Chùa xưa còn đó nhưng Thầy đã quy Tây
Chùa Đông Phước

Thầy kể rằng, ngày trước, có một vị Tỳ kheo Ni, tên đời là Bùi Thị Lê, pháp danh Xương* Thắng, tự Thiện Hành. *(Chữ Xương thuộc dòng Tào Động, Bắc Sơn lập phái kệ: "Nguyên Đạo Hoằng Truyền Nhất. Tấn Quang Phổ Chiếu Thông. Tổ Sư Long Pháp Ấn. Vĩnh Lạc Thọ Xương Tôn.")
 

 
Quê quán ở xã Gò Bon, Gia Định (miền Nam), vì chiến tranh nên Bà lánh cư ở làng Trường Đông, huyện Vĩnh Xương, Khánh Hoà. Bà đã phát tâm bồ đề xã bỏ sự nghiệp, xuất gia vào tu tại am tranh nơi gò Quéo, Đồng Bò (nay là Xã Phước Đồng). Thọ ký với Bổn sư danh gọi bấy giờ là Thầy Bưởi. Được hơn 3 năm, Thầy về quê rồi viên tịch. Bà còn lại một mình không thể ở nơi thâm sơn cùng cốc, nhất ni, nhất tự, nên phải trở về làng Trường Đông.  
Bà đã phát nguyện tạo dựng ngôi chùa, vào năm Thành Thái thứ hai (1889), do Đại lão Hoà Thượng huý Trừng Đạt, hiệu Minh Quang, Chứng minh Khai sơn.

Chùa lập hoàn thành, được đặt hiệu là Đông Sơn tự, toạ lạc tại đầu núi Trường Đông, gần tỉnh lộ nơi đầu xóm (đó là tiền thân của chùa Đông Phước). Nhưng lúc bây giờ người của ít oi, nên chỉ làm được ngôi chánh điện để có nơi thờ Phật và Hoà Thượng Trụ trì tu hành.

Đến năm Thành Thái thứ 18 (1906), chùa được trùng tu lần thứ nhất, khang trang hơn, từ đó cho đến lúc Hoà Thượng, Tổ Khai sơn thị tịch. Về sau, tiếp đến vị Lão Tỳ kheo ni cũng viên tịch. Chùa chiền hiu quạnh, tường vách rĩ nức, cảnh núi non vắng vẻ, u tịch, ít người lui tới, cùng đất đai khô cằn, sỏi đá, thiếu nước sinh hoạt, cho nên chùa không thể trụ trên núi Trường Đông, phải di chuyển đến địa phận xã Phước Hải.

Lần thứ nhất: Do Đại Đức huý Như* Trị hiệu Từ Thân đảm nhận trách nhiệm đem về phần đất tục danh Giếng Bà Giá của Ông, bà Nguyễn Hý cúng dường. Làm nền chùa xong, sắp dựng cột, thì bị con, cháu Ông, bà Hý tranh cản, nên xây dựng không thành. *(Chữ Như thuộc dòng Lâm tế Gia phổ: "Đạo Bổn Nguyên Thành Phật Tổ Tiên. Minh Như Hồng Nhựt Lệ Trung Thiên, Linh Nguyên Quảng Nhuận Từ Phong Phổ, Chiếu Thế Chơn Đăng Vạn Cổ Huyền")

Lần thứ hai: là nơi chùa hiện tại, toạ lạc tại số 20/7 đường chùa Đông Phước, trước đây thuộc khóm Phước Thái, xã Phước Hải, sau khi tách phường, hiện nay chùa thuộc Phường Phước Long, thành phố Nha Trang, Khánh Hoà.

Lần này, Đại Đức Từ Thân cung thỉnh Hoà Thượng huý Như Đạt hiệu Hoằng Thâm (huyện Vạn Ninh, Khánh Hoà) Chứng minh khai sơn. Lập chùa xong đặt hiệu chùa là Đông Phước tự ( Đông Phước lấy tên hai xã làm hiệu chùa, Đông là Trường Đông, Phước là Phước Hải.) vào năm Quý Sửu (1913).

Sau đó Đại Đức Như Trị - Từ Thân, quê ở miền Nam, dòng Lâm tế Gia Phổ, về Đệ nhất Trú trì và hành đạo. Tuy nhiên, cảnh trí nơi đây toàn là rừng và cát, Đại Đức đã ra công khai khẩn đất hoang quanh chùa thành thổ, được 3 sào (hiện nay chùa có cựu khế) để làm đất vườn chùa, cho đến năm Kỷ Mão (1939) Đại Đức Từ Thân viên tịch.

Bổn tự cung thỉnh Đại Đức huý Chơn Du hiệu Nhơn Thiện quê ở Ninh Hoà, Khánh Hoà về kế thừa Đệ nhị Trú trì, cho đến năm Ất Dậu (1945), là năm Cách mạng khởi nghĩa, vùng quanh chùa là rừng buội, Bộ đội lập mặt trận tại đây, đến một chiều mùa thu năm 1945, giao tranh ác liệt xảy ra, chùa bị thiêu huỷ (lúc này nhằm tháng 8 âm lịch, vào một buổi xẩm tối). Bấy giờ chùa bị cháy, nhân dân quanh chùa bỏ chạy, cho nên chùa bị nắng chang, sương dọi, Phật tượng thấm ướt, đèn tắt, hương tàn.

Cho đến năm Mậu Tý (1948) tại làng Trường Đông có tín nữ là Bà Lê Thị Tỵ (Bà Thông) pháp danh Tâm Lộc, cám cảnh tiêu điều của chùa, nên đã phát tâm cúng dường vật liệu, đạo hữu Nguyễn Trung Can cúng dường công quả thi công tu bổ. Cảm động công đức của hai vị thí chủ này, chùa tu bổ hoàn thành ngôi chánh điện (thờ Phật), Tây đường (thờ Tổ và thờ Linh).

Năm Kỷ Sửu (1949) bổn tự cung thỉnh Đại Đức huý Chơn Gia hiệu Minh Huệ về Đệ tam Trú trì. Ngài Minh Huệ xây cất thêm ngôi Đông Lang để làm chỗ tiếp độ tăng chúng tu học. Đến năm Đinh Dậu (1957), Ngài Chơn Gia - Minh Huệ viên tịch.

Năm Canh Tý (1960) Bổn tự, bổn đạo cung thỉnh Đại Đức Thích Huệ Quang về Đệ tứ Trú Trì chùa Đông Phước cho đến ngày nay.

Nhờ ơn lớn Tam bảo hộ trì, cùng chư sơn và bổn đạo trợ giúp, qua hai lần trùng tu chùa. Đặc biệt là lần đại trùng tu vào năm 2007 (Đinh Hợi) đến năm 2009 (Kỷ Sửu) chùa Đông Phước hoàn chỉnh như hiện nay, gồm: Ngôi Đại hùng Bửu điện 3 tầng, cổ lầu, hai bên là lầu chuông, lầu trống. Góc mái cong có tứ giao long uốn lượng. Trên nóc có lưởng long chầu nguyệt, đỉnh nóc chùa là bánh xe pháp luân. Tổ đường, Nhà Khách, Đông lan, Tây trúc, Phương trượng Hoà Thượng Viện chủ được sắp xếp ngăn nắp, thứ tự.

Phía trước sân chùa, một bên là Tháp Quan Thế Âm với bức tượng Quan Âm Bồ Tát bằng đá nguyên khối, cao trên 4 m, Bồ Tát đang cầm bình tịnh thuỷ và nhành dương liễu, với gương mặt hiền hoà, bao dung phóng tầm mắt xa xăm dõi theo mọi nổi khổ của ngư dân Phước Long, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên như nguyện đem lại sự an bình cho mọi người, cho ngư dân mỗi lần ra biển.

Đối diện là Tháp Chuông, quy mô đồ sộ, với Đại hồng chung, mỗi lần tiếng chuông chùa vọng lên như giải thoát mọi phiền não của người dân, khuyến hoá mọi người bỏ dữ, làm lành.

Ở giữa sân chùa là Tượng Phật Di Lặc đang nở nụ cười hoan hỹ, vị tha như luôn nhắc với Phật tử hãy diệt trừ lục tặc, vui vẻ, rộng lượng với mọi người.

Đằng trước chùa là Cổng Tam quan sừng sửng, uy nghi, đỉnh đạt, như khẳng định nhắc nhở với mọi người:
"Đi đến cửa chùa đem lòng hỹ xã,
Bước vào cảnh Phật giữ dạ Từ bi"

Cấu trúc, quang cảnh Già lam Đông Phước thật cân đối, hài hoà, màu sắc trang nhã, xen kẻ là những cây dừa cao thẳng tắp, rợp lá đung đưa như vẩy gọi mọi người hãy về chùa, tu nhân tích đức.

Phía sau chùa là Tháp Tổ, Tháp Đại lão Hoà Thượng Viện chủ ...nơi ghi dấu vết của các bậc Tổ sư tiền bối, như nhắc nhở kẻ hậu lai "Uống nước nhớ nguồn" tất cả là một bức tranh cảnh Thiền môn thanh tịnh.

Đông Phước cổ tự, sau 120 năm tạo lập và phát triển, toàn cảnh ngôi chùa Phạm vũ huy hoàng như hiện nay, đã in đậm dấu ấn của Đại lão Hoà Thượng Thích Huệ Quang, Thành viên Hội đồng Chứng Minh Trung ương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, Huynh trưởng tông phong Tổ đình Nghĩa Phương, Viện chủ, Đệ tứ Trú trì, 50 năm với cương vị Trú trì, ở tuổi ngoài 80 mà vẫn còn chống gậy xây chùa, thật là bậc Thiền môn Thạch trụ, Phước huệ song tu, mãi mãi sẽ ghi lại trong lòng Phật tử mỗi lần đến chùa.

Thế rồi, một ngày cuối Hạ Kỷ Sửu, 2009 lại đến, chùa xưa còn đó, pháp lũ còn đây, nhưng do tuổi cao sức yếu Ngài đã an nhiên thâu thần viên tịch. Ngài trụ thế 83 năm, trải qua 57 mùa An cư kiết hạ.

Theo di chúc của Cố Đại lão Hòa Thượng Thích Huệ Quang, thừa kế đệ ngũ Trú trì là:

Thượng tọa THÍCH HÀNH TRI, Pháp danh NHƯ NGỘ, hiệu TÂM THÔNG.
Phó Trú trì Đại Đức THÍCH NHƯ TỪ, tự THIỆN NGỘ, hiệu TÂM BÌNH.

Đệ tử Trí Bửu biên tập theo minh lục bản viết tay Năm Mậu Thân (1988) mùa Thu, ngày lành của Cố Đại lão Hoà Thượng Thích Huệ Quang
 

Về Menu

chùa đông phước chua dong phuoc tin tuc phat giao hoc phat phat phap thien phat giao

cuộc đời thánh tăng ananda phần 5 ht dhammananda thay benh va thay tanh Buffet chay 30 món tặng 1 phần cho nhóm 5 nạo bố Sống bình an và hiến tặng bình an đề buddhanandi con đi tu mẹ nhé Sống hòa bình lạc quan với ung Bệnh quán chùa 10 lời khuyên Đức tin tự con nguoi y thuc voi phap than mau nhiem tu dieu de giao ly can ban cua dao phat tranh phật giáo qua cách nhìn nghệ thuật Thi 14 Ä á i Vì sao con người sợ tuổi già há u 15 tien trinh chet quan điểm của phật giáo về việc nói B thiền phat tu tai gia dau tien o viet nam la ai 06 tranh chan trau dai thua va thien tong nương Huyết áp hay thay đổi nguy cơ mất trí nghich duyen va tinh huong xuat gia Làm gì để ngăn ngừa cảm cúm trong mùa thiền vipassana một nghệ thuật sống tứ thánh đế Tôn giả Bạc câu la tinh than bo tat thich quang duc con mai trong niem phat su ly vien dung tat duoc giai thoat 10 dieu nhan nhu toi ban than luc doi mat voi moi Quảng Ngãi Húy kỵ Tổ sư khai sơn Tổ chua vinh trang 5 điều cần biết về ung thư vú sóng trên đời tranh giành nhau để Ăn chay ăn Chuyện về đại sư nhiều cái nhất nhung dong gop cua phap su huyen trang cho mang a năm i nhung buoc dau cua hanh trinh tam linh