Ở chương trước có đề cập đến kinh điển của thời trung kỳ Ðại thừa là do yêu cầu thời đại, vào có người cho là nó được thành lập vào thời gian từ năm hai trăm đến năm bốn trăm sau Công nguyên, hơn nữa, kinh Ðại Niết Bàn, kinh Ðại Pháp Cổ đều lưu hành ở
Chương X: Phật giáo Đại thừa hệ Vô Trước

...

CHƯƠNG X
PHẬT GIÁO ĐẠI THỪA HỆ VÔ TRƯỚC

Tiết 1
BỒ TÁT VÔ TRƯỚC

nam Ấn Ðộ; kinh Lăng Già thì lấy bờ biển phái nam Ấn Ðộ làm địa điểm thuyết pháp. Nhân đấy, có thể nói các kinh điển này với kinh Bát Nhã đều được thành lập tại nam Ấn Ðộ. Nhưng tư tưởng trong những kinh này cùng với kinh Ðại thừa cũng thuộc nam Ấn Ðộ ở thời kỳ trước đó có chỗ trái nghịch nhau; đấy là sự thực.

Khảo sát sâu hơn thì thấy kinh Thắng Man lấy A Du Ðà (Ayodhyà) ở vùng trung Ấn Ðộ làm trung tâm, trong khi ngài Vô Trước và Thế Thân lại xuất thân ở bắc Ấn Ðộ. Ðặc biệt là ngài Vô Trước, ngài không lấy A Du Ðà làm trung tâm để phát triển Ðại thừa Duy Thức. A Du Ðà là vùng đất mà vương triều Cấp Ða nhắm đến để dời đô về đây vào cuối thế kỷ thứ IV tây lịch. Do đó, có người lấy nơi đây làm địa bàn phát triển kinh điển Ðại thừa ở thời trung kỳ, có khả năng kinh điển Ðại thừa thời trung kỳ là sản vật văn hóa của vương triều Cấp Ða (từ thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ VI tây lịch).

Bất luận thế nào, đương thời ngài Long Thọ tổ chức hoàn bị Ðại thừa Phật giáo, đặc sắc là việc ngài phá Tiểu thừa để phát huy tính ưu việt của Ðại thừa; đến ngài Vô Trước, về phương diện giáo lý, ngài khai triển đến trước cả thời của Long Thọ, đồng thời ngài cũng gom lấy những giáo lý rời rạc của Tiểu thừa Hữu Bộ làm cơ sở, cho nên lúc xác lập Ðại thừa Phật giáo thì ngài gồm luôn Tiểu thừa để thống hiệp vào Ðại thừa .

Thời ngài tam tạng Nghĩa Tịnh lưu học tại Ấn Ðộ, ông có viết trong bộ "Nam Hải Ký Qui Nội Pháp Truyện"[1] rằng "gọi là Ðại thừa thì không ngoài hai thứ loại, một là Trung - Quán, hai là Du Già.

Trung Quán thì tục hữu chơn không. Thể hư như huyễn, Du Già thì ngoại vô nội hữu, mọi việc đều là Duy Thức". Trung Quán thịnh hành ở đông nam Ấn Ðộ, còn Du Già thì thịnh hành ở trung bắc Ấn Ðộ, kết quả này là do hoàn cảnh và thời đại trợ lực mà thành.

Vì sao cho rằng Ðại thừa duy thức là "Du Già"? Ðó là do hoàn cảnh và thời đại giữa Du Già và Duy thức có liên quan với nhau. Phàm hễ ai khéo tu chỉ quán thì người đó khế nhập Du Già, gọi là Du già Sư; làm nơi y trú cho Du Già sư, thì gọi là Du Già Sư Ðịa, tức là ngài An Thế Cao dịch các bộ "Tu Hành Kinh", "Ðại Ðạo Ðịa Kinh", "Ðại Ðạo Ðịa Kinh", ngài Giác Hiền dịch bộ "Tu Hành Phương Tiện", những cách dịch khác nhau này đều liên hệ đến Du già Sư Ðịa của Phạn ngữ.

Như vậy, Du già sư là chỉ cho thiền sư, và đa phần cảnh giưói của thiền sư là nội chứng. Do đó, từ thiền mà xuất giáo đó là sự thực, sự xuất giáo của thiền vồn là từ kinh nghiệm nội chứng mà lập thuyết. Học giả Tiểu thừa của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ đặc biệt đi sâu vào thiền. Buổi đầu thiền được truyền đến Trung Quốc có rất ít người học, và cũng được truyền vào Trung Quốc từ hệ học giả của vùng bắc Ấn Ðộ là chính. Giáo nghĩa của thiền phần nhiều phát xuất từ các học giả Du Già. Vị đại sư phát khởi việc chỉnh lý, tổ chức giáo thuyết Du Già là ngài Di Lặc, theo sự khảo chứng của các giả cận đại thì vị thế ngài Di Lặc là nhân vật lịch sử đứng hàng thứ hai trong số các học giả của Tát Bà Ða Bộ (Nhất Thiết Hữu).

- Di Lặc và Vô Trước.

Ngài Di Lặc (Maitreya Từ Thị). Chương tám, tiết một và ba, sách này có lược dẫn về Di Lặc. Ngài là vị Bồ Tát "nhất sinh bổ xứ" (lần sinh sau rốt) hiện đang ở tại nội viện của cung trời Ðâu Suất, và trong tương lai sẽ thành Phật ở cõi nhân gian này.

Theo bản dịch "Bà Tẩu Bàn Ðậu Pháp Sư Truyện" của Chơn Ðế[2], thì ba anh em ngài Vô Trước (Asanga) sinh tại nước Phú Lâu Sa Phú La (Purusa - Pura - nay là Bạch Hạ Ngõa) ở bắc Ấn Ðộ, trong một gia đình theo Bà La Môn giáo. Anh trưởng là ngài Vô Trước, kế đó là ngài Thế Thân (Vasubandhu), và thứ ba là ngài Tỉ Lân Trì Bạt Bà, cả ba anh em đều xuất gia với Hữu Bộ. Sau đó ngài Vô Trước đi đến Mục Tỳ Ðề Ha (Videha) và chịu sự giáo hóa của La hán Tần Ðầu La, và chứng đắc "không quán" của Tiểu thừa. Nhưng Vô Trước chưa thỏa ý bèn vận thần thông lên cung trời Ðâu Suất hướng về Bồ Tát Di Lặc mà thọ giáo Ðại thừa không quán, và Ðại thừa kinh nghĩa, tiếp theo ông mời thỉnh Bồ Tát Di Lặc xuống cõi nhân gian thuyết pháp. Nhân đây, hiện còn truyền Di Lặc là người tạo các bộ luận thư trọng yếu sau:

1. Du Già Sư Ðịa Luận - một trăm quyển, được Huyền Trang dịch ra Hán văn, Tây Tạng chỉ dịch một bộ phận và cho rằng luận là do Vô Trước tạo. 2. Ðại thừa Trang Nghiêm Luận Tụng - một quyển, được Ba La Phủ Mật Ða La dịch ra Hán văn. Bản Phạn văn và bản dịch Tây Tạng văn hiện vẫn còn. 3. Biện Trung Biên Luận Tụng - một quyển. Trung Quốc có hai dịch bản, một của Chơn Ðế, một của Huyền Trang. Bản Phạn văn và bản Tạng văn hiện còn. 4. Hiện Quán Trang Nghiêm Luận Tụng, bản Phạn văn hiện còn. Trung Quốc chưa dịch bộ này. 5. Năng Ðoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật ÐA Kinh Luận Tụng - một quyển, Hán dịch có hai bản. Một của Bồ Ðề Lưu Chi, một của Nghĩa Tịnh.

Như vậy, theo Vũ Tỉnh Bá Thọ người Nhật Bản thừa nhận, thì Di Lặc là nhân vật lịch sử[3], và pháp sư Ấn Thuận của Trung Quốc tán thành thuyết này. Nhưng cho rằng Di Lặc là một học giả lớn của Tát Bà Ða Bộ[4]. Còn Mộc Thôn Thái Hiền chủ trương, nếu thừa nhận Di Lặc là một vị luận sư xét về mặc lịch sử, thì cần có thêm sự nghiên cứu; tuy tạm thời ông đồng ý các tác phẩm trên là do Di Lặc tạo, nhưng đại khái cũng không loại trừ thuyết cho rằng là của Vô Trước tạo, như thế an toàn hơn[5].

Nếu dựa theo kinh nghiệm tôn giáo, và kinh nghiệm tín ngưỡng tôn giáo thì chúng ta có lý do để xác tín vị Bồ tát Di Lặc này tức là ngài Từ Thị ở Ðâu Suất Thiên. Nhân vì những thấy biết trong định của Du già sư tuyệt nhiên không phải là cách nói ba hoa mang tính diễn tả của chúng ta. Khi ở trong định, Du già sư dùng thần thông để lên cõi trời thỉnh pháp, hoặc thỉnh ngài Di Lặc xuống nhân gian thuyết pháp, điều đó có thể xảy ra. Còn đứng ở góc độ lịch sử tư tưởng, thì Di Lặc biểu hiện thân phận mình thông qua cảnh trong định của Du già sư. Và ngài Vô Trước chẳng qua là vị Du già sư kiệt xuất đại biểu cho những vị Du già sư mà thôi. Trong "Bà Tẩu Bàn Ðậu Pháp Sư Truyện" chép: "Vô Trước sau khi xuất gia với Tát Bà Ða Bộ, ông tu định và chứng đắc ly dục". Như vậy, không có gì phải nghi, Vô Trước quả thực là vị Du già sư của Hữu bộ. Lại nói về đại chúng, "tuy tất cả cùng ở trong một giảng đường nghe pháp, duy chỉ có pháp sư Vô trước được thân căn Bồ Tát Di Lặc, những vị khác chỉ nghe từ xa, đêm đến được nghe Di Lặc thuyết pháp, ban ngày thì pháp sư Vô Trước giảng giải lại cho các vị khác nghe những điều ông nghe được từ Di Lặc".

Nếu khảo chứng tư liệu về các nhân vật lịch sử, thì trong những vị tiền bối của Vô Trước chắc chắn là có một vị luận sư Di Lặc, với các lý do:

1. Vào thời đại Diêu Tần có một vị học giả Ấn Ðộ đến Trung Hoa, và được xưng tụng là La Thập tam tạng, ông vì Miệt Ðế Lợi mà đến, đó là người thức nhất. 2. Trong "Ðạo An Truyện" có các vị như: Di Ðố Lô Ðao Lợi, Di Lặc, Chúng Hộ, Bà Tu Mật, cả bốn vị này được xưng tụng là bốn đại sĩ. 3. Mục lục của "Tát Bà Ða Bộ Ký" có chép: Tổ ba mưôi lăm là Ðề Bà, tổ thức bốn mươi hai là Ma Ðế Lệ, tổ bốn mươi bốn là Bà Tu Bàn Ðầu (Thế Thân). 4. Bàng hệ của "Truyền Ðăng Lục" chép: tổ thứ mười là Ma Ðế Lệ Pha La, tổ mười hai là Thế Thân. Trong đó bốn vị trước là Miệt Ðế Lợi, Di Lặc, Ma Ðế Lợi, Ma Ðế Lệ Phu La, đều do cùng một chữ là Maitreya nhưng lại dịch khác nhau, điều đó cho thấy sau Ðề Bà, trước Thế Thân chắc chắn có mộ vị tên là Di Lặc. Vị có tên Di Lặc này đương nhiên là một nhân vật trọng yếu trong số các luận thư của Di Lặc. Ðương thời Di Lặc là một trong những Du già luận sư mà tư tưởng đại biểu cho toàn bộ luận thư của Di Lặc là tập hợp tất cả "thiền cảnh sở đắc" (chung đắc trong thiền định) của các Du già sư, chúng ta có thể thừa nhận là các luận thư nêu trên được truyền bởi Bồ Tát Di Lặc từ cung trời Ðâu Suất. Còn người hoằng dương học thuyết của Di Lặc, đó là công đức lớn của Bồ Tát Vô Trước.

- Vô Trước và những trước thuật của ông.

Ðại để, Di Lặc là nhân vật sống vào thời gian từ năm 270 đến năm 350 sau Công nguyên. Vô Trước sống vào khaỏng từ 310 đến năm 390 sau Công nguyên. Lúc Vô Trước và Thế Thân hoằng dương đại pháp nhằm vào thời thịnh của vương triều Cấp Ða. Ước từ cuối năm Sa Mổ Ðà La Cấp Ða (Samudra - gupta, năm 370-379 tây lịch), rồi trải qua đời vua Chiên Ðà La Cấp Ða II (Candra - gupta II, 380-414 tây lịch). Cho đến khi vua Cưu Ma La Cấp Ða (Kumàra - gupta, 415-? tây lịch) kế vị, đây cũng là thời gian Pháp Hiển của Trung Quốc tây du học Phật, còn La Thập thì đông du Hoằng hóa, thời gian giữa hai vị không cách khoảng nhau là mấy.

Vô Trước ngoài việc truyền giảng những luận thư trứ danh của Di Lặc, ông còn là người tự mình tạo những bộ luận thư nổi tiếng như:

1. Luận Hiển Dương Thánh Giáo - một quyển, Huyền Trang dịch ra Hán văn. 2. Luận Nhiếp Ðại Thừa - ba quyển, Hán dịch có ba bản; một của Chơn Ðế, một của Huyền Trang, và một của Phật Ðà Phiến Ða. Tây Tạng cũng có bản dịch bộ luận thư này. 3. Luận Ðại Thừa A Tỳ Ðạt Ma Tập - bảy quyển, bản Hán dịch là của Huyền Trang, Tây Tạng cũng có bản dịch luận này. 4. Luận Kim Cang Bát Nhã Kinh - hai quyển, bản Hán dịch là của Ða Ma Cấp Ða, Tây Tạng cũng có bản dịch luận này. 5. Luận Thuận Trung - hai quyển, bản hán dịch là của Bát Nhã Lưu Chi. 6. Luận Ðại Thừa Trang Nghiêm Kinh - mười ba quyển, bản Hán dịch của Ba La Pha Mật Ða, luận này hiện còn bản Phạn văn là bản dịch Tạng văn. Ý thú trong ba luận đầu (một, hai, ba) chính diện là xiển dương phái Du già. Yù thú của luận thứ tư là dương cao kinh Kim Cang Bát Nhã. Còn bộ "Thuận Trung Luận" thì nói khái quát về Trung Luận, và bộ Ðại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận đặt cơ sở trên luận Du Già Sư Ðịa của Di Lặc để giải thích Ðại thừa Trang Nghiêm Kinh Luận Tụng, đây là bộ sách giảng thuyết những điều chủ yếu về Phật giáo Ðại thừa.

- Thức A Lại Da.

Thức A Lại Da (Àlaya - Vijnõàna) là tư tưởng trung tâm từ Di Lặc đến Vô Trước, nay xin căn cứ những gì được nói trong luận Du Già Sư Ðịa để nêu ra năm áo nghĩa của thức A Lại Da.

1. Hoạt động của thức A Lại Da dựa vào hai nhân tố: một là "liễu biệt" tức tâm chấp thọ mang tính nội tại có phân biệt; hai là "liễu biệt" tức khí thế giới mang tính ngoại tại vô phân biệt. Thức A Lại Da duy trì hoạt động nội tại của thân tâm, và liễu biệt (sự nhận thức là do có phân biệt rõ đen trắng, dài ngắn, to nhỏ v.v...) hoạt động của thế giới ngoại tại. 2. Thức A Lại Da tương ưng với năm tâm sở biến hành là: tác ý, xúc, thọ, tưởng và tư. 3. thức A Lại Da cùng với các pháp có quan hệ hỗ tương nhân quả: thức A Lại Da còn gọi là chủng tử thức, tức nó tàng chứa chủng tử và rồi từ chủng tử sinh khởi tất cả pháp, tất cả pháp là sự hiện hành của chủng tử, nên gọi là "chủng tử sinh hiện hành". A Lại Da thức là nhân, các pháp hiện hành là quả, đấy là nhân quả đồng thời có tác dụng sinh khởi trong cùng một sát na. Sự hiện hành của các pháp lại huân tập (ảnh hưởng) trở lại thức A Lại Da, thành ra thức A Lại Da là nơi tích tụ của chủng tử, do vậy nên gọi là "hiện hành sinh chủng tử". Tác dụng trong trường hợp này là sự hiện hành của các pháp là nhân, sự tích tụ chủng từ là quả. Chủng tử của thức A Lại Da có khả năng sinh khởi hiện hành, hiện hành cũng có khả năng cùng với chủng tử của thức A Lại Da ảnh hưởng qua lại tương tục trong một sát na để sinh khởi chủng tử mới, đây gọi là "tự loại tương tục" (cùng một dòng chủng tử thì thay nhau sinh khởi liên tục) hay còn gọi là chủng tử sinh chủng tử. 4. Thức A Lại Da và các thức cùng chuyển: phàm khi một hoặc hai thức hoạt động thì chủng tử trong thức A Lại Da cùng theo đó mà biến động. 5. Thức A Lại Da có hai mặt, đó là tạp nhiễm và hoàn tịnh: lúc lưu chuyển trong sinh tử, thì đó là lúc căn bản thức (tên khác của thức A Lại Da) bị tạp nhiễm. Khi chứng ngộ nhập Niết bàn, thì đó là sở y của công năng hoàn diệt. Ðây là áp dụng tư tưởng Như Lai tạng.

- Luận Nhiếp Ðại Thừa của Vô Trước.

Duy thức học được phát nguyên từ luận Du Già Sư Ðại của Di Lặc, sang đến luận Nhiếp Ðại Thừa của Vô Trước thì môn Duy Thức học thành công lớn. Vô Trước viết tác phẩm này vào lúc tuổi đã về già. Ðây là bộ luận được tổ chức đặc biệt độc đáo. Luận này nhằm giải thích phẩm Nhiếp Ðại Thừa trong kinh Ðại Thừa A Tỳ Ðạt Ma; đây cũng là tác phẩm đại biểu cho tư tưởng Vô Trước. Nội dung của luận Nhiếp Ðại Thừa được chia thành mười chương, chủ đích thuyết minh mười thứ thù thắng[6], và thuật rõ ý thú của Ðại thừa Phật giáo là "chơn thị Phật thuyết (đúng là do Phật thuyết) "tướng" (hình thức) của mười thứ thù thắng có thể phân làm: cảnh, hành, quả. Thù thắng thứ nhất, và thứ hai là hành thù thắng; thù thắng thứ chín và thứ mười là quả thù thắng.

Nội dung của mười thù thắng đại ý như sau:

1. Sở tri y:

"Nghĩa là thức A Lại Da có tên là Sở tri y thể". Tất cả các pháp được biết đến đều nương thức A Lại Da làm sở y cho ba tánh (Biến kế chấp, Y tha khởi, viên thành thực). Riêng ba tánh lại có hai cách kiến giải:

a) Biến kế sở chấp và Y tha khởi thuộc về tạp nhiễm, Viên thành thực thuộc về thanh tịnh.

b) Biến kế chấp là thuộc về tạp nhiễm, Viên thành thực thuộc về thanh tịnh, còn Y tha khởi thì thông cả Biến kế chấp, và Viên thành thực, tức có thể tạp nhiễm, có thể thanh tịnh, theo cách hiểu thứ nhất thì thức A Lại Da là hư vọng, không thực, là tạp nhiễm bất tịnh. Cách hiểu thứ hai, thì thức A Lại Da vừa tạp nhiễm hư vọng, cũng vừa là chơn thực thanh tịnh. Vô Trước thiên về cách hiểu thứ nhất, còn Thế Thân thì gom cả hai.

2. Sở tri tướng:

"Tam chủng tự tánh" gọi đó là Sở tri tướng thể. Sở tri đó là tướng"[7], gọi là Sở tri tướng, tức lấy tất cả pháp được biết đến chia thành ba tướng để thuyết minh:

a) Y tha khởi tự tánh - tánh này nhờ nhân cậy duyên mà sinh khởi. Vì tất cả pháp có thể là nhiễm có thể là tịnh, chứ các pháp không phải là bất biến.

b) Biến kế sở chấp tự tánh - tánh này chỉ cho tất cả pháp sở thủ đều khởi nguồn từ loạn thức (huyễn vọng), bởi nó hoàn toàn không có thực thể. Chẳng qua đấy chỉ là nhận thức chủ quan sai lệch với thực tại chân lý.

c) Viên thành thực tự tánh - tánh này do chứng ngộ "nhị không" nhân không, pháp không. Ðấy là tánh chân thực của các pháp.

3. Nhập Sở tri tướng:

"Duy thức tánh, gọi là Nhập sở tri tướng thể". Do tu Duy thức quán mà ngộ nhập Duy thức tánh, tựu trung là đi vào tướng sở tri và tánh chơn thực. Duy thức có hai:

a) Bước đầu là phương tiện Duy thức quán - dùng Duy thức quán quán sát tự tánh của tất cả các pháp là do hư vọng phân biệt mà có; nên rốt ráo không có cái để được.

b) Tiến lên bước nữa là chơn thực Duy thức quán - quán sát cảnh của các pháp là bất khả đắc, vì cảnh do hư vọng, do phân biệt của thức nên cũng bất khả đắc. Khi tâm và cảnh đều dứt (tức vọng thức không còn khởi niệm phân biệt ngã - pháp). Ðấy là ngộ nhập bình đẳng pháp tánh (Viên thành thực tánh). Duy thức quán của luận này tuy thông đến cảnh chân thực (như vừa nêu), nhưng chính là chú trọng đi từ phàm phu đến thánh (từ phân biệt trí ở địa vị Gia hạnh đi đến vô phân biệt trí căn bản) đều thông qua Duy thức quán.

4. Bỉ nhập nhân quả:

"Sáu Ba la Mật đa, gọi là bỉ nhập nhân quả thể". Bỉ nhập tựu trung là nhập bỉ; tức muốn nói để đi vào Duy Thức tánh cần yếu phải tu trì sáu pháp Ba La Mật Ða (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ); khi chưa ngộ nhập Duy thức tánh thì sở tu là nhân, khi đã chứng nhập Duy tức thánh thì sở tu là quả.

5. Bỉ nhân quả sai biệt:

"Thập địa Bồ tát, gọi là bỉ nhân quả tu sai biệt thể". Sau khi tiến đến sơ địa thì thánh vị của Bồ tát đối với thập địa là phải tu tập sáu Ba La Mật Ða; cứ tuần tự như thế mỗi địa tăng dần lên, nên gọi là có mười địa sai biệt, khi đến được quả vị Phật, thì đấy là lúc tu tập sáu Ba La Mật Ða đã viên mãn.

6. Tu sai biệt trung tăng thượng giới:

"Luật nghi của Bồ tát, gọi đó là thử trung tăng thượng giới thể", tức trong các địa mà Bồ tát tu tập có giới học là sở tu của Bồ tát. Sở dĩ vậy, là nhằm làm rõ chư Bồ tát không tu theo Tiểu thừa giới của Thanh văn, cho nên gọi là Bồ tát luật nghi địa, địa cứ thế mà tuần tự tu tập, triển chuyển, tăng gia, hướng thượng, nên gọi là tăng thượng.

7. Tăng thượng tâm:

"Thủ lăng già ma, hư không tạng, các tam ma địa v.v.. gọi đó là thủ trung tăng thượng tâm thể". Ðấy tức là sơ tu định học của các Bồ tát địa. Ðịnh dùng tâm làm chủ thể, nên gọi là tăng thượng tâm. Thủ lăng già ma nghĩa là kiện hành; tóm lại, Thủ Lăng Nghiêm tức là đại định. Cảnh giới của định này hết sức cao sâu. Nó là chỗ tu và nhắm tới của thập trụ Bồ tát. Hư không tạng là tên khác của định, có khả năng hàm nhiếp và xuất sinh tất cả công đức, nên gọi là Hư không tạng.

8) Tăng thượng huệ:

"Trí vô phân biệt, ở đây gọi là tăng thượng huệ thể". Ðây là chỗ tu huệ của Bồ tát. Trí vô phân biệt bao gồm cả gia hạnh trí, căn bản trí, hậu đắc trí. Bồ tát xa lìa tất cả mọi pháp chấp phân biệt, cho nên ba trí vừa nêu đều gọi là vô phân biệt.

9) Bỉ quả đoạn:

"Vô trụ Niết bàn, gọi đó là bỉ quả đoạn thể". Bỉ quả, là quả do tu tập giới - định - huệ tam tăng thượng học mà có được. Chứng đắc quả này là nhờ đoạn sạch phiền não chướng và sở tri chướng. Do đó, gọi là đoạn quả. Nghĩa là vô trụ Niết bàn là không trụ sinh tử, cũng không lìa sinh tử.

10. Bỉ quả trí:

"Tam chủng Phật thân, gọi đó là bỉ quả trí thể". Quả này như trước đã nói, nó là trí, nên có tên là Quả trí. Về phương diện đoạn chướng của quả tịch diệt, thì đây là vô trụ đại Niết bàn; về phương diện trí huệ của hiển hiện quả, thì dây là viên mãn vô phân biệt trí, đấy tức là chuyển tám thức làm bốn trí và thành tựu tam thân Phật:

a) Chuyển thức thứ tám thành Ðại viên Cảnh trí; chuyển thức thứ bảy thành Bình đẳng trí - tức "tự tánh thân Phật"

b) Chuyển thức thứ sáu thành diệu quan sát trí, tức là "Thọ dụng thân" Phật.

c) Năm thức trước chuyển thành thành sở tác trí; tức là "Biến hóa thân" Phật. Thân thứ nhất (tự tánh thân) thì thường trụ; thân thứ hai và thứ ba (Thọ dụng thân, Biến hóa thân) thì vô thường. Thọ dụng thân do sự hiện khởi của tự tánh thân, mà thọ dụng mọi pháp lạc (tự thọ dụng), và trên lĩnh vực này làm thánh vị thuyết pháp của Bồ tát (tha dụng thọ); biến hóa thân là do tự tánh thân hiện khỏi, để vì hàng Thanh văn thuyết pháp.

Trên đây là giải thích nghĩa của thập thù thắng, xin độc giả tham khảo thêm "Nhiếp Ðại Thừa Luận Giảng Ký" của Pháp sư Ấn Thuận. Trong đó nói rõ về Duy thức cảnh, Duy thức hành và Duy thức quả. Nói về lập trường của Duy thức học, thì luận này là bộ luận thống nhất toàn thể Ðạii thừa Phật giáo.

Tiết 2
BỒ TÁT THẾ THÂN

- Uyên nguyên của Duy thức học.

Duy thức học từ Di Lặc đến Vô Trước thì hoàn thành và lấy thức Nhất thiết chủng làm gốc, cho rằng Duy thức học là sự biến hiện của chủng tử thức. Song Duy thức Tam thập tụng của Thế Thân, ông lấy ba loại phân biệt thức làm gốc, cho rằng Duy Thức học là sự biến hiện của phân biệt thức. Hai ngài Di Lặc và Vô Trước thì xuất phát từ "Bản địa phần" của luận Du Già Sư Ðịa. Ấy là dùng cái nghĩa "bất dị" của chủng tử bất nhất bất dị làm căn cứ. Ngài Thế Thân thì lấy "Nhiếp quyết trạch phần" của luận Du Già Sư Ðịa, ấy là dùng cái nghĩa "bất nhất" của chủng tử thức bất nhất bất dị làm căn cứ. Ðây là sự phân lưu của hai dòng lớn cùng đồng nhất môn Duy thức học. Về sau, phần nhiều các học giả Duy thức đều dùng thuyết của Thế Thân coi Thế Thân mới là người tập đại thành môn Duy thức học. Tại Trung Quốc có một dòng Duy thức học thuộc dòng của ngài Vô Trước, dòng này là Nhiếp Luận Tông thuộc học phái Nhiếp Luận.

Vì vậy, trước khi nói về ngài Thế Thân, xin giới thiệu Uyên nguyên Duy thức học. Ngoài việc A Lại Da đã đề cập ở chương chín, và tiết ba trong kinh Giải Thâm Mật. Mỗi khi nói đến tư tưởng Duy thức thì phải căn cứ vào tư tưởng của Bộ phái. Nay xin giới thiệu và tham khảo "Duy thức sử quan và Triết học Duy thức" của pháp sư Pháp Chiên, thiên thứ nhất ở chương bốn và năm, lấy đó làm tư liệu và phân ra như sau:

1. Tam Pháp Ấn là căn nguyên Duy thức học:

Yếu nghĩa trong thánh điển A Hàm không ngoài Tam Pháp Ấn, Tam Pháp Ấn đó là:

Niết bàn tịch tịnh là kết quả của tam quán, tuy có thể gọi là Tứ Pháp ấn, nhưng kỳ thực chỉ có Tam Pháp Ấn. Ðem "chư hành vô thường" sánh với Duy thức học, thì đó là các pháp được biến hiện bởi do sự hư vọng của tâm và tâm sở pháp. "Chư pháp vô ngã" đấy là nghĩa của nhân vô ngã, pháp vô ngã được hiển lộ do bởi nhân không và pháp không. Kinh A Hàm tuy không phân chia nhân - pháp làm hai nghĩa, nhưng thực thì kinh đã hàm cả hai nghĩa này. "hữu lậu giai khổ, Niết bàn tịch tịnh", đấy là phát huy thắng nghĩa Ðại thừa; vô trụ Niết bàn của Ðại thừa được khai xuất từ Niết bàn tịch tịnh.

2. Uẩn Xứ Giới là căn nguyên Duy thức:

Ðể giải thích ý nghĩa Tam pháp ấn, thánh điển A Hàm có ngũ uẩn, thập nhị xứ, thâp bát giới. Ðạo lý của pháp tướng Duy thức tựu trung cũng kiến lập trên đạo lý này.

3. Duy tâm luận trong bốn bộ kinh A Hàm:

Chẳng hạn như thuyết sinh tử luân hồi, thuyết nghiệp cảm duyên khởi, tất cả đều lấy tâm làm chủ thể tạo tác.

4. Công dụng của Duy thức học là xiển dương và giải thích kinh A Hàm:

Luận Bách pháp giải thích cái nghĩa "chư pháp vô ngã" của kinh A Hàm; Ngũ Uẩn luận là giải rõ cái nghĩa ngũ uẩn trong kinh A Hàm; Ðại thừa Tập Luận và Nhiếp Trạch phần, Bản Ðịa phần hai quyển sau, Nhiếp Dị Môn Phần và Nhiếp Sự Phần v.v... hai mươi quyển của luận Du Già Sư Ðịa, đại bộ phận là để giải thích những ý trong kinh Tạp A Hàm.

- Thế Thân và các trước tác của ông.

Thế thân còn có tên là pháp sư Bà Tẩu Ðàn Ðậu, ông là hậu duệ của ngài Vô Trước. Niên đại ông sống ước khoảng từ năm 320 đến năm 400 tây lịch, theo những ghi chú trong bộ "Thế thân Truyện". Thì ban đầu ông giả vờ như mắc chứng phong cuồng để lén vào nước Kế Tân và học Hữu Bộ Luận, trong mười hai năm với một số lần nghe luận Ðại Tỳ Bà Sa. Sau khi nắm rõ văn nghĩa của toàn luận, ông về lại quê nhà và viết bộ luận A Tỳ Ðạt Ma Cu Xá (gọi giản gọn là luận Cu Xá) với ba mươi quyển, tuy là để thuyết minh giáo nghĩa của hữu Bộ, nhưng rất nhiều chỗ ông lại dùng giáo nghĩa của Kinh Bộ để bổ sung cho giáo nghĩa Hữu Bộ. Ðiều này đã giới thiệu sơ lược ở chương sáu của sách này.

Khi chưa đi vào Ðại thừa Phật giáo, có thuyết nói Thế Thân viết rất nhiều bộ luận mang dấu ấn Tiểu thừa, mà luận Cu Xá là tác phẩm đại biểu trong số các luận của ông, đồng thời ông còn viết Thất Thập Chơn Thực Luận rất nổi tiếng. Thế Thân dùng luận này công phá bộ luận "Tăng Phật Luận" của phái Số Luận ngoại đạo. Nhân đấy ông được vị quốc vương nước A Du Xà (Ayodhyà - còn dịch âm Hán là A Thâu Ðà) tên là Tất Kha La Ma A Dật Ða (Vikramàditya) thường cho Tam lạc sa kim. Thế Thân chia số vàng thưởng làm ba phần, mỗi phần được dùng để xây một ngôi chùa. Sau đó, ông nhận sự quy y của vua Bà La Dật Ðể Dã (Bàlàdiya - Tân Nhật); nhà vua cũng lệnh cho thái tử của mình qui y với Thế Thân, và có nhiều vương phi xin xuất gia làm đệ tử ông. Về sau, khi thái tử lên nối ngôi, nhà vua cùng mẫu hậu đồng mới thỉnh Thế Thân lưu ngụ lại nước A Du Xà.

Lúc tuổi về già, Ngài Vô Trước cứ ngại là Thế Thân mãi lo học Tiểu thừa để phá Ðại thừa, nên lòng không yên, Vô Trước bèn sai người đến từ nước Phú Lâu Sa Phu La (nghĩa là Trượng Phu thành) ở bắc Ấn Ðộ đi đến nước A Thầu Xà để mời Thế Thân hồi hương, và nói với Thế Thân là ông đang bệnh nặng. Sau khi anh em gặp nhau Vô Trước nói với Thế Thân: "Anh đang mang bệnh nặng, em vẫn sống khỏe, em không tin Ðại thừa lại thường sinh tâm bài báng, gây ác nghiệp, như thế em sẽ vinh viễn chìm sâu vào đường ác". Nhân đấy, Thế Thân bỏ Tiểu thừa qui về Ðại thừa. Sau này khi Vô Trước Viên tịch, Thế Thân viết rất nhiều bộ luận Ðại thừa để giải thích các kinh như Hoa Nghiêm Kinh, NIết Bàn Kinh, Pháp Hoa Kinh, Bát Nhã Kinh, Duy Ma Kinh, Thắng Man Kinh v.v.. Lại nữa, ông là người tạo Duy Thức Luận" và nhiều luận Ðại thừa khác. Năm tám mươi tuổi ông thị tịch tại nước A Thầu Xà. Ðể nói về ông có lời bình rằng: "ông tuy sinh ở cõi phàm, nhưng lý thực khó nghĩ bàn". Trên đây là tham khảo bộ "Bà Tẩu Bàn Ðậu Pháp Sư Truyện[8].

Theo bộ "Phật Giáo Sử" của Bổ Ðốn - người Tây Tạng, thì Thế Thân ở nơi Vô Trước mà thấu hiểu Thập Ðịa Kinh và A Sai Mạt Kinh, rồi mới qui hướng Ðại thừa. Sau đó ông đến Ni Bạc Nhĩ để giáo hóa phá giới tăng là Tân Ðà (Handa). Cũng theo Bổ Ðốn, Thế Thân đã từng nghiên cứu Thập Vạn Tụng Bát Nhã.

Thế Thân là người trước tác hết sức phong phú. Truyền thuyết kể rằng ông sáng tác đến năm trăm bộ luận. Tiểu thừa, và năm trăm bộ luận Ðại thừa. Do đó, ông được người đời tôn xưng là "Thiên bộ luận sư". Số luận thư của ông hiện còn lưu truyền. Theo Nhật Bản Ðại Chánh Tân Tu Tạng có hai mươi bảy bộ. Tây Tạng Ðại Tạng Kinh cho là có ba mươi bộ. Trong số các luận thư này có mười một bộ trọng yếu. Xin liệt kê như sau:

1. Luận A Tỳ Ðàm Cu Xá - Ba mươi quyển. Bản Hán dịch của Huyền Trang. Chơn Ðế biệt dịch ra Hán văn với tên gọi A Tỳ Ðạt Ma Cu Xá Thích Luận - hai mươi hai quyển. 2. Duy thức Tam Thập Tụng - một quyển. Ðược Huyền Trang dịch ra Hán văn. 3. Duy Thức Nhị Thập Tụng - một quyển. Bản Hán dịch là của Huyền Trang, Chơn Ðế biệt dịch ra Hán văn với tựa luận là Ðại thừa Duy Thức Luận - một quyển, và Bát Nhã Lưu Chi cũng dịch ra Hán văn với tựa đề Duy Thức Luận - một quyển. 4. Phật Tánh Luận - bốn quyển. Bản Hán dịch của Chơn Ðế. 5. Nhiếp Ðại Thừa Thích Luận - mười quyển. Bản Hán dịch là của Huyền Trang. Chơn Ðế biệt dịch ra Hán văn với tựa đề Nhiếp Ðại Thừa Thích - mười lăm quyển. Bản Hán dịch của Ðạt Ma Cấp Ða cũng với tựa Nhiếp Ðại thừa Luận Thích - mười quyển. 6. Biện Trung Biên Luận - ba quyển. Bản Hán dịch là của Huyền Trang, riêng Chơn đế dịch với tựa đề Trung Biên Phân Biệt Luận - hai quyển. 7. Thập Ðịa Kinh Luận - mười hai quyển. Bản dịch Hán văn của Bồ Ðề Lưu Chi. 8. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Bà Ðề Xá - hai quyển. Do Bồ Ðề Lưu Chi cùng Ðàm Lâm v.v... dịch ra Hán văn. 9. Niết Bàn Kinh Bản Hữu Kim Vô Kệ Luận - một quyển. Bản Hán dịch của Chơn Ðế. 10. Niết Bàn Luận - một quyển. Bản Hán văn là của Ðạt Ma Bồ Ðề.

Ngoài những luận thư vừa nêu. Thế Thân còn sáng tác nhiều luận thư khác như: Ngũ Uẩn Luận, Bách Pháp Minh Môn Luận, Thắng Tư Duy Phạm Thiên Sở Vấn Kinh Luận, Như Thật Luận, Kim Cang Bát Nhã Luận v.v...

- Tư tưởng Thế Thân.

Ma Ha Chỉ Quán, quyển thứ bảy xưng tán Long Thọ là vị "Tác Thiên Bộ Luận"; trong khi Bách Luận Tự Sớ thì ca tụng Thế Thân là "Thiên Bộ Luận Chủ". Về mặt lịch sử của Phật giáo Ấn Ðộ, thì đây là hai vị "cự nhân". Chính xác là hai vị có nhiều chỗ giống nhau thứ nhất; từng trải rất rộng, đó là điểm giống nhau thứ hai, và giống nhau ở điểm thứ ba là tư tưởng "bàng tạp" (trước khác sau). Còn như luận đến những vị tập đại thành Ðại thừa Phật giáo, thì Thế Thân sánh với Long Thọ càng có phần tương đương. So sánh như thế không có gì là sai! Thiết tưởng nếu muốn chỉnh lý tư tưởng của Thế Thân thành một hệ thống nhất quán không phải là việc dễ làm.

Thế Thân người có hai lập trường cả về Tiểu thừa lẫn Ðại thừa. Riêng phạm vi Ðại thừa, lại phải chia ra nhiều lập trường khác nhau. Thế Thân đối với các kinh như: Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Niết bàn, Bát Nhã, Duy Ma, A Di Ðà v.v.. ông đều có sự chú thích. Ông cũng chú thích tư tưởng về A Lại Da và tư tưởng Như Lai Tạng; giữa A Lại Da và Như Lai tạng, ông thiên về A Lại Da. Nhưng ông không giống như Vô Trước là bởi trong các luận thư của Vô Trước, điều căn bản là Vô Trước không phát hiện ý thú Như Lai tạng, bản hữu Phật tánh, thường lạc ngã tịnh v.v... trong "Thập Ðịa Kinh Luận" và Phật Tánh Luận". Thế Thân tuyên dương rất sáng tỏ về Như Lai tạng, về bản hữu Phật tánh và thường lạc ngã tịnh. Cũng nhân điểm này mà Mộc Thôn Thái Hiền mới lấy Ðại thừa Phật giáo của Thế Thân chia làm thành hai hệ lớn.

1. Hệ Du Già Phật giáo từ Vô Trước đến Thế Thân.

2. Hệ Như Lai Tạng Phật giáo là từ "Như Lai Tạng Kinh" đến Thế Thân. Nếu đem hai hệ này đối chiếu với những dịch giả dịch các luận thư của Thế Thân ra Hán ngữ; lập trường của Bồ Ðề Lưu Chi, Bát Nhã Lưu Chi, Chơn Ðế v.v... thuộc hệ Như Lai tạng.

- Duy Thức Tam Thập Luận.

Hiện tại xin thảo luận việc Thế Thân tiếp nối tư tưởng Vô Trước đấy là lập trường về Duy Thức Nhị Thập Luận và Duy Thức Tam Thập Luận (còn gọi là Duy Thức Tam Thập Tụng), có thể nói là tác phẩm đại biểu cho môn Duy thức học của Thế Thân. Ông tuy là người sáng tác Duy Thức Tam Thập Tụng, nhưng ông chưa tự mình viết lời giải thích cho bộ luận này. Mãi về sau mới được mười vị đại luận sư viết lời giải thích cho bộ luận tụng này. Luận Thành Duy Thức của Trung Quốc sở dĩ thành tựu là do ngài Khuy Cơ thỉnh cầu ngài Huyền Trang tổng hợp những thích luận của mười vị đại luận sư về bộ Duy Thức Tam Thập Tụng. Trên thực tế, thầy của Huyền Trang là Giới Hiền; Giới HIền là học giả của hệ ngài Hộ Pháp. Cho nên nội dung luận Thành Duy Thức đều lấy kiến giải của Hộ Pháp làm chuẩn. Và như vậy, không thể nói nội dung luận Thành Duy Thức là tư tưởng của Thế Thân, cũng không thể nói nó là dại biểu cho tư tưởng của mười vị đại luận sư. Dù gì đi nữa, thì Duy Thức Tam Thập Tụng, về mặt hình thức đến tư tưởng Thế Thân mới tròn đủ.

1. Duy thức tướng, gồm hai mươi mốt bài tụng đầu. Duy thức tướng thuyết minh cho hiện tượng của vũ trụ vạn hữu. 2. Duy thức tánh, ấy là bài tụng thứ hai mươi lăm. Bài này thuyết minh cho tất cả lý tánh (bản thể của sự tướng). 3. Duy thức vị gồm năm bài tụng cuối, năm bài tụng này trình bày các quả vị tu chứng theo trình tự khác nhau. Trong ba cương mục trên, thì Duy thức tướng là cương mục quan trọng nhất, chủ yếu của Duy thức tướng là giải rõ ba tướng năng biến của thức.

Căn cứ vào câu tụng bằng Phạn ngữ được dịch ra Hán văn: "Giả thuyết chủng chủng ngã cập pháp, thị do thức chuyển biến cố hữu" (vì là giả phải nói những tướng ngã, tướng pháp, tất cả đều do sự chuyển biến (khởi niệm) của thức cho là có). Câu tụng này khi dịch sang Hán văn là "Do giả thuyết ngã pháp, hữu chủng chủng tướng chuyển, bỉ y thức sở biến[9]. Cả hai lối trình bày trên đều nói về hiện giới của vũ trụ vạn hữu, rằng tất cả đều là sự chuyển biến (sinh khởi ý niệm) của thức mà xuất hiện. Tướng năng biến của thức co ba chủng loại:

1. Dị thục năng biến - đệ bát thức A Lại Da. 2. Tư lương năng biến - Ðệ thất thức Mạt Na. 3. Liễu biệt năng biến - nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý tiền lục thức.

Theo Duy thức học thì tất cả vạn pháp đều do sự biến hiện của tám thức. Nói cách khác, công dụng của tám thức là có khả năng biến hiện tất cả vạn pháp. Do đó cho nên gọi tám thức là năng biến thức, và tám thức được chia thành ba loại, nên gọi là tam năng biến. Ý của Dị thục là chỉ giữa nhân và quả có sự bất đồng về thời gian, bất đồng về tính chất, chẳng hạn trên cây đào nảy ra nhánh, hoa. Và tương lai hoa sẽ kết thành quả và chín. Như thế gọi là "di thời nhi thục":, tức chỉ thời gian giữa hoa và quả chín là có khác nhau; mùi vị của quả chín hoàn toàn khác với cây đào ban đầu, mùi vị ấy cũng chẳng giống mùi vị của hoa đào, như thế gọi là "dị loại nhi thục", tức chỉ tính chất có sự khác nhau. Thức A Lại Da là chủ thể của sinh tử, tử sinh của chúng sinh, thức A Lại Da có khả năng khởi tất cả các pháp, do đó nên gọi thức này là Nhất thiết chủng tử thức, do thức A Lại Da mà triển khai ra "căn thân" (nhân sinh giới) và "khí thế gian" (vật chất giới).

Thức A Lại Da thường tương ứng (khế hợp) với năm tâm sở biến hành (hoạt động tâm lý) là xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư; tâm sở ảnh hưởng đến sự biến đổi về chất của thức A Lại Da, tức nội dung của thức Nhất thiết chủng tử là niệm niệm sinh diệt, tình hình chuyển biến sinh diệt này luôn diễn ra giống như thác nước đổ ào ào trông như tấm vải bố trắng treo lơ lửng không bị cắt đứt đoạn, nghiên cứu kỷ, thì tướng chuyển biến hoán đổi của thức chủng dù trong một sát na cũng không ngưng nghỉ. Khi tâm sở ảnh hưởng đến thức thứ tám, thì ảnh hưởng đó trở thành chủng tử của thức (nhân), khi chủng tử chuyển biến thành hiện tượng, thì đó là lúc chủng tử hiện khởi thành hiện hành (quả). Mối quan hệ nhân - quả diễn ra trong trạng thái Dị thời nhi thục và dị loại nhi thục. Do đó, thức thứ tám còn có tên là Dị thục năng biến thức.

Ý của danh từ Tư Lương là tự lự, suy lường. Nghĩa là thức thứ bảy thường luôn tư lương về thức thứ tám, vin vào sự tư lướng ấy mà chấp cho đó là Ngã. Thức thứ bảy y vào thức thứ tám, duyên lấy thức thứ tám, chấp trì (nắm giữ) thức thứ tám làm Ngã, vì vậy mới sinh ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái. Do đó, thức này còn được gọi là Tư lương năng biến thức.

Tiền lục thức lấy ý thức làm chủ và rồi mỗi thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân thức) nương theo cảnh tượng thô thiển (rõ ràng cụ thể) mà nhận biết, phân biệt. Do đó, ý thức được gọi là Liễu biệt cảnh thức. Ðệ lục ý thức thống nhất với tiền ngũ thức, và tương ưng với rất nhiều tâm sở. Chẳng hạn những hoạt động tâm lý được hiện khởi thường ngày là phạm vi của thức Liễu biệt cảnh, do đó nên gọi thức này là Liễu biệt năng biến thức.

Như vậy, rõ ràng là tất cả hiện tượng giới đều do sự chuyển biến, phân biệt của tám thức mà sinh khởi, bởi trên thực tế không thực có hiện tượng giới nào cả. Do đó, theo Duy Thức học: tất cả các pháp đều do thức hiện khởi. Tức cũng lấy ba loại phân biệt thức làm gốc cho những biến hiện của Duy thức học.

Tiết 3
CÁC LUẬN SƯ SAU THẾ THÂN

Ðại thừa Khởi Tín Luận, sau đó là Thế Thân thì Ðại thừa Phật giáo Ấn Ðộ tiến vào thời hậu kỳ. Như chúng ta biết, trong tư tưởng của Thế Thân có lập trường của một hệ Như Lai tạng duyên khởi; tuy nhiên, tác phẩm "Phật Tánh Luận" của Thế Thân về phương diện nào đó nó vẫn chưa đạt đến trình độ đủ chín. Ðến thế kỷ thứ năm tây lịch, các bộ luận của Kiên Huệ như: Cứu Cánh Nhất Thừa Bảo Tánh Luận, Ðại Thừa Pháp Giới Vô Sai Biệt Luận, lại lấy luận Ðại thừa Khởi Tín mà phát triển mở rộng ra. Luận Ðại Thừa Khởi Tín xét về góc độ lịch sử tư tưởng, thì gần đây có người cho rằng tác phẩm này của Mã Minh có khả năng là do đệ tử của Thế Thân hoặc người đồng thời với An Huệ viết ra. Do đó, xin giới thiệu những luận sư sau Thế Thân.

Luận Ðại Thừa Khởi Tín rất được các nhà như: Thiên Ðài, Hiền Thủ, Thiền Tông của Tung Quốc rất mực sùng tín. Có thể nói đây là bộ luận điển quan trọng trong truyền thống Phật giáo Tung Quốc, nó được coi là luận thư khái quát của Phật giáo. Nhưng theo học giả Lương Khải Siêu, ông căn cứ những chứng cứ lịch sử của Vọng Nguyệt Tín Hạnh - người Nhật Bản, cho rằng Luận Ðại Thừa Khởi Tín là do người Tung Quốc sáng tác, và xiển dương nó, và cho nó là sản vật trí tuệ tối cao của nhân loại. Lại nữa, có Âu Dương Cánh Vô Sư Tư của nội học viện Chi Na, ông này căn cứ lập trường Duy thức học để khởi xướng luận này chứ không bài xích. Còn Vương Ân Dương thì nói mang tính ganh ghét "Lương Trần là con nít, không biết biến kế là gì" mà viết, lại nói: "lập lờ, nônn cạn, san lấp hết huệ mạng", rồi ông tiến đến khẳng định là "luận không phải của Phật giáo".

Trước giờ người luôn bảo hộ và duy trì bộ luận Ðại Khởi Tín là đại sư Thái Hư. Văn tự về cuộc luận chiến này có thể tham khảo sách "Ðại Thừa Khởi Tín Luận Chơn Ngụy Biện". Pháp sư Ấn Thuận cũng có ý kiến về vấn dề này, xin đọc cuốn Ðại Thừa Khởi Tín Luận Giảng Ký của ông. Trong đó ông viết mang tính "huyền luận" nhiều hơn.

Bất luận là gì đi nữa, thì Luận Ðại Thừa Khởi Tín vẫn có địa vị đặc biệt độc đáo, cũng như không thể phủ nhận giá trị của nó được. Ở đây xin miễn bàn luận vấn đề chơn giả, và xuất xứ, chỉ mong giới thiệu đại lược về nội dung của Luận.

Khởi đi từ tịnh tâm duyên khởi của kinh Pháp Hoa đến thuyết Như Lai tạng của Như Lai Tạng Kinh, rồi kế tiếp là thuyết "Nhất tâm nhị môn" của luận này, thì quán Như Lai tạng duyên khởi mới đạt đến viên thục ( tròn đầy cả về lý - sự).

Luận này lấy "pháp" làm "tâm chúng sinh". Pháp ở đây là Ðại thừa pháp, còn tâm chúng sinh là Như Lai tạng; nói cách khác, Như Lai tạng ấy là Ðại thừa pháp. Tâm chúng sinh chất chứa tất cả pháp. Do đó, nên gọi là "nhất tâm"; như nhất tâm này hướng về thanh tịnh giới, quang minh giới, ngộ giới, thì đấy là chơn như môn; còn như nhất tâm này hướng về tạp nhiễm giới, vô minh giới, mê giới, thì đấy là sinh diệt môn. Chơn như môn thì đó là tự tánh thanh tịnh tâm, sinh diệt môn thì đó là tạp nhiễm hư vọng tâm. Do vô minh mơi dẫn đến hư vọng sinh diệt, do hiện thực là hư vọng sinh diệt nên mới hướng thượng tu tập, tức mong muốn có thể đi dến quả vị cứu cánh, gọi là "nhất tâm pháp giới". Ba phương diện nhất tâm pháp giới là:Bản thể, Công năng và Tác dụng, cũng gọi là Tam đại:

1. Thể đại (bản thể) tức chân như thực tánh bất sinh, bất diệt, bất cấu, bất giảm. 2. Tướng đại (công năng), tức chơn như có bao đức hàm tướng vô hạn. 3. Ðại dụng (tác dụng), tức khả năng sinh ra tất cả thiện pháp hữu hâu, vô lậu của thế gian và xuất thế gian. Nhất tâm, nhị môn và tam đại, là ba cương lĩnh cốt yếu của Luận Ðại Thừa Khởi Tín.

Chơn như, người xưa coi đó là mệnh danh cho bản thể vũ trụ. Chơn như là thực tại sau khi tâm đã xa lìa tất cả mọi vọng niệm, khi ấy với tất cả pháp không pháp nào không là chân như. Với chân như, Luận Ðại Thừa Khởi Tín có sự giới biệt, tức phân ra thành Ly ngôn chân như, Y ngôn chân như, Không chân như và Bất không chân như. Ðiểm trước mắt là Bất không chân như hàm chứa vô lượng công đức; tựu trung ấy là Nhất tâm của thường lạc ngã tịnh, và là mục tiêu để chúng ta tu học Phật pháp. Nhưng "Nhất tâm" này tất cả chúng sinh vốn có đủ, khi ngộ nhâp liền thấy chân như tâm vốn tự tánh thanh tịnh.

Sinh diệt ấy là do tâm của chúng sinh chạy theo thế giới hiện tượng. Hiện tượng giới đối lập với chân như, nên gọi sự thanh tịnh của Như Lai tạng là chân như, trạng thái tối sơ của "bất sinh bất diệt" hay "sinh tử hòa hiệp" là thức A Lê Da (tân dịch là A Lại Da thức). Dựa vào thức A Lại Da mà có vô minh, dựa vào căn bản vô minh mà có chi mạt vô minh, tướng trạng của vô minh tức là hoạt động của tâm. luận này lấy sự lưu chuyển của vô minh lập ra thuyết "Tam tế lục thô". Gọi là Tam tế lục thô là vì nó bao qút trình tự hoạt động của chín thứ tâm thuộc sinh diệt môn, gọi là "cửu tướng", cửu tướng này nội dung của nó hàm nhiếp mười hai duyên khởi, đây cũng là cách giải thích mới lạ đặc biệt về mười hai duyên khởi. Mười hai duyên khởi chẳng qua là ngoại tại, là nói rõ thân này lưu chuyển theo trình tự thuận. Cửu tướng của luận này là chuyên về nội bộ, là nói rõ trình tự luận của nhất tâm nó biến hóa và hành trạng ra làm sao. Còn về khai triển theo thứ lớp của tâm thức chúng sinh mà nói, thì phân thành: tâm, ý, ý thức. Nói về hoặc chướng của tâm chúng sinh, thì lại phân ra vô minh và nhiễm tâm.

Tóm lại, chỗ cường điệu của luận này là nhất tâm. "Tâm" này đem sánh với "Thức" của nhà Duy thức lại khiên cưỡng hơn, vì cho rằng "mê ngộ bất ly nhất tâm" (mê ngộ không lìa một tâm), và Ðại thừa pháp tức là tâm chúng sinh. Nói cách khác, tin Phật, học Phật, thành Phật, tất cả đều xuất từ đức tin của tâm chúng ta, vào sự học tập của tâm chúng ta, và vào sự thành tựu của chính tự tâm của chúng ta; thế giới hiện tượng mà chúng ta tiếp xúc là do tự tâm của chúng ta tạo thành, "bản thể giới" của chúng ta cũng do tự tâm của chúng ta khai phát. Vì thế, về mặt triết học, Luận Ðại Thừa Khởi Tín thuộc duy tâm luận tuyệt đối.

Kinh Hoa Nghiêm khai mở tịnh tâm duyên khởi, được ví như là hoa, Luận Ðại Thừa Khởi Tín sau cùng kết thành, được coi là quả; truyền thống Phật giáo của Tung Quốc dựa vào đó tạo cho mình một lối đi riêng, cho nên không lấy gì lạ khi biết Luận Ðại Thừa Khởi Tín đối với Phật giáo Tung Quốc là vô cùng quan yếu.

- Hai hệ phái lớn.

Hệ phái Long Thọ sau trở thành phái Trung Quán, đến thời của Phật Hộ, Thanh Biện mới phân làm ba dòng lớn và chia thành hai phái. Cơ hồ cũng trong cùng thời đại, phái Du Già sau Thế Thân cũng phân thành hệ vô tướng Duy thức của An Huệ, và hệ hữu tướng Duy Thức của Trần Na. Tình hình này đại loại như biểu đồ sau (trong biểu đồ này có thêm niên đại của các luận sư, và đều dùng tây lịch, đồng thời dấy cũng là đại thể chứ ko hẳn là xác định):

Từ sau Thế Thân, là những vị viết giải thích cho "Duy Thức Tam Thập Tụng", những vị này thường được xưng tụng là "Thập đại luận sư". Và giữa họ lại tạo ra cuộc tranh luận hữu - không với phái Trung quán, nhân đấy mới có chuyện người này hoặc nhóm này là của hệ người này hoặc của hệ nhóm này, Ðại thừa Phật giáo ở thời văn kỳ, xuất hiện cảnh tượng có cả trăm luận sư tranh luận nhau rất "ồn ào".

Hệ vô tướng Du thức của An Huệ kéo dìa dến Ðiều Phục Thiên, gây ảnh hưởng đến Sư Tử Hiền thuộc phái Trung Quán Kinh Lượng; trong khi đó hệ Hữu tướng Duy Thức của Trần Na kéo dài đến thời Giới Hiền, gây ảnh hưởng đến Tịch Hộ thuộc phái Du Già Trung Quán Tự Lập. Chung cuộc cả hai dòng không, hữu đều bị Mật giáo nhiếp thọ, và tự đánh mất lập trường nguyên ủy của mình; việc này xảy ra vào thế kỷ thứ VII thứ VIII tây lịch.

Ðược xưng tụng là Thập đại luận sư, theo cuốn "Duy Thức Sử Quan Cập Kỳ Triết Học" của pháp sư Pháp Chiên, thiên thứ nhất, chương năm, tiết bốn có giới thiệu mười một vị luận sư sau Thế Thân đó là: Trần na, Ðức Huệ, An Huệ, Hộ Pháp, Nan Ðà, Tịnh Nguyệt, Thân Thắng, Hỏa Biện, Thắng hữu, Tối Thắng Tử và Trí Nguyệt. Trong đó ngoài Trần Na, số còn lại thường được xưng tụng là Thập Ðại Luận Sư là những vị viết giải thích cho Duy Thức Tam Thập Luận.

Những vị vừa nêu trên, thì Trần Na, An Huệ và Ðức Huệ là đệ tử của Thế Thân (có người cho rằng Ðức Huệ sau thuộc hệ An Huệ). Nan Ðà sau cùng thuộc hệ Thế Thân. Ông là người đề xướng thuyết tân huân chủng tử, khác với thuyết bản hữu chủng tử của người xưa, và Nan Ðà cũng tự mình lập một phái riêng, còn Thân Thắng và Hỏa Biện là người cùng với thế Thân. Hỏa Biện là một cư sĩ tại gia, Thắng Hữu, Tối Thẳng Tử, và Nguyệt Trí đều là đệ tử hộ pháp, đại bộ phận những vị trên xuất hiện từ năm 561 đến năm 634 tây lịch.

- Trần Na.

Trần Na (Dignàga - Ðại Vức Long) người nam Ấn Ðộ, buổi đầu ông xuất gia với Ðộc Tử Bộ thuộc Tiểu thừa, về sau ông theo Thế Thân học Duy thức và Nhân minh, những trước tác của ông gồm có:

Tập Lượng Luận, Quán Sở Duyên Duyên Luận, Chướng Trung Luận, Nhập Du Già Kinh, Cu Xá Luận Chú Yếu Nghĩa Ðăng, Nhân Minh Chánh Lý Môn Luận v.v...

Về Duy thức học, trong bộ "Quán Sở Duyên Luận" ông thành lập nghĩa về căn trần Duy thức, còn trong bộ "Tập Lượng Luận", ông thành lập nghĩa của tâm thể với ba phần là: Tướng phần, Kiến phần và Tự chứng phần. Thuyết về tâm thể ba phần của ông tạo ảnh hưởng cực kỳ lớn đối với hậu nhân. Người dời thường gọi "An, Nan, Trần, Hộ, là một, hai, ba, bốn", tựu trung là ca tung bốn vị luận sư về quan điểm phân tích của họ đối với tâm thể. An Huệ chủ trương Thuyết nhất phần - đó là Tự chứng phần, Nan Ðà chủ trương thuyết nhị phần - đó là Tướng phần và Kiến phần, Hộ Pháp chủ trương thuyết tứ phần, đó là Tướng phần, Kiến phần, Tự chứng phần và Chứng tự chứng phần.

Trần Na, là người thành tựu về môn học Nhân Minh, còn về Duy thức học, ông viết trong các bộ Tập Lượng Luận, (bản dịch của Tây Tạng) và Nhân Minh Chánh Lý Môn Luận, ông cải cách cựu Nhân Minh của Ấn Ðộ, và tập đại thành môn luận lý học cho Ấn Ðộ đương thời. Quan trọng hơn, bộ Tập Lượng Luận của ông không chỉ có giá trị cực lớn đối với Phật giáo, mà còn có địa vị cực cao về mặt triết học sử của Ấn Ðộ.

Nhân Minh, trước hết nó là tên gọi được dùng để chỉ phương pháp biện luận, phương pháp này xuất hiện đầu tiên trong Áo Nghĩa Thư (Upanishad). Lại nữa, gốc gác của môn học này được phái Thắng Luận ngoại đạo và phái Ni Dạ Da (Chánh Lý) sử dụng để "cứu lý trước danh" (nghiên cứu lý luận qua cách dùng danh ngôn). Truyền thuyết kể rằng Túc Mục của phái Ni Dạ Da là người sáng tạo môn học này. Kinh Chánh Lý của phái Ni Dạ Da, trong đó thiết lập mười hai cú nghĩa như"lượng" v.v... và xuất hiện vào thế kỷ thứ II, thứ III tây lịch.

Phương pháp luận của Phật giáo, ngày lúc khởi đầu đã sử dụng đến ý nghĩa "lượng" của phái ni Dạ Da còn gọi là phái Chánh Lý. Sau đó lược bỏ hoặc cải sửa thêm. Ðến thời đại của vương triều Cấp Ða, hằng trăm nhà nổi lên tranh luận về lý nghĩa "trường đoản đắc thất". Ai không khéo dùng kỹ thuật luận lý một cách hợp lý và linh hoạt thì khó có thẻ thủ thắng. Vì vậy, các vị luận sư Phật giáo, ít ai lại không nghiên cứu sâu sát về phương pháp luận lý này. Hễ ai đứng vững giữa luận trường, người đó trở thành "nhất gia", và được gọi là Nhân Minh. Ðối với Nhân Minh học, ngài Thế Thân có sáng tác: luận quỹ, luận thức và luận tâm, tiếc là các sách này hiện không thấy lưu truyền.

Trong các trước thuật của Trần Na đều có liên quan đến Nhân Minh, kể có đến tám bộ luận, nhưng bộ Nhân Minh Chánh Lý Môn Luận và bộ Tập Lượng Luận là nổi tiếng hơn cả. Bộ trước thì "lập phá chân thực", lấy việc sử dụng luận thức chính xác để làm sáng tỏ vấn đề. Bộ sau thì "thích thánh lượng nghĩa", tức sử dụng tri thức chính xác để làm tỏ vấn đề. Bộ sau thì "thích thánh lượng nghĩa", tức sử dụng tri thức chính xác để soi xét mọi nghĩa lý. Mtọ bên thiên về "ngộ tha", một bên nghiêng về "tự ngộ". Luận thức của Trần Na lấy tông và chi mà cả luận chủ và địch luận cũng tranh luận làm "sở thành lập", lấy "nhân dụ" mà luận chủ và luận địch đều công nhận làm "năng thành lập". "Nhân" là đặt nền tảng trên chí Cú nhân để lập ba tướng. Tam tướng ở đây là ba chi tác pháp của tân nhân minh, gọi là Tam tướng đó là:

1. Biến thị tông pháp tánh. 2. Ðồng phẩm địch hữu tánh. 3. Dị phẩm biến vô tánh.

"Dụ" là một phần của tam tướng nhân, tức ở hai tướng là "đồng phẩm" và "dị phẩm" mà đưa ra "đồng dụ" và "dị dụ", khiến cho tự nó và chính nó hai mặt trái ngược nhau để chứng minh sự chính xác của luận điểm được lập luận.

Nhân Minh là môn học không dễ tiếp thu, người mới học không ai là không tìm đọc cả về hai cách giảng "bát, cửu" trong bộ Tướng Tông Thập Giảng của pháp sư Từ Hàng. Thương yết la Chủ (SÙamïkarasvàmim) là người kế thừa Nhân Minh học của Trần Na. Ông có viết cuốn Nhân Minh học nhập môn với tựa là Nhân Minh Nhập Chánh Lý Luận. Sách này vẫn còn bản Phạn văn, Hán văn và Tạng văn.

Ngoài ra, môn hạ của Thế Thân và Trần Na còn có Tam Bảo Tôn, là người viết cuốn Nhất Thiết Như Lai Tạng Tán, Vô Tánh, người sau này của hệ Trần Na viết cuốn Nhiếp Ðại thừa Luận Thích. Tiếp đến là nói về Hộ Pháp.

- Hộ Pháp.

Hộ Pháp (Dharmapàla), đứng về mặt lịch sử của Phật giáo Ðại thừa Ấn Ðộ thời hậu kỳ, thì Hộ pháp là một Tuệ tinh (sao chổi) rực sáng! Ông người nước Ðại La Duy Gia thuộc nam Ấn Ðộ, ông vốn là một vưong tử cực kỳ thông tuệ; sau khi xuất gia học Phật ông được người đời xưng tụng là bậc : "học sâu như biển sâu, giảng rõ như mặt trời tỏa sáng, nội giáo thấu triệt cả Ðại - Tiểu thừa, ngôn từ luận nghĩa chân tục đều thông". Hộ Pháp là người thành danh rất sớm; ông đã từng đảm nhận chức vị trú trì chùa Na Lan Ðà ở trung Ấn Ðộ, năm hai mươi chín tuổi ông lui về ngụ tại Phật Ðà Già Da gần nơi đức Phật thành đạo. Ông tịch tại chùa Ðại Bồ Ðề năm ba mươi tuổi. (Ttheo Duy Thức Thuật Ký thì ông tịch vào năm ba mươi hai tuổi). Với học lý Duy thức, ông xiển dương và phát huy rất tinh tường. Ông viết nhiều tác phẩm như: Ðại Thừa Quảng Bách Luận Thích, Thành Duy Thức Bảo Sinh Luận, Thành Duy Thức Luận v.v... Thành Duy Thức Luận là bộ sách giải thích Duy Thức Tam Thập Tụng của Thế Thân. Bản Hán dịch luận Thành Duy Thức của Huyền Trang là y cứ vào bộ luận này, đồng thời Huyền Trang cũng có thêm sự tham khảo từ chín đại luận sư còn lại, cũng như có sự lược bỏ ít nhiều.

Hộ Pháp đứng trên lập trường của thế tục đế, và tuyên thuyết "chơn hữu tục không" của Duy thức. Ðiều đó khiến ông trở thành đối lập với "chân không tục hữu" của phái Trung Quán. Theo ông, thì Uẩn, Xứ, Giới của tất cả pháp đều là có, và ông dùng lập trường này để giải thích Duy Thức Tam Thập Tụng. Ðệ tử ông là Giới Hiền, ông này truyền xuống đệ tử người Trung Hoa là Huyền Trang. Ðến đệ tử Huyền Trang là Khuy Cơ, thì Duy Thức học tại Tung Quốc trở thành một đại học phái - Duy Thức Pháp Tướng Tông. Vì vậy, về mặt lịch sử của Duy Thức học, địa vị của Hộ Pháp chỉ đứng sau Thế Thân.

- Ðức Hụê và An Huệ.

Ðức Huệ(Gunïamati) người nam Ấn Ðộ, có người nói ông là đệ tử của Thế Thân, và lấy An Huệ làm học trò. Ông là người từng hàng phục ngoại đạo Ma Già Ðà, về sau ông đến ngụ tại chùa Na Lan Ðà, và các xứ như Phạt Lạp Tỳ v.v... Những trước tác của ông gồm có: Cu Xá Luận Thích, Tùy Tướng Luận, Duy Thức Tam Thập Luận Thích (sách này hiện không thấy, trong quá khứ Huyền Trang có đọc qua). Trong bộ Nhiếp Ðại Thừa Luận Thích của mình, ông chủ trương bản hữu chủng tử và tân Luận chủng tử hiệp làm một luận, ấy là thuyết "Bản tính trụ chủng' cùng với "Tập sở thành chủng".

- An Huệ. Ông người nước La La ở nam Ấn, ông trước tác rất nhiều, trọng yếu hơn cả là các bộ như: Biện Trung Biên Luận Sớ, Duy Thức Tam Thập Tụng Thích, Ngũ Uẩn Luận Thích, Ðại thừa A Tỳ Ðạt Ma Tạp Tập Luận, Ðại Bảo Tích Kinh Luận, Ðại Thừa Trung Quán Luận Thích, Cu Xá Luận Thực Nghĩa Số, v.v... bộ Duy Thức Tam Thập Tụng Thích của ông chưa được dịch ra Hán văn, bản Phạn văn hiện còn, và được vị bác sĩ người Pháp là Ba Lê Liệt Duy hiệu bản. Lập trường của An Huệ và Hộ pháp không giống nhau hoàn toàn, ông lấy thức A Lại Da làm trú xứ cho tất cả chủng tử tạp nhiễm pháp. Tất cả pháp lấy thức A Lại Da làm kho chứa ấy là quả, bản thân thức A Lại Da là nhân của tất cả pháp, do dó ông cho rằng tất cả pháp tức là thức A Lại Da; do thức A Lại Da này, mà sinh khởi Tư Lương Thức và Liễu Cảnh Thức, kết quả lại qui về thức A Lại Da.

Thành Duy Thức Luận Thuyết Ký[10] của Khuy Cơ, khi giới thiệu về An Huệ có đoạn viết: "diệu giải Nhân Minh, khéo đi đến tột điểm "nội luận", làm sáng cái hay của Tiểu thừa, với Ðại thừa thơm như lan huệ, thần thái chí cao, khó mà nói cho hết" một đời tông tượng đủ thấy ông là người thế nào.

 Chương XI: Vương triều Cấp Đa và Phật giáo sau vương triều này

___________
Chú thích:
[1] Ðại Chánh Tạng-54, cuối trang 205. [2] Ðại Chánh Tạng-50, giữa trang 188, Bà Tẩu Bàn Ðậu - Vasubandhu - Thế Thân hoặc Thiên Thân. [3] Long Sơn Chơn Thường-Ấn Ðộ Phật Giáo Sử, dãn từ chương năm. [4] Chương 4, trong bộ Ấn Ðộ Chi Phật Giáo, của pháp sư Ấn Thuận. [5] Mộc Thôn Thái Hiền - Ðại Thừa Phật giáo Tư Tưởng Luận. Thiên I, chương 5, tiết I. [6] Thù thắng: (thuật ngữ) vật siêu tuyệt hơn hết ở đời gọi là thù thắng. Từ Ðiển Phật học, xuất bản khoa học xã hội Hà Nội. [7] Tướng: ở đây là một hình thái tri thức, nhận thức. [8] Ðại Chánh tạng-50, từ trang 190-191 [9] Ðại Chánh Tạng-31, đầu trang 60. [10] Ðại Chánh tạng-43, cuối trang 231.

Về Menu

chương x: phật giáo đại thừa hệ vô trước chuong x phat giao dai thua he vo truoc tin tuc phat giao hoc phat phat phap thien phat giao

va nền Ngày cuối năm kinh bat nha hon nhan ngheo co hanh phuc Thiền minh sát trong ứng dụng trá Ăn uống giải cảm Bí quyết làm sinh tố ngon Các loại đậu không phải là thực 5 thuoc do can ban ve phuong phap luan phat giao KINH DIEU PHAP bai kinh ve nam la simsapa hoa thuongj thich tam hoan 1924 lang nghe con nguyên tắc của hòa bình là ứng xử tai sao trong dao phat de cap den vo nga treo comungphat dan nhung uoc mo da gia trong hoai Giổ Tổ khai sơn tổ đình Sắc tứ Tịnh Khắc khoải hoa ban trắng mười nghiệp lành tuong lai chua den tinh xa ngoc quang bon phap hanh tao niem vui hanh phuc chùa thiền quang thì nghiệp quả sẽ ra sao tinh thuong va su chuyen hoa khi chấp tác hay làm phật sự có phải 2 hoẠphu nguồn gốc phật giáo của mô típ tái Yêu có duyên với phật tầm quan trọng của chánh ngữ trong đời Ngẫu nhiên hay mầu nhiệm Bò bía chay cho ngày mưa Mùa hoa cà phê 7 công dụng tuyệt vời của tỏi với tình yêu thương của ba mẹ dành cho con HoẠBất ổn về giấc ngủ ở thai phụ và chùa xuân lũng với những tuyệt tác hàng mạt phân con goi la phat tich lan thực Nhận biết tình trạng sức khỏe qua làn Phụ nữ mang thai nên vận động 20 30 nguyen ly hoa binh trong phat giao dai thua