gì - ngoại tại cũng như nội tại - thứ nào mang đến hạnh phúc một cách căn bản là tích cực. Bất cứ điều gì mang đến trải nghiệm khổ đau là tiêu cực. Tận cùng tư duy của Đạo Phật quan tâm, định luật căn bản là: chúng ta muốn hạnh phúc. Quyền căn bản của chúng ta là đạt được hạnh phúc. Do thế, những thứ nào phát sinh sự toại nguyện, vui sướng, và hạnh phúc là tích cực bởi vì đây là những gì chúng ta tìm cầu. Những cảm xúc tiêu cực tàn phá hạnh phúc của chúng ta.

4- Ba Trình Độ Đáp Ứng Với Những Cảm Xúc

Tôi muốn chia sẻ với quý vị ba trình độ mà chúng ta đáp ứng với những cảm xúc tiêu cực trên ấy.

a- Trình độ thứ nhất, tuân theo những đạo đức thế tục và không đụng chạm gì đến niềm tin tôn giáo. Đấy là cố gắng sử dụng óc thông minh của chúng ta để phân tích những gì xãy ra trong các hoàn cảnh cụ thể. Chúng ta bắt đầu bằng việc xác minh những lợi ích hay hậu quả dài hạn và ngắn hạn của những cảm xúc tiêu cực. Khi chúng ta trở nên tỉnh thức với những hậu quả tiêu cực dài hạn, chúng ta sẽ bắt đầu hạn chế những cảm xúc tiêu cực của một cách cẩn trọng. Hãy nhìn những hậu quả có thể có của một ý chí bệnh hoạn mạnh bạo đến người khác, như thù hận.

Khi nào mà ý chí bệnh hoạn mạnh bạo đến người khác phát triển, sự hòa bình của tâm hồn chúng ta lập tức tiêu tan. Một giấc ngủ an bình cũng biến mất. Và trong cách này, sức khỏe thân thể chúng ta tàn lụi. Những cảm xúc tiêu cực mạnh mẽ tàn phá sự hòa bình của tâm hồn và cả sức khỏe cường tráng. Cũng thế nếu chúng ta có những cảm nhận tiêu cực mạnh bạo đối với người khác, cuối cùng chúng ta cảm thấy rằng những người khác cũng có một loại thái độ tương tự. Như một kết quả, khi chúng ta gặp gở người nào đấy, những cảm nhận nghi ngờ, sợ hãi, và khó chịu sinh khởi.

Loại thái độ nghi ngờ này, tôi cảm thấy, chống lại bản chất tự nhiên của con người bởi vì chúng ta là những động vật xã hội. Cho dù chúng ta thích hay không thì chúng ta cũng phải sống trong cộng đồng nhân loại; chúng ta không thể sống còn trong cô lập. Chúng ta tự đặt mình trong một hoàn cảnh khó khăn khi chúng ta xử sự một cách tiêu cực với những con người mà chúng ta lệ thuộc. Tôi nghĩ cư dân trong một thành phố lớn giống như một cộng đồng nhân loại, tuy thế nhiều cá nhân cảm thấy rất đơn côi. Đôi khi con người không tin tưởng và tôn trọng những người khác.

Trong bất cứ một cư dân nào, một vài người có thể tinh quái, nhưng một cách tổng quát, nếu chúng ta cư xử với người khác như những người anh chị em, họ sẽ đáp ứng một cách phù hợp. Chúng ta biết, chúng ta có thể nói rằng những người kia trải nghiệm những thứ như chúng ta. Tôi có sự giận hờn, và tương tự thế, người khác cũng có sự sân hận. Tôi, đôi khi, có một sự ghen tỵ nào đấy, và những người khác cũng giống như thế. Không có những sự khác biệt giữa chúng ta, vì thế tôi dối xử với người khác như chính tôi... Không có gì để dấu diếm... hãy cởi mở, thẳng thắn. Trong cách này, tôi nghĩ sự tin cậy và tình thân hữu có thể phát triển.

Quý vị có thể thấy một cách rõ ràng rằng nhiều nổi bất hạnh mà chúng ta trải nghiệm trong đời sống là qua những sai lầm nơi trí óc của con người: chúng ta không phân tích những hoàn cảnh một cách đúng đắn vì thế chúng ta trải nghiệm các cảm xúc tiêu cực. Để vượt thắng những cảm xúc tiêu cực, chúng ta phải trở nên tỉnh thức với những hệ quả ngắn hạn và dài hạn. Chúng ta cũng phải phân tích thực tại của hoàn cảnh. Thực tại được làm nên từ những bộ phận tương liên. Mọi thứ xãy ra do bởi nhiều nguyên nhân và điều kiện.

Đấy là thực tại, đấy là thực tế. Nhưng trong tâm thức chúng ta, trong nhận thức của chúng ta, nếu điều gì đấy bất hạnh xãy ra, chúng ta hướng sự chú ý vào một nguyên nhân và trách cứ nó. Rồi thì chúng ta bộc lộ sự giận dữ. Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ một cách cẩn thận hơn, nếu chúng ta thực tế trong sự thừa nhận của chúng ta, chúng ta biết rằng những việc này xãy ra do bởi nhiều nguyên nhân và điều kiện, trong ấy bao gồm cả thái độ tinh thần của chúng ta. Do vậy, nếu chúng ta biết rằng trong thực tế, có nhiều nguyên nhân, chúng ta không trách cứ một nhân tố đơn lẻ.

Tương tự thế, những điều tốt lành xãy ra do bởi nhiều nguyên nhân. Nếu chúng ta thấu hiểu điều này, không có nhiều căn bản cho việc phân biệt giữa tốt và xấu. Nếu ai đấy lợi dụng chúng ta, điều ấy là sai, không công bằng, chúng ta phải chấm dứt điều ấy. Chúng ta phải thực hiện sự những biện pháp trả đủa nhưng không với những cảm xúc tiêu cực. Điều ấy là có thể và thực sự những biện pháp như vậy là tác động hơn.

Vì thể qua một sự tỉnh thức về thực tại và những kết quả liên hệ, chúng ta có thể thay đổi thái độ của chúng ta. Cuối cùng, chúng ta có thể phát triển một niềm tin rõ ràng rằng những cảm xúc nào đấy là vô ích và có thể chứng tỏ sự tai hại. Một khi chúng ta khuếch trương sự tin chắc này, thái độ của chúng ta đối với những cảm xúc tiêu cực sẽ cách biệt hơn; chúng ta không chào đón chúng. Nhưng cho đến khi chúng ta mở rộng niềm tin này, chúng ta sẽ lầm lẩn những tiêu cực này, những cảm xúc tàn phá như một bộ phận của tâm thức chúng ta, một phần của chúng ta.

Trong sự liên hệ này, tôi không nói đển những vấn đề tôn giáo, mà chỉ đơn giản từ cảm nhận ân cần cho mỗi chúng ta, nhìn những người khác như một bộ phận của cộng đồng của tôi. Thực sự, tất cả chúng ta là bộ phận của cộng đồng nhân loại. Nếu nhân loại hoan lạc, có một đời sống thành công, một tương lại hạnh phúc, tôi sẽ lợi lạc một cách tự động. Nếu con người khổ đau, tôi cũng sẽ đau khổ.

Nhân loại như một thân thể, và chúng ta là những bộ phận của thân thể ấy. Một khi chúng ta nhận ra điều này, một khi chúng trau dồi thái độ loại này, chúng ta có thể mang đến một sự thay đổi trong cung cách suy nghĩ của chúng ta. Một cảm nhận ân cần, hy hiến, nguyên tắc, đồng nhất với nhân loại - điều này rất thích đáng trong thế giới ngày nay. Tôi gọi điều này là đạo đức thế tục, và đây là trình độ thứ nhất để đối phó với những cảm xúc tiêu cực.

b- Trình độ thứ hai trong sự liên hệ này được hướng dẫn bởi tất cả những truyền thống tôn giáo quan trọng, cho dù là Ki Tô Giáo hay Hồi Giáo, Do Thái hay Ấn Giáo. Tất cả đều mang thông điệp của từ ái, bi mẫn, tha thứ, bao dung, toại nguyện, và nguyên tắc. Đây là những biện pháp đối phó với các cảm xúc tiêu cực. Khi sân hận sắp bùng phát, khi thù oán sắp trổi dậy, hãy suy tư về bao dung. Điều quan trọng là dừng lại bất cứ sự bất mãn tinh thần nào khi chúng ta cảm thấy nó bởi vì nó sẽ đưa đến sân hận hay thù oán.

Kiên nhẫn là biện pháp đối phó với sự bất mãn tinh thần. Tham lam và tính vị kỷ của nó - Tôi muốn điều này, tôi muốn điều nọ - mang đến bất hạnh và cũng là sự tàn phá môi trường, đầu độc kẻ khác, và làm gia tăng khoảng cách giữa nghèo và giàu. Biện pháp đối phó là sự toại nguyện. Khi chúng ta tham lam, nếu chúng ta trải nghiệm thậm chí một chút thất vọng trong hạnh phúc của chúng ta, chúng ta sẽ hoàn toàn bị sụp đổ.

Vì thế thực tập sự toại nguyện là hữu ích trong đời sống của chúng ta. Tự nguyên tắc là chống lại việc đưa chúng ta đến những cảm xúc tiêu cực và là một cung cách để bảo vệ chúng ta khỏi những tai họa về lâu về dài. Nguyên tắc này không liên hệ đến một mệnh lệnh nhưng bảo đảm cứu chính mình khỏi một cuộc sống khốn khó trường kỳ.

Mọi tôn giáo đều nói về những phương pháp từ bi và tha thứ. Nếu chúng ta chấp nhận tôn giáo, chúng ta nên đón nhận những phương pháp tôn giáo một cách nghiêm túc và chân thành và sử dụng chúng trong đời sống hàng ngày. Rồi thì một đời sống đầy đủ ý nghĩa sẽ phát triển. Bằng khác đi sẽ không có gì thay đổi. Thí dụ, những người Tây Tạng chúng tôi có thể lần tràng hạt và trì niệm điều gì đấy, nhưng tâm thức chúng tôi có thể là ở đâu ấy.

Một số anh chị em Ki Tô hữu có thể đến thánh đường mỗi Chủ Nhật và có lẻ có một thời khắc ngắn nào đấy nhắm mắt lại, nhưng họ lại lại tiếp tục một đời sống mà không có gì thay đổi. Sự thực tập thực tế là ở bên ngoài, không phải là ở bên trong thánh đường, bởi vì chúng ta thâm nhập vào những hoàn cảnh thực sự của đời sống bên ngoài nhà thờ nơi chúng ta đối diện với mỗi khả năng của sân hận, ganh tỵ, dính mắc, chấp trước, v.v... Do vậy, sự thực tập thực sự là phải được hoàn tất ở bên ngoài những nơi thờ phượng.

Mới đây, tôi đã gặp một mục sư Ki Tô, người đã hỏi tôi cho một ý kiến. Ông cảm thấy rằng mọi người không thích thú trong giáo lý Ki Tô bởi vì họ cảm thấy nó chỉ liên hệ chút ít với đời sống hàng ngày của chúng ta. Trong quan điểm của tôi, điều này không phải do bất cứ khiếm khuyết nào trong thông điệp của Ki Tô Giáo, nhưng mà qua sự nhấn mạnh sai sót. Sự thực tập tôn giáo không chỉ là cầu nguyện mà là sử dụng những phương pháp tôi đã đề cập trước đây: từ ái, bi mẫn, tha thứ. Nếu những phương pháp này được đón nhận một cách nghiêm túc và đặt vào trong sự thực hành trong đời sống hàng ngày của mỗi người, chúng sẽ có liên hệ.

Thí dụ, nếu chúng ta thực hành bao dung, Thượng Đế sẽ vui mừng. Nếu chúng ta thấy những điều tốt đẹp, tham lam và dính mắc sẽ phát triển. Rồi thì chúng ta nhớ rằng chúng ta là một thành viên của Thượng Đế và chúng ta đáng lẻ phải hoàn thành mong ước của Thượng Đế. Sự toại nguyện liền theo, và tham lam biến mất. Nếu chúng ta áp dụng một cách chân thành cốt tủy của bất cứ tôn giáo quan trọng nào, tự động sẽ có liên hệ với đời sống của chúng ta. Đời sống sẽ trở nên đầy đủ ý nghĩa hơn. Đây là trình độ thứ hai của các biện pháp đối phó với những cảm xúc tiêu cực.

c- Trình độ thứ ba là cung cách của Đạo Phật. Một cách căn bản, nếu chúng ta cố gắng để tìm kiếm nguồn gốc của tất cả những loại cảm xúc phiền não như sân hận, và v.v..., chúng ta sẽ thấy bốn nhận thức sai lầm. Một là nhận thức sai lầm về những loại thực tại khác nhau. Thí dụ, chúng ta có khuynh hướng thấy những gì vô thường là thường còn và tồn tại mãi mãi. Điều ấy đưa đến khổ não và nhiễu loạn tinh thần. Tương tự thế, chúng ta có khuynh hướng thấy khổ đau như hạnh phúc. Thí dụ, chúng ta thấy những trải nghiệm nhiễm ô như một nguồn gốc của hoan lạc và hạnh phúc.

Và tương tự, chúng ta có khuynh hướng thấy những gì bất tịnh là là thanh tịnh. Chúng ta không thể thấy sự bất tịnh của thân thể vật lý và có khuynh hướng xem nó như điều gì đấy trong sạch và thanh tịnh và rồi dính mắc với nó. Cũng thế, chúng ta có khuynh hướng thấy những gì vị tha vô ngã như có một tự ngã căn yếu nào đấy, một tự ngã độc lập. Một cách căn bản, những loại nhận thức sai lầm này thổi phồng tâm thức chúng ta và từ đấy chúng ta phát triển những loại cảm xúc phiền não khác nhau.

Do bởi điều này, Đức Phật đã dạy ba mươi phẩm trợ đạo để đối phó với những nhận thức sai lầm này. Trong đây, Ngài nói về Bốn lĩnh vực quán niệm.

* Tỉnh thức thứ nhất tuyên bố nhận thức sai lầm quan hệ đến bản chất tự nhiên của thân thể. Bản chất thật sự của thân thể là những thứ được làm nên bởi những vật liệu bất tịnh khác nhau. Khi chúng ta nghiên cứu và phản chiếu một cách gần gũi nó, chúng ta có thể thấy rằng thân thể là một bản chất bất tịnh, một bản chất vô thường. Cho dù chúng ta thẩm nghiệm bản chất thân thể trong dạng thức nguyên nhân của nó hay thực thể hiện tại của nó, chúng ta sẽ thấy rằng nó là bất tịnh, không sạch. Thí dụ, nếu chúng ta phản chiếu trên nguyên nhân của thân thể vật lý, nguyên nhân là hổn hợp của tinh cha và noản châu của mẹ.

Trong thực thể và bản chất hiện tại của nó, chúng ta có thể thẩm tra thân thể chúng ta từ đỉnh đầu đến gót chân của chúng ta, và chúng ta sẽ thấy rằng nó là bất tịnh và ô nhiễm từ trong bản chất. Nếu chúng ta nhìn vào những gì được sản sinh bởi thân thể - nước tiểu, phân, v.v... - chúng ta chỉ thấy những thứ vật chất không sạch. Do thế, trong thực tế, thân thể giống như một nhà máy sản xuất ra những vật chất ô uế. Khi bộ máy này làm việc tốt, hình dạng hay màu sắc của những thứ đến từ nó là khá tốt, nhưng nếu điều gì đấy sai lạc, nhiều thứ bất thường xãy ra. Thật sự, những thứ đắc giá nhất và đẹp đẻ nhất được tiêu thụ là được làm bằng cổ máy dơ bẩn này. Hãy suy tư theo những dòng này.

Không chỉ thế, mà thân thể cũng hoạt động như căn bản cho những thứ khổ đau xa hơn. Chúng ta sẽ thấy rằng thân thể tâm sinh lý được làm nên do sự kết hợp và cùng tồn tại của bốn yếu tố căn bản. Khi chúng ta thấy sự hiện diện của bốn yếu tố này - lửa, nước, đất và không khí - chúng ta nhận ra rằng chúng đang chống dối nhau trong bản chât tự nhiên. Khi chúng ta nói, "tôi vui vẻ" hay "tôi mạnh khỏe", chúng ta đang nói là chúng ta mạnh khỏe trong ý nghĩa rằng bốn yếu tố này cân bằng trong năng lực của chúng. Khi có một sự thay đổi nhỏ trong sự cân bằng năng lực của bốn yếu tố này chúng ta bị một chứng bệnh nào đấy. Sự thanh thoát đã mất cân bằng.

Hiện nay tôi đã hơn sáu mươi sáu tuổi. Cho đến bây giờ, thân thể này vẫn tồn tại do bởi nhiều lý do. Nhưng cho thân thể đơn thuần sống còn ... nó có ý nghĩa gì? Tuy nhiên, nếu sự thông minh kỳ diệu của con người tồn tại và thể hiện chức năng một cách bình thường, chúng ta cố gắng để trau dồi lòng vị tha vô hạn và một sự thấu hiểu sâu xa hơn về thực tại. Điều ấy là tuyệt diệu: đó là quan điểm của Đạo Phật. Vậy thì hãy trầm tư trên những dòng này. Trong cách này, nếu chúng ta phản chiếu một cách thích đáng, chúng ta sẽ có thể thấu hiểu một cách rõ ràng làm thể nào chúng ta nhận thức thân bất tịnh này như điều gì đấy thanh tịnh và vô nhiễm.

* Khi chúng ta nói về nhận thức sai lầm thứ hai, đấy là nhận thức những gì khổ não như hạnh phúc, chúng ta không nói về trình độ thô thiển thông thường bởi vì ở tại trình độ nông cạn thông thường, không ai xác định khổ đau là hạnh phúc. Chúng ta đang nói về một trình độ thâm sâu hơn. Như tôi đã đề cập phía trước, có hai loại cảm giác: cảm giác ở mức độ thân thể và cảm giác ở mức độ tâm thức.

Hầu hết những hạnh phúc thân thể sinh khởi qua một sự giảm sút khổ não của thân thể. Thí dụ, nếu chúng ta đang run lẩy bẩy trong lạnh giá một lúc nào đấy và đột nhiên chạy vào trong ánh nắng và ở đấy, chúng ta cảm thấy hài lòng và vui vẻ. Không có một sự toại nguyện nào ở trong ánh nắng ấy: mà chỉ vì nó đem đến một sự giảm thiểu của khổ đau từ sự lạnh giá.

Để minh chứng điều này, nếu nó là một niềm hạnh phúc chân thật miên viễn, điều gì đấy độc lập, chúng ta có thể ở trong ánh nắng ấy một hồi lâu và niềm hạnh phúc chúng ta sẽ tăng lên chứ không giảm xuống. Nhưng lại không phải trường hợp đó. Sau một lúc, chúng ta sẽ cảm thấy nóng lên, và sẽ cần di chuyển vào trong bóng mát một lần nữa. Cảm giác hạnh phúc và toại nguyện ban đầu sẽ biến thành khổ sở nếu chúng ta ở trong nắng quá lâu. Trong nhiều trường hợp, một cảm giác khoan khoái vật lý dường như tốt đẹp, toại nguyện, và sung sướng, nhưng trong một sự phân tích sát sao hơn, nếu tiếp tục, nó sẽ trở thành không thoãi mái.

Quan tâm đến cảm giác tinh thần của hạnh phúc, ngay khi chúng ta ở dưới sự khống chế cùa những cảm xúc phiền não, tâm thức không độc lập, nó không tự do. Thế nên, nếu chúng ta phản chiếu một cách thích đáng, chúng ta sẽ thấu hiểu một cách rõ ràng rằng tâm thức chúng ta sẽ chạm trán với khổ đau một cách chắc chắn ngay cả nếu chúng ta cảm thấy hạnh phúc tạm thời. Thí dụ, nếu chúng ta khổ đau vì một chứng bệnh kinh niên, chúng ta có thể không chạm trán với những đớn đau cấp tính vào mọi lúc, nhưng chúng ta không khỏe mạnh; chúng ta không tự do khỏi chứng bệnh kinh niên ấy.

* Nhận thức sai lầm thứ ba là thấy những gì vô thường lại cho là thường. Đấy là do bởi một sự chấp trước mạnh mẽ vào tự ngã mà trong đời sống hằng ngày chúng ta có khuynh hướng để thấy kinh nghiệm của chúng ta về hạnh phúc như điều gì đấy sẽ tồn tại lâu dài, điều gì đấy sẽ hiện hữu mãi mãi. Chúng ta có khuynh hướng để nhận thức những thứ này như thường còn. Thí dụ, khi tôi đi ngang qua một lâu đài cổ, tôi nghĩ rằng vào lúc lâu đài được xây lên, vị vua đã cảm thấy một cách tự nhiên rằng nó là bền vững.

Hãy nhìn vào Vạn Lý Trường Thành ở Trung Hoa. Xuyên qua nhiều năm, thật nhiều người, qua những sự chỉ huy khắc nghiệt, đã dựng lên bức tường thành. Vị hoàng đế đã nghĩ rằng vương quốc của ông là cơ đồ vĩnh cửu. Bây giờ không còn gì ngoài những bức tường thành. Hãy nhìn vào Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông. Mỗi người đã có những cảm giác mạnh mẽ về khu vực 'của tôi', tư tưởng 'của tôi', quyền lực 'của tôi', và họ đã giết hại một cách tàn nhẫn hàng triệu người trong việc cố gắng để làm cho những thứ ấy lâu dài.

Thật hữu ích để phản chiếu trên vô thường. Về điều này, có hai trình độ. Một là thật vi tế. Thứ kia là sự vô thường liên tục, như cái chết của cây cỏ, sự chấm dứt của bất cứ sự sống nào. Điều này là có thể bởi vì mọi thứ đang thay đổi từ thời khắc này đến thời khắc khác. Nếu mọi vật không thay đổi, việc quán chiếu sự chấm dứt tương tục là không thể có. Cái đến của một sự chấm dứt của bất cứ một đối tượng cụ thể nào trong dạng thức sự tương tục của nó là có thể bởi vì có một sự thay đổi thường xuyên xãy ra trong mọi hiện tượng vô thường. Bằng việc quán chiếu và nhận thức sự tan hoại liên tiếp của một đối tượng hay một hiện tượng vô thường, chúng ta có thể kết luận bản chất tự nhiên biến đổi của tất cả những loại hiện tượng vô thường.

Để thông hiểu bản chất tự nhiên của tính vô thường và tan rã, chúng ta phải nhận ra rằng mỗi hiện tượng vô thường, tại thời điểm nó hình thành sự hiện hữu, sự biến đổi cũng ra đời trong tự nhiên, trong bản chất của sự tan hoại. Điều này thật vô cùng lợi ích hơn là cố gắng để thấu hiểu nó trong ý nghĩa rằng điều gì đó cuối cùng tan rã và không còn nữa.

* Nhận thức sai lầm thứ tư là xem vô ngã như có ngã và như có một sự tồn tại độc lập. Liên quan đến sự diễn dịch ý nghĩa của vô ngã, có nhiều trường phái triết lý Phật Giáo đưa ra những sự diễn dịch và giải thích khác nhau. Sự thấu hiểu thông thường về ý nghĩa vô ngã là không có bản ngã tự túc, tự lực, và tự tồn (có tự tính). Một khi chúng ta có thể thấu hiểu rằng không có bản ngã tự hổ trợ và tự đầy đủ, chúng ta sẽ có thể chống lại nhận thức sai lầm rằng có một bản ngã như vậy.

Một khi chúng ta có thể nhận ra quan điểm sai lầm này, chúng ta có thể chinh phục chấp trước, dính mắc, và sân hận. Cảm nhận về bản ngã của chúng ta càng mạnh như tự lực và tự túc, chúng ta sẽ càng dính mắc hơn với thân thể, nhà cửa, người thân, v.v... của chúng ta. Trái lại, nếu có một thông hiểu về sự vắng bóng của một bản ngã như vậy, chúng ta càng ít bị dính mắc đối với những đối tượng vật chất.

Đức Phật không chỉ dạy về vô ngã của con người (nhân vô ngã), mà cũng dạy về vô ngã của tất cả mọi hiện tượng (pháp vô ngã). Điều này có nghĩa rằng không chi con người thiếu sự tự túc, tự lực, tự tồn, mà những đối tượng được con người thụ hưởng cũng chỉ là sự hiện hữu của vô thường. Chúng ta có khuynh hướng thấy những đối tượng vật chất ngoại tại mà chúng ta hưởng thụ có một sự tồn tại độc lập cố hữu, nhưng không có đối tượng nào và sự thụ hưởng nào như vậy.

Với sự quan tâm đến giải thích về sự vật không hiện hữu như chúng xuất hiện đến chúng ta, một lần nữa, có những sự diễn dịch triết lý khác nhau. Theo Duy (Tâm) Thức học, mặc dù mọi vật xuất hiện đến chúng ta có sự tồn tại bên ngoài, trong thực tế, không có sự tồn tại bên ngoài như thế. Mọi thứ ở trong bản chất tự nhiên của tâm thức. Thế thì, theo Trung quán tông, mọi vật không tồn tại trong cách mà chúng xuất hiện đến chúng ta. Nếu chúng ta phân tích một cách cẩn thận, chúng ta sẽ thấy rằng tất mọi vật được nhận thức không có một sự tồn tại độc lập hay cố hữu (vô tự tính) nhưng đúng hơn giống như một vọng tưởng. Chúng bị điều kiện hóa bởi những khả năng cảm giác của tâm thức.

Sự thấu hiểu của chúng ta càng thâm sâu về vô ngã của con người và vô ngã của tư tưởng, chúng ta càng có thể thấu hiểu bề mặt kia của đồng xu - sự liên hệ hổ tương của mọi vật. Mặc dù sự vật không có sự tồn tại cố hữu (vô tự tính), chúng thì phụ thuộc tương liên và liên hệ hổ tương một cách gần gũi.

Do thế, trong sự thấu hiểu của chúng ta về bốn nhận thức sai lầm, ba thông hiểu đầu là những đối trị sẽ từ chối nhứng nhận thức sai lầm của chúng. Bằng việc thông hiểu nhận thức sai lầm thứ tư, chúng ta sẽ nhổ gốc rể hạt giống nhận thức sai lầm về bản ngã.

Vì vậy, có những phương pháp khác nhau để chiến đấu với các cảm xúc tiêu cực: cung cách của Tiểu Thừa, Bồ Tát Thừa, và Mật Thừa. Trong khi có những sự khác nhau trong ba cung cách, thì tất cả đều có cùng khuynh hướng: xóa trừ hoàn toàn những cảm xúc tiêu cực. Đấy là niết bàn.

Trong thực hành, người ta thường muốn một phương pháp cụ thể để chiến thắng những bất toại tinh thần. Tuy nhiên, không thể thực tập một phương pháp và lập tức giải thoát khỏi mọi băn khoăn bức xúc. Tôi nghĩ giống như sức khỏe của thân thể. Khi thân thể của chúng ta, cơ cấu, và hệ thống miễn nhiễm mạnh khỏe, chúng ta có thể kháng cự lại và loại trừ một sự tiêm nhiễm ngay lập tức. Nhưng nếu hệ thống miễn nhiễm của thân thể yếu ớt, ngay cả một sự tiêm nhiễm nhẹ nhàng cũng rất khó khăn để trừ khử.

Tương tự thế, nếu thái độ tinh thần căn bản khỏe mạnh và kiên cố qua rèn luyện, thông tuệ, và tự tin, và khi tai họa gì đấy xãy ra - nếu chúng ta mất đi cha mẹ, hay một người thân yêu, hay nếu một việc bất công xãy ra, hay nếu chúng ta tiêm nhiễm một chứng bệnh không chửa được - thái độ tinh thần mạnh khỏe của chúng ta sẽ đầy đủ để chống lại nó. Chúng ta có thể duy trì sự bình an của tâm hồn và có thể chịu đựng bất cứ nổi bất hạnh nào một cách hòa bình hơn, và tích cực hơn.

Nếu thái độ tinh thần của chúng ta không được rèn luyện đầy đủ, vượt thắng những rắc rối sẽ khó khăn. Rèn luyện tâm thức là rất quan yếu. Để rèn luyện một cách thích đáng, chúng ta phải tin chắc, là điều chỉ có thể đến nếu chúng ta phân tích một cách toàn hảo. Nhằm để làm điều này, chúng ta cần nhiều tài liệu và nhiều thông tin. Do vậy, chúng ta thấy, phương pháp thực tập Phật Giáo bắt đầu với học hỏi. Học hỏi bằng nghe, bằng đọc, chỉ để tiếp thu thông tin. Một khi chúng ta tập họp thông tin, chúng ta phải tự phân tích chúng . Không chỉ dựa vào những trích dẫn của Đức Phật. Đúng hơn là dựa vào sự khảo sát và thẩm tra của chúng ta. Đây là cung cách mà chúng ta có thể phát triển một niềm tin vững vàng, là điều mà cuối cùng làm nên sự khác biệt trong thái độ tình thần của chúng ta.

Do vậy, nhằm đề vượt thắng những cảm xúc tiêu cực của chúng ta, chúng ta cần sử dụng sự thông tuệ của chúng ta để phân tích. Chúng ta cũng phải phân tích, với sự hổ trợ của óc thông minh, cảm xúc tích cực như lòng tin và từ bi mạnh mẽ. Trông cách này, tuệ trí và những cảm xúc tích cực có thể tăng trưởng bên cạnh nhau. Niềm tin và từ bi thích đáng phải được căn cứ trên lý trí và thông tuệ: đấy là cung cách của Đạo Phật. Và đấy là phương pháp để vượt thắng những cảm xúc tiêu cực, để ngừng chúng lại, để kết thúc chúng.

VẤN ĐÁP

HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, tại lễ hội Kumbha Mela, ngài có đắm mình trong sông Hằng không?

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Không, tôi không làm thế, nhưng tôi để một vài giọt nước ở đây. Như thế cũng đủ rồi.

HỎI: Thưa Đức Thánh Thiện, xin hãy nói quan điểm của ngài về Thượng Đế và những đời sống trước và sau khi chết.

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA: Thượng Đế là gì
 

Về Menu

chiến thắng những cảm xúc tiêu cực chien thang nhung cam xuc tieu cuc tin tuc phat giao hoc phat phat phap thien phat giao

cu si thieu chuu cổ phá văn Ăn chay xư Huê hoa vải tổ cưu Trên cao gió bạt tiếng eo sèo độ viem phoi Ni tầm quan trọng của trí tuệ nhận thức nhung cau doi hay cho ngay tet Thở đi dẫn vào thế giới văn học phật giáo Sen sớm thú thưởng trà mới lạ giao duc to trau kheo luà tà Tình mẹ thiêng liêng lắm nam cu Tản mạn mùa hạ Gene có phải nguyên nhân chính gây ra ung Đừng Kinh dien 9 hồi thẠbenh khoa nghi tam Đâu là nguyên nhân gây ra chứng khó nghị lực phi thường của cô gái chỉ vòng sợ hãi cảm co mot chu tieu nhu the co ra sao thi con van mai la con cua me Làm gì để giảm ngáy khi ngủ người sắp lâm chung nên để ở bệnh Ăn chay có lợi cho sức khỏe nhung trang phuc tuyet doi khong mac khi di chua hoc va chuyen hoa Lễ giỗ Tổ Tuệ Bích Phổ Giác lần Vận động thể chất tốt cho tim mạch xin chào các vị pháp sư bên cạnh người già