Ngoài công trị thủy và giúp Hùng Vương kéo dài thời gian giữ ngôi báu, Đổng Vĩnh đại vương còn đi tiếp con đường trọn vẹn của Thánh Dóng, quay về làm trọn đạo hiếu với mẹ sau khi đã hoàn thành việc lớn. Sau đây là bản dịch “Phần IV: Đánh Thục lần 2 và tình quê hương, nghĩa đồng bào” cũng là phần cuối của bản Ngọc phả này.

Tư liệu đặc biệt về hậu duệ Thánh Dóng: Nối tiếp truyền thống hiếu thảo của Đức tổ Thánh Dóng

Trọn chữ hiếu (*)
Đất nước trở lại yên vui thanh bình. Khi đó Thái bà – tức mẹ sinh ông Vĩnh - do tuổi cao sức yếu mà qua đời.(1).

Dân làng miền Vĩnh Am đều tiếc thương.  Được tin mẹ mất, ông Vĩnh vô cùng đau xót. Ông xin phép nhà vua được về chịu tang mẹ. Ông về hương quán Phù Đổng trước, vì đó là nơi quê cha đất tổ, thắp hương xong đâu đấy rồi ông mới về Vĩnh Am, nơi cha mẹ ông cư trú để báo hiếu. Nhân đấy, ông đã làm một việc trọng đại: để làm tròn bổn phận của người con đối với công ơn suối nguồn của mẹ sinh thành, đồng thời là cái nghĩa cao dày sâu nặng với các cụ tiên tổ dòng họ nhà mình, ông xin nhà vua chuẩn cho hương quán Phù Đổng được công nhận là “Hộ Nhi Hương đời đời hưởng lộc”, để sau này khi ông trăm tuổi, dân làng hương hoả phụng thờ... Nhà vua chuẩn y, còn ban thưởng cho ông vàng bạc lụa là gồm hơn năm mươi cân.
 
Đền thờ Thánh Dóng

Lạy từ nhà vua, xa giá đưa ông về hương Phù Đổng trước. Đã lâu lắm, bao nhiêu năm xa cách, ông mới có ngày trở về đất tổ nhà xưa quê cũ, dân quê bà con hàng xóm láng giềng, thân bằng quyến tộc kéo đến đón chào, mừng vui xen lẫn cảm động chứa chan, chuyện trò khó dứt. Lễ tổ tiên từ đường, dâng lời kính cáo tổ tiên việc Thái bà về cõi một cách âm thầm nhanh nhẹn, rồi ông tức tốc xa giá một mạch đưa ông về Vĩnh Am. Nhân dân chòm xóm suốt rẻo sông Vĩnh Am ai nấy đều bảo nhau đến chia buồn cùng ông. Ông làm lễ chay cúng mẹ và mời tổ tiên chứng kiến, phối hưởng. Những ngày còn lại, ông bắt tay vào xây đắp đền thờ tổ gọi là Từ Vũ Vĩnh Am để tỏ lòng tận hiếu với thân mẫu và thờ vọng các cụ tiên tổ họ Đổng. Ròng rã suốt năm tháng thì công việc hoàn tất. Ông lui giá trở lại trang Lưu Khê - Thượng Giáp, nơi hành cung của ông, gọi là Hộ Nhi Gia Thần. Tại đây, ông cùng các cụ phụ lão và con cháu họ thiết lập mới một ngôi gọi là Cung Hội Đồng.
 

Chữ “Dóng” trong “Thánh Dóng” mà các tác giả dùng ở đây nhằm sửa lại sai sót cả về mặt phiên âm và ý nghĩa trong chữ “Gióng” mà dân gian vẫn dùng. “Dóng” ở đây nằm trong chữ “dóng tre”, loại cây liên quan trực tiếp đến truyền thuyết trong dân gian và cũng là giống với âm “Đổng” của âm Hán Việt.

[Thuở bấy giờ, vùng đất duyên giang châu thổ đây có mấy trang liền kề: Lưu Khê, Thượng Giáp, Vạn Nghè và Hoàng Hợp. Ba trang đều có điếm đã nêu ở trên. Trang Hoàng Hợp có điếm Hợp Long. Mỗi trang đều có ba xóm. Dân cư tựu trung gồm mười hai dòng họ, phân cư ở theo các xóm. Các bậc trưởng huynh và con em các họ tộc đều tham gia xây dựng Cung Hội Đồng, lấy đó làm nơi sinh hoạt chung của một vùng duyên giang].(2).
Ngày khánh thành Cung Hội Đồng, ông Vĩnh mở tiệc mời các cụ trong mười hai họ đến dự. Sau tiệc, ông ban thưởng hai mươi mốt tiền để các cụ chi dùng vào việc cất nơi thờ tự của dòng họ cho mai hậu. Các cụ vô cùng cảm kích ca ngợi ông có công đức lớn với dân với nước, sánh với trời cao, lại thấu tình đạt nghĩa, hiếu trung sâu tày biển cả. Ông cảm tạ mà đáp lại rằng: “Ta vốn thiên sinh phù quốc trợ dân. Thiên hạ chúng dân đều là thần tử. Ta cùng dân trang, nơi nơi cùng chung diễm hạnh thiên định nên tình nghĩa sư đệ keo sơn không hổ thẹn. Mong sao đời đời trân trọng, luôn luôn tương thân tương ái. Tình nghĩa sư đệ cũng ví như cha con, mẹ con một nhà. Còn riêng ta với Cao Sơn là đồng liêu hữu, đã cùng nhau thề ước sống chết có nhau. Cho nên, một mai vạn nhất chúng ta có mệnh hệ nào thì xin bà con các trang ấp hãy nên thờ cúng Cao Sơn phối hưởng cùng ta ở gian giữa Cung Hội Đồng để thoả lòng giữ quốc đồng hưu! Và chớ quên ta dặn một lời này: việc muôn thuở cương thường bền vững ở dân tâm”.

Nghe đến đây, tất cả các bô lão, các trưởng tộc đều cảm động nghẹn ngào. Họ cúi mình như lắng sâu vào tâm khảm lời ông dặn bảo. Trước lúc chia tay với các cụ, ông làm mấy vần thơ tặng lại như sau: “Nam thiên xứ xứ thị ngô dân / Phi thiên hữu Lưu Khê, Thượng Giáp nhân/ Giang thuỷ dương dương Cung Hội tại / Hữu thiên, hữu địa hữu ngô thân!”. Xin tạm dịch là: “Trời Nam muôn nẻo đều là dân ta cả/ Phải chi đâu chỉ riêng người làng Thượng Giáp và Lưu Khê/ Sông nước dạt dào/ Cung Hội Đồng tồn tại mãi/ Còn trời còn đất còn ta lâu dài”.

Ngày hôm sau, ông hồi giá về kinh thành Bạch Hạc, vào bái yết nhà vua. Từ đó, ông được dự vào việc triều chính trong 2 năm.
 
Hàng năm Lễ hội đền Dóng thu hút sự tham gia đông đảo của du khách thập phương.

Đánh tan Thục Phán lần hai

Thục Phán thua trận vẫn muốn ngai vàng, ngấm ngầm cầu ngoại viện bên nước láng giềng, thế là mấy trăm vạn quân nước ấy ồ ạt kéo vào dày đạp bờ cõi nước Nam. Chúng tướng hùng quân hổ, cờ xí rợp trời tối đất, gióng trống rung chiêng, gào thét vang núi, rầm rập tràn qua biên ải, đổ vào cõi ta. Từ quan ải có thư cấp báo về triều. Nhà vua già yếu, tâm nung trí nấu. Ngài lại cho triệu Tản Viên Sơn thánh, Thống chế Vĩnh Công cùng hai vị Cao Sơn và Quý Minh Đại vương vào triều với mệnh lệnh phải cấp tốc đem theo ba mươi vạn tinh binh, phiên chế chặt chẽ thành các đạo thuỷ - bộ, thượng - hạ để dẹp tan ngoại viện của Thục Phán. Y lệnh nhà vua, Tản Viên Sơn thánh và Thống chế Vĩnh Công thần tốc bất ngờ hiệp với hai cánh tả - hữu khiên là hai vị Cao Sơn – Quý Minh Đại vương đã lường trước địa điểm xung yếu mà viện binh của Thục sẽ tụ cả lại để đánh trận kết cục. Viện binh lạ thuỷ thổ, không thông tỏ hết đường đi lối lại gian hiểm của sông núi nước Nam. Thế hùng lực vững của các đạo quân của các vị thánh vương ta mạnh như vũ bão, gươm giáo sáng trời vung đến đâu, viện quân giặc tan tành như ngói vỡ. Thừa thắng dư uy, Thống chế Vĩnh Công xông thẳng vào đại bản doanh của Thục Phán mà bắt sống. Ông không giết mà dẫn tống cả bộ sậu Thục Phán về tạ tội trước nhà Vương. Tất cả các tù binh bắt được từ các đạo đều được các ông tha cho về nước làm ăn sinh sống với gia đình.

Lần thứ hai đất nước hết loạn. Các ông đều dâng biểu tấu xin với nhà vua cho được trở về quê quán an hưởng tuổi già. Nhà vua nhận được biểu, trong lòng rậng rậng những nỗi niềm đa cảm, vừa cảm ơn công lao lại vừa luyến tiếc tài năng sức lực thanh xuân của các ông, và thế là từ nay nhà vua thiếu vắng các bậc thần thánh hiền tài.
 
Thánh Dóng

Hết giặc thanh thản ra đi

Trên đường lui gót về quê quán, ông Đổng Vĩnh đi bằng đường thuỷ theo thói quen cũ, ông Cao Sơn đi bằng đường bộ như những ngày xưa. Ông Vĩnh hẹn với ông Cao nhớ vào hành cung Lưu Khê nghỉ ngơi dăm ngày. Khi thuyền rồng của ông Vĩnh vừa đậu bến Nguyệt Đức trước hành cung của ông thì cuồng phong kéo đến, sóng dậy ầm ầm, trời đất tối tăm, sấm sét liên hồi, rắn hoa, ba ba, thuồng luồng, cá ngao cá kình xuất hiện, chúng bơi lượn xung quanh thuyền rồng. Đúng vào lúc ấy, ông Đổng Vĩnh tự hoá. Vừa khi ông Cao Sơn đến nơi thì ông Đổng Vĩnh đã hoá rồi. Dân trang Lưu Khê vội mời ông Cao Sơn về biệt hành cung để nghỉ cho yên tĩnh. (Vì ngôi này dân làng xây dựng theo ý chỉ và tấm lòng mong muốn của ông Đổng Vĩnh dành riêng cho ông Cao Sơn, tách biệt hẳn với ngôi hành cung trước đó của ông Đổng Vĩnh). Những ngày nghỉ tại đây, ông Cao Sơn truyền cho dân làng sửa sang lại hành cung của ông Đổng Vĩnh và Cung Hội Đồng (Cung Hội Đồng dựng trên đất của điếm Thượng Giáp). Dân trang hành lễ từ hành cung của ông Đổng Vĩnh về Cung Hội Đồng để biểu thị lòng tiếc thương ông Đổng Vĩnh. Do đó các đời sau việc thờ phụng tưởng nhớ các ông Đổng Vĩnh và ông Cao Sơn (phối hưởng) đều theo nghi thức đã thành lệ như thế. Trong các ngày khánh tiết, ngày sinh và ngày hoá của các ngài thì tất cả các điếm sở của các trang vùng duyên giang châu thổ này đều cùng làm lễ. 

Việc hành lễ tưởng niệm ông Đổng Vĩnh làm trong một tuần nhật. Sau đó, ông Cao Sơn chia tay với dân trang để về kinh thành Bạch Hạc. Ông đem toàn bộ sự thể tâu lên nhà vua. Nhà vua vô cùng thương xót bậc lương thần từng có nhiều huân lao trọng đại đối với đất nước, đã từng dẹp tan quân Thục 2 lần, đẩy lùi nạn hồng thuỷ một lần, cứu vớt dân sinh nhà Hùng qua mấy cơn kiếp nạn ngàn cân treo sợi tóc. Vương lệnh chỉ ban cho nhân dân trang Thượng Giáp làm nghĩa ấp, trang Lưu Khê làm Hộ Nhi Hương. Triều quan bộ Lễ được cử về tận nơi trao cho các trang ấp nơi đây sắc lệnh ban phong của nhà vua. Hôm ấy nhằm ngày 25 tháng Tư âm lịch. Lệnh chỉ của nhà vua cho phép tu bổ cung miếu sở tại để thờ phụng thần, với mỹ tự phong thần là Đổng Vĩnh Đại vương linh ứng phù tộ, chuẩn cho trang Lưu Khê và trang Thượng Giáp đồng phụng sự thần. Nhà vua còn ban mũ áo cho Đại vương và ngân tiền để sửa lễ, hàng năm triều đình cử triều quan về hành tế theo nghi thức của quốc lễ gọi là Quốc tế phụng sự, để thần “Muôn đời huyết thực, hương hoả bất tuyệt, mãi mãi sống cùng đất nước”. Đồng thời nhà vua còn nêu rõ: Chuẩn cho lấy phép tắc ấy làm hằng thức duy trì thịnh vượng lâu dài về sau.
  Mô hình tượng Thánh Dóng   Đời đời hiển linh giúp dân, cứu nước
Lại nói, nước Nam đã trải bốn triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần, thần Đổng Vĩnh đều linh thiêng hiển ứng, giúp đỡ âm thầm công cuộc cứu nước cứu dân. Cho nên các triều vua này đều có bao phong mỹ tự.

Thời nhà Đinh: Đinh Tiên Hoàng đế dấy nghiệp ở động Hoa Lư, dẹp tan loạn 12 sứ quân. Thái uý Nguyễn Bặc tiến đánh thành của sứ quân Đỗ Cảnh Thạc ở huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên. Một hôm, Thái uý vừa tiến quân đến trang Lưu Khê thì thấy từ trong đền thờ Ông (nguyên văn: Ông Từ) đột ngột xuất hiện một con đại hoa xà ngũ sắc từ hậu cung trườn ra, đầu vươn cao, hai mắt mở to, phóng ra hai luồng sáng chiếu trực diện vào Thái uý. Đại hoa xà nhìn như thấu xét chỉ trong khoảnh khắc rồi lại quay đầu trườn vào trong hậu cung biến mất. Thái uý thầm nghĩ hẳn là có sự linh thiêng kỳ ứng của thần minh... bèn cho dừng quân, tự thân vào trong đền mật đảo xin thần phù hộ độ trì cho công việc dẹp loạn sứ quân được thành công. Nếu được như nguyện thì xin nhà vua ban phong mỹ tự “Thượng đẳng phúc thần” và không bao giờ quên ơn của thần, thờ cúng thần suốt đời.

 Lời khấn vừa ngưng thì hoàng thiên nổi bạo phong dữ dội, gió từng trận từng trận rít lên liên hồi, bốn bề âm vang mù mịt u huyền rất đỗi diệu kỳ. Thái uý bàng hoàng kính sợ, vội rập đầu đảnh lễ vái tạ. Ngay trong ngày hôm đó, Thái uý tiến quân đánh một trận đại chiến. Sứ quân Đỗ Cảnh Thạc tan tành. Sau khi Tiên Hoàng lên ngôi vua, ngài thống nhất thiên hạ, lập ra nhà Đinh, nhân dân nơi nơi sống yên vui. Thái uý cử tấu lên Đinh Tiên Hoàng đế, trình bày rõ việc thần thờ ở ngôi đền ông trang Lưu Khê đã âm thầm phù hộ cho việc dẹp sứ quân. Đinh Tiên Hoàng đế nghe thấu đáo, ngài bèn phong sắc ban tặng chữ báu là ‘Uy Linh Đại Vương”.

Về sau đến thời nhà Trần: Khi đức Thái Tông chinh phạt quân Nguyên, Tướng quân Tiết chế Trần triều (3 chữ bị mờ, có thể là Trần Quốc Tuấn) dẫn quân đánh giặc qua đền Ông ở trang Lưu Khê, có vào bái đảo, trận ấy giặc Nguyên bị đánh tan. Tướng quân xin đức Thái Tông ban phong cho thần chữ báu là “Thượng đẳng tối linh”.

Sang thời nhà Lê, Đức Thái Tổ dấy nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hoa (nay là Thanh Hoá). Khi ngài ra Thăng Long bình định giặc Minh, có cho quân vào mật đảo đền Ông “Thượng đẳng tối linh” xin phù hộ cho công cuộc trừ bạo ngược, cứu sinh dân thoát khỏi ngọn lửa ngoại xâm. Giặc tan, đất nước thái bình, ngài không quên sự hiển ứng âm phù của linh thần, đã truy phong bốn mỹ tự cho ông là “Vạn cổ phúc thần”. Từ đó các vua tiếp theo nhà Lê là Thái Tông, Nhân Tông, Thánh Tông đều có phong thần và bao phong mỹ tự: “Vạn cổ huyết thực hương hoả vô cùng”.

Cung Khắc Lược - Lương Văn Kế ( giađình.net)

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu. Tháng Giêng ngày mùng 10 (tức năm dương lịch 1572), Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, Bề tôi Nguyễn Bính phụng soạn. Triều vua Vĩnh Hựu năm thứ hai, Tháng 2 ngày mồng (?) (1736), Quản giám Bách thần tri điện Hùng Lĩnh Thiếu Khanh, Bề tôi Nguyễn Hiền phụng tả. (1)- Mất các chữ trong văn bản nên không rõ bà mất ngày tháng nào. (2) - Cả đoạn này trong thần phả đều viết chữ nhỏ, như là chú thích vậy. *Các tít nhỏ do Tòa soạn tự đặt.


Về Menu

Tư liệu đặc biệt về hậu duệ Thánh Dóng: Nối tiếp truyền thống hiếu thảo của Đức tổ Thánh Dóng

kiến giúp so chùa liên phái rong người thắp sáng tương lai cho trẻ em Giấc nghi ve dieu giac ngo thu nhat trong kinh bat dai vi ngoi thien de nang cao hieu qua cong viec va tang Thực phẩm nhiều năng lượng Bông cải xanh giúp phòng ngừa ung thư cam nhan ve cuoc doi cua phap su thanh nghiem qua ben Ăn chay an ủi lớn nhất của đời người là Thói C Ä Ã³n Lý Trong gió lạnh đầu mùa mở thứ ý nha Đã xác định được biến đổi gene Chùa liên trì cảnh sách Tấm Lễ giỗ Đệ nhị Tổ Trúc Lâm lần mac coi phat o dau xa ket gioi nhung net chung va khac biet cua trai dan tong thong an do keu goi quang ba nhung chan ly va chân Cải thiện và làm đẹp da bằng dầu chết và tái sinh vi sao ta cu lam moi cach de co duoc tinh yeu đạo phật bước đầu du nhập vào nhật Tưởng niệm húy nhật lần thứ 40 cố Quảng Nam Trà tỳ nhục thân cố hanh thay Lời Trà đối tam tu bi cua bo lịch Công dụng tuyệt vời của quả cam chin phu luc chuyen do canh ba cau Đạo bến thời gian